Đặc biệt, ở những bước ngoặt trong đời sống cách mạng của dân tộc, hồn thơ Tố Hữu thường nhạy bén và dạt dào cảm hứng, kết tinh trong những bài thơ đặc sắc, đạt đến sự đồng cảm và được h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội -2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60220120
Người hướng dẫn khoa học: TS Diêu Thị Lan Phương
Hà Nội -2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Diêu Thị Lan Phương, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy cô và các cán bộ trong khoa đã cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn quý báu, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất trong suốt thời gian tôi học tập và thực hành ở Khoa
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi có thời gian hoàn thành luận văn Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh khuyến khích, động viên giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành khóa học của mình
Phạm Thu Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 7
2.1 Những bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu 7
2.2 Xung quanh tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Mục đích nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Cấu trúc của Luận văn 10
Chương 1 NHÀ THƠ TỐ HỮU VÀ DÒNG VĂN HỌC CÁCH MẠNG 11
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp thơ Tố Hữu 11
1.1.1 Vài nét về cuộc đời Tố Hữu 11
1.1.2 Khái quát về sự nghiệp thơ của Tố Hữu 13
1.2 Tập thơ “Từ ấy” trong sự nghiệp thơ Tố Hữu 16
1.3 Sự phát triển của văn học cách mạng Việt Nam 1930 - 1946 19
TIỂU KẾT 23
Chương 2 GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ “TỪ ẤY” 24
2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 24
2.1.1 Sự khát khao và say mê lý tưởng của người chiến sĩ cách mạng 24
2.1.2 Những chuyển biến về tình cảm của người chiến sĩ sau khi bắt gặp lý tưởng cách mạng 33
2.1.3 Sự tin tưởng, lạc quan của người chiến sĩ đối với cuộc cách mạng của dân tộc 40
2.2 Các cảm hứng chủ đạo 44
2.2.1 Cảm hứng yêu nước 44
2.2.2 Cảm hứng nhân đạo 48
2.2.3 Cảm hứng hiện thực 57
TIỂU KẾT 63
Chương 3 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TẬP THƠ “TỪ ẤY” 64
3.1 Thể thơ 64
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 66
3.2.1 Ngôn ngữ thơ Tố Hữu 66
3.2.2 Giọng điệu thơ Tố Hữu 74
3.3 Niêm luật và vần 79
3.4 Hệ thống hình ảnh 82
3.4.1 Hình ảnh con đường 82
3.4.2 Hình ảnh dòng sông 86
3.4.3 Hình ảnh con thuyền 89
3.4.4 Hình ảnh ngọn cờ 91
TIỂU KẾT 94
KẾT LUẬN 96
MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học cách mạng nước nhà, hiếm thấy nhà thơ nào có những tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng như thơ Tố Hữu Trong thơ ông lấp lánh tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, tình yêu lí tưởng cách mạng cao đẹp, trong sáng
Là cánh chim đầu đàn, thơ Tố Hữu gắn liền với các chặng đường cách mạng của dân tộc từ trước cách mạng tháng Tám đến thời kỳ đầu đổi mới Phong Lan và Mai Hương đã nhận xét: Trên bầu trời của văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được coi là ngôi sao sáng, là người mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca, ông thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam
mê bền chắc trong nhiều độc giả Ông là người đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại từ họ sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu, xứng đáng là niềm mơ ước của mọi sự nghiệp thơ ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông” [1, tr.20] Hơn nửa thế kỷ, thơ Tố Hữu luôn thu hút được sự quan tâm của giới phê bình, nghiên cứu văn học và là đối tượng giảng dạy trong nhà trường phổ thông
Đặc điểm chính của thơ Tố Hữu là tính trữ tình chính trị Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sống cách mạng, lí tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, của những tình cảm lớn, niềm vui lớn của cách mạng và con người cách mạng Đặc biệt, ở những bước ngoặt trong đời sống cách mạng của dân tộc, hồn thơ Tố Hữu thường nhạy bén và dạt dào cảm hứng, kết tinh trong những bài thơ đặc sắc, đạt đến sự đồng cảm và được hưởng ứng rộng rãi Nói về tính trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu, Xuân Diệu có lần khẳng định: “Tố Hữu đã đặt thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình” Như vậy, thơ Tố Hữu là một thành
Trang 7công xuất sắc của thơ cách mạng, và kế tục một truyền thống tốt đẹp của thơ
ca Việt Nam qua nhiều thời đại
Sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Tố Hữu là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn học hiện đại Trong hơn nửa thể kỉ qua, thơ Tố Hữu luôn có mặt trong sách giáo khoa Ngữ văn ở các cấp học Thơ ông đã “đốt lửa’ và
“truyền lửa” tới muôn triệu trái tim bạn đọc Đồng thời thơ Tố Hữu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình có tên tuổi trong nước cũng như nước ngoài, ở nhiều góc độ, bình diện khác nhau
Chọn đề tài Giá trị của tập thơ “Từ ấy” , người viết mong muốn khẳng
định lại những giá trị và vị trí của tập thơ đối với nền văn học cách mạng giai đoạn 1930 -1946 nói riêng và nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung Đồng thời góp phần nhìn nhận và đánh giá đầy đủ hơn những những đóng góp của nhà thơ trên nhiều phương diện
2.1 Những bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu
Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên các báo chí cách mạng vào những năm cuối thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, cùng với sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao thơ ông Trong bài viết đầu tiên giới thiệu về thơ Tố Hữu, tác giả K và T đã khẳng định: “Thơ Tố Hữu là cả một nguồn sinh lực đem phụng sự cho lý tưởng”
“Với Tố Hữu, chúng ta có một nhà thơ cách mạng có tài” “nhà thơ chiến sĩ”,
“nhà thơ của tương lai”…[33]
Trang 8Từ sau 1954 cho đến sau 1975, có rất nhiều bài viết về thơ Tố Hữu Đặc
biệt có ba công trình biên khảo chuyên sâu về thơ ông, đó là: “Thơ Tố Hữu” của Lê Đình Kỵ (1979); “Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói
đồng chí” của Nguyễn Văn Hạnh (1985); “Thi pháp thơ Tố Hữu” của Trần
Đình Sử (1987) Hai công trình đầu tiếp cận thơ Tố Hữu theo phương pháp truyền thống, kết hợp khảo cứu công phu, khoa học với cảm thụ nghệ thuật tinh tế Hai tác giả đã lần đầu tiên nghiên cứu thơ Tố Hữu như một chỉnh thể toàn vẹn, có hệ thống, với nhiều phát hiện và đánh giá quý báu theo phương
pháp nghiên cứu Mácxít Công trình “Thi pháp thơ Tố Hữu” của Trần Đình
Sử tiếp cận thơ Tố Hữu theo hướng thi pháp học đem đến những cảm nhận và đánh giá mới mẻ
Bên cạnh đó còn có Hà Minh Đức Ông cũng là một người bền bỉ, chuyên tâm nghiên cứu về thơ Tố Hữu Ông có hai lời giới thiệu công phu cho hai tuyển tập thơ Tố Hữu
Ngoài ra còn có rất nhiều bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu ở trong và ở ngoài nước, tiêu biểu như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Đức Phúc…Nhìn chung các bài nghiên cứu đều có
sự nhìn nhận đánh giá những giá trị cơ bản và nghệ thuật của thơ Tố Hữu
2.2 Xung quanh tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu
Hơn nửa thế kỷ qua, từ tập thơ đầu tay “Từ ấy”, đến các tập “Việt Bắc”,
“Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và Hoa”…đã có hàng trăm bài viết, công trình
nghiên cứu phê bình phong phú, đa dạng theo đời thơ Tố Hữu
Riêng với “Từ ấy”, có nhiều bài phê bình, đánh giá nằm rải rác trong các
cuốn sách, các tạp chí Chúng ta có thể kể tới các tác phẩm tiêu biểu như sau:
“Từ ấy” tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản của Hoài Thanh,
Tạp chí nghiên cứu văn học, số 4, 1960; Cái mới của “Từ ấy”- những bài thơ
đầu tiên của Tố Hữu, Như Phong, Nxb Văn học, Hà Nội, 1959; Đọc tập thơ
“Từ ấy” của Tố Hữu, Tế Hanh, Báo Văn học, số 49, 50, năm 1959; Về giá trị tập thơ “Từ ấy” và phương pháp sáng tác của Tố Hữu, Hoàng Minh Châu,
Trang 9Báo văn nghệ, số 71, 1959; Vài cảm nghĩ về tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu,
Thanh Tịnh, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 8, 1959 Các bài nghiên cứu đã thể hiện quan điểm riêng của các tác giả khi nhận xét và phê bình về thơ Tố Hữu Nhiều tác giả đã có những nhận xét đánh giá hết sức xác đáng và sâu sắc
về tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu
Tiếp đến là các công trình mang tính riêng biệt, có quy mô lớn Đó là
tuyển tập, sách xuất bản viết về tập thơ “Từ ấy” như: “Từ ấy” tiếng hát của
người thanh niên cộng sản, Phê bình và tiểu luận, Tập I, Nxb Văn học, 1960; Cái mới của “Từ ấy” Những bài thơ đầu tiên của Tố Hữu, Như Phong,
Bình luận văn học, in lần thứ 3, Nxb Văn học, 1977; Giới thiệu Tuyển tập thơ
“Từ ấy” và “Việt Bắc”, Phong Châu, Đái Xuân Ninh, Nxb Giáo dục, 1960
Trong cuốn sách tham khảo mang tựa đề “Từ ấy” - Tác phẩm và lời bình của Tôn Thảo Miên, Nxb Văn học, năm 2005, ngoài phần trích tập thơ “Từ ấy”,
tác giả còn lồng ghép vào đó nhiều bài phân tích các bài thơ trong tập thơ của
các tác giả như: Đặng Thai Mai với Mấy ý nghĩ - Từ ấy trong tôi bừng nắng
hạ; Xuân Diệu với “Từ ấy” – tiếng hát của một người thanh niên; Phan Cự
Đệ với Tiếng hát đi đày; Trần Đình Sử với bài Bà Má Hậu Giang Đó là
những bài viết hay
Thơ của Tố Hữu nói chung và tập thơ “Từ ấy” của ông nói riêng có sức
hút lớn Do đó, nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học nghiên cứu chú
ý đến nó và được người đọc đón nhận Đây là những kết quả nghiên cứu rất
có giá trị, khẳng định sự dày công tìm tòi nghiêm túc của các học giả, các nhà nghiên cứu và những người đam mê thơ Tố Hữu Tuy nhiên, chưa có một
công trình nghiên cứu riêng biệt về tập thơ “Từ ấy” với tư cách đóng góp vào
dòng văn học cách mạng Việt Nam cũng như về vị trí của của nó trong giai đoạn 1930-1945 Đây là chỗ khuyết, gợi mở nhiều hướng nghiên cứu mới
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập thơ “Từ ấy” Tập thơ được nghiên cứu trên hai bình diện Một là giá trị nội dung và hai là giá trị nghệ thuật của tập thơ
Để khai thác, nghiên cứu đối tượng được cụ thể, sâu sắc, chúng tôi khoanh vùng phạm vi nghiên cứu từ chỗ rộng là văn học cách mạng đến chỗ hẹp hơn là toàn bộ thơ ca cách mạng của Tố Hữu
4 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm chỉ rõ những giá trị về mặt nội dung và nghệ thuật của
tập thơ “Từ ấy”, đồng thời chỉ ra, khẳng định vai trò của tập thơ trong nền thơ
ca kháng chiến chống Pháp và rộng ra là nền thơ ca hiện đại Việt Nam
Chúng tôi cũng hi vọng, luận văn sẽ giúp làm phong phú thêm kho tài
liệu nghiên cứu về đời thơ Tố Hữu nói chung và tập “Từ ấy” nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp lịch sử, phương pháp xã hội học, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống
- Phương pháp chuyên ngành: Phương pháp tiếp cận Thi pháp học, phương pháp phân tích, so sánh - đối chiếu, phương pháp tổng hợp
6 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương: Chương 1 Nhà thơ Tố Hữu và dòng văn học cách mạng
Chương 2 Giá trị nội dung của tập thơ “Từ ấy”
Chương 3 Giá trị nghệ thuật của tập thơ “Từ ấy”
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 NHÀ THƠ TỐ HỮU VÀ DÒNG VĂN HỌC CÁCH MẠNG 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp thơ Tố Hữu
1.1.1 Vài nét về cuộc đời Tố Hữu
Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4-10-1920, quê ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế Thừa Thiên - Huế là vùng đất nghèo nhưng phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp, hữu tình Xứ Huế còn nổi tiếng là một vùng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, bao gồm cả văn hóa cung đình và văn hóa dân gian với những điệu ca, điệu hò như Nam ai, Nam bình, mái nhì, mái đẩy độc đáo Tố Hữu đã từng được sống trong bầu không khí văn hóa của quê hương mình Có
lẽ chính điều đó đã mang đến cho thơ Tố Hữu âm hưởng và phong vị dân gian đậm nét
Bên cạnh đó, hồn thơ Tố Hữu còn được bồi đắp từ chính truyền thống gia đình và sự giáo dục của cha và mẹ Ông thân sinh là một nhà nho nghèo, tuy không đỗ đạt và phải chật vật để kiếm sống bằng nhiều nghề nhưng lại ham thơ và thích sưu tầm ca dao tục ngữ Từ thuở nhỏ, Tố Hữu đã được cha dạy làm thơ theo những lối cổ Còn bà mẹ Tố Hữu là con một nhà nho, thuộc nhiều ca dao, dân ca xứ Huế và rất giầu tình thường con Từ thuở nằm nôi, Tố Hữu đã được mẹ ấp ủ và ru bằng tiếng hát ngọt êm của người đàn bà xứ Huế
Có thể khẳng định rằng: Truyền thống gia đình cùng với quê hương xứ Huế
đã góp phần quan trọng vào sự hình thành hồn thơ Tố Hữu
Bước vào tuổi thanh niên đúng vào những năm phong trào Mặt trận Dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo đang dấy lên sôi nổi trong cả nước, mà Huế
là một trong những trung tâm sôi động nhất, Tố Hữu đã may mắn đến được với lí tưởng cách mạng, tin và đi theo sự lãnh đạo của Đảng Ngay cả những lúc bị bắt giam trong lao ngục, ông vẫn một lòng hi sinh cho lý tưởng Tố Hữu đã nhiều lần vượt qua những giây phút cam go, khốc liệt nhất của dân tộc và cả những lúc trên đỉnh cao của chiến thắng vinh quang Dù ở thời điểm
Trang 12nào cũng vậy, Tố Hữu vẫn là con người của Đảng, của nhân dân Ông chưa bao giờ xa rời hay phai nhạt lý tưởng cách mạng Ông làm thơ vì cách mạng
và nhờ cách mạng, những vần thơ của Tố Hữu bay cao và vang xa
Được lôi cuốn vào phong trào đấu tranh, Tố Hữu đã trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế Năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và từ đó ông hoàn toàn tự nguyện hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng Đầu năm 1939, thực dân Pháp trở lại đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương Cuối tháng năm ấy Tố Hữu bị bắt, giam tại nhà lao Thừa Thiên, rồi lần lượt bị giam giữ trong nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Tháng 3 - 1942, Tố Hữu đã vượt ngục Đắc Lay (Kon Tum), vượt hàng trăm cây số đường rừng, thoát khỏi
sự vây lùng của kẻ thù, tìm ra Thanh Hoá, bắt liên lạc với tổ chức cách mạng
và tiếp tục hoạt động Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch
Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế, lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố quê hương
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu được điều động ra Thanh Hoá một thời gian, rồi lên Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng, đặc trách về văn hoá, văn nghệ Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
đế quốc Mĩ và cho đến năm 1986, Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (từng là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) Tố Hữu mất tại Hà Nội ngày 9-12-2002 sau một thời gian lâm bệnh nặng
Con người Tố Hữu có sự thống nhất chặt chẽ giữa nhà cách mạng, nhà chính trị và nhà thơ Thơ và cách mạng- hai trong một ở con người Tố Hữu và
đó như mối tình duyên đẹp đẽ nhất, trong sáng nhất và cao cả nhất trong cuộc đời, sự nghiệp thi ca của ông Quá trình sáng tác của Tố Hữu gắn bó làm một với quá trình hoạt động cách mạng của ông và các nhiệm vụ của Đảng qua các giai đoạn lịch sử Vì thế mà Tố Hữu được mệnh danh là người viết sử Việt Nam bằng thơ Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ
Trang 13thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền vời sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phận của sự nghiệp cách mạng
1.1.2 Khái quát về sự nghiệp thơ của Tố Hữu
Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam Các chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng Đồng thời, đó cũng là những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và nghệ thuật của chính nhà thơ Hơn 60 năm sáng tác, Tố Hữu là nhà thơ luôn sống trong sinh hoạt tinh thần của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX
Tập thơ “Từ ấy” (1937- 1946) là tập thơ đầu tay của Tố Hữu viết trong
hoàn cảnh đất nước còn trong tình cảnh nô lệ và trong bối cảnh phong trào
Thơ mới đã tiến hành xong một cuộc cách mạng trong thơ ca Tập thơ “Từ
ấy” đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn
cờ của Đảng Tập thơ chia làm 3 phần Phần thứ nhất là “Máu lửa” gồm
những bài sáng tác trong thời kì Mặt trận Dân chủ Nhà thơ cảm thông sâu sắc với cuộc sống cơ cực của những người nghèo khổ trong xã hội (lão đầy tớ, chị
vú em, cô gái giang hồ, những em bé mồ côi, đi ở, hát dạo,…), đồng thời khơi dậy ở họ ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai
Phần thứ hai là “Xiềng xích” gồm những bài sáng tác trong những nhà
lao lớn ở Trung Bộ và Tây Nguyên Đó là tâm tư của người trẻ tuổi tha thiết yêu đời và khát khao tự do, là ý chí kiên cường của người chiến sĩ quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu ngay trong nhà tù
Phần thứ ba là “Giải phóng” gồm những bài sáng tác từ khi Tố Hữu
vượt ngục đến những ngày đầu giải phóng của toàn dân tộc Nhà thơ nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của cách mạng , nền độc lập, tự do của Tổ quốc, khẳng định niềm tin tưởng vững chắc của nhân dân vào chế độ mới
Tiếp sau “Từ ấy” là tập thơ “Việt Bắc” (1946 - 1954) là tiếng ca hùng
tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con người kháng chiến Họ là những người lao động rất bình thường và cũng rất anh hùng Với
Trang 14tấm lòng yêu nước thắm thiết và cảm phục sâu xa, Tố Hữu đã miêu tả và ca ngợi anh vệ quốc quân, bà mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc,…Nhà thơ ngợi ca vai trò của Đảng và Bác Hồ trong việc khơi nguồn và phát huy sức mạnh của quân dân ta để đánh thắng kẻ thù Nhiều tình cảm lớn được thể hiện sâu đậm: tình quân dân “cá nước”, tiền tuyến với hậu phương, miền xuôi với miền ngược, cán bộ với quần chúng, nhân dân với lãnh tụ, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô sản,… Tập thơ kết thúc bằng những bài hùng ca vang dội phản ánh khí thế chiến thắng hào hùng; tình cảm bồi hồi, xúc động của dân tộc trong những giờ phút lịch sử
Bước vào giai đoạn cách mạng mới, tập thơ “Gió lộng” (1955-1961) dạt
dào bao nguồn cảm hứng lớn lao Nhà thơ hướng về quá khứ để thấm thía những nỗi đau khổ của cha ông, công lao của những thế hệ đi trước mở đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng Qua sự cảm nhận của Tố Hữu, cuộc sống mới trên miền Bắc thực sự là một ngày hội lớn, nhìn vào đâu cũng thấy tràn đầy sức sống và niềm vui Đất nước đau nỗi đau chia cắt, thơ Tố Hữu là tình cảm thiết tha sâu nặng với miền Nam ruột thịt Đó là nỗi nhớ thương quê hương da diết, tiếng thét căm hận ngút trời, lời ngợi ca những con người kiên trung, bất khuất, niềm tin không gì lay chuyển được vào ngày mai thắng lợi thống nhất non sông
Hai tập thơ “Ra trận” (1962- 1971), “Máu và hoa” ( 1972- 1977) âm
vang khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và niềm vui
toàn thắng “Ra trận” là bản anh hùng ca về “Miền Nam trong lửa đạn sáng
ngời” với bao hình ảnh tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc: anh giải phóng quân “con người đẹp nhất” người thợ điện “dáng hiên ngang vẫn ngẩng cao đầu”, những “em thơ cũng ngẩng cao đầu”, bà mẹ “một tay lái chiếc đò ngang”, anh công nhân “lấp hố bom mà dựng lò cao”, cô dân quân
“vai súng tay cày”,… “Máu và hoa” ghi lại một chặng đường cách mạng đầy
gian khổ, hi sinh, khẳng định niềm tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng của xứ
Trang 15sở quê hương, cũng như của mỗi con người Việt Nam mới, biểu hiện niềm
tự hào và niềm vui phơi phới khi “toàn thắng về ta”
“Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999) là hai tập thơ đánh dấu
bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu Dòng chảy sôi động của cuộc sống đời thường với bao vui buồn, được mất, sướng khổ, mừng lo khơi gợi trong tâm hồn nhà thơ nhiều cảm xúc suy tư Tố Hữu tìm đến những chiêm nghiệm mang tính phổ quát về cuộc đời và con người Vượt lên bao biến động thăng trầm, thơ Tố Hữu vẫn kiên định niềm tin vào lý tưởng và con đường cách mạng, tin vào chữ nhân luôn toả sáng ở mỗi người
Tóm lại, có thể khẳng định rằng trong lịch sử văn học nước nhà, hiếm thấy nhà thơ nào lại có những tác phẩm mang dấu ấn đặc trưng của một giai đoạn lịch sử và đi vào lòng người như thơ Tố Hữu thế kỷ XX Tình yêu lý tưởng, yêu quê hương đất nước thiết tha sâu nặng đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca cách mạng Nội dung ấy được biểu lộ vừa thầm kín và tinh tế, vừa sâu sắc và đậm đà qua bảy
tập thơ nổi tiếng của Tố Hữu Tố Hữu sôi nổi say sưa tự hát trong “Từ ấy”
Tố Hữu hát về nhân dân anh hùng và dựng xây với tiếng hát ân tình thủy
chung trong kháng chiến trong “Việt Bắc” và “Gió lộng” Tố Hữu kêu gọi cuộc kháng chiến hào hùng trong “Ra trận”, “Máu và hoa” Ông suy tư trầm lắng trong “Một tiếng đờn”, “Ta với ta” Tố Hữu đã từng bộc bạch: “thơ là
kết quả của sự nhập tâm đời sống, trí tuệ, tài năng của nhân dân ( ) Nhập tâm từ tâm hồn tình cảm đến dáng đi, giọng nói, tiếng khóc, tiếng cười Nhập tâm đến mức độ nào đó thì thơ hình thành Có thể nói thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy” [39, tr 54] Đúng vậy cả đời thơ ông đều là những lời gan ruột với lý tưởng, với nhân dân, đất nước và chính mình Điều đáng trân trọng hơn cả là trước sau thơ Tố Hữu vẫn kiên định niềm tin vào lý tưởng và con đường cách mạng
Trang 161.2 Tập thơ “Từ ấy” trong sự nghiệp thơ Tố Hữu
Từ khi ra đời ngày 03-02-1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã trở thành ánh sáng chỉ đường cho Tố Hữu mạnh dạn bước ra cuộc đời thực tại tăm tối
để đến với lý tưởng Người thanh niên trí thức tiểu tư sản ấy đến với Đảng bằng tâm trạng của con người sống lâu trong hầm tối nay được đón ngọn nắng mới mùa xuân Đảng đã xóa nhòa đi một thời băng giá, cái thuở mà phải
“đấm nát tay trước cửa cuộc đời”, thắp lên trong Tố Hữu niềm lạc quan tin
tưởng Điều đó được thể hiện rõ nhất trong tập thơ “Từ ấy”
Tập thơ “Từ ấy” mang đến cho người đọc một ấn tượng sâu sắc, về
những cảm nghĩ, cảm xúc, tuy còn chút gì bỡ ngỡ, song nó đã thể hiện rất rõ
bước ngoặt trưởng thành của tư tưởng thơ Tố Hữu “Từ ấy” là cái mốc đánh
dấu trên bước đường sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ, đưa ông trở thành lá cờ đầu trong dòng thơ cách mạng Việt Nam
“Từ ấy” thể hiện rõ con người Tố Hữu Trong thơ và ngoài đời, ở Tố
Hữu luôn có hai con người, con người chiến sĩ và con người thi sĩ Trên mặt trận có tiếng súng, con người chiến sĩ ấy mặt giáp mặt với kẻ thù, thế nhưng vẫn: "không xa rời hàng ngũ", "chiến đấu đến cạn máu tàn hơi” Và trên mặt trận không tiếng súng (hay mặt trận tư tưởng văn hóa), ông với vai trò là một thi sĩ đã sử dụng những vần thơ của mình để động viên, để chiến đấu cùng với người cầm súng Cả hai con người trên hai thế trận, đều hòa quyện vào nhau, đều sẵn sàng xung trận
Bên cạnh đó, “Từ ấy” là tiếng nói đau thương, là cái trăn trở trước thực tại xã hội Nó cũng là tiếng chuyển bước của một con người; là niềm tin của
người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi Tố Hữu với cách mạng thời kỳ trứng nước
“Từ ấy” gồm ba tập thơ nhỏ được coi là ba phần: “Máu lửa” được sáng
tác 19 tháng từ 10-1937 đến tháng 04-1939; “Xiềng xích” được sáng tác trong
03 năm ở tù (1939-1942); “Giải phóng” được sáng tác vào năm 1942 – 1946
Ba phần trong tập thơ là công trình sáng tác kết tinh trong cả một quá trình lâu
Trang 17dài đấu tranh - "một thời kỳ, ba giai đoạn" trong hoạt động cách mạng của thi
sĩ
Tập thứ nhất, “Máu lửa” viết vào khoảng từ cuối 1937 đến đầu 1939
Đây là thời kỳ lãnh đạo đấu tranh công khai của Đảng và nhân dân trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa Đây cũng là thời kỳ đấu tranh ở các nhà máy, ở nông thôn, ở thành thị, dưới khẩu hiệu hòa bình, cơm áo, tự do; thời
kỳ truyền bá học quốc ngữ, mở báo chí, phổ biến sách báo tiến bộ, chống chủ nghĩa duy tâm trong lĩnh vực tư tưởng cũng như trong lĩnh vực nghệ thuật; thời kỳ cao trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít khắp nơi trên thế giới
“Máu lửa” của Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc, chân thực cuộc chuyển
mình của dân tộc trong bối cảnh lịch sử đó Đồng thời cũng phản ánh sự chuyển mình trong chính tư tưởng của nhà thơ Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa tích cực, mối đồng tình với những người bị hắt hủi, áp bức; lòng căm hờn đối với bao cảnh trái ngược trên đời; lòng tin tưởng sắt đá vào ngày mai là
những gì “Máu lửa” thể hiện Một thứ lạc quan chủ nghĩa cách mạng tràn lan
khắp các bài thơ, khi véo von, khi hùng tráng thể hiện tâm trạng hứng khởi của một người cộng sản trẻ tuổi, dũng cảm bước trên trường tranh đấu Có thể
nói, tập “Máu lửa” thể hiện chủ đề duy nhất: Giác ngộ
Mâu thuẫn nội bộ trong xã hội tư bản đã phát triển đến một trình độ gay gắt Chính sách thỏa hiệp của bọn tư bản không hề thỏa mãn lòng tham của bọn phát xít Đức, Ý, Nhật Chỉ một năm sau, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Cả thế giới sống những năm tháng đen tối cho đến ngày Hồng quân phản công, Sờ-ta-lin-gơ-rát mở đường chiến thắng Những năm ấy cũng là những năm hết sức đen tối trong lịch sử nước nhà Các nhà tù Sơn La, Lao Bảo, Côn Lôn, các trại tập trung khắp nơi lại chật ních những tù nhân chính
trị Tố Hữu cũng đã bị tù trong giai đoạn này và đó là lí do “Xiềng xích” ra đời Qua tập “Xiềng xích” người đọc có thể hiểu thêm về bước đường lưu
đày của một đảng viên kiên trung - Tố Hữu Trong thử thách gian khổ, giữa mũi súng, lưỡi lê, roi vọt, xiềng xích của chế độ tù ngục thực dân, từ nhà lao
Trang 18Thừa Thiên (1939-1940) lên Lao Bảo (1940-1941), rồi về Quy Nhơn 1942), rồi lại đi đày lên tận chốn rừng xa núi thẳm, Tố Hữu vẫn giữ cho mình lập trường cứng cỏi, gan góc và tin tưởng tuyệt đối vào Đảng
“Xiềng xích” của Tố Hữu là những vần thơ đầy sự khao khát tự do Dù
bị tù đày, nhà thơ vẫn lắng nghe sau tầng cửa sắt những tiếng dội thưa thớt của cuộc sống bên ngoài "Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về" để từ đó mà bâng khuâng nỗi "nhớ người", "nhớ đồng" và nỗi khao khát được tự do để
hoạt động cách mạng “Xiềng xích” còn là thơ của người chiến sĩ lòng dặn lòng quyết không bao giờ nản chí, khuất phục trước quân thù “Xiềng xích”
cũng là những vần thơ xót xa, yêu thương, nâng niu của tác giả đối với những mảnh đời cơ cực, những số phận bị chiến tranh, chế độ thực dân phong kiến làm cho khốn khổ Tình cảm cách mạng, tình yêu đất nước quê hương, yêu nhân loại và chí căm thù đối với lũ cướp nước là những tình cảm đẹp đẽ được thể hiện trong tập thơ này
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa Thực dân Pháp, theo gót quân đế quốc Anh, lại bắt đầu gây chiến tranh ở miền Nam Một năm sau, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu Cách mạng dân tộc bước vào giai đoạn mới Những nhà thơ như Tố Hữu trở thành chiến sĩ hoặc được giao những trọng trách quan trọng của Đảng Giai đoạn
1943-1944, Tố Hữu cho ra đời tập thơ “Giải phóng”, phần thứ ba của tập thơ lớn “Từ ấy”
Nội dung tư tưởng cũng như kỹ thuật biểu hiện của tập “Giải phóng” đã
có nhiều nét khác với hai tập trên Mười mấy bài thơ trong phần này khai thác
cả một mạch thơ trữ tình phong phú Trên đường thoát ly, người chiến sĩ bắt đầu nhìn thấy một viễn cảnh tưng bừng :
Chân trời lui mãi lan lan rộng
Hy vọng tràn lên đồng mênh mông
(Dưới trưa, tháng 5-1942)
Trang 19Và sau đó là những ngày tháng, ông đấu tranh hăng hái quên mình bên cạnh nhân dân Sống và hoạt động trong tình thân ái đùm bọc của quần chúng, thi
sĩ đã tôi luyện tâm hồn thành hẳn một khối với những con người lao động :
Tháng ngày chát cổ cơm khoai sắn Rách rưới lều che tạm gió sương Hiểu nhau rồi, hiểu lắm bạn ơi
(Tương thân, tháng 9-1942)
Tình yêu giai cấp, lòng yêu nước, lòng tin tưởng đối với nhân dân, đối
với cách mạng, bấy nhiêu đề tài đã được biểu hiện vào trong “Giải phóng” Qua “Giải phóng”, Tố Hữu ca ngợi quần chúng, ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi cách
mạng với nhiệt tình của người trí thức tiểu tư sản được khai sáng bởi lý tưởng cộng sản:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
(Từ ấy, tháng 7-1938)
1.3 Sự phát triển của văn học cách mạng Việt Nam 1930 - 1946
Dòng văn học cách mạng giai đoạn 1930 - 1946 là dòng văn học phát triển theo ý thức hệ của giai cấp vô sản Nó chuyển biến song song với con đường cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Có thể nói văn học cách mạng
là một bộ phận văn hóa tác động nhiều và mạnh nhất đến các tầng lớp nhân dân Nó trở thành vũ khí lợi hại, góp phần làm nên những chuyển biến tinh thần vô cùng quan trọng trong lòng quần chúng:
“Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”
(Sóng Hồng) Lịch sử 15 năm giai đoạn 1930-1945 được chia làm ba thời kỳ nhỏ, rõ rệt, lấy thời Mặt trận Bình dân làm thời kỳ giữa Trong luận văn, tôi phân chia
Trang 20thời kỳ này làm 3 chặng đường phát triển của văn học cách mạng, cụ thể như sau:
ra những bài thơ truyền miệng "Tất nhiên đây không phải là nền văn học dân gian tự phát mà là tự giác, tiền thân của nền văn nghệ quần chúng sau này” 1
Nó mang dũng khí của một lực lượng mới, trẻ, bị áp bức, bóc lột hết sức nặng
nề nay vùng lên hết sức mãnh liệt Do đó, nó trở thành vũ khí tư tưởng mang tính kích động, đấu tranh và làm đế quốc Pháp lo sợ
Dưới sự lớn mạnh của phong trào, đế quốc Pháp mở một cuộc khủng bố
dữ dội dìm phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh trong biển máu Văn học cách mạng do đó cũng đi vào thoái trào Vào khoảng thời gian từ 1931-1933, nhiều chiến sĩ vô sản, nhiều người sáng tác văn thơ cách mạng cũng bị bắt giam ở nhiều nhà tù
Tuy hoạt động ngắn ngủi, song văn học giai đoạn 1930 - 1935 cũng có những đóng góp to lớn Một là, nó góp phần thúc đẩy phong trào bình dân ngày một lên cao, dẫn tới thời kỳ Mặt trận Bình dân Hai là, lo sợ sức ảnh hưởng của nó, bọn thống trị có những hành động làm dịu nỗi bất bình chung của người nghèo, trí thức tiểu tư sản và thương nhân Chúng lừa dân cải lương nông thôn, cải lương thành thị, cải lương cả bộ mặt chùa chiền Mặt khác bọn thực dân tung cả một bộ máy tuyên truyền nói xấu Chủ nghĩa cộng sản, vu cáo Liên Xô - thành trì của cách mạng, chia rẽ quần chúng Chúng cho một
1 Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu (2005), Văn học Việt Nam 1900-1945, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr 614.
Trang 21bọn tay sai bồi bút ca tụng sức mạnh và văn minh “Đại Pháp”; đầu độc thanh niên bằng đủ loại phong trào “vui vẻ, trẻ trung” như thi xe hoa; thi sắc đẹp và bằng mọi thú lạc Do dó, các tiệm khiêu vũ, các sòng bạc mọc lên như nấm
Cuộc đấu tranh của Đảng và nhân dân ta giai đoạn 1936-1939 là vừa công khai, vừa bí mật trên tất cả các mặt trận chính trị, kinh tế và văn hóa Khẩu hiệu là hòa bình cơm áo và tự do Hàng loạt báo chí của Đảng nối tiếp
nhau ra đời Có những tờ báo quen thuộc khắp cả nước như tờ Lao động, Hồn
trẻ, Thời thế, Tin tức, Nhành lúa, Dân chúng…Cùng với báo chí, tiếng nói
của Đảng Cộng sản được quần chúng đón nhận qua các loại sách Mác xít phổ
thông được xuất bản công khai, bán giá rất rẻ Những quyển như “Vấn đề dân
cày” (Qua Ninh và Vân Đình), “Vấn đề giải phóng Đông Dương” (Vân
Đình) đã có ảnh hưởng tốt đến quần chúng
Hòa chung không khí đó, văn học cách mạng thời kỳ này có bước phát triển mạnh mẽ, vượt bậc Nó phong phú về nội dung và hình thức thể hiện, đem lại một diện mạo mới văn học hiện đại Việt Nam Nhiều tác phẩm văn
học đỉnh cao của văn học hiện thực phê phán ra đời: “Giông tố”, “Số đỏ” của
Trang 22Vũ Trọng Phụng, “Bỉ vỏ” của Nguyên Hồng, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố Những tác phẩm này đặt
nền móng cho sự phát triển vô cùng mạnh mẽ và công khai của nền văn học cách mạng giai đoạn sau Nó cũng có những đóng góp to lớn trong việc "chỉ đường", mang đến sự giác ngộ cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ
* Thời kỳ 1939-1946
Tình hình đất nước ta đầu giai đoạn 1939-1946 có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến văn học Những khuynh hướng tiến bộ đương trên đà phát triển của thời kỳ Mặt Trận dân chủ bị khủng bố, đàn áp Văn học phong kiến tạm dừng một thời gian, nay lại phục hồi Văn học cách mạng phải rút vào hoạt động bí mật và cùng với Đảng, tiếp tục sứ mệnh cứu quốc thiêng liêng Năm 1943 bản
Đề cương văn hóa được viết để chỉ đạo công tác văn hóa Lần đầu tiên quan
điểm Mác- Lênin ở Việt Nam về văn hóa được trình bày rõ ràng Tổ chức văn hóa cứu quốc được thành lập, tập hợp văn nghệ sĩ yêu nước, tiến bộ như Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Nam Cao, Kim Lân, Mạnh Phú Tứ, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Như Phong…
Hoạt động cách mạng chuyển dần từ thành thị về nông thôn Từ những căn cứ địa lẻ tẻ, đầu năm 1945, một số khu giải phóng, gồm 7 tỉnh phía đầu
Tổ Quốc, được xác lập Ở đây chính quyền đã về tay nhân dân Thơ văn cách mạng được phổ biến công khai Một thời kỳ mới của văn học cách mạng đang được mở ra Nó lại có cơ hội cống hiến tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, góp phần làm nên chiến thắng huy hoàng trong mùa thu năm
1945
Trang 23TIỂU KẾT
Trong chương một, luận văn trình bày một cách khái quát nhất toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Tố Hữu về hoàn cảnh xuất thân, trưởng thành và quá trình sáng tác thơ văn cũng như quá trình hoạt động cách mạng của nhà thơ Tố Hữu
Tập thơ “Từ ấy” là một tập thơ đầu tay của Tố Hữu mang những nét rất
đặc sắc, rất riêng và có vị trí quan trọng trong dòng văn học cách mạng Việt Nam
Tập thơ gồm ba phần chính “Máu lửa”, “Xiềng xích”, “Giải phóng”
phản ánh ba thời kỳ của cách mạng Việt Nam từ 1930 đến 1945 Đồng thời, tập thơ cũng phản ánh sâu sắc sự chuyển biến trong tư tưởng nhà thơ Tố Hữu
Từ một trí thức tiểu tư sản, nhờ có ánh sáng của Đảng, Tố Hữu đã trở thành người chiến sĩ cách mạng, nhà thơ có cống hiến to lớn cho sự nghiệp bảo vệ đất nước và dòng văn học cách mạng Việt Nam Những giá trị đặc sắc của tập thơ sẽ được trình bày, phân tích trong phần nghiên cứu tiếp theo của luận văn Qua chương I, luận văn cũng mang lại cái nhìn khái quát về các tập thơ
được sáng tác sau tập “Từ ấy” Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ ra được
những đặc trưng tiêu biểu của dòng văn học cách mạng Việt Nam 1930-1946
nhằm tạo tiền đề cơ sở cho quá trình nghiên cứu giá trị của tập “Từ ấy” trong
hai chương sau
Trang 24Chương 2 GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ “TỪ ẤY”
2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình
2.1.1 Sự khát khao và say mê lý tưởng của người chiến sĩ cách mạng
Trên hết, xuyên suốt “Từ ấy”, chúng ta nhận thấy tinh thần, nhiệt huyết
của một thanh niên yêu nước và say mê lý tưởng cộng sản, khao khát được cống hiến cho lý tưởng cộng sản
Trong thơ Tố Hữu, tình yêu nước là tình cảm thiêng liêng, sâu nặng song cũng hết sức gần gũi Mọi miền quê trong thơ ông đều được viết với sự tha thiết, gắn bó, yêu thương như chính quê mẹ của mình Tuy nhiên, xứ Huế - nơi chôn nhau cắt rốn vẫn là nơi nhà thơ yêu thương, đau xót và cũng tự hào hơn cả Chính tình yêu quê hương đất nước đã trở thành điểm gặp gỡ giữa Tố Hữu và các nhà thơ lãng mạn trước đó Dù tâm trạng, cách bộc lộ tình yêu đó
có khác nhau giữa một bên là "vị nghệ thuật" và một bên là "vị nhân sinh", giữa chọn cách bộc trực hay kín đáo thì tình yêu nước, yêu xứ sở vẫn là đề tài lấp lánh trong thơ họ
Có thể nói tình yêu quê hương đã thắp lên trong Tố Hữu sự khát khao và say mê lý tưởng cách mạng Trong cảnh nước mất nhà tan, nhà thơ khao khát muốn được cống hiến, muốn được làm gì đó cho Tổ quốc Nhưng nhà thơ không tìm thấy con đường đi đúng giữa mịt mùng đêm tối của thời đại Ông băn khoăn, ông trăn trở như người mù khao khát ánh sáng chỉ đường Và khi
lý tưởng cách mạng đến với ông, ông đã biến những khao khát đó thành hành động, thành niềm mê say Không chỉ dừng lại ở những khát khao của cá nhân,
Tố Hữu bằng vần thơ đã biết khơi gợi điều đó ở những người như ông, biến sức mạnh cá thể thành sức mạnh tập thể Ông kêu gọi thanh niên “dấn thân” vào cách mạng, tự nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cộng sản
Và chính ông đã là người chiến sĩ tiên phong mở đường cho dòng thơ cách mạng: làm thơ phục vụ cách mạng, phục vụ quần chúng:
"Với cách mạng, tôi không hề đùa bỡn
Và không hề dám chối một nguy nan
Trang 25(…) Tôi vẫn hằng tự nghĩ: Miễn quên thân Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa"
Lý tưởng cách mạng đã giúp nhà thơ nhận định đúng đắn về ý nghĩa của
sự sống Hơn một lần, ông đã viết về quan điểm, lẽ sống và cái chết trong tập
thơ “Từ ấy” với hai bài thơ “Trăng trối” và “Con cá, chột nưa” Hai bài thơ
được viết ngay trong cuộc đấu tranh tuyệt thực kéo dài (nhịn ăn 14 ngày, nhịn uống 7 ngày) ở nhà tù Lao Bảo, tháng 11-1940 Con người xác thịt ở đây đã
bị đẩy đến bên miệng hố cái chết, con người lý trí bắt buộc phải lựa chọn giữa cái sống ô nhục và cái chết vinh quang để gìn giữ nhân cách và lý tưởng cách mạng Đối với Tố Hữu, sống là dâng hiến, sống là để phục vụ cách mạng Tư
tưởng này ăn sâu vào thơ Tố Hữu kể từ “Từ ấy” cho đến “Một tiếng đờn”
Tuy nhiên, để thực hiện những khao khát của mình, Tố Hữu đã có một
thời gian tìm đường gian khổ Tập thơ “Từ ấy” Tố Hữu đã thể hiện trọn vẹn
niềm vui của một con người dò dẫm bước đi những bước đầu tiên trên con đường tranh đấu bỗng được nhận ánh sáng của mặt trời Trước đó, khi còn là học sinh ở Huế, Tố Hữu đọc say mê từ Điđơrô đến Anphôngxơ Bôđơle, AntônPhơrăngxơ, Vichto Huygô, Muýtxê Và người thanh niên ấy cũng thuộc rất nhiều “Thơ mới” như thơ của Thế Lữ, thơ Lưu Trọng Lư Một câu thơ của
Thế Lữ trong bài “Con người vơ vẩn” đã nói được tâm trạng của nhà thơ ở
cái buổi tìm đường dò dẫm: "Hỡi người bạn, anh định về đâu đó?" khiến ông suy ngẫm Và trong tập thơ, Tố Hữu có dịp nhắc lại những ngày tìm đường đầy "băn khoăn", "quanh quẩn" đó:
Đâu những ngày xưa, tôi nhớ tôi Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
Vơ vẩn theo mãi vòng quanh quẩn Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời
(Nhớ đồng, tháng 7-1939)
Trang 26Trong những ngày tìm đường, Tố Hữu được tiếp xúc sách báo cách mạng bằng tiếng Pháp Ông trở thành bạn hàng rất quen của hiệu sách Hương Giang của ông chủ tiệm Hải Triều đầu cầu Tràng Tiền và hiệu sách Xứ ủy ở
phố Đông Ba Đến đó, Tố Hữu có thế đọc mà không cần mua Tố Hữu đọc
“Người mẹ”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Sapaép” và làm quen với H Bácbuýt,
R Rôlăng Chính những tác phẩm đó đã làm cháy thêm những khao khát của hồn thơ Tố Hữu và sau này, chúng thắp thêm trong ông nhiệt thành, tin tưởng
để cống hiến cho cách mạng và sự nghiệp giải phóng vĩ đại của dân tộc
Trong khao khát như mảnh đất khô hạn, như lạc đường trong hầm tối,
Tố Hữu gặp được cơn mưa rào, ánh sáng rực rỡ của lý tưởng cách mạng Thật
sẽ chẳng có niềm vui nào hơn Đó là niềm vui bỗng thấy mình hồi sinh, bỗng được sống, được thực hiện khao khát bấy lâu Tố Hữu gọi phút nhận đường
(Nhớ đồng, tháng 7-1939)
Ánh sáng lý tưởng cách mạng đến với Tố Hữu một cách bất ngờ mang lại cho ông nguồn sống tràn trề và ông không tránh khỏi cảm giác choáng ngợp trong niềm vui và hạnh phúc Ông ví nó với "nắng hạ" "chói" qua tim làm sống dậy
cả một "vườn hoa lá" từ một mảnh đất vốn khô cằn, nắng hạn, tối tăm Lý tưởng cách mạng hay chính lý tưởng sống đã biến tâm hồn ông thành một khu vườn "đậm hương và rộn tiếng chim" Sức mạnh của lý tưởng cách mạng đã bắt rễ được một cách nhanh chóng vào mảnh đất khao khát đến cháy bỏng của hồn thơ Tố Hữu Nó cũng bắt rễ nhanh chóng vào lòng đất nước khổ đau, vào
Trang 27trái tim những người lầm than, những tâm hồn khao khát tự do, hạnh phúc
Nó biến những lời than, tiếng khóc thành tiếng hét đứng dậy đấu tranh chống lại kẻ thù Nhà thơ, trong cuộn xô của thời đại, đã sống hết mình, cống hiến hết mình cho đất nước, nhân dân:
Tôi đã sống những ngày điên phẫn uất Nhưng chưa hề một bữa như hôm nay Tôi đã nghe ran nóng máu hăng say Rung cơ thể khắp đầu tay ngọn tóc Nhưng chưa biết có bao giờ lại mọc
Ở trong tôi một núi lửa hơi đầy Thét vang trời ghê gớm như hôm nay
(Tranh đấu, tháng 7-1940)
Yêu lí tưởng, khát khao được sống cho chân lý, lý tưởng cộng sản, song
Tố Hữu cũng luôn ý thức được con đường mình chọn để bước đi là con đường chông gai, đòi hỏi sự hi sinh lớn lao kể cả tính mạng:
Đường cách mạng từ khi tôi đã hiểu Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Trang 28mình Chỉ đương đầu với khó khăn, con người mới trưởng thành Cách mạng đòi hỏi con người gạt bỏ những đau khổ riêng để hướng đến giải thoát nỗi đau khổ chung cho đất nước Có những phút, con người cá nhân do dự:
Chừ sao đây? Kéo cờ trắng đầu hàng Hay chuyển sức trăm cần đầu búa sắt Gạt phăng hết những tình riêng nhỏ nhặt
(Đời thợ, Xà lim Quy Nhơn, tháng 10-1941)
Song, con người cá nhân đó đã nhận ra cần phải cống hiến, hi sinh để thực hiện nhiệm vụ và sống cho khao khát:
Không, phải hy sinh, phải nhất thiết hy sinh Lòng vô sản phải mang tình nhân loại Chí đã quyết ra đi là tiến mãi!
(Đời thợ, Xà lim Quy Nhơn, tháng 10-1941)
Nhờ có lý tưởng, nhờ được định hướng bởi lý tưởng, người chiến sĩ đã vượt qua được những đau khổ, cám dỗ tưởng chừng không thể trong quá trình
hoạt động cách mạng và lao tù Câu chuyện “Con cá, chột nưa” trong những
ngày tuyệt thực ở Lao Bảo là một minh chứng cho sự đấu tranh và thắng lợi của lý tưởng cách mạng trong con người Tố Hữu Nó đưa ta đi sâu vào tâm tư một người cộng sản trong hoàn cảnh phấn đấu cực gay go Nhưng cuối cùng ông đã thắng và tuyệt đối trung thành, trung thực với mình và với Đảng
Sự khát khao lý tưởng và cống hiến của người thanh niên trẻ xứ Huế đã kéo ông từ một người không có phương hướng, đơn độc giữa cuộc đời thực đến gắn bó với Đảng và với quần chúng Điều đó có thể được ví như sau chuỗi ngày lưu lạc được trở lại quê hương, được về với nguồn cội - nơi sản sinh ra tâm hồn:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Trang 29Đảng và nhân dân là một sức mạnh vĩ đại, là người mẹ gần gũi, là gia đình thân thuộc đã nâng đỡ những người chiến sĩ ấy, kéo họ xích lại gần nhau tạo nên tập thể vững chắc như đoàn thuyền vượt bão biển:
Dầu sóng tung hay gió quật thâm người
Da rét, mặc! Tả tơi quần áo, mặc!
Phải gắng lên, mỗi đứa chúng mình ơi!
(Giờ quyết định, tháng 4-1940)
Tình yêu đất nước, sự khao khát cống hiến cho chân lý đã đưa nhà thơ tìm đến những cảnh đời đau khổ Đó là chú bé bán bánh bột lọc, là chị vú em,
là người bạn nhỏ tuổi bị bắt giam cùng phòng, ông lão đầy tớ "Như cái kiếp
ăn mày/ Ngồi ăn trong góc xó/ Buồn thiu như con chó/ Áo rách chẳng ai may"
(Lão đầy tớ); đứa bé mồ côi mẹ "Con chim non không tổ/ Trẻ mồ côi không nhà/ Hai đứa cùng đau khổ/ Cùng vất vưởng bê tha" (Mồ côi) hay chỉ là một tiếng rao đêm (Một tiếng rao đêm) Những cảnh đời nô lệ, lầm than đã làm
trái tim vốn nhạy cảm của nhà thơ trở nên đau xót, cảm thông và căm giận Đau xót nhưng không bi lụy, Tố Hữu luôn khao khát được mang lại cho những người cùng khổ đó cuộc sống tốt đẹp hơn Và rồi ánh sáng cách mạng
đã thổi bùng những khát khao đó và mang đến cho anh niềm tin Anh sẻ chia niềm tin đó bằng một thái độ hứng khởi giữa những con người xa lạ nhưng cũng vô cùng thân thiết Với cô gái giang hồ, anh nói:
Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài Thơm như hương nhụy hoa lài Trong như nước suối ban mai giữa rừng
(Tiếng hát sông Hương - 1938)
Với ông lão đầy tớ, nhà thơ nói:
Tôi riết chặt bàn tay Của lão: “Bao nhiêu nỗi Đau buồn và tức tối
Sẽ tan biến ngày mai…
Trang 30về một ngày mai:
Nơi không vua, không quan Không hạng người ô uế Không hạng người nô lệ Sống đau xót, lầm than
(Lão đầy tớ - 1938)
tất cả sẽ là của chung, là chung một nhà, cùng làm, cùng ăn và:
Để cùng nhau vui sướng
Ai già nua tật nguyền Thì cứ việc ngồi yên
Đã sẵn tiền nuôi dưỡng”
(Lão đầy tớ - 1938)
Có thể thấy chưa bao giờ, chưa khi nào, trong thơ Tố Hữu, những con người
xa lạ, nhỏ bé bỗng trở thành tương tri, thành gắn bó với những tình cảm ruột
thịt như trong tập thơ “Từ ấy” Đó là đồng cảm sâu sắc, là tình thương của
một người anh với đứa em nhỏ:
Nhìn anh không chớp mắt
Em chẳng nói năng gì Hai đứa con phiêu bạt Bữa ni thành tương tri…
(Tương tri - 1937)
Đó là sự đau xót sao khi cái chết chia lìa người bạn chiến sĩ với nhà thơ:
Ta nhớ lắm, hởi bạn đời yêu dấu Con muôn thủa của tinh thần chiến đấu Kiến trúc sư của xã hội ngày mai!
Cháy lòng ta nỗi nhớ, bạn đời ơi!
Chim trên mái kêu nhau về tổ ở Chờ đây một mình ta sau cánh cửa
Đi vẫn vơ theo bốn vách xà lim
Trang 31Ôi cô đơn thấm lạnh cả tâm tình
(Nhớ người - Lao Thừa Thiên, tháng 5/1939)
Lý tưởng cách mạng - “Từ ấy” tuyệt diệu biết bao khi nó kéo hai mươi lăm
triệu con tim chung một nhịp, khi nó đưa một đứa con lạc lõng của đất nước
là nhà thơ được trở lại, được cống hiến trí tuệ, tinh thần và sinh mệnh cho đất nước - gia đình lớn:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ…
(Từ ấy - 1938)
Đến với lý tưởng, trở về với nhân dân đã bồi đắp cho nhà thơ sức mạnh lớn Và hơn hết là một niềm tin vững chãi để vượt qua thử thách, biến suy nghĩ thành hành động, biến sức mạnh cá nhân vào sức mạnh tập thể để thực hiện đại cuộc Có thể khẳng định, chưa khi nào hồn thơ Tố Hữu lại sinh động
và khỏe khoắn như thế từ trước cho đến khi viết “Từ ấy” Nhà thơ trở nên bạo
dạn, trở nên kiên quyết đầy tin tưởng vào lý tưởng cách mạng:
Ta bước tới Chỉ một đường: Cách mạng Vững lòng tin sẽ nắm chắc thành công Như những con tàu giữa biển mênh mông Còn xa đất, vẫn tin ngày cập bến
(Như những con tàu - 1938)
Ngay cả khi đất nước đau thương bởi nạn đói năm Ất Dậu, đẩy cách mạng đến chỗ khó khăn nhất, nhà thơ vẫn lạc quan:
Hỡi người bạn! Vui lên đi! Ất Dậu
Sẽ là năm khởi nghĩa, năm thành công Trời hôm nay dầu xám ngắt màu đông
Ai cản được mùa xuân xanh tươi sáng
(Xuân đến - 1945)
Trang 32Niềm tin đó đến với Tố Hữu khi còn rất trẻ, trải qua chặng đường thử thách gian khổ, niềm tin vẫn không phai mờ, càng lúc càng rực sáng Khi mới đến với lý tưởng, Tố Hữu đã có những dự báo đầy lạc quan:
Ngày mai đây tất cả sẽ là chung Tất cả sẽ là vui và ánh sáng Thông qua ánh sáng lý tưởng, Tố Hữu đã nhìn thấy trước sự nghiệp hùng vĩ của thời đại chúng ta:
Cứ như thế, cho tới ngày giải thoát
Cả loài ta Và khi đó, Tự nhiên
Sẽ trố nhìn, ngơ ngác, lớp thanh niên, Xây thế giới cao quá trời xa thẳm
(Hy vọng - 1938)
hay:
Sự sống đã phát sinh từ cái chết Thì gian nguy hiểm nạn có hề chi!
Ta hãy là đoàn chiến hạm ra đi Hùng dũng tiến, đạp muôn đầu ngọn sóng Tương lai đó, trước mặt ta, biển rộng Trên đầu ta, lồng lộng gió trời cao!
(Như những con tàu - 1938)
Như đã nói đến ở trên, Tố Hữu tin tưởng và sẻ chia tin tưởng đó với những con người mò mẫm tìm đường Niềm tin của ông đã biến thành sự thực
ở miền Bắc và sau này là ở miền Nam Chiến thắng đó mang tính tất yếu Bởi sức mạnh của chủ nghĩa cộng sản không có gì khác hơn là sức mạnh của chân
lí - không thể cưỡng được Mặc dù bị Giáo hội hành hạ, Galilê không thể nào không tin rằng quả đất xoay quanh mặt trời vì đó là sự thật Những người cộng sản cũng thế Đối với họ, không một sự khủng bố nào có thể lay chuyển được lòng tin Lý tưởng cộng sản không những là lý tưởng đẹp, cao quý mà
Trang 33còn phù hợp với thực tế khách quan lúc bấy giờ, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Và bởi vậy lòng tin của người dân và của nhà thơ là lòng tin
mẽ, rõ ràng đầy hứng khởi
Có thể nhận thấy một cách rõ rệt là sự chuyển biến trong giọng điệu thơ
Từ giọng điệu tiểu tư sản đến giọng điệu quần chúng Từ lúc ban đầu khi nói đến những dân nghèo thành thị, dáng dấp thơ hãy còn chưa khớp, đôi khi còn lạc điệu, có chút lãng mạn tiểu tư sản như nói về chị vú em:
Rồi từ hôm ấy, dưới đêm sâu Hồi hộp nàng ra vịn cửa lầu Nhìn xuống ven trời dày bóng nặng Tìm nghe trong gió tiếng con đâu
Hiểu nhau rồi, hiểu lắm bạn ơi Chừ đây, không đợi nói lên lời Tay cầm tay với lòng chung một
Trang 34Mau xúm lưng nhau dựng lại đời
Vẵng lên trong tiếng xe lùa nước Một giọng hò đưa hố não nùng
(Nhớ đồng - 1939)
Đó là một bước tiến của thơ, của con người trên con đường đại chúng hóa Chúng ta cũng nhận thấy, thơ Tố Hữu còn có sự chuyển đổi giọng điệu
từ buồn bã, xót xa sang giọng điệu hứng khởi, quyết liệt, đầy tin tưởng Qua
bảy mươi mốt bài thơ trong tập “Từ ấy”, sự chuyển đổi này đậm nét dần về cuối Nếu trong “Xiềng xích”, nhà thơ cảm nhận được sự nhạt nhẽo, buồn tẻ
giữa bốn bức tường vôi lạnh:
Buồn không gió, hai hàng cây đứng ngủ Đàn vịt nhỏ nằm ngây trên liếp cỏ Đôi bồ câu trốn nắng dưới bờ mương Đằng xa kia, nắng gắt dọc chông tường Người lính đứng, gục đầu trên vọng gác
(Trưa tù - 1939)
day dứt, miên man một nỗi nhớ quê nhà:
Cho tới chừ đây, tới chừ đây Tôi mơ qua cửa khám bao ngày Tôi thu tất cả trong thầm lặng Như cánh chim buồn nhớ gió mây
Trang 35Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!
(Nhớ đồng - 1939)
thì giờ đây, khi nhà thơ đã tìm được chính mình, tìm được sức mạnh Hoàn cảnh gian khổ, lạnh lẽo, ảm đạm của lao tù đã làm cháy lên trong Tố Hữu sự khao khát tự do Ông tìm hơi thở cuộc sống, mường tượng ra cuộc sống qua
những tiếng động như tiếng "dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về" (Tâm tư
trong tù), tiếng chim tu hú gọi hè (Khi con tu hú), tiếng mưa ngoài phòng
giam giá rét (Một tiếng rao đêm) Khi mắt đã bị bịt kín bởi "tường vôi lạnh",
trái tim nhà thơ dường như mở ra, rộng lớn hơn để đón nhận những rung cảm của đời và đau đớn, xót xa trước hoàn cảnh éo le của cuộc sống Và chính nó
đã thổi bùng căm giận, phẫn uất trong giọng điệu thơ ông Viết về những nỗi khổ đó, hồn thơ nhạy cảm Tố Hữu không tránh khỏi giọng đau xót:
Con chim non chiu chít
Lá động khóc tràn trề Chao ôi buồn da diết Chim ơi biết đâu về
Gió lùa mưa rơi rơi Trên nẻo đường sương lạnh
Đi về đâu em ơi Phơi thân tàn cô quạnh!
(Mồ côi - 1937)
và đau xót ấy đã biến thành uất hận:
Thì em hỡi! Đi đi, đừng tiếc nữa!
Ngại ngùng chi ? Nấn ná chỉ thêm phiền!
Đi đi em, can đảm bước chân lên
Ừ đói khổ đâu phải là tội lỗi!
Trang 36Anh mới hiểu: càng ngậm ngùi khổ tủi Càng dày thêm uất hận của lòng ta Nuôi đi em, cho đến lớn, đến già Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu
(Đi đi em - 1938)
Hẳn phải có một niềm say mê thơ sẵn sàng trong lòng, mới cảm nhận được cuộc sống qua một tiếng động, mới đau đáu xót xa trước cảnh đời khốn khổ như vậy
Từ những giọng điệu buồn, đau xót, uất hận trong “Xiềng xích”, Tố Hữu
đã chuyển sang giọng điệu đầy lạc quan tin tưởng, giọng điệu tranh đấu quyết liệt:
Cùng tung muôn nắm tay sừng sộ:
"Sao chúng ta còn mãi ở đây Đời ta đầu phải đời trâu, chó?
Không, chúng ta không ở chốn này!
Này phá dô ta! Này ta phá!
Dô ta! Cho mở cửa hầm sâu!"
Đó nghe không bạn hầm đang rã Bởi khối người kia đã ngẩng đầu!
Ta ôm nhau, hôn nhau từng mái tóc
Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta?
Trang 37Ta hát huyên thuyên, ta chạy khắp nhà
Ai dám cấm ta say, say thần thánh ?
(Huế tháng Tám - 1945)
Trong “Giải phóng”, niềm vui trong thơ ông như muốn bung ra, muốn bay
lên hòa cùng niềm vui đất nước:
Ta hát suốt đêm nay vui bất tuyệt Trống rung tim ta đập nhịp bồn chồn Đầu ta qua lớp lớp khải hoàn môn Hồn ta chạy sáng ngời trên ngọn đuốc Lòng ta múa lồng lên theo đám rước
Ta xông lên trời với pháo thăng thiên Bay bay lên, hỡi đôi cánh thần tiên Đôi cánh mở của đất trời giải phóng!
(Vui bất tuyệt - 1946)
Niềm vui bất tuyệt, niềm vui tràn ra ngoài tâm hồn, nâng con người lên tuyệt đỉnh của hạnh phúc Những câu thơ vì thế cũng như có nhạc, như nhảy nhót khiến trái tim bạn đọc cũng phấn chấn, vui tươi, hòa cùng xúc cảm của nhà thơ trước thời đại mới
Bên cạnh chuyển biến về giọng điệu, thơ Tố Hữu cũng có những chuyển biến về mặt thể thơ Từ thể thơ tự do, hiện đại, Tố Hữu quay về với thể thơ lục bát của dân tộc Năm 1944, thơ Tố Hữu đã thành ca dao Báo hiệu bằng
“Tiếng hát trên đê” để sau đó nở rộ những tập thơ lớn thành công với thể lục
bát như “Việt Bắc” và những bài thơ có âm hưởng ca dao như “Phá đường”,
“Bầm ơi” Thể thơ lục bát với chất thơ êm ái mang tính ngâm ngợi, với cách
gieo vần luyến láy, mềm mại đã mang lại cho Tố Hữu sự thành công lớn Thơ ông trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc kháng chiến của dân tộc Người dân đón đợi thơ ông, ngâm nga thơ ông Từ các cụ già đến các
em nhỏ đều yêu thích thơ Tố Hữu bởi tính dễ thuộc, âm điệu ngâm ngợi, hình ảnh đồng quê, làng mạc gần gũi Thơ Tố Hữu đặc biệt có ảnh hưởng sâu sắc
Trang 38đến lớp trẻ Họ tìm thấy trong thơ Tố Hữu sự ngọt ngào của lời ăn tiếng nói dân tộc Họ cũng tìm thấy trong thơ tâm hồn của cha ông và tình yêu nước tha thiết
Chuyển biến từ tư duy tiểu tư sản sang tư duy cách mạng cũng là một trong những chuyển biến quan trọng của thơ Tố Hữu Thay cho con người yếu đuối chỉ biết cảm thông, chỉ biết hận thù và bế tắc của một thời "nện bước trên đường phố Huế" (Huế Tháng tám), Tố Hữu đã "nhóm trong lòng" ý chí chiến đấu Khi còn đi học, làm gia sư cho một nhà chủ, Tố Hữu đã bảo Phước, em nhỏ đi ở bị nhà chủ mắng đuổi:
Nuôi đi em, cho đến lớn, đến già Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu
Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu
Mà hôm nay anh đã nhóm trong lòng
(Đi đi em - 1938)
Và ý chí ấy càng trở nên mạnh mẽ hơn trong những ngày tháng lao tù Nó đã trở thành sự khát khao đến cháy bỏng muốn được cống hiến cho sự nghiệp cách mạng:
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu
(Khi con tu hú)
Trong thơ và cả trong đời thực, Tố Hữu là người khao khát tranh đấu và tranh đấu đến cùng, không chùn bước Ông luôn luôn nhắn nhủ mình, thuyết phục mình và vượt qua chính mình Trong những ngày tuyệt thực ở nhà lao Lao Bảo, tháng 11 năm 1940, Tố Hữu đã làm ba bài thơ liền nhau Người chiến sĩ nhịn đói đã năm ngày, sự sống chỉ còn mỏng manh một sợi dây; trong lúc đó thì một người lính lén đến thăm anh, lo anh chết Anh lựa lời an ủi:
Bác đừng nên khóc nữa, đã chi đâu
Trang 39Đói chỉ mới dăm ngày chưa đến liệt
(Đôi bạn - 1940)
“Từ ấy” là sự tranh đấu quyết liệt giữa một bên là chủ nghĩa cá nhân và
một bên là chủ nghĩa cộng sản trong con người Tố Hữu Và chính nghĩa luôn thắng, Tố Hữu đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt, hòa mình vào con đường chung của cả dân tộc
Từ một tâm trạng cô đơn trước đó "Tôi chỉ một con chim bé nhỏ/ Vứt
trong lồng con giữa một lồng to" (Tâm tư trong tù), Tố Hữu tìm sức mạnh
trong đoàn thể, đã bước đầu hòa cái tôi của mình vào để góp phần tạo nên cái
ta to lớn trong những tập thơ tiếp theo Ông nhận thấy cuộc sống là sự tiếp nối trong tranh đấu Người này ngã xuống, người kia tiếp bước Cha ngã con đã kịp đứng dậy Thuyền này vỡ tan đã có thuyền khác vượt lên Đích đến chính
là sự thắng lợi:
Tôi cứ lái cho tới ngày mệt lử Một chiều kia, dù lại cũng như anh Trở về đây trong mạn ván tan lành Giữa lúc những thuyền kia lướt tới
(Những người không chết - 1938)
.hay:
Sự sống đã phát sinh từ cái chết Thì gian nguy hiểm nạn có hề chi!
Ta hãy là đoàn chiến hạm ra đi Hùng dũng tiến, đạp muôn đầu ngọn sóng Tương lai đó, trước mặt ta, biển rộng Trên đầu ta, lồng lộng gió trời cao!
Rồi mai đây, giữa một buổi xuân đào
Ta sẽ tới ru mình trong vịnh bạc
(Như những con tàu - 1938)
Trang 40Cuối “Từ ấy”, sau “Tiếng hát đi đày”, “Tiếng sáo ly quê”, nhà thơ đã tìm
thấy những mùa xuân bát ngát khi hòa mình với quần chúng nhân dân Cao hơn nữa, tư duy thơ Tố Hữu đã vươn lên tầm thời đại, nhà thơ hòa vào sự đấu tranh chung của nhân loại chống lại chủ nghĩa thực dân - đế quốc:
Lâu rồi, khao khát lắm, xuân ơi Nhân loại vươn lên ánh mặt trời Nhân loại trườn lên trên biển máu Đang nghe xuân tới mở môi cười
(Xuân nhân loại - Xuân 1946)
và:
Rồi xuân ấy, cả nhân quần vui vẻ Nắm tay nhau, tuy khác tiếng, màu da Giẩm chân lên những núi sông chia rẽ
Và ôm nhau thân ái cùng vang ca
(Xuân lòng - Xuân 1938)
Có thể nói, sự chuyển biến trong thơ Tố Hữu sau khi tiếp nhận ánh sáng cách mạng là sự chuyển biến mang tính tích cực từ chỗ tối ra ánh sáng, từ buồn sang vui, từ bi quan sang tràn trề hi vọng, từ yếu đuối sang tranh đấu mạnh mẽ Đó là sự chuyển biến bắt nguồn từ trong tư tưởng, có tính chất tất yếu, phù hợp với chuyển biến của thời đại
2.1.3 Sự tin tưởng, lạc quan của người chiến sĩ đối với cuộc cách mạng của dân tộc
Thơ Tố Hữu luôn tràn đầy sự tin tưởng, lạc quan của người chiến sĩ đối với cuộc cách mạng của dân tộc Không phải tinh thần lạc quan mang màu sắc kinh nghiệm chủ nghĩa của văn học dân gian mà là lạc quan biện chứng của những người nhận thức được quy luật tất yếu của lịch sử Hai bài thơ tiêu biểu tràn đầy sự lạc quan, tin tưởng vào cách mạng, vào nhân dân của Tố Hữu
trong tập “Từ ấy” là “Tiếng hát sông Hương” và “Bà má Hậu Giang” Trong
“Tiếng hát sông Hương”, Tố Hữu đã mang đến hình ảnh cô gái giang hồ,