THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC KẾ THỪA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM NHẰM XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY .... Xây dựng lối sống
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN HỒNG HẢI
KẾ THỪA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN HỒNG HẢI
KẾ THỪA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH QUANG CẢNH
HÀ NỘI - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS Trịnh Quang Cảnh
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Hải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC KẾ THỪA CHÚNG TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.1 Quan niệm về giá trị, giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống 9
1.1.2 Quan niệm về lối sống, lối sống văn hóa 16
1.2 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta 25
1.2.1 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam 25
1.2.2 Tầm quan trọng và những yêu cầu cơ bản trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 30
1.3 Tính tất yếu của việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 43
1.3.1 Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam là quy luật khách quan trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 43
1.3.2 Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ hiện nay là đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 42
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC KẾ THỪA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM NHẰM XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 49
2.1 Thực trạng việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam nhằm xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 49
2.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 49
2.1.2 Thực trạng của việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 58
Trang 52.2 Những hạn chế và yêu cầu đặt ra đối với việc kế thừa giá trị đạo đức truyền
thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 74 2.2.1 Những hạn chế 74 2.2.2 Yêu cầu đặt ra đối với việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của
người phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 81 Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM KẾ THỪA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 89 3.1 Định hướng 89 3.1.1 Xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ trên cơ sở kế thừa những giá
trị truyền thống đạo đức của phụ nữ là một bộ phận thống nhất trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội 89 3.1.2 Bảo đảm sự thống nhất giữa kế thừa và phát huy giá trị đạo đức
truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước 90 3.2 Những giải pháp chủ yếu 92 3.2.1 Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và tăng cường giáo dục ý
thức pháp luật nhằm tạo điều kiện phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ 92 3.2.2 Phát huy vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ các cấp và Ủy ban Quốc
gia vì sự tiến bộ phụ nữ trong việc thực hiện chiến lược quốc gia “Vì
sự tiến bộ và phụ nữ” trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 99 3.2.3 Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam gắn với
việc tiếp thu những tinh hoa giá trị đạo đức của nhân loại nhằm xây dựng lối sống cho phụ nữ theo hướng văn minh, hiện đại 101 3.2.4 Nâng cao tính tích cực, chủ động trong việc tự giáo dục nhằm nâng
cao hiểu biết về các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ hiện nay 103
Trang 63.2.5 Đổi mới cơ chế chính sách đối với phụ nữ, tạo điều kiện để họ hoàn
thành tốt vai trò, trách nhiệm đối với gia đình và xã hội 107 3.2.6 Xây dựng lối sống văn hóa của người phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với việc nâng cao trình độ về mọi mặt cho người phụ nữ trong xã hội 111
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Xu hướng nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm 51
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ Khóa I - XIII 69
Bảng 2.1: Nguyện vọng phải có con trai - theo trình độ học vấn 58
Bảng 2.2: Phương án lựa chọn sau kết hôn 65
Bảng 2.3: Tỷ lệ phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp 69
Bảng 2.4: Người đóng góp nhiều công sức nhất cho gia đình theo vùng điều tra 72
Trang 8BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, phụ nữ Việt Nam luôn thể hiện rõ nhiều phẩm chất truyền thống tốt đẹp Với thiên chức làm vợ, làm
mẹ, đồng thời thực hiện vai trò “kép” trong gia đình và xã hội, phụ nữ Việt Nam
đã đóng góp đáng kể vào việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác Sự đóng góp thầm lặng đó đã dần kết tinh nên những phẩm chất đạo đức truyền thống của phụ nữ nước ta, đó
là: lòng yêu nước, anh hùng, bất khuất, đảm đang, trung hậu, yêu thương chồng
con, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc Tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất,
trung hậu, đảm đang” mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân ta trao tặng phụ nữ Việt Nam chính là sự đúc kết một cách sâu sắc truyền thống vẻ vang và phẩm giá cao đẹp đó
Qua hơn hai mươi năm đổi mới, đặc biệt sự nghiệp CNH, HĐH đã tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội để phụ nữ nước ta phát huy khả năng và những phẩm chất tốt đẹp được xây đắp qua nhiều thế hệ Tuy nhiên, những tác động của mặt trái nền KTTT cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của thời kỳ mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã, đang đặt ra nhiều thách thức đối với phụ
nữ Đánh giá về những khó khăn, thách thức đối với phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị Về công tác
phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã chỉ rõ: “Phụ nữ gặp nhiều khó
khăn thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của con người trong điều kiện xã hội và gia đình Việt Nam có nhiều thay đổi Phẩm chất đạo đức và một số giá trị truyền thống tốt đẹp có phần bị mai một, lối sống thực dụng có xu hướng phát triển trong một bộ phận phụ nữ” 5
Thực tế hiện nay cho thấy, một số giá trị tốt đẹp về phẩm chất, đạo đức của phụ nữ Việt Nam có phần bị mai một, quan niệm của một bộ phận phụ nữ về các giá trị đạo đức truyền thống đang dần bị phai mờ trong nhận thức và lối sống Nhận thức của một bộ phận người dân cũng như ở phụ nữ về vai trò, chức
Trang 10năng giáo dục của gia đình còn hạn chế; trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xây dựng gia đình hạnh phúc có xu hướng bị xem nhẹ, một số chị em chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, thiếu tính nhân ái, sự thủy chung Trước tình hình trên, Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XI
đã nghiêm túc đánh giá: “Trình độ phát triển kinh tế - xã hội chưa đồng đều giữa
các vùng miền, mặt trái của KTTT và hội nhập kinh tế quốc tế; diễn biến phức tạp của các tệ nạn xã hội, tội phạm, bạo lực gia đình… đã tác động trực tiếp đến đời sống, lối sống của một bộ phận phụ nữ…” 38
Những tồn tại nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân Trước hết, là do nhận thức của một bộ phận phụ nữ còn hạn chế, thiếu thông tin; chưa chú trọng việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức; chưa có ý thức giữ gìn, phát huy các phẩm chất, giá trị đạo đức tốt đẹp của phụ nữ, của dân tộc Bên cạnh đó, tình trạng thiếu việc làm, đời sống còn nhiều khó khăn, các vấn đề xã hội nảy sinh chậm được giải quyết, sự bùng nổ thông tin với nhiều loại thông tin ngoài luồng khó kiểm soát, sự du nhập văn hóa nước ngoài với lối sống đề cao sự hưởng thụ đang tác động vào các tầng lớp nhân dân, trong đó có phụ nữ
Thực tiễn đã chứng minh khi xã hội ngày càng phát triển thì con người càng cần thiết phải am hiểu sâu sắc và khai thác triệt để các giá trị truyền thống dân tộc mình Bởi lẽ, sức sống của mỗi dân tộc bao giờ cũng bắt nguồn từ những yếu tố nội lực Điều đó đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc nói chung và của người phụ nữ Việt Nam nói riêng, tạo điều kiện cho việc xây dựng chuẩn mực về lối sống phù hợp yêu cầu phát triển của xã hội Đó cũng chính là một nội dung quan trọng trong việc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng Vì vậy, việc làm rõ vấn
đề “Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng
lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta hiện nay” là việc làm cần thiết, cấp bách,
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc nói
Trang 11chung, giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ nói riêng và việc xây dựng lối sống là vấn đề được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu ở những mức độ khác nhau
Xung quanh vấn đề giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và việc kế thừa
chúng có thể kể đến các công trình sau: "Giá trị tinh thần truyền thống của dân
tộc Việt Nam" của GS Trần Văn Giàu, Nxb Khoa học xã hội, 1980; "Đến hiện đại
từ truyền thống" của GS Trần Đình Hượu, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1996;“Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” do GS Phan Huy Lê - Vũ Minh
Giang làm chủ nhiệm (Chương trình KHCN cấp Nhà nước đề tài KX.07-02, gồm
2 tập xuất bản năm 1994 và 1996); "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì
mục tiêu phát triển" của GS Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số
2/1998… Các công trình trên tập trung vào những nội dung chủ yếu là truyền thống và đạo đức truyền thống của dân tộc, về vai trò của chúng trong lịch sử vẻ vang của dân tộc ta và nhấn mạnh vai trò của truyền thống hiện nay, khi đất nước
ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Năm 2001, Viện Triết học của Việt Nam và Hội đồng nghiên cứu triết học
và giá trị của Mỹ phối hợp tổ chức Hội thảo với chủ đề “Giá trị truyền thống và
những thách thức của toàn cầu hóa” tại Việt Nam Các bài tham luận của các
nhà khoa học trong và ngoài nước xoay quanh vấn đề quan trọng đó là: Làm thế nào để vừa giữ được giá trị dân tộc, vừa loại bỏ được những truyền thống đã trở nên lỗi thời, lạc hậu và tiếp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm phát huy giá trị dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Luận án Tiến sĩ Triết
học của NCS Nguyễn Văn Lý với đề tài: “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo
đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” cũng đi theo hướng đó
Giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ là một bộ phận của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Vì vậy, nghiên cứu về truyền thống đạo đức của phụ nữ,
GS Trần Quốc Vượng đã có công trình nghiên cứu “Truyền thống phụ nữ Việt
Nam” do Nxb Văn hóa dân tộc phát hành năm 2000 Ngoài ra còn có nhiều bài
báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu, một số đề tài, luận án tiến sĩ và luận văn
Trang 12thạc sĩ đã nghiên cứu vấn đề kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc nói chung, của phụ nữ Việt Nam nói riêng, trong đó phải kể đến: "Phụ
nữ Việt Nam qua các thời đại" của Lê Thị Nhâm Tuyết - Ủy ban Khoa học Xã
hội Việt Nam - Viện Dân tộc học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973; "Ba cuộc
cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ" của Dương Thoa, Nxb Phụ nữ, Hà
Nội, 1976; "Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam" của Dương Thoa, Nxb Phụ nữ, 1982; "Việc làm và đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt
Nam" của GS Lê Thi, Nxb Khoa học Xã hội; "Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; "Làm thế nào để phụ nữ trở thành chủ thể của quá trình đổi mới đất nước hiện nay" của GS Lê Thi, Tạp chí Khoa
học về Phụ nữ, số 4/1996; "Về chuẩn mực người phụ nữ mới thời hiện đại" của
GS Lê Thi, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 3/2004; "Kế thừa và phát huy giá
trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay" của Lê
Thị Minh Hiệp, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2000; "Phát huy giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới cho người phụ nữ Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thị Lan, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội,
2001…
Các công trình này đi sâu nghiên cứu vai trò, những giá trị truyền thống của phụ nữ Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử, đồng thời nhấn mạnh vị trí, vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và các lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau
Ngoài những công trình trên đây, vấn đề lối sống và xây dựng lối sống là một yêu cầu quan trọng mà thực tiễn nước ta đặt ra Vì vậy, việc nghiên cứu chúng được đặt ra khá phong phú, đa dạng Dưới đây, xin nêu một số tác giả và công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Trong cuốn “Lối sống xã hội chủ nghĩa” của tập thể tác giả Viện Hàn
Lâm khoa học Liên Xô (cũ) đã xem xét những vấn đề cơ bản của lối sống XHCN, những đặc trưng cơ bản của nó để từ đó xác định các phương hướng chủ yếu để tiếp tục hoàn thiện lối sống XHCN
TS Nguyễn Viết Chức (chủ biên) với cuốn “Xây dựng tư tưởng, đạo đức,
Trang 13lối sống và đời sống văn hóa ở Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” do Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa - Thông tin xuất bản, Hà
Nội, 2001 đã đề cập đến tầm quan trọng và cần thiết của việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội
Đề tài nghiên cứu KHXH-04.03: “Xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn
mực giá trị xã hội mới trong điều kiện CNH, HĐH phát triển KTTT theo định hướng XHCN” do Huỳnh Khái Vinh làm chủ nhiệm (thuộc chương trình khoa
học - công nghệ cấp Nhà nước KHXH-04, Hà Nội, 2000) là đề tài nghiên cứu khá toàn diện có tính hệ thống những vấn đề lý luận về lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội, phân tích sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội và xu hướng chuyển đổi lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; từ đó nêu phương hướng, quan điểm chỉ đạo và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn mực giá trị xã hội mới trong điều kiện CNH, HĐH, phát triển KTTT theo định hướng XHCN
Đề tài nghiên cứu KX.03.07/06-10: “Đặc điểm tư duy và lối sống của con
người Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà làm chủ nhiệm (thuộc chương trình
khoa học công nghệ cấp Nhà nước KH.03/06-10, Hà Nội, 2010), đã tiếp cận và
đi sâu nghiên cứu về đặc điểm tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam cũng như sự biến đổi của các đặc điểm ấy trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, chỉ ra những bất cập của tư duy và lối sống ấy trước yêu cầu đổi mới của đất nước
Ngoài ra, còn có các công trình khoa học, luận án, luận văn, bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí khác đề cập đến lối sống, xây dựng lối sống Một số tác phẩm tiêu biểu về lối sống của các nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ) được dịch ra
tiếng Việt như: Bàn về khái niệm lối sống của tác giả N.I.Be-lô-va, Viện Xã hội học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội xuất bản, Hà Nội, 1997; Lối sống xã hội chủ
nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982; Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng có nhiều
công trình nghiên cứu về lối sống Đó là: “Lối sống trong đời sống đô thị hiện
nay” do PGS.TS Lê Như Hoa (Chủ biên), Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội,
Trang 141993; “ Vấn đề xây dựng lối sống dân tộc hiện đại ở nước ta hiện nay” của GS
Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số 6, 1999; “Xây dựng lối sống mới trong điều kiện
hiện nay” của Phan Huy Kỳ, Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 7, 1999; “Lối sống người Việt Nam hiện nay dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay”, Nguyễn
Văn Huyên, Tạp chí Triết học, Số 12, 2003; “Nhận diện một số tác nhân làm
chuyển biến lối sống của người Hà Nội trong nửa thế kỷ qua” của Đỗ Huy, Tạp
chí Xã hội học, số 1, 2005; “Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay (từ góc độ
văn hóa truyền thống dân tộc)” của Võ Văn Thắng, Nxb Văn hóa - Thông tin và
Viện Văn hóa, Hà Nội, 2006; Luận án tiến sĩ triết học của Đặng Quang Thành,
2005 “Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
trong công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN”…
Như vậy, trong thời gian qua đã có nhiều các công trình khoa học, bài viết bàn về vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc; truyền thống phụ nữ; lối sống, xây dựng lối sống… ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ nước ta giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, cấp bách Vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách chuyên sâu và có
hệ thống hơn nữa trong lĩnh vực này
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích của đề tài:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn các giá trị đạo đức truyền thống của phụ
nữ Việt Nam Đồng thời, trên cơ sở phân tích thực trạng của việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta hiện nay, đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ giai đoạn hiện nay
* Nhiệm vụ của đề tài:
Để thực hiện mục đích trên luận văn thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, làm rõ các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và
tầm quan trọng, nội dung, yêu cầu của việc phát huy chúng trong xây dựng lối
Trang 15sống văn hóa cho phụ nữ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Hai là, phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc kế thừa
các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ hiện nay Qua đó, phân tích, đánh giá nguyên nhân của thực trạng để rút ra những vấn đề cần giải quyết nhằm thực hiện kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống ở phụ nữ trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ
Ba là, đưa ra định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm kế thừa và
phát huy hiệu quả các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài các giá trị đạo đức truyền thống, lối sống của phụ nữ nói chung Trên cơ sở đó, kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa của người phụ nữ hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu:
Do điều kiện hình thành của nó, đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam
có những yếu tố tích cực và tiêu cực Song, luận văn tập trung phân tích những giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam cần được kế thừa
Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu vấn đề xây dựng lối sống văn hóa cho đối tượng cụ thể đó là phụ nữ ở nước ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng, Nhà nước về con người, đạo đức nhất là về những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ở phụ nữ cùng việc kế thừa, phát huy nó trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta hiện nay là cơ sở lý luận trực tiếp của luận văn Luận văn sử dụng những phương pháp: lôgíc và lịch sử, đồng thời sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; trong đó, những quan điểm cơ bản của
Trang 16chủ nghĩa Mác-Lênin về kế thừa, phát huy đạo đức là tư tưởng quán xuyến toàn
bộ luận văn này Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp điều tra xã hội học, những số liệu của Đảng và Nhà nước đã được công bố Đồng thời, có tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học, các báo cáo, tổng kết của Trung ương Hội LHPN Việt Nam… có liên quan đến vấn đề này
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc kế thừa
và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và vai trò của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hiện nay nói chung và quá trình xây dựng lối sống lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta nói riêng
Luận văn đề xuất một số định hướng, giải pháp cơ bản nhằm kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ hiện nay
Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập về đạo đức truyền thống dân tộc của phụ nữ và việc định hướng xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và tính tất
yếu của việc kế thừa chúng trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước
ta hiện nay
Chương 2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc kế thừa giá trị
đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam nhằm xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta hiện nay
Chương 3 Định hướng và giải pháp nhằm kế thừa giá trị đạo đức truyền
thống của phụ nữ Việt Nam trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước
ta hiện nay
Trang 17Chương 1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC KẾ THỪA
CHÚNG TRONG XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA
CHO PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Quan niệm về giá trị, giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống
1.1.1.1 Quan niệm về giá trị và giá trị đạo đức
Giá trị là khái niệm được bàn đến và sử dụng từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng bắt đầu bằng quan niệm lợi ích của các nhà triết học cổ đại như Xôcrat, Platôn và tiếp tục được phát triển ở thời kỳ Trung cổ và Cận đại Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX, giá trị học mới bắt đầu hình thành như một khoa học riêng
và giá trị trở thành một khái niệm trung tâm của giá trị học được sử dụng nhiều trong các ngành khác nhau như: kinh tế học, xã hội học, tâm lý học… với nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu của từng ngành
Xung quanh khái niệm giá trị, có nhiều cách tiếp cận, nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung các ý kiến đều cho rằng:
- Giá trị là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người, là những thành tựu góp phần vào
sự phát triển xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con người
- Giá trị vừa mang tính khách quan vừa mang tính lịch sử - xã hội Sự xuất hiện hay mất đi của giá trị không phụ thuộc vào ý thức của con người (chủ thể) mà
nó do yêu cầu của thực tiễn, của từng thời đại lịch sử trong đó con người sống và hoạt động Có thể nói, giá trị là một phạm trù mang bản chất người, nó được xác định trong mối quan hệ thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm Chỉ có trong xã hội loài người, sự vật mới có giá trị
- Giá trị đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người Nó là cơ sở, chuẩn mực để con người dựa vào lựa chọn cách thức suy nghĩ, xác định mục đích
và phương hướng cho hoạt động của mình phù hợp với cái chung của xã hội
Trang 18Vì vậy, chúng tôi đồng tình với định nghĩa sau: hiểu một cách chung nhất
“nói đến giá trị là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới" [6, tr.16]
Trong việc nghiên cứu giá trị, tùy theo nhận thức, nguyên tắc và mục đích tiếp cận khác nhau, người ta có thể có nhiều cách phân loại giá trị Ở cấp độ chung nhất, giá trị được chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần Giá trị vật chất được thể hiện rõ trong đời sống kinh tế, còn giá trị tinh thần được biểu hiện trên các lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, phong tục, tập quán… Giá trị tinh thần được phân chia thành các loại giá trị cơ bản như: giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị chính trị, giá trị thẩm mỹ…
Với tư cách là một yếu tố cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, giá trị đạo đức gắn với nhu cầu điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân và
xã hội theo hướng tạo nên sự thống nhất hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội Trong cuốn Lao động - nguồn vô tận của mọi giá trị, GS Vũ Khiêu đã
nhấn mạnh: “Giá trị đạo đức là những thái độ và hành vi được con người lựa
chọn, được đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương Giá trị đạo đức vì thế có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống xã hội” [43, tr.51]
Bản thân giá trị đạo đức, xét về mặt thời gian (lịch đại) có thể chia thành giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức hiện đại Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình do lịch sử tạo nên Truyền thống là sản phẩm của quá trình phát triển của mỗi dân tộc Nó là điều kiện để duy trì và phát triển cuộc sống Đó là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời
kỳ lịch sử, có nhiều tác dụng, có thể tích cực cũng có thể tiêu cực
Giá trị đạo đức là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, phức tạp của
lịch sử dân tộc và nó phải được hiểu đây là những giá trị đạo đức tốt đẹp thể
hiện trong những chuẩn mực đạo đức phổ biến, có tác động tích cực tới cộng đồng, điều chỉnh hành vi cá nhân cũng như mọi mối quan hệ trong xã hội, được đông đảo thừa nhận, mang tính ổn định tương đối và ăn sâu vào tâm lý, tập quán
Trang 19xã hội từ thế hệ này nối tiếp thế hệ khác của dân tộc Tóm lại, giá trị đạo đức của
một dân tộc là những phẩm chất đạo đức đặc thù nhất, bản chất nhất, đặc trưng cho cốt lõi văn hóa, tinh thần của dân tộc, góp phần cơ bản làm nên cốt cách, lối sống của những con người trong cộng đồng dân tộc đó
1.1.1.2 Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, nó là một dòng chảy liên tục nảy sinh, phát triển trong suốt tiến trình dựng nước, giữ nước của cha ông ta và được tích lũy, lưu truyền, chắt lọc, chuyển giao, tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời này qua đời khác Các giá trị đạo đức truyền thống là kết quả của các mối quan hệ giữa người với người, của những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định Mỗi giá trị đều góp phần vào việc tạo nên nét riêng biệt của con người Việt Nam, bản sắc Việt Nam Trong suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao thử thách, hy sinh để đấu tranh cho sự tồn tại và phát triển của mình Đất nước Việt Nam không chỉ là nơi ở, nơi sinh sống mà còn là thành quả kết tinh từ mồ hôi nước mắt, xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam Nó thăng hoa trong tâm thức người Việt Nam thành Tổ quốc thiêng liêng, thành quê hương yêu dấu Những điều kiện lịch sử - xã hội ấy là cơ sở cho sự hình thành và phát triển các giá trị đạo đức truyền thống mang bản sắc Việt Nam Lòng yêu quê hương, đất nước của con người Việt Nam được bắt nguồn từ đó; tinh thần cố kết cộng đồng, lối sống tình nghĩa của dân tộc Việt Nam cũng bắt xuất phát từ đây Đó là những giá trị đạo đức truyền thống bền vững, trường tồn của dân tộc Việt Nam Nó luôn luôn được bồi đắp thêm bởi những tinh hoa văn hóa của nhân loại, nhất là khi có
sự du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Giá trị đạo đức truyền thống là cái tồn tại mãi mãi và song hành cùng với dân tộc sau tất cả những gì đã mất đi trong quá trình vận động
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu để xác định các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Theo GS Trần Văn Giàu, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt
Nam bao gồm: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người,
Trang 20vì nghĩa” [25, tr.108] Giáo sư Vũ Khiêu thì cho rằng, giá trị đạo đức truyền
thống cao đẹp của dân tộc ta bao gồm: “lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết,
lao động cần cù và sáng tạo; tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc” 42, tr.74 GS Nguyễn Hồng Phong lại đưa ra quan niệm
“tính cách dân tộc gần như là tất cả nội dung của giá trị đạo đức truyền thống, bao gồm: tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo đức; cần kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo; lạc quan”
[68, tr.453-454]
Kết quả nghiên cứu của Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước:
"Con người Việt Nam - và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) cũng khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người [67, tr.32-34]
Ngoài ra, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng được đề cập đến trong
một số văn kiện của Đảng Nghị quyết 09 ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị “Về
một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay” đã khẳng định:
"Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động" [15, tr.19] Nghị quyết
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII Về xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, một lần
nữa nhấn mạnh: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình- làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử; tính giản dị trong lối sống…” [18, tr.56]
Từ quan điểm của các nhà khoa học cũng như của Đảng ta, có thể khẳng
Trang 21định: giá trị đạo đức truyền thống là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm, những
chuẩn mực, quy tắc, phong tục, tập quán đạo đức được truyền từ đời này sang đời khác và được mọi người hay một cộng đồng người nhất định tự nguyện noi theo
Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên một di sản giá trị đạo đức truyền thống vô cùng phong phú, trong đó bao gồm các giá trị điển hình sau: Tinh thần yêu nước; Lòng thương người sâu sắc; Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc; Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm
Tinh thần yêu nước: đó là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc Việt
Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền
thống, "là tiêu điểm của mọi tiêu điểm" Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của
nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có
ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc
bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh
mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước” [63, tr.171]
Sự hình thành và phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước Vì vậy, yêu nước đối với nhân dân ta trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để tạo sức mạnh bên trong bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc
Một trong những biểu hiện của tinh thần yêu nước là tinh thần bất khuất,
không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù Chính tinh thần yêu nước nồng nàn
đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm lược, người dân Việt Nam thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, mất định không chịu làm nô lệ, nó đã trở thành đạo lý và lẽ sống của mỗi người được sinh ra và lớn lên trên đất nước Việt Nam
Truyền thống yêu nước của người Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với
lòng thương yêu và quý trọng con người, nhất là những người dân lao động
Lòng thương người đó xuất phát từ tình cảm yêu quý con người “người ta là hoa
Trang 22của đất” Chính trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc,
cha ông ta đã rút ra triết lý: con người là vốn quý hơn cả, không có gì có thể so sánh được
Lòng thương người của dân tộc ta thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong làng xóm và trong cả cộng đồng dân tộc Người Việt coi trọng tình nghĩa hơn lễ nghĩa Tình ở đây là tình cảm sâu sắc
"máu chảy ruột mềm", thương nhau giữa những người trong một nước Nghĩa ở đây là trách nhiệm của mỗi người trước sự sống còn của đất nước, tình nghĩa ở đây cũng là thái độ thủy chung trong tình yêu, tình bạn Vì vậy, mà trong lịch sử dân tộc, những tấm gương vì nghĩa được ngợi ca, còn những hiện tượng "vô nhân đạo", "phụ tình bạc nghĩa" thường bị dư luận xã hội lên án phản đối Cũng với tình nghĩa ấy, dân tộc ta còn có thái độ nhân đạo khoan dung đối với cả quân thù, khi chúng đã hạ súng, bại trận thì "cấp ngựa cấp thuyền" cho lui về nước
Do đó, có thể khẳng định, tình thương yêu con người là giá trị đạo đức đặc trưng, rất đáng tự hào của dân tộc ta Nó gắn liền với tình yêu thương đồng loại
và là cái gốc của đạo đức, bởi lẽ nếu không có lòng nhân ái thì không thể có lòng yêu nước, thương nhân dân được
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc là một giá trị được tạo nên
từ trong sâu thẳm văn hóa dân tộc Trong lịch sử dựng xây đất nước, người dân Việt Nam đã phải chung lưng đấu cật, tương trợ hợp tác, giúp đỡ nhau tạo ra sức mạnh vật chất phi thường chiến thắng thiên tai Chính từ thực tế các cuộc đấu tranh với thiên tai và chống giặc ngoại xâm, cha ông ta đã rút ra chân lý đúng
đắn: "đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết", và "một cây làm chẳng nên non, ba cây
chụm lại nên hòn núi cao" Do vậy, có thể khẳng định, tinh thần đoàn kết là
nguồn sức mạnh lớn lao giúp nhân dân ta vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên và đánh thắng mọi thế lực xâm lược Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và là biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước, là động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Tinh thần đoàn kết cộng đồng là nét quan trọng trong ý thức và tâm hồn của người Việt Nam Những lễ hội truyền thống với niềm hân hoan và sự đồng cảm được tổ
Trang 23chức hàng năm lại thắt chặt thêm mối quan hệ cộng đồng Cộng đồng là điểm tựa của người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày, trong hòa bình và trong chiến tranh
Vì vậy, nhờ có truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc mà chúng
ta mới có được một dân tộc độc lập như ngày nay Nó trở thành sức mạnh tinh thần và đặc trưng cơ bản hình thành nên lối sống của con người Việt Nam nói chung và là nền tảng xây dựng nên lối sống văn hóa của phụ nữ nước ta trong giai đoạn hiện nay
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm
Cần cù và tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nó được hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc
Nó thể hiện ý thức trách nhiệm của mỗi người trong cuộc sống, trong sự nghiệp phát triển đất nước Cần cù gắn liền với tiết kiệm, cần mà không kiệm thì cuộc sống trở nên "ăn xổi", bấp bênh Kiệm mà không cần thì không có gì để kiệm
Do đó, trong cuộc sống phải biết khéo léo lo toan, sắp xếp hợp lý, tránh những lãng phí không cần thiết Chính với truyền thống cần cù và tiết kiệm ấy, cha ông
ta đã phát huy được sức mạnh của mình trong những cuộc chiến tranh nhân dân
vĩ đại và đã đạt được những thành quả to lớn để lại cho chúng ta ngày nay
Bên cạnh đó, dân tộc Việt Nam còn có nhiều giá trị đạo đức khác tạo nên cốt cách con người Việt Nam, như đức tính khiêm tốn, lòng thuỷ chung, tính trung thực, khát vọng hòa bình và yêu chuộng hòa bình Những đức tính này không tồn tại riêng rẽ mà liên quan đến nhau, đức tính này là điều kiện, là biểu hiện của đức tính kia Người ta không thể nói yêu Tổ quốc mà không yêu thương con người, không có lòng nhân ái, bao dung Thương người cũng là ý thức về tính cộng đồng, về lý tưởng phục vụ cộng đồng, về việc biết đặt cái chung lên trên cái riêng Cũng chỉ có yêu nước, con người ta mới lao động cần cù, sáng tạo
để kiến tạo cuộc sống của mình cũng như cuộc sống của con cháu mình Để thực hiện được những ước vọng đó, con người cần phải đoàn kết lại để xây dựng, bảo
vệ những thành quả do mình làm ra
Chính những giá trị đạo đức truyền thống này đã tạo nên lịch sử vẻ vang
Trang 24của dân tộc Việt Nam Chúng là nhân tố quan trọng định hướng tư tưởng, tình cảm, hành động của con người Việt Nam trong suốt quá trình phát triển của mình
1.1.2 Quan niệm về lối sống, lối sống văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm lối sống
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về lối sống, tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Vì vậy, cũng có nhiều cách định nghĩa các nhau về phạm trù
“lối sống” Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác đã chỉ rõ mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh, điều kiện sống của nó, như sau: “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất “ra sự tồn tại thể xác của cá nhân Mà hơn thế, nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ, một lối sống nhất định của họ” 56, tr.30
Qua đó, phương thức sản xuất theo C.Mác là cơ sở đầu tiên để nghiên cứu, tìm hiểu về lối sống Luận điểm trên thường được các nhà mác-xít dùng làm điểm xuất phát để nghiên cứu khái niệm lối sống Định nghĩa tiêu biểu và phổ biến nhất ở Liên Xô (cũ) định nghĩa lối sống gắn với hoạt động của con người Trong Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, đã nêu “lối sống xã hội chủ nghĩa”
là “những hình thức hoạt động sống của con người vốn có của CNXH, được quy định bởi điều kiện sống của họ trong phạm vi giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản” Công trình “Lối sống xã hội chủ nghĩa” do G.E.Gle-dơ-man chủ biên định nghĩa: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” 53, tr.45 Bên cạnh đó, tác giả V.Đôbơrianốp đưa ra quan niệm: “Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người” 24, tr.213 Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ở các nước XHCN trước đây khi bàn về khái niệm “lối sống”, thường nhấn mạnh vào tính chất XHCN và xác định các
Trang 25tiêu chí của nó từ sự đối lập với lối sống tư sản Có thể quy các định nghĩa này
về ba nhóm:
Thứ nhất, xem xét lối sống như một khái niệm bao quát nhiều yếu tố liên
quan đến cuộc sống của con người và của toàn xã hội (điều kiện sống, các hình thức hoạt động, các quan hệ xã hội, các hình thức thỏa mãn nhu cầu…)
Thứ hai, xác định lối sống thông qua các yếu tố bên trong, vốn có của chủ
thể hoặc xem lối sống là sự phản ánh nhu cầu của con người, cách thức thỏa mãn những nhu cầu đó, nghĩa là chất lượng của sự phồn vinh của con người; hoặc coi lối sống là nếp nghĩ, hành vi, nếp sống nội tâm của con người
Thứ ba, quan niệm lối sống như một phạm trù của xã hội học, chỉ sự
thống nhất hữu cơ giữa các hoạt động sống và những điều kiện sống quan trọng nhất của cá nhân hay nhóm xã hội
Ba nhóm định nghĩa trên thực sự chưa có nhóm nào có thể xác định đầy đủ
về nội dung của phạm trù “lối sống” Nhóm đầu tiên bị phê phán là mở rộng quá mức khái niệm “lối sống” và do đó đã làm mất đi những đặc trưng của nó Ngược lại, nhóm thứ hai thu hẹp lối sống vào những yếu tố bên trong của cá nhân, loại trừ khỏi khái niệm “lối sống” những mặt khách quan, những hoạt động quan trọng của con người như hoạt động lao động, hoạt động chính trị… Còn nhóm thứ ba thì lại không chú ý đến vai trò của yếu tố chủ quan trong lối sống
Ở Việt Nam, khái niệm “lối sống” được xem xét với một góc độ tổng hợp, trong đó có nói đến mối quan hệ giữa mặt chủ quan và khách quan, giữa hoạt động sống và điều kiện sống của con người, giữa hoạt động sản xuất và những hoạt động phi sản xuất Khi tiếp cận lối sống thông qua hoạt động sống của con người, nhóm tác giả của Tập bài giảng “Văn hoá xã hội chủ nghĩa” của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, định nghĩa: “Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người trong sinh hoạt tinh thần và văn hoá” 33, tr.217-218
Trang 26Còn theo định nghĩa của Nguyễn Trần Bạt, lối sống được hiểu là: “một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng Lối sống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng” Tác giả này còn giải thích thêm: “Lối sống bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như: Cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh ; Các phong tục tập quán; Cách thức giao tiếp, ứng xử với nhau; Quan niệm về đạo đức và nhân cách” [2]
Khi xem xét lối sống như những quan hệ xã hội, theo PGS.TS Lê Như Hoa: “Lối sống là tổng thể các quan hệ xã hội của con người với những hình thức và đặc trưng tiêu biểu cho mỗi dân tộc, quốc gia, vùng địa lý, nhóm xã hội trong những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hóa cụ thể” [31, tr.10] Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và nghiên cứu về phạm trù “lối sống”, nhưng có thể để có thể đi đến một định nghĩa về lối sống cần phải chú ý mấy vấn
đề sau:
- Lối sống là một phương thức sinh sống nhất định của con người mà mặt
cơ bản của nó là phương thức sản xuất;
- Phương thức sinh sống ấy là kết quả của sự tác động tích cực của con người vào điều kiện sống của mình trong mối quan hệ biện chứng giữa con người và hoàn cảnh;
- Lối sống là một thực thể xã hội với hệ thống những chuẩn mực xã hội của một cộng đồng nhất định mà cá nhân phải tuân theo
Nếu hiểu lối sống là cách thức con người bảo tồn và phát triển đời sống trong những điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định thì có thể thấy thực chất của lối sống là kiểu quan hệ với nhiều cấp độ: quan hệ với tự nhiên và xã hội; quan
hệ gia đình, làng xã và Tổ quốc… Tính chất của mỗi loại quan hệ trong những điều kiện sống nhất định sẽ làm nên đặc trưng của từng lối sống: chinh phục hay
lệ thuộc, bóc lột hay bình đẳng, đóng góp hay phụ thuộc, ăn bám… Chính những nét đặc trưng này sẽ hình thành hệ thống chuẩn mực xã hội để lối sống vận hành theo, tạo nên sự khác biệt của lối sống của từng cộng đồng và cá nhân
Từ những phân tích trên có thể đi đến một định nghĩa như sau: Lối sống là
Trang 27tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của cộng đồng (dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội ) và các cá nhân được vận hành theo những chuẩn giá trị nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Phân loại lối sống:
Lối sống như quan niệm nói trên là một phạm trù chung, phổ biến nhưng trong thực tế nó hết sức đa dạng do phụ thuộc vào hoàn cảnh địa bàn đặc thù dân tộc, giai tầng xã hội, trình độ phát triển kinh tế - xã hội Từ những điều kiện và hình thức biểu hiện mà có thể hình thành nên cách phân chia lối sống thành nhiều lĩnh vực sau:
Theo hình thái kinh tế - xã hội; theo giai cấp; theo tiêu chí tôn giáo; theo lứa tuổi, giới tính; theo lãnh thổ; theo trình độ chuyên môn; theo tiêu chí dân tộc; theo tiêu chí quản lý; theo tiêu chí đoàn thể; theo tiêu chí sức khỏe; theo tiêu chí
sự phát triển và lĩnh vực sản xuất có các loại lối sống: lối sống phong kiến, lối sống tư bản chủ nghĩa, lối sống XHCN, lối sống tư sản, tiểu tư sản, nông dân, công nhân, trí thức, lối sống Công giáo, lối sống Hồi giáo, lối sống Phật giáo, lối sống phụ nữ, lối sống người về hưu, lối sống thanh niên, lối sống nông thôn, lối sống đô thị, lối sống đồng bằng, lối sống miền núi, llối sống người lao động giản đơn, lối sống người lao động phức tạp, lối sống công nhân tay nghề cao, lối sống người Kinh, lối sống người Tày, lối sống người Khmer, lối sống của những người thực hiện chức năng quản lý và lối sống của những người thừa hành, lối sống đảng viên, lối sống đoàn viên thanh niên cộng sản, lối sống nhóm người tàn tật, lối sống nhóm người khỏe mạnh, lối sống nông nghiệp, lối sống công nghiệp
Việc phân loại lối sống có ý nghĩa cần thiết giúp chúng ta có cơ sở đi sâu phân tích đặc điểm của từng đối tượng, từng nhóm xã hội để xác định phương thức cụ thể để xây dựng lối sống mới cho phù hợp với yêu cầu đặt ra đối với con người Việt Nam nói chung và lối sống văn hóa của phụ nữ nước ta nói riêng trước yêu cầu của thực tiễn đặt ra hiện nay
Một số khái niệm liên quan đến lối sống:
Lẽ sống hay còn gọi là đạo lý sống, là biểu hiện quan trọng nhất của lối
sống Đây chính là phạm trù nhân sinh quan của lối sống, là cơ sở tinh thần,
Trang 28động lực, tư tưởng giải thích cho mục đích của lối sống Vì vậy, lẽ sống được xem là mặt ý thức của lối sống, phản ánh nhận thức của con người về chính bản thân trong các mối quan hệ xã hội Lẽ sống là mặt tự giác của lối sống, nó đóng vai trò dẫn dắt, định hướng, nhằm làm cho lối sống ổn định theo theo từng cá nhân, nhóm hay giai cấp, dân tộc
Nếp sống là mặt ổn định của lối sống Đó là những hoạt động sống đã trở
thành thói quen, thành phong tục, tập quán, thành quy ước của cộng đồng Nếp sống cho thấy khả năng thích nghi và sức sáng tạo của con người trong những điều kiện sống cụ thể Nếp sống làm nên sự đa dạng của lối sống giúp duy trì những kinh nghiệm sống mà loài người đã nhận thức được Giáo sư Vũ Khiêu
chỉ ra rằng: “nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong đời
sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người Những thói quen ấy còn gọi là tập quán” 43, tr.135 Như vậy, khái niệm lối sống chung và
rộng hơn khái niệm nếp sống Lối sống nói lên tính định hướng, định tính, chỉ ra phương hướng chính trị, tư tưởng của vấn đề Còn nếp sống nói lên tính định hình và định lượng
Mức sống là một thuật ngữ kinh tế - xã hội để đánh giá mặt vật chất của lối
sống dựa trên chỉ số về sự đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của cộng đồng Thông thường, mức sống phản ánh trình độ của nền sản xuất vật chất trong những điều kiện lịch sử nhất định Những chỉ báo của mức sống là hệ quả của sự phát triển của công cụ lao động, của năng suất sản xuất Xây dựng lối sống văn hóa không thể không chú ý đến đến việc nâng cao mức sống cho cộng đồng Tuy nhiên, không phải điều kiện duy nhất quyết định lối sống bởi sống đẹp không phải
là sống đầy đủ mà là sống có ý nghĩa dưới sự dẫn dắt của những lẽ sống cao đẹp
Kiểu sống là hình thức biểu hiện cụ thể của lối sống theo cá tính và theo
thị hiếu của cá nhân hoặc theo điều kiện quy định cụ thể nào đó của môi trường (cấp độ nhỏ) Trong lối sống đô thị cùng với sự phân tầng xã hội đã làm nảy sinh rất nhiều kiểu sống khác nhau Có thể nói tới như: kiểu sống của một gia đình, kiểu sống của giới trẻ, kiểu sống của giới nghệ sĩ… Do vậy, những người có
Trang 29mức sống khác nhau có thể có những kiểu sống khác nhau Nhưng kiểu sống đó
có đẹp, có đúng hay không lại phụ thuộc vào lối sống, một nếp sống nào đó Qua việc phân tích trên, có thể thấy lối sống như một phạm trù trung tâm
mà sự biểu hiện của nó trên các mặt cụ thể đã làm thành các phạm trù khác Mặt
ý thức của lối sống là lẽ sống, mặt ổn định của lối sống làm thành nếp sống, mặt trình độ của lối sống làm nên mức sống, chất lượng sống, mặt riêng biệt của lối sống làm nên lẽ sống Do đó, xây dựng lối sống văn hóa chính là sự tác động lên các mặt khác nhau của lối sống để đạt được những giá trị tốt đẹp, tạo nên hạnh phúc và khả năng phát triển của cá nhân và cộng động Do đó, xây dựng lối sống văn hóa là phải xây dựng nhiều yếu tố, nhiều mặt tạo nên tác động tổng hợp hình thành lối sống theo những chuẩn mực nhất định
1.1.2.2 Khái niệm lối sống văn hóa
Để xác định khái niệm lối sống có văn hóa cần làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và lối sống
Về phương diện nào đó, hai khái niệm này có điểm tương đồng Bởi khi nghiên cứu về cơ sở của sáng tạo văn hóa cũng như việc hình thành lối sống con người đều xuất phát từ lao động Lao động vốn là đặc tính của con người, để tách khỏi giới tự nhiên con người phải lao động nhằm cải biến thế giới và chính bản thân Có thể khẳng định, hoạt động lao động đã sáng tạo ra văn hóa và làm nên mặt căn bản của lối sống
Lối sống có liên quan mật thiết với văn hóa và có thể coi lối sống như một
bộ phận hợp thành của văn hóa, hay là một phương thức tồn tại và biểu hiện của văn hóa Lối sống của một dân tộc hình thành trong những điều kiện sống nhất định, bao gồm các điều kiện tự nhiên, địa văn hóa, truyền thống văn hóa, chuẩn giá trị xã hội… Sự khác biệt của điều kiện sống đã làm nên những đặc trưng của từng lối sống, tạo nên sắc thái văn hóa khác nhau Lối sống bao gồm hai mặt: mặt vật chất và mặt tinh thần Mặt vật chất biểu hiện ở quan hệ lao động, trình
độ và thời gian lao động, các phương thức thỏa mãn nhu cầu vật chất, các cách thức quản lý phúc lợi vật chất Mặt tinh thần của lối sống dựa trên các hoạt động sản xuất của cá nhân và nhóm xã hội, bao gồm các kiểu nhất định của hoạt động
Trang 30sáng tạo, lưu thông, trao đổi và giữ gìn các giá trị tinh thần như: các định hướng
và thước đo giá trị, các quan hệ đạo đức và thẩm mỹ Mặt tinh thần của lối sống
là những tiềm năng tinh thần của xã hội quy định các hoạt động sống của con người trong các điều kiện và môi trường xã hội cụ thể
Lối sống bao hàm cả đặc trưng nội dung lẫn hình thức Những đặc trưng này chính là các giá trị văn hóa của lối sống Lối sống cố kết gia đình - làng xã -
Tổ quốc, lối sống trọng tình làng nghĩa xóm, lối sống nhân ái, thủy chung… đã làm nên những nét bản sắc của văn hóa Việt Nam Văn hóa cá nhân biểu hiện ra trong lối sống Khả năng văn hóa hóa của cá nhân biểu hiện ra ngay trong giao tiếp, trong hành vi ứng xử, trong các quan hệ xã hội Một lối sống lành mạnh, hài hòa trong các quan hệ là dấu hiệu của một trình độ văn hóa cao Sự lành mạnh của lối sống cũng là dấu hiệu của một đời sống văn hóa tốt đẹp, nó thể hiện khả năng bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc trước những “cơn gió độc” của các tác nhân ngoại lai
Có thể khẳng định, khái niệm “lối sống văn hóa” ra đời là để nhấn mạnh đến yêu cầu về phẩm chất văn hóa của việc xây dựng lối sống của cộng đồng trong xã hội Đó còn là kết quả nhận thức về tình trạng suy thoái trong lối sống, thực trạng của lối sống thiếu văn hóa của một bộ phận dân cư hiện nay Đồng thời, nó cũng nhấn mạnh đến vai trò chủ động của chủ thể trong việc tự giác xây dựng cho mình một lối sống tốt đẹp phù hợp với yêu cầu xã hội
Hiện nay, xây dựng lối sống văn hóa là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa ở nước ta Kết quả của quá trình xây dựng nền văn hóa được biểu hiện ra ngay trong lối sống của cộng đồng Có thể nói, xây dựng lối sống văn hóa chính là xây dựng một lối sống Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Lối sống tiên tiến trước hết phải là lối sống tiến bộ, thể hiện tinh thần yêu
nước và hướng tới cộng đồng Khái niệm lối sống tiên tiến ở đây bao gồm hai nội dung Một là, lối sống lành mạnh, văn minh, lịch sự, chứa đựng các giá trị tốt đẹp mà con người đạt được Hai là, lối sống được dẫn dắt bởi một lẽ sống cao quý mà trên tất cả là lòng yêu nước, được biểu hiện thành thái độ sống hướng tới
Trang 31cộng đồng, có ý thức công dân, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ cương phép nước, có
ý thức phấn đấu đưa đất nước vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Ở nước ta hiện nay, lẽ sống dẫn dắt một lối sống tiên tiến phải được xây dựng trên cơ sở thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh Thế giới quan Mác-Lênin trang bị cho lẽ sống mục đích cao cả, hướng tới sự nghiệp giải phóng con người Còn tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trang bị cho lẽ sống tình yêu đối với các giá trị dân tộc, sự giản dị của lối sống, thái độ tận tụy đối với công việc, tinh thần hy sinh, tinh thần học tập nâng cao hiểu biết và năng lực phục vụ nhân dân, đạo đức cách mạng trong sáng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư
Như vậy, tính chất tiên tiến của lối sống chứa đựng cả những giá trị tốt đẹp thuộc về dân tộc cũng như những giá trị nhân loại, nó là “chiếc cầu nối” giữa dân tộc và quốc tế, đồng thời thể hiện sự tiến bộ của lối sống dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển
Lối sống đậm đà bản sắc dân tộc là một yêu cầu của quá trình hội nhập và
phát triển Bản sắc dân tộc trong lối sống Việt Nam là những giá trị vốn có trong quá trình cộng đồng các dân tộc nước ta gìn giữ và xây dựng đất nước, được thể hiện thông qua các lĩnh vực sản xuất và chiến đấu, lao động và học tập, giao tiếp
và ứng xử nghĩa là tồn tại ngay trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam Bản sắc dân tộc là yếu tố cốt lõi giúp cho lối sống giữ vững những giá trị truyền thống, tránh không bị lai căng, không mất gốc Tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc thống nhất nhất hữu cơ trong giá trị của lối sống, tính chất này làm điều kiện cho tính chất kia Không thể có lối sống tiên tiến mà lại xa rời các giá trị của dân tộc, lai căng, ngoại lai Tương tự, không thể đậm đà bản sắc dân tộc
mà lại không tiến bộ, yêu nước
Xây dựng lối sống văn hóa thực chất là đề cao một bộ phận quan trọng của việc xây dựng con người - chủ thể thực hiện lối sống ấy Xây dựng lối sống văn hóa, lối sống Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới của đất nước theo định hướng XHCN thực chất là xây dựng con người có văn hóa, công dân của xã hội với những đức tính tốt đẹp của dân tộc nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Do đó, tính chất tiên tiến, đậm đà bản sắc
Trang 32dân tộc của lối sống văn hóa phải hướng tới việc hình thành những phẩm chất của con người Việt Nam giai đoạn hiện nay
Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) cũng xác định con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới cần có những đức tính sau: “Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu
vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng;
có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái; Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội; Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực 18, tr.58-59
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung
và phát triển năm 2011) xác định rõ con người mới Việt Nam: “Có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính” 23, tr.76-77
Với những điều đã trình bày như trên, có thể khẳng định lối sống văn hóa chính là những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam biểu hiện trong các quan
hệ ứng xử hàng ngày, vốn được hình hình trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, có sự vận động và biến đổi để đáp ứng những yêu cầu cụ thể của thời đại Chúng được xác lập trong mối quan hệ với những giá trị văn hóa có tính phổ quát của nhân loại, với yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN hiện nay với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Vì vậy, những đặc điểm cơ bản của lối sống văn hóa bao gồm:
- Tinh thần yêu nước, yêu CNXH;
- Tình yêu lao động, lao động sáng tạo;
- Sống có đạo đức trong sáng, nghĩa tình, trung thực, tiết kiệm;
- Có tinh thần tập thể, ý thức kỷ luật;
Trang 33- Không ngừng học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt;
- Có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
Những đặc điểm trên đây hợp thành một chỉnh thể thống nhất làm nên lối sống văn hóa của con người và cộng đồng Về bản chất, chúng không hề tồn tại tách rời mà gắn kết chặt chẽ với nhau, yếu tố này quy định yếu tố kia và ngược lại Trong đó, tinh thần yêu nước là đặc điểm bao trùm nhất, không thể có một con người tự nhận là yêu nước mà lại lười nhác lao động, lười nhác học tập, không có tình cảm yêu thương những người xung quanh, yêu thương môi trường sống - mảnh đất nơi chôn rau cắt rốn của mình Tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc là nền tảng, động cơ tinh thần cho toàn bộ hoạt động của con người trong đó có hoạt động lao động, học tập, bảo vệ môi trường sống… Lòng nhân ái khiến người ta yêu thương những con người cùng chung đất nước, yêu thương đồng bào Ngược lại, tình yêu lao động, lòng yêu thương con người, tinh thần hăng say học tập, ý thức bảo vệ môi trường sống…chính là những biểu hiện
cụ thể của lòng yêu nước
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thống nhất khái niệm: lối sống
văn hóa là lối sống Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được hình thành trong điều kiện CNH, HĐH đất nước như một yêu cầu về nhân cách của con người phát triển toàn diện trong chiến lược phát huy nguồn lực con người để xây dựng đất nước hiện nay Tất cả những đặc điểm này tạo nên sự hài hòa trong các
quan hệ ứng xử của cá nhân và cộng đồng Đồng thời, tạo nên một lối sống văn hóa và những đặc điểm trên cũng chính là sự vận dụng, cụ thể hóa những đức tính của con người Việt Nam mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương khóa VIII đã xác định
1.2 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta
1.2.1 Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam
Truyền thống đạo đức phụ nữ là một bộ phận hữu cơ của truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống quý giá ấy đã được Bác Hồ viết trong thư gửi phụ nữ toàn quốc nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày phụ nữ Quốc tế: Phụ nữ Việt Nam ta
Trang 34sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù
Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII năm 1997, Tổng Bí thư
Đỗ Mười cũng khẳng định: “Truyền thống và phẩm giá của phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử Đó là lòng yêu nước, tình nhân ái, đức
hy sinh, trí thông minh, tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam Tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân trao tặng phụ nữ nước ta, chính là sự đúc kết một cách sâu sắc truyền thống vẻ vang
và phẩm giá cao đẹp đó” [34, tr.90-91]
Từ cách tiếp cận về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ở phần trước và
từ những nhận định trên về truyền thống đạo đức phụ nữ Việt Nam Có thể rút ra những nét tiêu biểu của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc biểu hiện ở phụ nữ Việt Nam cần phải kế thừa trong xây dựng lối sống, đó là:
- Yêu nước, anh hùng, bất khuất;
- Đảm đang;
- Trung hậu;
- Yêu thương chồng con;
- Phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc;
Lòng yêu nước, truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên vị trí hàng đầu những giá trị đạo đức cao cả của người phụ nữ Việt Nam Lịch sử đã khắc sâu một chân lý: Phụ nữ Việt Nam không chỉ
lo việc nhà mà còn lo việc nước Bởi lẽ, ở Việt Nam, Nước và Nhà, Làng và Nước không bao giờ tách rời nhau, đó là những tiếng thân thương, quen thuộc trong tâm thức của người Việt Nam, nó biểu thị rõ rệt và cô đúc sự gắn bó của các tổ chức xã hội Việt Nam xưa Con người ở đây ý thức được rằng: nước mất thì nhà tan Vì thế, cứu nước không chỉ là nhiệm vụ của đàn ông mà đàn bà cũng
lo cứu nước Mặt khác, trong các cuộc chiến tranh, bọn xâm lược trực tiếp đánh vào người phụ nữ, chà đạp nhân phẩm, cướp đi quyền sống, quyền làm mẹ của
họ, chúng không chỉ “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn” mà còn “Vùi con
đỏ xuống dưới hầm tai vạ” Trước tai hoạ trực tiếp đó, người phụ nữ chỉ còn con đường quyết liệt đấu tranh, đứng lên cầm vũ khí, tham gia vào những cuộc đấu
Trang 35tranh chống xâm lược
Trong suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, biết bao thế hệ phụ nữ đã trở thành chiến sĩ trong những lần vận nước gặp nguy nan, từ đội ngũ nữ tướng thời
Bà Trưng đến “đội quân tóc dài” thời đại mới Hai Bà Trưng và các nữ tướng của hai bà là những người mẹ, người chị, những người con gái Việt Nam đã nêu cao tấm gương “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Đấy là những nữ anh hùng tiêu biểu cho tinh hoa dân tộc trong giai đoạn phôi thai của lịch sử Góp phần vào ngọn nguồn của truyền thống đánh giặc của phụ nữ Việt Nam xưa,
200 năm sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của “Vua bà” Triệu Thị Trinh, cuộc khởi nghĩa ấy một lần nữa khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập dân tộc và khí phách của người phụ nữ Việt Nam với câu nói bất hủ: Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người
Truyền thống đánh giặc của Bà Trưng, Bà Triệu đã được phụ nữ Việt Nam kế thừa và phát huy từ thế hệ này qua thế hệ khác Không chỉ có một Trưng Vương, một “Vua bà” mà còn có hàng vạn Trưng Vương, hàng vạn “Vua bà” vô danh khác đã góp phần xương máu của mình làm cho dòng truyền thống đánh giặc giữ nước quý báu này phát triển mạnh mẽ và liên tục
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã kiên cường, anh dũng đấu tranh với kẻ thù trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu Lịch sử sẽ mãi ghi dấu sự chiến đấu và hy sinh dũng cảm của Mẹ Suốt - liệt sỹ, mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lao động - người đã chèo hàng trăm lượt đò chở cán bộ và
bộ đội qua sông trong đó, có không ít lần phải vượt qua làn bom lửa đạn và các trận đánh phá ác liệt của giặc Mỹ trên dòng sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình Khi nói đến bà Nguyễn Thị Định, Phó tư lệnh Quân giải phóng, sau là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế,
Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cả thế
giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy Thật là vẻ vang cho miền Nam,
Trang 36cho cả dân tộc ta” Hay tấm gương của chị Võ Thị Sáu - người con gái Đất Đỏ
tham gia hoạt động tình báo giao liên cách mạng và bị giặc bắt khi mới 15 tuổi
Và sự hy sinh anh dũng của liệt sỹ, bác sỹ Đặng Thùy Trâm - người con gái Hà Thành “chân yếu, tay mềm” mà làm cho kẻ thù bên kia chiến tuyến phải cúi đầu kính phục bởi lòng quả cảm và khí phách anh hùng dám xả thân vì đất nước Tiếp nối truyền thống vẻ vang, bằng thành tích học tập, lao động và chiến đấu của mình, phụ nữ Việt Nam đang nỗ lực công hiến và thực sự trở thành những tấm gương đạo đức về lòng yêu nước Đặc biệt như chị Phạm Việt Nga, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần dược Hậu Giang, một hình mẫu về bản lĩnh phụ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới; chị Hoàng Thị Mái, người phụ nữ Hmông ở Điện Biên trở thành đại diện của Việt Nam trong Hội nghị "Thế giới không có người nghèo" của UNDP tổ chức, chị Phan Thị Xuân Mai ở Tiền Giang, người được FAO chọn là người phụ nữ nông dân xuất sắc khu vực châu Á Chị Nguyễn Việt Nga, một trong 5 chiến sỹ của Tiểu đội 11 cô gái sông Hương, 2 lần bán nhà nuôi con học đại học những tấm gương ấy là bằng chứng sống động cho sự tiếp nối xuất sắc truyền thống yêu nước nồng nàn, khát vọng được cống hiến cho đất nước của phụ nữ nước ta ngày nay
Từ những phân tích trên có thể khẳng định: trong tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước, xây dựng đất nước của dân tộc đã rèn luyện và hình thành nên những giá trị đạo đức phổ quát và bền vững ở người phụ nữ Việt Nam đó là:
Lòng yêu nước nồng nàn, khí phách anh hùng, kiên cường, bất khuất và ý chí tự cường dân tộc
Phụ nữ Việt Nam không chỉ đánh giặc giỏi mà họ còn rất cần cù, đảm
đang trong sản xuất, trong công việc gia đình và tham gia hoạt động xã hội Từ
xưa tới nay, phụ nữ giữ vị trí không thể thiếu trong gia đình Họ lo toan chi phí kinh tế, đảm nhận những công việc rất đặc trưng của nữ giới, đó là "nữ công gia chánh" Trong lịch sử, phụ nữ nước ta luôn khẳng định vai trò quan trọng và có những đóng góp to lớn, vào quá trình phát triển của dân tộc Truyền thống ấy ngày càng được bồi đắp và phát triển phong phú, tạo nên danh hiệu cao quý cho người phụ nữ Việt Nam hiện đại “giỏi việc nước, đảm việc nhà” Chính vì vậy,
Trang 37Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhấn mạnh: Trên chặng đường chuyển hóa từ mẫu hệ sang phụ hệ và cả mãi về sau này nữa - xã hội Việt Nam cổ truyền đã thừa hưởng và vẫn bảo lưu một truyền thống vững chắc và tốt đẹp, đó là vai trò quan trọng của người đàn bà, người mẹ trong gia đình, ngoài xã hội
Cùng với những đức tính cần cù, đảm đang, phụ nữ Việt Nam còn có lòng
yêu thương chồng con hết mực Là người vợ, người phụ nữ hết lòng yêu thương
chồng, chăm lo cho chồng, cùng chồng chia sẻ mọi công việc trong sản xuất, chăm sóc giáo dục con cái, trong đánh giặc bảo vệ Tổ quốc và trong sinh hoạt cộng đồng Trong gia đình người nông dân Việt Nam hình ảnh vợ chồng cùng nhau gánh vác công việc chung, được phản ánh trong các câu ca dao về lao động sản xuất, về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
Dưới chế độ cũ, bao nhiêu nỗi lo chồng chất trên đôi vai mềm mại mà vô cùng đảm đang của người mẹ, người vợ Tuy vất vả, nhưng người phụ nữ vẫn dịu dàng, thương yêu, thủy chung quan tâm chăm sóc đến chồng, đến con Những người phụ nữ tần tảo đó sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng của mình cho gia đình Họ chỉ mong góp phần cho sự sống và thăng tiến của chồng con, mà không có yêu cầu cho riêng mình Không chỉ yêu chồng, phụ nữ Việt Nam còn là người mẹ hiền Là người vợ, họ thực hiện chức năng thiêng liêng của người phụ
nữ, là điều mà Mác - Ăngghen gọi là "Sự phân công lao động đầu tiên là sự phân công giữa đàn ông và đàn bà trong việc sinh con đẻ cái" [55, tr.104]
Trong gia đình, cùng với người chồng, người phụ nữ là người thường xuyên trực tiếp nuôi dạy con cái, họ dịu hiền và khéo léo Hình ảnh người mẹ với những lời mẹ dạy có ảnh hưởng lâu bền đối với quá trình phát triển của con cái, đặc biệt là trong lĩnh vực thẩm mỹ, văn hóa gia đình, vai trò của người mẹ chiếm ưu thế tuyệt đối Người phụ nữ chính là người thầy, nhà giáo dục đầu tiên của con cái mình Chính những lời dạy bảo con cái của người mẹ, những lời ru, câu hát của các thế hệ bà mẹ Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển tinh hoa của nền văn hóa dân tộc Bà mẹ Việt Nam nuôi dạy các con theo tinh thần và ngôn ngữ Việt Từ những lời ru, tiếng nói hàng ngày, đến những câu chuyện cổ tích phản ánh cuộc sống và tâm hồn người Việt đưa con
Trang 38vào giấc ngủ, người mẹ đã truyền cho con tình yêu quê hương, đất nước, đạo lý làm người nền văn hóa dân tộc đã được người phụ nữ truyền cho thế hệ mai sau một cách thường xuyên tự giác
Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc còn thể hiện tài năng của mình trong văn chương, học thuật nước nhà Thế kỷ XV, Nguyễn Thị Lộ, vợ nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi là người có tài năng văn học tuyệt vời nên được mời vào triều làm chức Lễ nghi học sĩ Bà Ngô Chi Lan giỏi văn chương được Lê Thánh Tông vời vào triều dạy cung nữ Đoàn Thị Điểm đã mở trường dạy học cho Nho sinh Hồ Xuân Hương người tài dùng thơ văn chiến đấu chống lại lễ giáo và đạo đức phong kiến, đấu tranh cho quyền sống và hạnh phúc của phụ nữ
Phụ nữ Việt Nam cũng là người khai sinh, xây dựng một số loại hình nghệ thuật dân tộc như, bà Phạm Thị Trân - bà tổ nghề chèo, một loại hình nghệ thuật lấy tích truyện rút ra từ cuộc sống, thể hiện sự khéo léo kết hợp giữa việc giáo dục nghệ thuật và việc cổ vũ tinh thần chiến đấu vì độc lập dân tộc cho quân lính của bà thời vua Đinh thế kỷ X
Tóm lại, những phẩm chất quý báu, các giá trị đạo đức truyền thống cơ
bản của phụ nữ Việt Nam đó là: Yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm
đang, thủy chung, yêu thương chồng con, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc đã
và đang được phụ nữ cả nước kế thừa phát huy trong thời kỳ lịch sử mới Những giá trị đó vẫn luôn được các thế hệ phụ nữ kế tiếp nhau trong lịch sử trân trọng giữ gìn, phát huy và tùy theo những hoàn cảnh lịch sử của từng thời đại mà được phát triển, bổ sung những phẩm chất mới làm phong phú và bền vững thêm các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
1.2.2 Tầm quan trọng và những yêu cầu cơ bản trong xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta
1.2.2.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ ở nước ta
Một là, việc xây dựng lối sống văn hóa của người phụ nữ xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của chính bản thân người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay
Trong công cuộc xây dựng đất nước theo hướng CNH, HĐH, phụ nữ Việt
Trang 39Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Vai trò này đang được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ nữ trong gia đình Chủ yếu phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái, đồng thời
là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống và giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ trong gia đình Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động… Ở nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ dịch vụ
Với vị trí, vai trò và tiềm năng và thế mạnh của mình, phụ nữ Việt Nam thực sự đang giữ những trọng trách to lớn trước sự biến đổi của đất nước dù là phụ nữ ở thành thị hay nông thôn, đồng bằng hay miền núi, tôn giáo hay không tôn giáo, phụ nữ người dân tộc thiểu số hay đa số, trí thức hay nông dân… thì họ cũng có những đóng góp hết sức quan trọng vào thành quả cách mạng chung của
cả nước cũng như của giới mình để tạo nên những thắng lợi trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Có rất nhiều những tấm gương phụ nữ và nữ thanh niên vượt qua những khó khăn, thử thách khắc nghiệt của cuộc sống, của cơ chế thị trường vươn lên làm chủ cuộc sống trở thành những nữ trí thức có trình độ học vấn cao, nữ doanh nhân thành đạt hay nhà quản lý tài năng
Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam Trong Thế Kỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM và Hội phụ nữ Việt Nam tổ chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ Việt Nam Hà Thị Khiết đã tôn vinh người phụ nữ
Việt Nam: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích cực của
các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, phụ
nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triển theo xu thế chung của nhân loại”
Tuy nhiên, quá trình CNH, HĐH cũng đòi hỏi mọi tầng lớp trong xã hội,
Trang 40trong đó có phụ nữ phải tự “nâng mình lên” ngang tầng thời đại Hàng loạt những yêu cầu được đặt ra với mỗi công dân trong thiên niên kỷ mới, đó là: phải được trang bị tri thức, đạo đức, lối sống, sức khỏe, có khả năng cạnh tranh cao…
Có thể nói, hơn bao giờ hết phụ nữ Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức
Như vậy, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam vẫn, đang tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với người phụ nữ
Do vậy, người phụ nữ cần phải rèn luyện, phấn đấu hơn nữa để phát huy những tiềm năng thế mạnh của mình, đặc biệt phải biết gìn giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tu dưỡng đạo đức và xây dựng lối sống văn hóa để làm nền tảng cho sự hoàn thiện con người đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
Hai là, xây dựng lối sống văn hóa cho phụ nữ là nhằm hoàn thiện con người theo hướng “Chân - Thiện - Mỹ, phát huy phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam, tạo nền tảng để xã hội phát triển bền vững
Hoạt động của con người chân chính dù ở thời đại nào cuối cùng cũng hướng tới “ Chân - Thiện - Mỹ” Vì vậy, ý nghĩa cuộc sống chính là những thành quả của lao động, của sự sáng tạo mà con người cống hiến cho xã hội, đóng góp phần mình vào cuộc sống chung của thời đại và cho cả những thế hệ tương lai
“Chân - Thiện - Mỹ” được coi là trụ cột tinh thần có giá trị phổ quát trong đời sống xã hội loài người Trong đó, “Chân” được coi là gốc, là điểm xuất phát của
“Thiện” và “Mỹ” Song, khi đạt được đến đỉnh cao thì Chân, Thiện, Mỹ hầu như không còn ranh giới, chúng hòa làm một, trở thành nhân tố chủ đạo chi phối toàn
bộ mục đích, lẽ sống của con người
Trong quan niệm truyền thống của người Việt Nam, những đức tính như trung thực, tôn trọng sự thực rất được đề cao và coi trọng Khi sống chân thành, ngay thẳng, cái “Thiện” cũng lập tức xuất hiện và hòa quyện cùng với cái
“Chân” tưởng chừng giữa chúng không còn ranh giới, đó là lối sống ngay thẳng Khi đã đạt đến cái “Chân”, cái “Thiện” thì con người ta sẽ trở nên đẹp đẽ, trở thành tấm gương trong sáng, thành hình mẫu lý tưởng để người khác phải cố