Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC KỲ II – VĂN 11
I Phần văn học: Đọc - hiểu nội dung và nghệ thuật một văn bản mới
1 Chỉ ra biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận sau:
“Khắp non sông Việt Nam đang bừng dậy một sinh khí mới Sinh khí ấy đang biểu hiện trên khuôn mặt từng người dân, trong từng thôn bản, ngõ phố, trên từng cánh đồng,công trường, trong từng viện nghiên cứu, trên các chốt tiền tiêu đầu sóng ngọn gió,…”
-> - Ẩn dụ: bừng dậy một sinh khí mới
- Hoán dụ: đầu sóng ngọn gió
- Phép điệp: từng người dân, trong từng thôn bản, ngõ phố, trên từng cánh
đồng,công trường, trong từng viện nghiên cứu
- Phép liệt kê: từng người dân, từng thôn bản, ngõ phố, trên từng cánh đồng, công trường, trong từng viện nghiên cứu, trên các chốt tiền tiêu
- Kết hợp câu ngắn và câu dài
2 Chỉ ra biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận sau:
“Ai có súng dùng súng.Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng
cuốc,thuổng,gậy gộc.Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”
-> - Phép điệp: “Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”
- Phép liệt kê: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc
- Ngắt đoạn câu (phối hợp với các phép tu từ trên) để tạo giọng văn dứt khoát, mạnh mẽ
3 Hình ảnh lò than rực hồng cuối bài thơ “ Chiều tối “- Hồ Chí Minh có ý nghĩa như thế nào trong bức tranh chiều tối Điều này thể hiện đặc điểm gì của tâm hồn Bác?-> - Hình ảnh lò than rực hồng soi sáng chân dung thiếu nữ lao động xay ngô nơi xóm núi trở thành trung tâm bức tranh chiều tối Dường như Bác reo vui với ngọn lửa
Trang 2hồng và bỗng quên nỗi cô quạnh, u buồn của cảnh ngộ mình, chia sẻ với niềm vui đời thường ở người lao động.
- Tâm hồn cao đẹp của HCM luôn quên nỗi khổ lớn của mình để sẵn sàng chia sẻ niềm vui, cảm thông nỗi buồn dù nhỏ bé ở những người cùng khổ, nhân loại cần lao
4 “Người chiến thắng thực sự không phải là chiến thắng người khác mà là chiến thắng chính mình” HS hãy viết bài văn ngắn bình luận vấn đề trên
-> - Giải thích ý nghĩa nội dung câu nói: Chiến thắng chính bản thân mình là vượt lêntrên những dục vọng tầm thường, những tự ti mặc cảm, những thất bại trước mắt
- Muốn chiến thắng chính mình cần phải tôi luyện đủ mọi phẩm chất tốt: kiên trì, nhẫn nại, khắc phục những khó khăn, đúc kết những kinh nghiệm
5 Phân tích thành phần nghĩa tình thái trong câu sau: ‘Bác ấy cho tôi những ba quyểnsách.’
-> Nghĩa tình thái: “Những”: đánh giá số lượng
6 Vẻ đẹp câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” (Vội vàng- Xuân Diệu)-> - Lấy con người làm chuẩn mực để so sánh với thiên nhiên
- Cảm nhận mùa xuân bằng vị giác
7 Xác định hư từ và phân tích tác dụng thể hiện ý nghĩa của chúng trong đoạn văn sau:
“Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”
(Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc lập)
Trang 3tiến về mức độ.
+ Mà : chỉ mục đích
II Ôn nội dung nghệ thuật các tác phẩm:
1 Vội vàng ( Xuân Diệu ):
Trang 4Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;Này đây hoa của đồng nội xanh rì;Này đây lá của cành tơ phơ phất;Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa:Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đang qua,Xuân còn non, nghĩa là xuan sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,Không cho dài thời trẻ của nhân gian,Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…Con gió xinh thì thầm trong lá biếc,
Trang 5Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,\
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh áng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Trang 6a Tìm hiểu chung:
* Tác giả:
- Tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu (1916 – 1985), lớn lên ở Quy Nhơn -> ảnh hưởng đến hồn thơ của Xuân Diệu
- Để lại sự nghiệp văn học lớn
- Là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, được vinh danh là ông hoàng thơ tình Việt Nam, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới
- Là người nghệ sĩ lớn, nhà văn học lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự
nghiệp văn học phong phú
* Tác phẩm:
- In trong tập Thơ mới (1938), là tập thơ đầu tay, khẳng định vị trí Xuân Diệu
- Bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt, cái tôi cá nhân, in đậm hồn thơ Xuân Diệu, tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo,độc đáo trong nghệ thuật
b Đọc – hiểu văn bản:
* Cảm thức về thiên nhiên, cuộc sống tuổi trẻ:
- Nhà thơ muốn chống chọi với tự nhiên,cái thực thể vô hình bằng cái hữu hình trong tay để giữ lại cái thiên nhiên tươi đẹp
- Thiên nhiên và sự sống được phơi bày thật quyến rũ, đầy sức sống, ngọt ngào
- Thể hiện vẻ đẹp trong cuộc sống, sự bất tận của nó Nhà thơ nhìn thiên nhiên qua lăng kính của tình yêu, cặp mắt của tuổi trẻ, thiên nhiên và cảnh vật tràn ngập xuân tình
- Khát vọng được chiếm lĩnh vũ trụ
- Tác giả khẳng định ước muốn táo bạo
- Thể hiện cuộc sống tràn ngập niềm vui, đó là cách so sánh táo bạo,độc đáo, khái quát cảnh sắc xuân tình nồng nàn rạo rực và chan hòa sức sống
- Tất cả đều hiện hữu có đôi, có lứa, cách cảm nhận mới mẻ của Xuân Diệu
Trang 7- Điệp từ “ này đây “, liệt kê, điệp cấu trúc, từ láy, nhịp thơ gấp gáp, khẩn trương Tác dụng: diễn tả cảm giác ngây ngất, cuộc sống để tận hưởng
- Cách diễn đạt độc đáo, mới lạ, Xuân Diệu đã vật chất hóa khái niệm thời gian bằng cặp môi gần Tính từ “ngon” gợi hương thơm, vị ngọt khiến cho người ta đắm say, ngây ngất
- Nhân vật trữ tình muốn khao khát lưu giữ những hương sắc trong cuộc đời, đắm saytrong thiên nhiên bất tận, quyến rũ, thể hiện 1 quan niệm mới mẻ về cuộc sống, về tuổi trẻ và hạnh phúc
* Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời:
- Quan niệm chạy đua với thời gian, triết lý sống gấp gáp
- Thời gian 1 đi không trở lại, vận động không ngừng cùng với vũ trụ, khi mỗi phút giây đi qua nó sẽ mất đi vĩnh viễn
- Sự nhạy cảm trước sự chảy trôi 1 cách nhanh chóng của thời gian
- Cái hìn độc đáo của tác giả, mỗi khoảnh khắc trôi qua là 1 sự mất mát chia lìa
- Thi sĩ cảm nhận thời gian trôi rất nhanh
- Thời gian có mùi, có vị chia phôi
* Khát vọng sống, khát vọng tình yêu bùng lên cuồng nhiệt, hối hả:
- Thời gian trôi đi nhanh chóng, không thể níu giữ, 1 đi không trở lại Vì vậy, đối với tác giả chỉ còn 1 cách đó là hãy mau lên, vội vàng lên để mà tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình, tận hưởng sự sống đang độ chưa tàn phai
- Điệp từ, điệp cấu trúc- Động từ mạnh, tính tù được dùng tăng tiến dần- Hình ảnh tươi mới, đầy sức sống, mới mẻ, độc đáo
- Nhịp điệu trong câu thơ nhịp ngắn, nhịp dài
- Sự say mê đến cuồng nhiệt với một tâm hồn tràn ngập tình yêu
c Tổng kết
* Nội dung: Vẻ đẹp của mùa xuân, tuổi xuân; Quan niệm về thời gian và quan niệm sống “vội vàng” của Xuân Diệu
Trang 8* Nghệ thuật:
- Điệp từ, điệp cấu trúc ngữ pháp, so sánh, ngôn ngữ giàu hình ảnh,
- Hình ảnh gần gũi, quen thuộc, tươi mới, đầy sức sống, đầy sức quyến rũ
- Ngôn từ gắn với lời nói thường ngày được nâng lên thành nghệ thuật
- Nhịp điệu dồn dập, hối hả, cuồng nhiệt
d Nghị luận văn học: Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một lẽ sống: sống để yêu và tôn thờ Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc “hăm hở” làm thơ tình! Nhắc đến Xuân Diệu, sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên “Vội vàng”, “Đây mùa thu tới”, và “Thơ duyên” trong tuyển tập “Thơ thơ” – đứa con đầu lòng mà “ông hoàng thơ tình” đã ban tặng cho nhân gian Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêuthơ, thơ Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó, để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng, giàu có
mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm, tâm của hồn của cái “TÔI” trữ tình Xuân Diệu Thơ Xuân Diệu như một khúc tình si say đắm ngọt ngào…thật đến từng hơi thở!
Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu Từ nghìn năm tước, các bậc tiền bối đã có những vần thơ tràn trề về tình yêu đói với mùa xuân và cuộc sống Nhưng yêu đến mức có những ham muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu, đó
là điều thật mới mẻ, thật mãnh liệt Đặc biệt là cái cách nói của nhà thơ Trong thơ catrung đại, nét nổi bật là tính phi ngã, cái tôi trữ tình thường ẩn náu sau những hình tượng thiên nhiên Trong khi đó, Xuân Diệu bộc lộ ý thức về cái tôi trữ tình thật táo bạo: “Tôi muốn tắt nắng đi…đừng bay đi.”
Trang 9Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới, quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày xưa, thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi mây gió trănghoa, thì trong quan niệm thơ của Xuân Diệu, cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất, là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất! Thơ lãng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới, khác giới, một niềm khát khao giao cảm vớiđời, một lòng ham sống mãnh liệt đến tràn đầy Dường như lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông đã biến cái ham muốn “tắt nắng”, “buộc gió” trở nên quá táo bạo, đến
độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời, cảnh vật…muốn ôm tất cả, muốn giữ lại tất cảthiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó Ước muốn níu giữ thời gian, chặn vòng quay của vũ trụ,đảo ngược quy luật tự nhiên, phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền tạo hóa Nhưng trong cái phi lí đó, vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn yêu cuộc sống Với ông, sống là cả một hạnh phúc lớn lao, kỳ diệu, sống là để tận hưởng
và tận hiến Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất, một bữa tiệc lớn của trần gian Nhà thơ đã cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong “Vột vàng” vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khêu gợi
Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”: “Của ong bướm…khúc tình si.”
Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất.Nếu thơ xưa, các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và
Trang 10đất trời lúc xuân sang Trong đoạn thơ, điệp ngữ “này đây” được sử dụng 5 lần kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập, là một sự chỉ trỏ ngơ ngác, ngạc nhiên, lạ lẫm, như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào, nào là hoa của đồng nộixanh “rì”, nào là lá của cành tơ “phơ phất”, của yến anh là khúc tình “si”; thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên, căng
ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả Sự sống ngồn ngột đang phơi bày, thiên nhiênhữu tình xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những “món ăn” có sẵn Những vẻ đẹp được liệt kê bằng
những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu– cảnh vật trong thơ ông đã trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu, rất hãnh diện, được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh, đẹp đẽ, là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơdiễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật, trong đất trời
và của muôn loài Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt, biến hoá (3/2/3 và 3/5) Đặc biệt là những hình ảnh, những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể, in đậm phong cách XD: tuần tháng mật, đồng nội xanh rì … tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say!
“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi…Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân.”
Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời – vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng, tình tứ và lãng mạn đến thế Với Xuân Diệu, mỗi ngày được sống, được nhìn thấy mặt trời, được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui Hình ảnh “thầnvui hằng gõ cửa” gợi những liên tưởng gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi bút của
Trang 11Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:”Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màusắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian “tháng
giêng” so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể, mang tính nhục cảm Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi, vẹn nguyên, trong sáng, lại gần gũi và trẻ trung đến thế Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen hai luồngcảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu Nó dẫn nhà thơ đếnnhững suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lý Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của dòng chảy thời gian: “tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ lụi tàn …” Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong dòng thơ “Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa” Về hình thức, đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành 2 câu chứa đựng 2 tâm trạng, 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là “vội vàng một nửa” Thường thì con người ở tuổitrung niên mới tiếc tuổi xuân Ở đây Xuân Diệu đang xuân, đang quá đỗi trẻ trung
mà đã nuối tiếc, đã vội càng “Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân.” Vì sao vậy? Bởi với Xuân Diệu: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua…Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,”
Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí, vừa hợp lí, vừa quen lại vừa lạ Quen vì người xưa đã từng thở dài “xuất thì bất tái lai” Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu là tất cả sự sống của mình Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, thi sĩ bângkhuâng, tiếc nuối … Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, phải “hờn” vì xa cách, phải
Trang 12“sợ” vì “độ phai tàn sắp sửa” Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì
“hờn”, còn “chim” thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: “Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?” Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩngviễn… Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước
đi của thời gian Con người ấy lúc nào cũng “chẳng bao giờ nữa…” Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
Trong đoạn thơ này, cái giọng điệu sôi nổi, bồng bột, đắm say của Xuân Diệu thời
“thơ thơ” thể hiện đầy đủ nhất Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống hết mình Con tim ấy của một cái tôi trữtình từng bộc bạch một cách chân thành “Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ – mà vạn vật
là muôn đá nam châm.” Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau, lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc So với đoạn thơ trên, cách tự xưng của nhân vật trữ tình thay đổi Phần đầu bài thơ, thi sĩ xưng “tôi” – cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại Đến đây, thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đã có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với sự sống:”Chẳng bao giờ,…ta muốn cắn vào ngươi!”
Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt, thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả Ba chữ “Ta muốn ôm” được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì – sự sống giữa thời tươi vào lòng Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam, ham hố đang dứng giữa trầngian, cuộc đời, dòng đời để ôm cho hết, riết cho chặt, cho say, cho chếnh choáng, thâu cho đã đầy, cho no nê, cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa
Trang 13xuân… Tất thảy đều vồ vập, khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà, giao cảm mãnh liệt với vạn vật, với cuộc đời Đây quả là một khát khao vô biên,tuyệt đích, rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu Điệp từ, điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập, đầy bồng bột, đắm say Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào, ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần, mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn
tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn, say đắm: ôm, riết, say, thâu Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột, sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo “Và non nước, và cây, và cỏ rạng.” Một trạng thái tham lam, ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ Tròn cảm nhận của thi nhân, cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non, đầy hương sắc Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ, lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:” Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.” Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống Trong hồn thơ Xuân Diệu, mùa xuân – tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng, như mời mọc Trong câu thơ này, hình ảnh xuân hồng với từ “cắn” khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo, diễn tả niềm khao khát giao cảm mãnh liệt, sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng, là ham muốn không có giới hạn
Với bài thơ “Vội vàng”, Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu
“Thơ mới” Mới lạ nhưng táo bạo, độc đáo ở giọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuộc sống bằng tất cả các giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu “Vội vàng” đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, mang ý
Trang 14nghĩa nhân văn sâu sắc Đó là lòng yêu con người, yêu cuộc đời Đó là tình yêu cảnh vật, yêu mùa xuân và tuổi trẻ… Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn” Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu – vội vã với nhịp đập của thời gian.
2 Tràng giang ( Huy Cận ): Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp điệp,Con thuyền xuôi mái nước song song,Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bãi xanh tiếp bãi vàng
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Trang 15Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
"ang", một âm mở, và nhờ vậy còn gợi lên hình ảnh một con sông lớn, sông rộng
"Tràng giang" lại là một từ Hán Việt cổ điển nên cũng kín đáo gợi hình ảnh con sông
cổ kính, lâu đời Dòng "tràng giang" vì vậy không chỉ có chiều dài, chiều rộng địa lí
mà còn có chiều sâu của thời gian lịch sử Đó là con
sông như đã chảy từ ngàn xưa, đã trầm tích vào trong mình chiều sâu của hàng nghìn năm lịch
sử, hàng nghìn năm văn hoá, và dường như đã chảy qua biết bao áng cổ thi Con sông
vì vậy trở nên dài hơn rộng hơn mênh mang hơn xa xôi hơn vĩnh viễn hơn trong tâm trí người đọc Nhan đề
"Tràng giang" đã gợi lên một hình tượng độc đáo, không gian lớn lao có tầm vũ trụ, vốn là niềm
say mê của hồn thơ Huy Cận
* Lời đề từ:
- Ý nghĩa của nhan đề bài thơ càng được tô đậm hơn qua lời đề từ của tác phẩm
Trang 16- Các hình ảnh "trời rộng", "sông dài" gợi những phạm vi không gian khác nhau từ cao đến thấp;
xa đến gần một không gian lớn lao, mênh mang có tầm vũ trụ
- Nếu "bâng khuâng" là cảm giác xao xuyến, trống trải của con người khi đối diện trước không gian mênh mang rộng lớn, thì "nhớ" lại là hoài niệm của con người về điều gì đó đã xa khuất trong thời gian, trong không gian
- Cả dòng thơ đã bộc lộ thành thực nỗi niềm tâm
trạng con người khi đối diện trước thời gian, không gian; bộc lộ nối khắc khoải
không gian của hồn thơ Huy Cận
* Khổ 1: Cảnh sông nước mênh mông
- Không gian: sóng gợn tràng giang, nước trăm ngả, lạc mấy dòng
+ Hình ảnh cụ thể: hình ảnh của cõi nhân thế
+ Tương quan đối lập: không gian bao la đối ngược với cảnh nhân thế nhỏ bé, đơn côi của con người
-> Màu sắc cổ điển vẽ lên cho chúng ta hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi, lênh đênh, gợicảm giác cô đơn, xa vắng
* Khổ 2 và 3: Nỗi buồn được thấm sâu vào cảnh vật
- Khổ 2:
+ Cồn nhỏ lơ thơ gió đìu hiu: sự hoang vắng
+ Nỗi buồn cô đơn, niềm khao khát tìm đến cõi nhân thế để được giao hòa với con người
+ Không gian được mở rộng thêm ở nhiều chiều khác nhau
- Khổ 3: Cảnh vật nhiều nhưng càng chìm sâu vào tĩnh lặng, cô đơn, hoang vắng, lạnh lẽo
+ Bèo dạt về đâu: trôi nổi, vô định, lênh đênh
+ Mênh mông: không gian bao la
+ Không cầu: thế giới đơn lẻ, không có mối liên hệ
Trang 17-> Tăng sự chia lìa, thiếu vắng sự sống con người
* Khổ 4: Tấm lòng thương nhớ quê hương
- Cảnh thiên nhiên hùng vĩ
- Hình ảnh cánh chim: đối lập, tương phản, sự bơ vơ, cô đơn đến tội nghiệp
- Thi pháp đối lập, từ láy giàu giá trị biểu cảm
- Bút pháp tạo cảnh giàu tính tạo hình, có sự kết hợp giữa sắc thái cổ điển và hiện đại
* Ý nghĩa: Bài thơ mang vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương đất nước thiết tha của tác giả
d Nghị luận văn học: Cảm nhận bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945 Ông vốn quê quán Hương Sơn,
Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005 Trước Cách mạng tháng tám, thơ ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự" Nhưng sau Cách mạng tháng tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời" Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang" Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng tám Bàithơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến
Trang 18Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định Mang nỗi u buồn hoài như thếnên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc.
“Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài…Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ
"Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận Hai âm "anh" đi liềnnhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà cònrộng mênh mông, bát ngát Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng
Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình.Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bétrước vũ trụ bao la Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại
Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài" Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm
"bâng khuâng" và nhớ Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc
Trang 19Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:
”Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,…Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi
xa tận nơi nào, miên man miên man Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước
"song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi Trong cảnh có sự
chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào
Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại",nghe sao đầy xót xa Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả"
Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn
Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng" Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông Cành củi