+ Dạng đề tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp: thường gặp một câutục ngữ, một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bảnngắn… Đề 2: Viết một bài văn ngắn k
Trang 1- Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh
- Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong - Phạm Văn Đồng
- Việt Bắc (trích) - Tố Hữu
- Đất Nước (trích Trg ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn
Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
- Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc
Tường
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài
- Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành
- Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
- Số phận con người (trích) – Sô-lô-khốp
- Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê.
Câu II (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã
hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội
ngắn (không quá 400 từ).
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Dành cho Thí sinh học Chương trình chuẩn
- Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc Phạm
- Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
- Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài
- Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành
- Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
Trang 2TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
đó). - Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
(Nguồn từ “Cấu trúc đề thi TN THPT của Bộ giáo dục
& Đào tạo”)
Trang 3TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
PHẦN I: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Nghị luận xã hội gồm có hai dạng :
+ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống
I Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí : làm rõ những vấn đề tư tưởng, đạo lí
trong cuộc đời như : Lí tưởng (lẽ sống), Cách sống, hoạt động sống hoặc mối quan
hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ chồng, anh em vànhững người thân thuộc khác) cũng như ngoài xã hội với các quan hệ: tình làngnghĩa xóm, thầy trò, bạn bè…
* Các dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường gặp:
+ Dạng đề tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách trực tiếp
Ví dụ: Đề 1 Suy nghĩ của anh/chị về đức tính hy sinh.
Đề 2 Trình bày ý kiến của anh/chị về vấn đề:
Sự tự tin của con người trong cuộc sống.
+ Dạng đề tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp: thường gặp một câutục ngữ, một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bảnngắn…
Đề 2: Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị
về câu nói sau:
“Một trong những tổn thất không có gì bù đắp được là tổn thất về thời gian”.
* Kĩ năng làm văn nghị luận.
Các bước cơ bản của bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí:
- MỞ BÀI : Nêu vấn đề nghị luận
- THÂN BÀI :
+ Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
+ Phân tích, chứng minh những biểu hiện có liên quan đến vấn đề cần
bàn luận
+ Bình luận : Khẳng định những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện
sai lệch có liên quan đến vấn đề cần bàn luận Mở rộng vấn đề
- KẾT LUẬN : Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động cho
bản thân
* Một số đề bài và cách giải.
Đề 1 : Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của
anh/chị về câu nói: Thất bại là mẹ thành công.
Trang 4- Có được những thành công trong cuộc sống chính là biết đi lên từ những thấtbại Dẫn chứng
(Chú ý : Dẫn chứng phải tiêu biểu Có thể lấy dẫn chứng từ cuộc đời của các
nhà khoa học, các nhân vật lịch sử hoặc các nhân vật văn học…)
*Ý 2 Phân tích, Chứng minh câu ngạn ngữ.
-Học hành có những chùm rễ đắng cay: tốn thời gian, công sức ; bị quởmắng; thi hỏng…Quá trình học tập có những khó khăn, gian nan, vất vả (Lấy dẫnchứng từ cuộc đời của các nhà văn, nhà khoa học…)
-Vị ngọt của quả tri thức: niềm vui, niềm tự hào của gia đình; những khátvọng mới mẻ, sự thành công của bản thân trên con đường lập nghiệp (Lấy dẫnchứng từ cuộc đời của các nhà văn, nhà khoa học…)
-Chấp nhận đắng cay giai đoạn đầu để sau đó hưởng thành quả tốt đẹp lâudài (Lấy dẫn chứng từ cuộc đời của các nhà văn, nhà khoa học…)
*Ý 3 Bình luận câu ngạn ngữ.
+Câu nói bao hàm một nhận thức đúng đắn, một lời khuyên tích cực: nhậnthức được quá trình chiếm lĩnh tri thức, mỗi người cần có bản lĩnh, chủ động vượtqua khó khăn để thu nhận được thành quả tốt đẹp trong học tập
+Trong thực tế, nhiều người lười biếng không chịu khó học hỏi, trau dồikiến thức, không biết biến nhựa đắng thành quả ngọt dâng cho đời
(Học sinh có thể có sự lí giải khác nhau nhưng cần hợp lí và có sức thuyếtphục cao)
Trang 5- Điều ấy giúp con người có nghị lực, trưởng thành “trở nên mạnh mẽ”
*Ý 2 Phân tích, Chứng minh ý kiến.
- Trong mỗi con người, ai cũng có những thế mạnh và yếu
- Con người sẽ trở nên mạnh mẽ khi nhận thức, kiểm điểm bản thân một cáchnghiêm túc, trung thực
- Vấn đề này đã được chứng minh trong thực tiễn cuộc sống ở nhiều lĩnh vực,trong những hoàn cảnh khác nhau (đưa những dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu.)
*Ý 3 Bình luận ý kiến.
+ Vấn đề đặt ra đúng đắn, sâu sắc, có ý nghĩa định hướng cho con ngườitrong nhận thức, lối sống
+ Khi công nhận cái yếu của bản thân, cá nhân không tự cao, tự đại, biết ứng
xử một cách khiêm tốn, đúng mực; biết nhìn nhận mọi người xung quanh một cáchkhách quan, đúng đắn; biết học tập vươn lên
+ Đây không phải chỉ là vấn đề đặt ra với cá nhân mà còn có ý nghĩa với cả tậpthể, quốc gia, dân tộc
(Học sinh có sự lí giải khác nhau nhưng cần hợp lí và có sức thuyết phục cao)
- KẾT LUẬN : Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bảnthân
Đề 4 : “Điều gì có thể theo đuổi suốt cuộc đời” – Khổng Tử đáp: “Chỉ có lượng thứ mà thôi”
Từ những câu trả lời trên, anh/chị hãy trình bày trong một đoạn văn ngắn (không quá 400 từ) suy nghĩ của mình về sự lượng thứ, lòng khoan dung trong cuộc sống của mỗi con người.
Gợi ý
- MỞ BÀI : Nêu vấn đề nghị luận
- THÂN BÀI :
* Ý 1 Giải thích.
- Lời đáp của Khổng Tử cho thấy sự lượng thứ, khoan dung chính là cách ứng
xử độ lượng, vị tha, biết hy sinh, nhường nhịn đối với người khác, biết bỏ qua nhữnglỗi lầm của người khác gây ra cho mình hoặc cho xã hội
Trang 6- Mỗi học sinh cần phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ văn hóa, trithức để có sự hiểu biết phong phú, biết sống vị tha, bao dung hơn Tích cực thựchành và bồi đắp lẽ sống khoan dung, sự lượng thứ từ những việc nhỏ xung quanhmình, với những người thân của mình;tích cực tham gia các hoạt động của cộngđồng, xã hội.
- KẾT LUẬN : Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bảnthân
II Nghị luận về hiện tượng đời sống : làm cho người đọc hiểu rõ, hiểu đúng,
hiểu sâu những hiện tượng đời sống có ý nghĩa xã hội : những hiện tượng nổi bật,tạo được sự chú ý và có tác động đến đời sống xã hội; những hiện tượng đẹp, tíchcực và cả những hiện tượng tiêu cực, đang bị xã hội lên án, phê phán
* Kĩ năng làm văn nghị luận.
Các bước cơ bản của bài văn nghị luận về hiện tượng đời sống:
- MỞ BÀI : Nêu vấn đề nghị luận
- THÂN BÀI :
+ Giải thích hiện tượng (nếu cần) Nêu thực trạng của hiện tượng
đời sống
+ Nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng đời sống
+ Giải pháp, các biện pháp đề xuất …(cụ thể và thiết thực)
- KẾT LUẬN : Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động cho
Gợi ý
- MỞ BÀI : Nêu vấn đề nghị luận
- THÂN BÀI :
* Ý 1 Giải thích môi trường sạch đẹp.
+ Môi trường sống bao gồm môi trường không khí, đất, nước
+ Môi trường sạch đẹp là môi trường không bị ô nhiễm, có sự hài hòa, vẻ mĩquan cao
+ Vai trò của môi trường sạch đẹp: tránh bệnh tật, có lợi cho sức khỏe…
* Ý 2 Môi trường sống sạch đẹp đang bị thu hẹp, nguyên nhân và hậu quả:
Trang 7TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
+ Hậu quả:
Môi trường bị ô nhiễm, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sốngcủa con người Bệnh dịch dễ phát sinh, hiện tượng căng thẳng mỏi mệt do môitrường gia tăng
Môi trường ô nhiễm làm xấu tổng thể mĩ quan, làm suy giảm sự phát triểnkinh tế-xã hội…
* Ý 3 Giải pháp bảo vệ môi trường sống sạch đẹp
+ Đối với xã hội:
Khai thác tài nguyên thiên nhiên phải hợp lí Không làm ô nhiểm các nguồnnước, không khí, không làm ảnh hưởng xấu đến bầu khí quyển bảo vệ trái đất
Cần có phương án bảo vệ các loài thú, đặc biệt là các loài đang đứng trướcnguy cơ diệt vong Tích cực tu bổ làm phong phú thêm thiên nhiên (trồng cây, gâyrừng)
Khi xây dựng nhà ở, nhà máy, cơ sở sản xuất cần tôn trọng và thực hiệnđúng các yêu cầu đối với việc bảo vệ môi trường và xử lí tích cực nguồn khói thải,nước thải, chất thải công nghiệp
+ Đối với cá nhân:
Cần có những hành động thiết thực làm cho môi trường sống ngày càngsạch đẹp
Mỗi học sinh phải luôn ý thức giữ gìn vệ sinh trường lớp, không xả rác bừabãi ra sân trường và lớp học, thường xuyên tham gia các hoạt động trồng cây xanh
do nhà trường và địa phương tổ chức
- KẾT LUẬN : Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động cho
* Ý 1 Giải thích, nêu thực trạng hiện tượng
+ Nạn bạo hành: sự hành hạ, xúc phạm người khác một cách thô bạo, làm ảnhhưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của người khác, đang trở thành phổbiến hiện nay
+ Nạn bạo hành: thể hiện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện của đời sống xãhội Nạn bạo hành diễn ra trong: gia đình, trường học, công sở…
* Ý 2 Nguyên nhân của hiện tượng:
+ Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người
+ Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo lực (nhất là đối với tầng lớpthanh thiếu niên)
+ Do áp lực cuộc sống
+ Do sự thiếu kiên quyết trong cách xử lí nạn bạo hành
* Ý 3 Tác hại của hiện tượng
+ Làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của con người
+ Làm ảnh hưởng đến tâm lí, sự phát triển nhân cách, đặc biệt là tuổi trẻ
* Ý 4 Đề xuất giải pháp
+ Cần lên án đối với nạn bạo hành
Trang 8TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
+ Cần xử lí nghiêm khắc hơn với những người trực tiếp thực hiện hành vi bạohành
+ Cần quan tâm, giúp đỡ kịp thời đối với nạn nhân của bạo hành
- KẾT LUẬN : Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động
cho bản thân
MỘT SỐ DẪN CHỨNG CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1 Bill Gates sinh ra trong một gia đình khá giả ở Hoa Kì Từ nhỏ đã say mê
toán học, từng đậu vào ngành Luật của trường đại học Harvard nhưng với niềm say
mê máy tính ông đã nghỉ học và cùng một người bạn mở công ty Microsoft Vượtqua nhiều khó khăn ông đa trở thành người giàu nhất hành tinh và hiện nay ông đãdành 95% tài sản của mình để làm từ thiện Thành công nhờ sự tự học và niềm đam mê công việc
2 Thuở niên thiếu Picaso là một họa sĩ vô danh, nghèo túng ở Paris Đến lúc
chỉ còn 15 đồng bạc, ông quyết định “đánh canh bạc cuối cùng” Ông thuê sinh viêndạo các cửa hàng tranh và hỏi “ “Ở đây có bán tranh của Picaso không?” Chưa đầymột tháng tên tuổi của ông đã nổi tiếng khắp Paris, tranh của ông bán được và nổitiếng từ đó Nếu không tự tạo cơ hội cho chính mình thì chẳng bao giờ ta có cơ hội cả
3 Hàng triệu năm dài con người sống trong phấp phỏng lo sợ bởi sấm sét kinh
hoàng Franklin nhà bác học Mĩ đã dũng cảm thực hiện thí nghiệm làm cột thu lôi.
Công việc đó có thể gây ra cái chết cho ông bất kì lúc nào Sau nhiều năm đươngđầu với sấm sét, năm 1752 Franklin đã thành công Sức mạnh của lòng dũng cảm
4 Niuton là nhà toán học, vật lí học, cơ học, thiên văn học vĩ đại người Anh.
Sinh ra thiếu tháng, là một đứa trẻ yếu ớt, thường phải tránh nhưng trò chơi hiếuđộng của bạn bè Do đó ông đã tự tạo ra những trò chơi cho mình và trở thành ngườirất tài năng Những thiếu thốn của bản thân không thể thắng nổi sức mạnh của nghị lực
5 V Putin – tổng thống Nga, được tạp chí Times (Mĩ) bình chọn là “nhân vật
nổi bật nhất của năm 2007”, bằng sự lãnh đạo khôn ngoan và tài tình của mình ông
đã đưa nước Nga trở thành một cường quốc trên thế giới Uy tín của Putin và cảnước Nga đã được không chỉ Mĩ, Châu Âu mà cả Thế giới phải tôn trọng Uy tín, danh dự là điều quan trọng tạo nên giá trị con người
6 O Henry (1862 – 1910) – nhà văn trứ danh của nước Mĩ Ông chưa từng
hưởng bất kì một sự giáo dục nào, hay bị bệnh tật dày vò, thuở nhỏ đi chăn bò, chăn
dê, làm thuê Từng làm kế toán nhưng bị tình nghi là ăn trộm tiền nên bị bắt bỏ tù.Sau khi ra tù ông bắt sau viết truyện ngắn và trở nên nổi tiếng, tác phẩm của ông
được nhiều người nghiên cứu và trở thành sách bắt buộc học ở đại học Thành
công không có nghĩa là chưa từng thất bại
7 Sinh ra trong một gia đình nghèo ở thành phố Odense, cuộc sống nghèo khổ,
không lúc nào có đủ bánh mì để ăn Đi học lại luôn bị bạn bè chê cười vì ngoại hình
xấu Vượt qua tất cả với ước mơ trở thành nghệ sĩ, Andecxen đã lang thang lên
thành phố Copenhaghen đóng những vai kịch tầm thường, làm quét dọn Cuối cùng,nghị lực và tình yêu nghệ thuận đã giúp ông thành công Những câu truyện cổ tích
Trang 9TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
của ông mãi tồn tại trong tâm trí độc giả, mang lại cho trẻ thơ niềm hạnh phúc, thắplên những ước mơ đẹp Nghị lực và tình yêu nghệ thuật là những nhân tố để thành công.
8 Walt Disney là con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo, cha nghiện
rượu, bài bạc Sáu tuổi đã phải ra đồng làm việc Mê vẽ nhưng vì không có tiền nênông dùng than để vẽ lên giấy vệ sinh Sau này, cái tên Walt Disney đã trở nên nổitiếng thế giới với những bộ phim hoạt hình đỉnh cao Walt Disney đã từng nói vếbốn điều làm nên cuộc đời mình:
Tin tưởng : tin vào bản thân mình
Suy nghĩ : suy nghĩ về những giá trị mà mình muốn có.
Mơ ước: mơ về những điều có thể đến dựa trên niềm tin vào bản thân và
những giá trị của chính mình
Can đảm: can đảm để biến ước mơ thành hiện thực, dựa trên những niềm
tin vào bản thân và những giá trị của chính mình
9 Chiến dịch The Earth Hours (Giờ Trái đất) do quỹ bảo tồn thiên nhiên
quốc tế tổ chức hàng năm đã nhận được sự hưởng ứng của hàng trăm quốc gia,hướng đến con số 1 tỉ người trên 1000 thành phố tham gia Tất cả đã tắt đèn vàongày thứ bảy cuối cùng của tháng thứ 3 lúc 20g30’, để ủng hộ các hoạt động hằmgiảm thiểu những nguy cơ của sự biến đổi khí hậu toàn cầu Môi chúng ta cần có những hành động thiết thực vì môi trường
10 Là một trong số ít người Việt Nam nhiễm HIV/AIDS dám công khai thân
phận – Phạm Thị Huệ, quê ở Hải Phòng đã được tạp chí Times của Mĩ bầu chọn là
“anh hùng Châu Á” Biết mình và chồng bị nhiễm bệnh nhưng chị đã chiến thắngbản thân, đóng góp sức lực còn lại cho cuộc đời Tháng 2 năm 2005 chị trở thành
thành viên Liên Hợp Quốc Chiến thắng bản thân là chiến thắng vĩ đại nhất
11 Chu Văn An (1292 – 1370) – nhà nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu
mực cuối đời Trần, nổi tiếng cương trực, không cầu danh lợi Ra làm quan vào thờivua Trần Dụ Tông (đầu thế kỉ XIV), chính sự suy đồi, nịnh thần lũng đoạn, ôngdâng sớ xin chém 7 nịnh thần (thất trảm sớ) nhưng không được chấp thuận ông treo
ấn, từ quan về quê dạy học, viết sách Ông không vì học trò làm quan to mà dựadẫm, luôn thẳng thắn phê bình những học trò thiếu lễ độ Tấm gương về lối sốngtrung thực, bất chấp khó khăn vân đấu tranh cho lẽ phải…
12 Hồ Chí Minh ( 1890 -1969) Một trong những điểm đặc biệt của Hồ Chí
Minh chính là sự giản dị, khiêm tốn, đã được cả thế giới ca ngợi và khâm phục.
Một ngôi nhà sàn đơn sơ với các đồ đạc đủ dùng ở mức tối thiểu và cần thiếtnhất bộ bà ba nâu, bộ ka ki vàng và đôi dép cao su…
Là lãnh tụ nhưng Người khiêm tốn với tất cả mọi người, cả người già và ngườitrẻ Đối với những người giúp việc thường xuyên bên mình, Bác thường gọi hết sứcthân mật và trân trọng là cô, chú như những người trong gia đình Đối với các vịnhân sĩ, trí thức khi tiếp chuyện Bác luôn thưa gửi rất lễ độ và đúng mực Khi Quốchội đề nghị tặng Bác Huân chương cao quý nhất của Nhà nước là Huân chương SaoVàng, Người khiêm tốn từ chối và nói: Miền Nam còn chưa được giải phóng, khinào thống nhất Đất Nước xin Quốc hội ủy quyền cho đồng bào miền Nam được thaymặt Quốc hội trao tặng thì tôi xin nhận…
Trong Di chúc Người vẫn căn dặn lại “sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chứcđiếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”
Trang 10TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
13 Người Nhật và vẻ đẹp của một phong cách văn hóa: Hồi World Cup năm
2002, tổ chức tại Hàn Quốc và Nhật Bản Rất nhiều fan từ châu Âu sang Nhật xembóng đá Trong các sân vận động, sau khi trận đấu kết thúc, người xem ra về, nhưngngười Nhật nán lại nhặt các vỏ đồ hộp, chai, lọ, rác vứt rải rác trong sân vận động,
để mang ra thùng rác bên ngoài Nhiều fan Tây thấy xấu hổ, cũng quay lại, họcngười Nhật, nhặt các vỏ chai lọ, đồ hộp, bao giấy mà mình vứt lại, mang ra thùngrác Ý thức công cộng của người Nhật quả là đáng khâm phục
14 Những tấm gương sáng trong lịch sử coi Tình thương là hạnh phúc của con người:
+ Vua Trần Nhân Tông trong một chuyến đi thăm quân sĩ đã cởi áo bào khoát
cho một người lính giữa đêm đông lạnh giá
+ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng vào
sinh ra tử với tướng sĩ dưới quyền trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lượcNguyên – Mông, giành thắng lợi vẻ vang cho dân tộc
+ Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi suốt đời đeo đuổi lí tưởng vì dân vì
nước, gác sang một bên những oan ức, bất hạnh của riêng mình
+ Người thanh niên Nguyễn Tất Thành xuất phát từ lòng yêu nước thương
dân trong tình cảnh nô lệ nên đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân
Phương châm sống đúng đắn của Người là: Mình vì mọi người Bác luôn lấy tình
yêu thương con người làm mục đích và hạnh phúc cao nhất của cuộc đời mình
15 Trong văn chương cũng như trong thực tế lịch sử có rất nhiều gương sáng hành động, thể hiện phẩm chất cao quý của con người:
+ Chàng Thạch Sanh: thật thà, dũng cảm, giàu lòng thương người, sẵn sàng
cứu giúp kẻ bất hạnh
+ Cậu bé làng Gióng: đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi, đem lại thái bình cho
Đất Nước
+ Từ Hải trong Truyện Kiều: cứu Thúy Kiều thoát khỏi cuộc sống lầu xanh,
giúp nàng thực hiện công lí – báo ân báo oán
+ Lục Vân Tiên: đánh tan bọn cướp cứu tiểu thư Kiều Nguyệt Nga.
+ Hai Bà Trưng: khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược nhà Hán.
+ Nguyễn Trãi: thực thi lời cha dạy theo phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh,
làm nên chiến thắng oanh liệt ngàn năm.
+ Anh hùng áo vải Nguyễn Huệ: đánh tan hai hơn hai mươi vạn quân Thanh
đem lại cuộc sống thanh bình cho dân
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh: ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi
xiềng xích nô lệ, giành độc lập tự do, thành lập nên nước VNDCCH
16 Trong lịch sử của dân tộc có biết bao tấm gương về sống đẹp: Trần Hưng Đạo, Trưng Nhị, Trưng Trắc, Trần Quốc Toản, chị Võ Thị Sáu, anh Kim Đồng, anh Nguyễn Văn Trỗi, vĩ đại hơn cả là Bác Hồ kính yêu Lại nhớ đến hơn 30
năm trước đây, người con gái Hà Nội Đặng Thuỳ Trâm xung phong vào chiến
trường Quảng Ngãi gian khổ bản thân chịu những thiệt thòi nhưng chị vẫn dành mộttình thương bao la cho những người quanh chị Bất lực trước một ca mổ, chị đauđớn, lo lắng cho người em nuôi giờ này đang đè nặng tang tóc, đêm chị mất ngủ
Sống đẹp là như thế
17 Có một nhà thơ với bút danh "Hoàn Lương" từng nửa đời làm tướng
cướp trên những chuyến tàu Đà Nẵng - Nha Trang, làm đại gia buôn lậu xảo quyệt,thi nhân ấy tên là "Nguyễn Đức Tân" (Đông Mỹ - Thanh Trì - Hà Nội) Nửa đời làm
Trang 11TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
việc thất đức nhưng trong trại giam được nghe lời khuyên nhủ tâm tình của giám thi,như người tỉnh cơn mê anh tâm sự:
“Đêm đêm nghe tiếng vọng vang
Tiếng ngoài xã hội rộn ràng trong đêm
Đã buồn lại thấy buồn thêm
Khát thèm cuộc sống ấm êm ngoài đời”
Và cuộc đời của tên tướng cướp ấy rẽ sang một ngả khác khi mãn hạn tù, anhtrở thành một nhà thơ, một thành viên của đội Công an xã Khi được hỏi làm thế nào
mà cá sự thay đổi lớn trong anh như vậy, tướng cướp, thi nhân ấy trả lời nhờ có sự
bao dung, tình yêu của người vợ hiền và của tất cả mọi người.
18 Có được những thành công trong cuộc sống chính là biết đi lên từ những thất bại
+ Pi ta go từ một cậu bé học kém toán đã trở thành nhà toán học,
+ Nước Nhật đi lên từ đại bại trong chiến tranh thế giới thứ hai, từ đổ nát
hoang tàn do hai trái bom nguyên tử ném xuống Hirôsima và Naquasaki và trở thànhmột cường quốc – Ngày nay, đặc biệt là qua thảm họa sóng thần và động đất ở NhậtBản vừa qua, trong cái nhìn của toàn thế giới, không còn là hình ảnh những tên phátxít Nhật tàn bạo đáng ghét mà là một dân tộc Nhật với những nét văn hóa đáng kínhtrọng …
19 Con người sẽ trở nên mạnh mẽ khi nhận thức, kiểm điểm bản thân một cách nghiêm túc, trung thực :
Xô- cơ - rat bị tật nói ngọng, ông ý thức về hạn chế của mình nên luyện nói ,
tập diễn thuyết trước sóng biển và trở thành nhà hùng biện –
Mạc Đĩnh Chi có ngoại hình xấu xí, đi thi suýt bị đánh hỏng đã dâng bài phú
về hoa sen và được đỗ Trạng nguyên - sau đi sứ sang Trung Quốc được nễ trọng và
được phong là Lưỡng quốc Trạng nguyên…
20 Nick Vujicic (1982) là một nhà diễn thuyết truyền động lực người Úc gốc
Serbia, khi được sinh ra đã không có tứ chi Nick bị hội chứng tetra-amelia bẩmsinh, một loại rối loạn hiếm gặp, gây ra sự thiếu vắng cả 4 chi Từ thuở ấu thơ, anh
đã phải đấu tranh cả về tinh thần, tình cảm cũng như thể xác, nhưng rồi cuối cùnganh đã quyết định đối mặt với khuyết tật của mình Năm 17 tuổi, Nick thành lập tổchức phi lợi nhuận của riêng mình với tên gọi Life Without Limbs (nghĩa là "Cuộcsống không có tay chân") Vujicic đi khắp nơi trên thế giới để diễn thuyết truyềnđộng lực về cuộc sống của một người khuyết tật mang hy vọng và mong muốn tìmđược ý nghĩa cuộc sống Anh đã tốt nghiệp đại học và trở thành một diễn giả nổitiếng về chủ đề làm chủ cuộc sống Hiện tại Nick đang sinh sống ở Mỹ Tháng5/2013, Nick đã lần đầu tiên đến Việt Nam trong sự chào đón nồng nhiệt của côngchúng
ĐỀ TLV VỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI - LỚP 12
***
1) ĐỀ 1:
Trình bày trong một bài văn ngắn (không quá 400 từ) suy nghĩ của anh/ chị về
ý kiến của Gi Nê-ru, lãnh tụ cách mạng Ấn Độ:
Trang 12“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời,…”
(“Đất Nước”- Trích “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm)
Dựa vào những câu thơ trên, anh/ chị hãy phát biểu trong một bài văn ngắn
(không quá 400 từ) ý kiến cá nhân về trách nhiệm của thế hệ thanh niên hiện nay
với Đất Nước
4) ĐỀ 4:
Trình bày trong một bài văn ngắn (không quá 400 từ) suy nghĩ của mình về ý
nghĩa của nhận định: Thất bại là mẹ thành công.
5) ĐỀ 5:
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên”
Dựa vào câu tục ngữ trên, hãy trình bày trong một bài văn ngắn (không quá 400
từ) suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của thầy trong xã hội hiện nay.
6) ĐỀ 6:
Viết bài văn ngắn (không quá 400 từ) nêu suy nghĩ của mình về ý kiến của văn
hòa Lỗ Tấn: “Ưóc mơ không phải là cái gì sẵn có cũng không phải là cái gì
không thể có”.
7) ĐỀ 7:
Trình bày trong một bài văn ngắn (không quá 400 từ) suy nghĩ của anh/ chị về
câu nói của Lin-côn: “Xin hãy dạy cho con tôi chấp nhận : thi rớt còn vinh dự
hơn gian lận trong thi cử”.
8) ĐỀ 8:
Viết bài văn ngắn (không quá 400 từ) nêu suy nghĩ của mình về ý kiến sau:
Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống.
9) ĐỀ 9:Nhiều người ưa thích câu tục ngữ: Ở hiền gặp lành và lấy đó làm
phương châm sống Nhưng không ít người lại cho rằng điều đó chưa hoàn toàn
đúng, nhiều khi ở hiền mà không gặp lành.
Hãy trình bày ý kiến của mình về vấn đề này vài trong một bài văn ngắn(không quá 400 từ)
10) ĐỀ10:
Trình bày trong một bài văn không quá 400 từ suy nghĩ về chuyện thi đỗ, thi
trượt trong thi cử.
11) ĐỀ 11:
Trình bày trong một bài văn ngắn (không quá 400 từ) suy nghĩ về nhận xét
sau : Hễ đã muốn thì làm cho kì được, mà đã không muốn làm thì đừng làm.
Trang 13TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
12) ĐỀ 12: Trong cuốn “Đa-ghe-xtan của tôi” của nhà thơ R Gam- da- tốp có
câu: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng
Bàn về giá trị của việc đọc sách, Gor- ki nói: “Mỗi cuốn sách đều là một bậc
thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách ra khỏi con thú để lên tới gần con người”.
Trình bày trong một bài văn ngắn (không quá 400 từ) quan điểm của anh/ chị
Trình bày trong một bài văn ngắn (không quá 400 từ) suy nghĩ của mình về
bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã
hội ta hiện nay
Văn hào Nga Lép Tôn- xtôi đã nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường.Không
có lí tưởng thù không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”.
Nêu suy nghĩ của anh/ chị về câu nói trên trong một bài văn ngắn (không quá
400 từ)
Một số đề NLXH luyện tập
Câu 2.1 (3,0 điểm) Anh (chị) có suy nghĩ gì khi đọc câu nói của F.A.Clark:
Trang 14TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
“Ai cũng muốn làm điều gì đó lớn lao, nhưng lại không nhận ra rằng cuộc sống được tạo thành từ những điều rất nhỏ”.
(Dẫn theo Hành trang vào đời, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2008)
Câu 2.2 (3,0 điểm) Châu Phi có câu chuyện:
“Mỗi sáng, ở châu Phi có một con linh dương thức dậy Nó biết rằng, nó phải
chạy nhanh hơn con sư tử nhanh nhất, nếu không nó sẽ bị chết.
Mỗi sáng, ở châu Phi có một con sư tử thức dậy Nó biết rằng, nó phải chạy nhanh hơn con linh dương chậm nhất, nếu không nó sẽ bị chết đói.
Điều quan trọng không phải việc bạn là sư tử hay linh dương.
Khi mặt trời mọc, bạn nên bắt đầu chạy.”
(Theo Frederman – Thế giới phẳng)
Từ câu chuyện trên đến thái độ sống của anh/chị?
Câu 2.3 (3,0 điểm) "Khi công nhận cái yếu của mình, con người trở nên mạnh
mẽ” (Ban - dắc)
Hãy viết một bài văn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiếntrên
Câu 2.4 (3,0 điểm) “Những con người thông thái thực sự cũng tựa như những
bông lúa: khi còn lép, chúng vươn cao đầu lên đầy kiêu hãnh, nhưng khi hạt đã đầy
và chắc, chúng bắt đầu khiêm nhường cúi đầu xuống”
(Mongtetxkio, 365 danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày, NXB Thanh niên,
2008)
Hãy viết một bài văn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ýkiến trên
Câu 2.5 (3,0 điểm) Có ý kiến cho rằng, “chỉ có những người cam chịu thất bại
mới bị thất bại thật sự” (Nhiều tác giả, Nguyên lý của thành công, Nxb Văn hoá ,
Câu 2.8 (3,0 điểm) Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) về câu danh ngôn
“Hãy biết ơn những gì mình đang có, và cuối cùng bạn sẽ có nhiều hơn nữa Nếu
cứ muốn những gì bạn không có, bạn sẽ không bao giờ, không bao giờ có đủ ” (O.
Uyn – phơ – rây)
Câu 2.9 (3,0 điểm) Trong bài phỏng vấn diễn viên Lương Mạnh Hải có đoạn:
- Còn anh, anh sợ cái gì ?
- Tôi chỉ sợ pháp luật
Trang 15TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
- Ngoan hiền như anh sao phải sợ pháp luật ?
- Đấy, chính vì sợ pháp luật nên mới phải ngoan hiền
Lấy “sợ” làm đề tài, anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 từ)trình bày suy nghĩ của mình
Câu 2.10 (3,0 điểm)
Cái gôc của đạo đức của luân lí là lòng nhân ái (Lê Duẩn)
Hãy viết bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ýkiến trên
Câu 2.11 (3,0 điểm) Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy
nghĩ của anh (chị) về lòng hiếu thảo
“Trái tim hoàn thiện nhất là trái tim có nhiều mảnh vá”
Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày cách hiểucủa mình về câu nói trên
Câu 2.14 (3,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận ngắn (không quá 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiếnsau:
“Không có điều vĩ đại trên đời nào đạt được mà thiếu đi sự tâm huyết.”
Câu 2.15 (3,0 điểm) Viết bài văn nghị luận ngắn (không quá 600 chữ) trình bày
suy nghĩ về ý kiến sau:
“Không có điều vĩ đại trên đời nào đạt được mà thiếu đi sự tâm huyết.”
Câu 2.16 (3,0 điểm)
Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt; hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa.
Ernest Hemingway
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói trên
Câu 2.17 (3,0 điểm) Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày
suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau đây của A Lincoln: “Điều tôi muốn biết trước
tiên không phải là bạn đã thất bại ra sao mà là bạn đã chấp nhận nó như thế nào”.
Câu 2.18 (3,0 điểm) Trình bày suy nghĩ của anh/chị (không quá 600 từ) về câu
ngạn ngữ của Gruzia: “Học tập là hạt giống của kiến thức Kiến thức là hạt giống của hạnh phúc”
Câu 2.19 (3,0 điểm) Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu danh ngôn sau:
Tiền mua được tất cả, trừ hạnh phúc.
(Viết không quá 400 từ)
Câu 2.20 (3,0 điểm) Em hiểu gì về tấm lòng người mẹ ?
Trang 16TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Trang 171 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá:
- Sự lãnh đạo của Đảng đã tạo nên một nền văn học thống nhất về tư tưởng vàthế hệ nhà văn kiểu mới: Nhà văn – Chiến sĩ
- Văn học 1945 - 1975 được phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: 30năm đấu tranh giải phóng dân tộc; công cuộc xây dựng XHCN ở miền Bắc; sự giaolưu văn hóa ở nước ngoài chỉ giới hạn trong một số nước XHCN
2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu:
a) Chặng đường từ 1945 - 1954 : Văn học kháng chiến chống Pháp
- Chủ đề: Ca ngợi Tổ quốc và quần chúng CM, Biểu dương những tấm lòng vìnước quên mình
- Thành tựu: Thơ : Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu)…; Văn xuôi :
Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) …
b) Chặng đường 1955 - 1964: Văn học xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu
tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam
- Chủ đề: Ca ngợi cuộc sống mới và con người mới, tình cảm sâu nặng vớimiền Nam, khát vọng muốn thống nhất Đất Nước - Thành tựu: Văn xuôi , Thơ ,Kịch nói. > thể loại phong phú
- Thành tựu: Văn xuôi : Vợ nhặt (Kim Lân), Người lái đò sông Đà (NguyễnTuân)… Thơ : Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)…
c) Chặng đường 1965 - 1975: Văn học chống Mỹ.
- Chủ đề: Ca ngợi tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng CM
- Thành tựu: Văn xuôi : Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những đứa controng gia đình (Nguyễn Thi)…; Thơ : Sóng (Xuân Quỳnh), Đất Nước (Nguyễn KhoaĐiềm)…
3 Những đặc điểm cơ bản của VHVN từ năm 1945 đến năm 1975
a) Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắcvới vận mệnh chung của Đất Nước,
b) Nền văn học hướng về đại chúng
c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Đặc điểm quan trọng nhất: “ Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách
mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của Đất Nước” là đặc điểm quan
trọng nhất Vì đây là đặc điểm nói lên bản chất và làm nên diện mạo riêng của vănhọc giai đoạn 1945 đến 1975 Nó chi phối đến các đặc điểm còn lại
II Vài nét khái quát VHVN từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX
1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hoá.
- Từ 1975 – 1985, Đất Nước ta gặp nhiều khó khăn thử thách, nhất là khó khăn
về kinh tế
Trang 18TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
- Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnhđạo, k.tế nước ta chuyển dần sang nề k.tế thị trường, văn hoá có điều kiện tiếp xúcvới văn hoá nhiều nước trên thế giới, báo chí và các phương tiện truyền thông khácp.triển mạnh mẽ
2 Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu.
Từ 1975 nhất là từ năm 1986, VHVN từng bước chuyển sang giai đoạn đổimới Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân văn Vănhọc phát triển đa dạng hơn về thủ pháp nghệ thuật, đề cao cá tính sáng tạo của nhàvăn Văn học có tính chất hướng nội, quan tâm nhiều đến số phận cá nhân trongnhững hoàn cảnh phức tạp đời thường
Tác phẩm tiêu biểu : Thơ : Đàn ghita của Lorca (Thanh Thảo); Bút kí : Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường); Văn xuôi : Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu); Kịch : Hồn Trương Ba da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
III Kết luận
- VHVN từ 1945 – 1975 đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ những truyền
thống tư tưởng lớn của VHDT: chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước.
- VHVH từ 1954 – 1975 p.triển trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn, vìthế, bên cạnh những thành tựu to lớn cũng còn nhiều hạn chế Tuy vậy, thành tựucủa Vh gai đoạn này là cơ bản và to lớn
- Từ năm 1975, nhất là từ năm 1986, VHVN bước vào công cuộc đổi mới:
VH vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, đổi mới quan niệm về nhà văn, về
VH và quan niệm nghệ thuật về con người, phát huy cá tính sáng tạo và phong cáchnghệ thuật của nhà văn với những tìm tòi, thể nghiệm mới
Câu hỏi ôn tập :
Câu 1: Nêu hoàn cảnh lịch sử văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến văn học 1945
-1975.
Câu 2: Trình bày những hiểu biết của mình về quá trình phát triển và thành
tựu của văn học 1945 - 1975?
Câu 3: Nêu những đặc điểm cơ bản của văn học VN từ 1945 - 1975?
Câu 4: Hãy nêu một số thành tựu cơ bản của VHVN từ 1975 -2000?
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - Hồ Chí Minh.
A Tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
I Vài nét về tiểu sử: Sgk.
II Sự nghiệp văn học:
1 Quan điểm sáng tác văn học:
- Hồ Chí Minh xem văn học là vũ khí chiến đấu lợi hại phục vụ cho sự nghiệpCách mạng, nhà văn phải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ
- Người luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học
Trang 19TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
- Khi cầm bút, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận đểquyết định nội dung và hình thức của tác phẩm
2 Sự nghiệp văn học:
HCM để lại một sự nghiệp văn học lớn về tầm vóc, đa dạng về thể loại :
Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
những tấm gương yêu nước, chủ yếu viết bằng tiếng Pháp như Lời than vãn của bà
Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu
tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong nhiều hoàn cảnh
khác nhau như Nhật kí trong tù, Thơ HCM, Thơ chữ Hán HCM ).
3 Phong cách nghệ thuật:
Phong cách nghệ thuật HCM độc đáo, đa dạng Mỗi loại lại có phong cách
riêng :
bằng chứng đầy thuyết phục, giàu tính luận chiến
trào phúng sắc bén chủ động và sáng tạo.Tiếng cười tuy nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưngthâm thuý, sâu xa
nhớ, có sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại
Phong phú, đa dạng nhưng rất thống nhất : Dù thể loại nào, cách viết của Ngườivẫn ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệthuật khác nhau nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tư tưởng và tìnhcảm của Người
B Văn bản Tuyên ngôn độc lập
I Tiểu dẫn :
1 Hoàn cảnh sáng tác:
Ngày 19/8/1945 chính quyền thủ đô về tay nhân dân Ngày 26 8.1945 ChủTịch Hồ CHÍ MINH từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố
Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 2/9/1945 tại Quảng
trường Ba Đình – Hà Nội, trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài, vận mệnh Tổ quốcnhư ngàn cân treo sợi tóc, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trước 50 vạn đồng bào.
2 Giá trị:
+ Gía trị lịch sử: Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn :
tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên độc lập
tự do của dân tộc
- Giá trị tư tưởng: Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm kết tinh lý tưởng đấu tranh
giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do
+ Gíá trị văn học: Tuyên ngôn độc lập là một bài văn chính luận ngắn gọn, súc
tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục - một ángvăn bất hủ
3 Mục đích sáng tác:
- Tuyên bố nền độc lập của dân tộc, khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hoà
Trang 20TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
- Ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước thực dân, đế quốc
- Tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới
4 Đối tượng: Tuyên ngôn độc lập không chỉ hướng tới đồng bào cả nước
mà còn hướng tới nhân dân toàn thế giới và trước hết là các nước Đồng minh, đặcbiệt đối với bọn xâm lược Pháp, Mỹ
1 Bố cục:
Toàn văn bản không dài chỉ gói gọn trong khoảng một ngàn chữ nhưng vô cùngchặt chẽ và súc tích Bản tuyên ngôn chia 3 phần rõ rệt Lời tuyên bố độc lập dựatrên những cơ sở của pháp lí và thực tế lịch sử
a) Đoạn 1 (từ đầu đến không ai chối cãi được): Nêu nguyên lí chung của Tuyên ngôn Độc lập.
b) Đoạn 2 (tiếp theo đến từ tay Pháp): Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và
khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước VNDân chủ Cộng hoà
c) Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền
đ.lập, t.do của d.tộc VN
2 Hệ thống lập luận:
a Nguyên lí chung của “Tuyên ngôn Độc lập”.
Phần đầu bản tuyên ngôn là cơ sở pháp lí khẳng định nguyên lí chung rằng: tất
cả mọi con người, mọi dân tộc đều có quyền được sống bình đẳng, quyền tự do và quyền mưu cầu h.phúc.
Cái đặc biệt ở đây là Bác đã dùng chiến thuật “gậy ông đập lưng ông” để khẳngđịnh, để ràng buộc các nước Đồng minh Cụ thể Bác đã trích dẫn lại những chân lí
mà hai bản tuyên ngôn của Mĩ (1776) và của Pháp (1791) đã nêu Đó là hai bảntuyên ngôn nổi tiếng được cả thế giới công nhận nhằm nhấn mạnh giá trị hiển nhiêncủa độc lập, tự do
Hơn nữa, Người dã vận dụng chân lí đó một cách khéo léo và và đầy sáng tạonhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ trong lập luận: từ quyền bình đẳng, tự do của con
người, t.giả “suy rộng ra” thành quyền bình đẳng, tự do của các d.tộc Kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn đầy sức thuyết phục: “Đó là những lẽ
phải không ai chối cãi được”, nhằm khẳng định cho được quyền con người và
quyền dân tộc
b Tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
Để cơ sở pháp lí được chắc chắn, phần 2 của bản tuyên ngôn đã đưa ra cơ sởthực tế một cách ngắn gọn mà đầy đủ, đanh thép những tội ác của bọn thực dân Pháptrên Đất Nước ta trong suốt gần 100 năm
Thứ nhất, Pháp kể công “khai hoá” Việt Nam thì Bác đưa ra những thực tế :chúng đã thủ tiêu tự do, dân chủ; thi hành chính sách ngu dân; đầu độc nhân dân tabằng thuốc phiện, rượu cồn; bóc lột dã man và hậu quả là hơn hai triệu đồng bàochết đói Đó là những việc làm phản bội tổ tiên trái hẳn với nhân đạo và chính
Trang 21TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
nghĩa Bằng giọng văn tố cáo hùng hồn, đanh thép và với những “bằng chứngkhông ai có thể chối cải được” Bác đã chỉ rõ “cái công” khi hoá của thực dân Pháp.Thứ hai, nói về công “ bảo hộ” thì Bác vạch trần luận điệu giả dối “ trong 5năm gần đây, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật” Khi Pháp từ chối cộng tác vớiViệt Minh chống Nhật, thậm chí còn thẳng tay khủng bố Việt Minh Hơn cả vậy, saubiến động ngày 9 3 Vminh đã cứu giúp nhiều người Pháp thực tế ai bảo hộ ai?
Bằng những sự thật lịch sử tác giả đã khẳng định VNam không còn là thuộcđịa của Pháp từ mùa thu 1940, và đến 1945 nhân dân ta đã lấy lại nước VN từ tayNhật chứ không phải từ tay Pháp
Rõ ràng, chỉ trong một đoạn văn ngắn tác giả đã lật tẩy bộ mặt xảo quyệt, tànbạo của thực dân Pháp bằng những lí lẽ xác đáng, đanh thép, những sư thật lịch sửkhông thể chối cải được và qua lối viết văn chính luận sắc sảo ( dùng từ, điệp từ,điệp kiểu câu ) Đoạn văn thật sự đã gây xúc động hàng triệu trái tim, khơi dậy lòngphẩn nộ vì không có lí lẽ nào cao hơn sự thật mà sự thật ở đây lại thuộc về chínhnghĩa
c Lời tuyên ngôn:
Nhưng trước khi có lời tuyên cáo chính thức HCM đã rất đanh thép và triệt đểkhi dùng những cụm từ “tuyên bố thoát hẳn” quan hệ td với Pháp, “xoá bỏ hết”những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước VN, “xoá bỏ tất cả”mọi đặc quyền của Pháptrên đ.nước VN Và cũng không quên ràng buộc các nước Đồng minh vào việc côngnhận quyền độc lập của dân tộc VN
Để từ đó Bác khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do của dân tộc “dân tộc
đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập” Cách hành văn theo một hệ thốngmóc xích góp phần khẳng định tuyệt đối
Cuối cùng là lời tuyên bố trước thế giới về khát vọng tự do của cả dân tộc thể
hiện qua giọng văn hào hùng mãnh liệt đầy niềm tin Cụm từ “tự do, độc lập”nhắc
lại một cách kiêu hãnh, đầy ý chí như một lời thề thiêng liêng: quyết hi sinh tất cả đểbảo vệ nền độc lập tự do ấy Và sự thật lịch sử đã minh chứng cho lời thề ấy
3) Ý nghĩa văn bản:
- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân
đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng địnhquyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy
- Kết tinh lí tưởng đấu giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tựdo
- Là một áng văn chính luận mẫu mực
III Tổng kết :
Bản Tuyên ngôn Độc lập mang một ý nghĩa l.sử trọng đại: vừa giải quyết nhiệm vụ độc lập dân tộc, vừa giải quyết nhiệm vụ dân chủ cho nhân dân VN để mở
ra một kỉ nguyên mới cho đ.nước: kỉ nguyên của Độc lập, Tự do.
Đây còn là một áng văn chính luận mẫu mực, là sự kế thừa và phát triển những
áng “thiên cổ hùng văn” trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, là bản anh
hùng ca của thời đại HCM Làm nên những giá trị to lớn là cái tài, cái tâm củangười cầm bút
Câu hỏi ôn tập :
Trang 22TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Câu 5 : Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh.
Câu 6 : Nêu những nét cơ bản về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh?
Câu 7 : Trình bày ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
Câu 8 : Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của “Tuyên ngôn độc lập”
(Hồ Chí Minh)
Câu 9 : Nêu các giá trị và đối tượng của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí
Minh?
Câu 10: Nêu ý nghĩa văn bản ?
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC Phạm Văn Đồng
I Tiểu dẫn :
1 Tác giả: Phạm Văn Đồng (1906-2000) quê ở Quảng Ngãi Là nhà cách
mạng lớn, sự nghiệp chính mà ông đeo đuổi là làm cách mạng trên lĩnh vực chínhtrị, ngoại giao Ông còn là nhà giáo dục tâm huyết Tuy không phải là người chuyênlàm lí luận hay phê bình văn học, ông vẫn có những tác phẩm đáng chú ý về văn học
và nghệ thuật Với vốn sống lịch lãm, tầm nhìn sâu sắc, nhân cách lớn đủ để ôngđưa ra những nhận đinh đúng đắn, mới mẻ, sắc sảo về những vấn đề văn nghệ
2 Tác phẩm:
a- Hoàn cảnh sáng tác : Viết nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn
Đình Chiểu (3/7/1888) Tác phẩm được đăng trên Tạp chí Văn học tháng 7/1963.
Lúc này, Mĩ đang leo thang bắn phá miền Bắc, lê máy chém khắp miền Nam
b Giá trị : Bằng cách nghị luận xác đáng chặt chẽ, xúc động thiết tha, hình ảnh
ngôn từ đặc sắc, bài viết trước hết là để tưởng nhớ người con trung nghĩa của ĐấtNước, sau đó là để định hướng, điều chỉnh cách nhìn nhận, đánh giá về thơ vănNguyễn Đình Chiểu, nhất là những giá trị lớn lao của thơ văn Nguyễn Đình Chiểuđối với thời đại bấy giờ và đối với ngày nay
c- Mục đích sáng tác : Để tưởng nhớ NĐC, người con trung nghĩa của Đất
Nước để nhớ lại lời thề thiêng liêng của Người “ sống đánh giặc, thác cũng đánhgiặc”; và để định hướng, điều chỉnh cách nhìn nhận, đánh giá về thơ văn NĐC
II Đọc - hiểu văn bản:
Bài viết được chia 3 phần tương ứng với 3 luận điểm Phần đầu viết về conngười và quan niệm sáng tác Phần tiếp theo viết về thơ văn yêu nước Cuối cùnggiới thiệu và tìm hiểu tác phẩm LụC VÂN TIÊN Tất cả các luận điểm đó quy tụxung quanh làm sáng tỏ nhận định bao trùm bài viết “ Trên trời có những vănthơ NĐC cũng vậy”
Đặc biệt là bài viết không theo trật tự thời gian và phần lớn tập trung vào mảng
yêu nước chống ngoại xâm làm bật nổi mục đích của bài văn nghị luân này.
Trang 23TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
- q.niệm về s.tác văn chương: văn thơ phải là vũ khí chiến đấu của người
chiến sĩ.
b Luận điểm 2: Thơ văn yêu nước của NĐC.
- T.giả đặt các t.phẩm của NĐC trên cái nền của h.cảnh l.sử lúc bấy giờ: cuộc
kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta: thơ văn của NĐC đã “làm sống lại phong
trào kháng Pháp bền bỉ và oanh liệt của nhân dân Nam Bộ từ 1860 trở về sau”.
- Văn chương của NĐC tham gia tích cực vào vào cuộc đấu tranh của thời đại
- NĐC còn tạo nên cái riêng, độc đáo: đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc người
đọc mới bắt gặp một hình tượng trung tâm mà văn chương cho đến lúc ấy còn chưacó: người chiến sĩ xuất thân từ n.dân
- T.giả còn làm cho người đọc nhận ra rằng, những câu văn, vần thơ đó chính làbầu nhiệt huyết của nhà thơ trào ra thành chữ nghĩa: “Ngòi bút, nghĩa là tâm hồntrung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu”
c Luận điểm 3: Về truyện thơ “Lục Vân Tiên”.
- Truyện “LỤC VÂN TIÊN” là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa,
những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa”
- T.giả cũng chỉ những hạn chế không tránh khỏi của tác phẩm: “Những giá trị
luân lí mà NĐC ca ngợi… lỗi thời”; “văn chương của LỤC VÂN TIÊN” có những
chỗ “lời văn không hay lắm” Nhưng đó là những hạn chế có tính khách quan vàkhông phải là những hạn chế cơ bản
- Từ đó, tác gỉả khẳng định LỤC VÂN TIÊN vẫn là tác phẩm lớn của NĐC:
+ LỤC VÂN TIÊN mang những nội dung tư tưởng, đạo đức gần gũi với quần chúng nhân dân, cả thời xưa lẫn thời nay, và do đó, được họ cảm xúc và thích thú + LỤC VÂN TIÊN có một lối kể chuyện, nói chuyện nôm na, dễ hiểu, dễ nhớ,
có thể truyền bá trong dân gian.
Truyện LỤC VÂN TIÊN có giá trị vì cả nội dung tư tưởng lẫn hình thức
nghệ thuật đều thân thuộc với đông đảo nhân dân, được nhân dân chấp nhận và yêumến
3 Ý nghĩa văn bản:
Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn ĐìnhChiểu: cuộc đời của một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc; sự nghiệp thơ văn của ông là một minh chứng hùng hồn cho địa vị vàtác dụng to lớn của văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút đốivới Đất Nước, dân tộc
III Tổng kết : Tác giả có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, sâu sắc và mới
mẻ về con người và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu; để thấy rõ rằng, trong bầu trờivăn nghệ của dân tộc Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu đúng là một vì sao càng nhìnthì càng thấy sáng
- Sức thuyết phục, lôi cuốn của bài văn được làm nên không chỉ bằng các lí lẽxác đáng, lập luận chặt chẽ, ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh, mà còn bằng nhiệthuyết của một con người gắn bó với Tổ quốc, nhân dân, biết kết hợp hài hoà giữa sự
Trang 24TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜItrân trọng những giá trị văn hoá truyền thống với những vấn đề trọng đại đang đặt racho thời đại của mình.
Trang 25TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Phụ lục :
Hệ thống luận điểm chính của bài văn
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC
Thơ văn yêu nướcTruyện Lục Vân TiênCuộc đời và thơ văn của Nguyễn
Đình Chiểu là của một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớnTrên trời có
những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng Văn thơ của Nguyễn Đình
Chiểu cũng vậy Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ l860 về sau,
suốt hai mươi năm trờiLục Vân Tiên, một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình
Chiểu, rất phổ biến trong dân gian, nhất là miền Nam
Câu hỏi ôn tập :
Câu 11 Nêu những nét chủ yếu về tác giả Phạm Văn Đồng ?
Câu 12 Trình bày hoàn cảnh sáng tác của bài viết “ Nguyễn Đình Chiểu….”.
Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ thì bài viết này có giá trị như thế nào?
TÂY TIẾN – Quang Dũng
I Tiểu dẫn :
1 Tác giả : Quang Dũng (1921-1988) tên là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài : làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc
Nhưng Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ Thơ Quang Dũng vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn
Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…
2 Bài thơ Tây Tiến :
a Hoàn cảnh sáng tác
Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụphối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng Pháp ởThượng Lào và Tây Bắc –VN Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân TâyTiến khá rộng, nhưng chủ yếu là ở biên giới Việt – Lào
Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấutrong những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữdội Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm
Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947 đến cuốinăm 1948 rồi chuyển sang đơn vị khác Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu
Chanh, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây Tiến Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là
Tây Tiến.
Bài thơ được in trong tập Mây đầu ô (1986)
Tây Tiến là một bài thơ xuất sắc, có thể xem là một kiệt tác của Quang Dũng,
xuất hiện ngay trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
b Nội dung và nghệ thuật chủ yếu :
Nội dung : ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ, mĩ lệ của thiên nhiên miền Tây và nét hào
hoa dũng cảm của hình ảnh người lính Tây Tiến trong bài thơ.
Trang 26TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Về nghệ thuật : bút pháp lãng mạn, những sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ và
giọng điệu là những nét đặc sắc của bài thơ
c Hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng.
- Cảm hứng lãng mạn: Thể hiện ở cái tôi tràn đầy tình cảm, cảm xúc của nhàthơ Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng nhiều biện pháp tu từ để tô đậm cáiphi thường, tạo ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ, tuyệt mỹ của núi rừng miền tây.+ Bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến
+ Sự hoang dại, bí ẩn của núi rừng và những hình ảnh ấm áp, thơ mộng
+ Cảnh đêm liên hoan, cảnh sông nước như được phủ lên màn sương huyềnthoại
- Tinh thần bi tráng: Nhà thơ không che giấu cái bi, nhưng bi mà không lụy.Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng đểthành chất bi tráng
+ Người lính Tây Tiến luôn hiên ngang, bất khuất mặc dù chịu mất mát, đaubuồn Cái chết cũng được tác giả bao bọc trong không khí hoành tráng Trên cái nềnthiên nhiên hùng vĩ tráng lệ, người lính xuất hiện với tầm vóc khác thường
=> Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó, cộng hưởng với nhaulàm nên linh hồn, sắc diện của bài thơ, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm
II Đọc-hiểu văn bản
1 Đoạn l: Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung
cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội
Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cảkhông gian và thới gian:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếnggọi Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗinhớ; khơi nguồn cho cảnh sương lạnh, núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày, liêntiếp xuất hiện những câu thơ sau:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Khổ thơ này là một bằng chứng trong thơ có hoạ (thi trung hữu hoạ) Chỉ bằngbốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểmtrở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền Tây - địa bàn hoạt động của
đoàn quân Tây Tiến Hai câu thơ đầu, những từ đầy giá trị tạo hình khúc khuỷu,
thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời đã điền tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và
độ cao ngất trời của núi đèo miền Tây Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên
và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính Núi caotưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút” Người lính trèo lên nhữngngọn núi cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời Câu thứ banhư bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chótvót, nhìn xuống sâu thăm thẳm Đọc câu thứ tư, có thể hình dung cảnh những ngườilính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không
Trang 27Sự trùng điệp của núi đèo miền Tây trong bài thơ Tây Tiến làm gợi nhớ đến mấy câu thơ trong Chinh phụ ngâm: “Hình khe thế núi gần xa, - Đứt thôi lại nối,
thấp đà lại cao” Còn sự hoang vu và hiểm trở của nó lại gợi nhớ tới câu thơ trong
bài Thục đạo nan câu Lí Bạch: “Đường xứ Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh”
(Thục đạo chi nan, nan ư thướng thành thiên!)
Con đường hành quân với những dốc cao, vực thẳm ấy dẫn đến một hậu quả tấtyếu :
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời.
Có nhiều cách hiểu cụm từ “bỏ quên đời” Nhưng dù hiểu theo cách nào thì lời
thơ vẫn cho ta thấm thía thêm những nỗi gian lao , vất vả , hi sinh của người línhTây Tiến
Cái vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng miền Tây
được nhà thơ tiếp tục khai thác Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà
còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe doạ khủng khiếp đốivới con người:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Cảnh núi rừng miền Tây hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiệnlên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ, Những tên đất lạ (Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch), những hình ảnhgiàu giá trị tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằnđược xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ớ cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợpvới nhau thật ăn ý, làm hiện hình nên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáocủa núi rừng miễn tây tổ quốc
Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:
Nhớ ôi Tây Tiến thơ lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Cảnh tượng thật đầm ấm Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối,trèo đèo, những người lính tạm đừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó,quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói Khói còn nghi ngút và hương thơmlúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họtươi tỉnh hẳn lên Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâmthế cho người đọc buồi sang đoạn thơ thứ hai
2 Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh
sông nước miền Tây thơ mộng
- Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của miền Tây Cảnh núi rừng hoang
vu hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mĩ lệ, thơ mộng,duyên dáng của miền Tây Những nét vẽ bạo, khỏe, gân guốc ở đoạn thơ đầu, đến
Trang 28Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bàođịa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rấtmộng, rất ảo:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Cả doanh trại “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắtđầu Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn,
cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực.Hai chữ “kìa em” thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên,vừa mê say, vuisướng Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừngmiền Tây bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy (“xiêm áo tự bao giờ”),vừa e thẹn, vừa tình tứ (“nàng e ấp”) trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ (“manđiệu”) đã thu hút cả hồn vía những chàng trai Tây Tiến
- Nếu cảnh một đêm liên hoan đem đến cho người đọc không khí mê say, ngâyngất, thì cảnh sông nước miền Tây lại gợi lên được cảm giác mênh mang, mờ ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương Sôngnước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử Trên dòng sông đậm màu sắc cổtích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của một cô gáiThái trên chiếc thuyền độc mộc như những bông hoa rừng “đong đưa” làm duyêntrên dòng nước lũ
Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi cảnh vật thiên nhiên xứ
sở qua ngòi bút của ông như có hồn phảng phất trong gió, trong cây (“có thấy hồnlau nẻo bến bờ”) Ông không chỉ làm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp củathiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng của cảnh vật
Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cải đẹp, thế giới của cõi mơ, của
âm nhạc . Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên tự tân hồnngây ngất, say mê của những người lính Tây Tiến Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơnày, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt Với ý
nghĩa đó, Xuân Diệu có lí khi cho rằng đọc bài thơ Tây tiến, ta có cảm tưởng như
ngậm âm nhạc trong miệng
3 Đoạn 3: Chân dung của người lính Tây Tiến.
Trên cái nên hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng (ở đoạn một) và duyêndáng, thơ mộng, mĩ lệ của miền Tây (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình tượngtập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện vời một vẽ đẹp đầy chất bi tráng:
Trang 29TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những ngườilính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể khái quát được gương mặt chung của
cả đoàn quân Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài, chúnghoà quyện, xâm nhập vào nhau, nương tựa, nâng đỡ nhau tạo nên vẻ đẹp bí tráng -thần thái chung của cả bức tượng đài
- Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh
sốt rét hiểm nghèo Chính Hữu trong bài Đồng chí đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
Còn Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài Cá nước cũng
không quên ảnh hưởng của thứ bệnh quái ác đó với những hình ảnh thật cụ thể:
“Giọt giọt mồ hôi rơi, Trên má anh vàng nghệ”
Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu những gian khổ, khó khăn,
những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao cửa người lính Chỉ có điều, tất cảnhững cái đó, qua ngòi bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà quamột cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn Những cái đầu không mọc tóc của những ngườilính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh ly kì, giật gân, sản phẩm của trí tưởng tượng xarời thực tế của nhà thơ mà chứa dựng một sự thực nghiệt ngã Những người lính TâyTiến, người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp lá cả với địch, ngườithì bị sốt rét đến rụng tóc, trọc đầu Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của nhữngngười lính, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên về oai phong, dữ dằn củanhững còn hổ nơi rừng thiêng Sự oai phong lẫn liệt ấy còn được thể hiện qua ánh
mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút
của Quang Dũng, không phải là những người khổng lồ không tim Cái nhìn nhiềuchiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bềngoài của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương (“Đêm
mơ Hà Nội dáng kiều thơm”) Như vậy, trong khổ thơ này, Quang Dũng đã tạc nênbức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nétkhắc hoạ dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầymộng mơ của họ
Ngòi bút của Quang Dũng khi dựng lên hình tượng tập thể những người línhTây Tiến không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi luỵ Cảm hứng củaông mỗi khi chìm vào bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của hình tượng, củatinh thần lãng mạn Chính vì vậy mà cái bi thương được gợi lên qua hình ảnh nhữngnấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi, một mặt, đã đượcgiảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính; trang trọng: “Rải rác bên cương
mồ viễn xứ”; mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quênmình, xả thân vì Tổ quốc của những người lính Tây Tiến (“Chiến trường đi chẳngtiếc đời xanh”) Họ có vẻ tiều tuỵ, tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lítưởng, mang dáng dấp của những tráng sĩ thuở xưa, coi cái chết nhẹ như lông hồng
Sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cảmanh chiếu để che thân, qua cái nhìn của Quang Dũng, lại được bọc trong những
Trang 30TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
tấm áo bào sang trọng (5) Cái bi thương ấy vợi đi nhờ cách nói giảm (anh về đất), và
rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã:
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Trong âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hisinh của người lính Tây Tiến không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng
Giọng điệu chủ đạo của đoạn thơ thứ ba này trang trọng, thể hiện tình cảm đauthương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội
4 Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây.Bài thơ khép lại bằng bốn
câu thơ, một lần nữa, tô đậm thêm không khí chung của một thời Tây Tiến, tinh thầnchung của những người lính Tây Tiến Nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn, nhưng linhhồn của đoạn thơ thì vẫn toát lên vẻ hào hùng:
Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thắm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Cái tinh thần “một đi không trở lại” (nhất khứ bất phục hoàn) thấm nhuần trong
tư tưởng và tình cảm của cả đoàn quân Tây Tiến Tâm hồn, tình cảm của nhữngngười lính Tây Tiến vẫn gắn bó máu thịt vời những ngày, những nơi mà Tây Tiến đã
đi qua “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã thành thời điểm một đi không trở lại
Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại cái thời mơ mộng, lãng mạn, hào hùngđến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy
5 Ý nghĩa văn bản :
Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ luôn đồng hành trong trái tim và trí óc mỗi chúng ta.
Tóm lại, mạch liên kết giữa các đoạn của bài thơ Tây Tiến là mạch cảm xúc,tâm trạng của nhà thơ Bài thơ được viết trong một nỗi nhớ da diết của Quang Dũng
về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnhthiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, đầy thơ mộng Bài thơ là những kí ức củaQuang Dũng về Tây Tiến; những kí ức, những kí niệm được tái hiện lại một cách tựnhiên, kí ức này gọi kí ức khác, kỉ niệm này khơi dậy kỉ niệm khác như những đợtsóng nối tiếp nhau Ngòi bút tinh tế và tài hoa của Quang Dũng đã làm cho những kí
ức ấy trở nên sống động và người đọc có cảm tưởng đang sống cùng với nhà thơtrong những hồi tưởng ấy
Câu hỏi ôn tập :
Câu 13 : Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của
Quang Dũng.
Câu 14 : Trình bày hoàn cảnh sáng tác-xuất xứ bài thơ Tây Tiến của Quang
Dũng.
Câu 15: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)?
Câu 16 : Nêu nội dung và nghệ thuật chủ yếu của bài thơ Tây Tiến :
VIỆT BẮC - Tố Hữu
Trang 31TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
PHẦN MỘT: TÁC GIẢ TỐ HỮU
I - Vài nét về tiểu sử :
- Tố Hữu ( 1920 – 2002 ) tên là Nguyễn Kim Thành, quê ở tỉnh Thừa Thiên –
Huế Cha rất yêu thơ Mẹ thuộc nhiều ca dao Chính gia đình và quê hương đã gópphần quan trọng trong việc hình thành và nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu
- Tố Hữu tham gia hoạt động cách mạng sớm Năm 18 tuổi, ông được kết nạp
vào Đảng từng bị tù đày Năm 1945, Tố Hữu tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Huế.Sau này ông từng giữ nhiều chức vụ cao trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhànước
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại Thơ ông thể
hiện lẽ sống, lý tưởng, tình cảm cách mạng hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc,truyền thống
- Tố Hữu nhận giải nhất Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1954 – 1955 ( tập
thơ Việt Bắc), Giải thưởng ASEAN ( 1996 ), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật (1996)
II - Đường cách mạng, đường thơ:
Chặng đường thơ của Tố Hữu cũng là những chặng đường của cách mạng ViệtNam Tố Hữu có 7 tập thơ sau đây:
1) Từ ấy (1937-1946) : Là niềm hân hoan của một tâm hồn trẻ đang "băn khoăn
đi tìm kiếm lẽ yêu đời" đã gặp được ánh sáng lý tưởng tìm thấy lẽ sống Tập thơ
được chia làm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng - Một số bài thơ tiêu biểu:
Từ ấy, Tâm tư trong tù, Nhớ đồng
2) Việt Bắc (1946-1954): Là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp
gian lao mà anh dũng Tập thơ tập trung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, những người phụ
nữ Một số bài thơ tiêu biểu: Lượm, Hoan hô chiến sỹ Điện Biên, Việt Bắc
3) Gió lộng (1955-1961): Ca ngợi công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc,
hướng tình cảm đến miền Nam ruột thịt với ý chí thống nhất Đất Nước Một số bài
thơ tiêu biểu: Bài ca xuân 61, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Em ơi Ba Lan
4) Hai tập Ra trận (1962-1971); Máu và hoa (1972-1977) : Ca ngợi, cổ vũ cuộc
chiến đấu chống đế quốc Mỹ, tập thơ mang đậm tính chính luận, thời sự và chất sử thi
Một số bài thơ tiêu biểu: Bác ơi!, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Mẹ Suốt
5) Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999) thể hiện những suy ngẫm, chiêm
nghiệm về cuộc sống, về lẽ đời
III - Phong cách thơ Tố Hữu :
Phong cách thơ Tố Hữu có những nét đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật biểuhiện
- Về nội dung, thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình chính trị rất sâu sắc Cụthể thơ Tố Hữu hướng tới cái ta chung; mang đậm tính sử thi và được thể hiện quagiọng thơ tâm tình
- Về nghệ thuật, thơ Tố Hữu mang phong cách dân tộc đậm đà được biểu hiệnqua hai yếu tố: thể thơ (lục bát, thất ngôn) và ngôn ngữ thơ (dùng từ ngữ và cách nóidân gian)
***
PHẦN HAI: BÀI THƠ VIỆT BẮC
I Tiểu dẫn :
Trang 32TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
1 Hoàn cảnh sáng tác : Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng
7- 1954, Hiệp định Giơ –ne-vơ về Đông dương được kí kết Hòa bình lập lại, miềnBắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Một trang sửmới của Đất Nước được mở ra
Tháng 10- 1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi,Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Nhân sự kiệnthời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc
Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam thời kỳ kháng chiến
chống Pháp
2 Nội dung và nghệ thuật chủ yếu :
Nội dung : Tái hiện một thời kháng chiến gian khổ mà anh hùng, nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, Đất Nước; qua đó tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảm thời đại, đó là ân tình cách mạng - một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng và kháng chiến
Nghệ thuật : Đậm đà tính dân tộc, có sức tác động sâu xa, làm dạt dào thêm tình yêu quê hương Đất Nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.
3 Giá trị bài thơ :
- Toàn hộ bài thơ là một niềm hoài niệm lớn, day dứt không nguôi, được thểhiện qua hình thức đối đáp giữa người ra đi và người ở lại, giữa người cán bộ và
người dân Việt Bắc, giữa ta và mình, bên hỏi bên trả lời, rất đậm đà tình nghĩa của
ca dao
Như trên đã nêu, Việt bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10 năm 1954, ngay
sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc thắng lợi, các cơ quantrung ương của Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội Tố Hữu cũng
là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc,nay từ biệt chiến khu để về xuôi Bài thơ như được viết trong buổi chia tay lưu luyến
đó Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bângkhuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay Đó là cuộc chia tay của những ngườitừng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chiamọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩatình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng Chuyện ân tình cách mạng đã được
Tố Hữu khéo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi
Thật vậy, để diễn tả những tình cảm cách mạng cao quí của nhân dân ta trongthời kỳ kháng chiến chống Pháp Tố Hữu đã dùng lối hát giao duyên đối đáp giữanam và nữ trong các hội hè đình đám ở miền Bắc nước ta Thay vào nội dung tìnhyêu đôi lứa của dân ca bằng tình nghĩa cách mạng, tấm lòng son sắt thuỷ chung với
Đảng, với nhân dân, qua cách nói, cách xưng hô “mình - ta”, tình cảm cao quí đó trở
nên gần gũi, thắm thiết hơn Hai nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cán bộ vềxuôi, tượng trưng cho dân tộc Kinh và người dân Việt Bắc, tượng trưng cho dân tộcmiền ngược Do đó tình cảm cách mạng ở đây còn là tình đoàn kết gắn bó giữa haivùng miền xuôi – miền ngược, thể hiện chính sách dân tộc của Đảng ta
Lối hát đối đáp và cách cấu tứ cảnh chia tay thường được sử dụng rất phổ biếntrong ca dao, dân ca ở mọi miền, như hát trống quân, hát quan họ, hát xoan, hátphường vải… Một số câu ca dao quen thuộc có cách cấu tứ như vậy:
- Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Trang 33TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
- Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Tuy bài thơ được kết cấu theo lối đối đáp quen thuộc trong ca dao, dân ca.Nhưng ở đây không chỉ là lời câu hỏi, lời đáp mà còn là sự hô ứng, đồng vọng củacùng một tâm trạng Lời đáp không chỉ nhằm giải đáp cho những điều đặt ra tronglời hỏi mà còn là sự mở rộng, làm phong phú thêm những ý tình được gợi ra tronglời hỏi
Có khi như ở đoạn cuối của bài thơ, cả lời hỏi và lời đáp đã hòa làm một để trởthành bản hợp ca đồng vọng, ngân vang những tình cảnh chung Nhìn sâu hơn vàokết cấu của bài thơ, chúng ta thấy đối thoại chỉ là lớp kết cấu bên ngoài, còn ở chiềusâu bên trong chính là lời độc thoại trữ tình của chủ thể đắm mình trong hoài niệm
về quá khứ gian khổ mà tươi đẹp trong cách mạng và kháng chiến với những nghĩatình thắm thiết Tình nghĩa của nhân dân với cách mạng, của người cán bộ với ViệtBắc, của miền ngược với miền xuôi, của cả dân tộc với lãnh tụ… Vì thế hai hìnhtượng kẻ ở và người đi cùng với lời hỏi và lời đáp có thể được bọc lộ đầy đủ và sâusắc trong cách đối thoại, hô ứng Sự thống nhất của tâm trạng trữ tình cũng được thể
hiện rất rõ trong việc sử dụng hai đại từ “mình” và “ta” trong bài thơ
II Đọc-hiểu một số đoạn quan trọng trong văn bản :
1 Hai mươi câu thơ mơ đầu bài thơ : lời trao gởi ân tình thắm thiết của Việt
Bắc đối vơi cán bộ cách mạng về xuôi
Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:
Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?
Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ Các xưng hô ”mình – ta” mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: “Mình về
ta chẳng cho về – Ta nắm dải áo, ta đề bài thơ” “15 năm”là chi tiết thực chỉ độ dài
thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, đồngthời cũng là chi tiết gợi cảm – nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn Câu thơmang dáng dấp một câu Kiều – Mười lăm năm bằng thời gian Kim – Kiều xa cách
thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai ao – Mười lăm năm
ấy biết bao nhiêu tình) Cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm đà chất Kiều Âm điệu
ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy dạt dào thiết tha Việt Bắc hỏi về :
“Mình về mình có nhớ không – Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?” Câu hỏi
chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn ViệtBắc – cội nguồn cách mạng
Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
“Bâng khuâng, bồn chồn” là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình
cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong… lẫn lộn cùng một lúc Mười lămnăm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau,mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm
vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10/1954), biết mang theo điều gì, biết lưu lại
Trang 34TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bângkhuâng khó tả
“Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ, màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc
trưng của người miền núi Việt Bắc – tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh
cụ thể “áo chàm”, chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo
thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệpkháng chiến cứu nước
Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm – biết
nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nóikhông biết phải nói điều gì Dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuônnhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…
12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc:
Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa
Điệp từ “nhớ” lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ,
nhắc nhở Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của ViệtBắc Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềmthương theo cách:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất
vả, hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn
Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
“Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian
khổ Và cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân
cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta
Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dàodạt:
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già
Hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng –
“Trám rụng – măng già ” không ai thu hái Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng
kẻ ở lại
Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, đã
làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi
thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ chiến sĩ.
Trang 35TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách
mạng, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa
Có thể coi đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc.Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngàotruyền cảm, mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sốngkháng chiến Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạngcao đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ,chiến sĩ đối với “Việt Bắc”
2 Đặc sắc nhất là đoạn thơ hồi ức về cảnh đẹp núi rừng Việt Bắc qua bốn mùa trong năm (Bức tranh tứ bình)
Đoạn thơ gồm năm câu lục bát nhắc lại những cảnh thân thiết và tươi đẹp nhất
về cảnh và người Việt Bắc trong hồi ức của người cán bộ cách mạng miền xuôi, ởđây chính là nhà thơ
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Đây là hai câu thơ mở đầu nhưng nó mang cảm xúc chung cho toàn đoạn
Ta là người ra đi cũng chính là tác giả Ở đây đoạn thơ kết cấu theo lối đối đáp
thông thường trong dân ca truyền thống Do đó, đây chính là lời hỏi ngọt ngào củangười ra đi với người ở lại, dễ liên tưởng đây là một thiếu nữ địa phương Và câuhỏi tu từ này là cái cớ bày tỏ tình yêu của một chàng trai miền đồng bằng với cô gáimiền cao
“Hoa và người” thực là nỗi nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc Ở đây,
thiên nhiên hòa điệu với con người, giữa chúng ngoài mối quan hệ tương hỗ còn cómối tương sinh lẫn nhau Việt Bắc sinh ra con người và con người làm nồng ấm quêhương Việt Bắc
Tiếp theo, tám dòng lục bát còn lại như là một bức tranh tứ bình về thiên và conngười nơi đây Với bốn dòng lục, nhà thơ đã miêu tả phong cảnh núi rừng qua bốnmùa, mỗi mùa là một bức tranh thiên thiên có nét đẹp riêng biệt Qua đây, ta thấy chỉriêng đoạn thơ này đã thấm đậm tính chất dân gian
Đầu tiên là bức tranh tả cảnh và khơi gợi cho chúng ta tình cảm mến thươngcủa mùa đông Việt Bắc Tại sao lại là mùa đông? Vì đây là hồi ức của tác giả tronggiờ phút chia tay Chúng ta còn nhớ, vào một đêm mùa đông 1946, Hồ Chí Minh đãkêu gọi toàn dân kháng chiến Đặc biệt ở Hà Nội, những người lính lặng lẽ rời thànhphố, bí mật theo chân cầu sông Hồng ngược xuôi lên căn cứ cách mạng Việt Bắc Thế vậy mà, ở chốn núi rừng heo hút này Mùa đông rừng biếc xanh đột ngộtbùng lên Màu đỏ tươi của hoa chuối rừng như những bó đuốc thắp lên sáng rực Vẻđẹp nên thơ và rực rỡ của Việt Bắc vào mùa đông gợi những người đọc những rungđộng sâu xa Thông qua bức tranh, ta thấy dù mùa đông lạnh giá nhưng sự sống núirừng vẫn cứ như tuôn trào, cảm giác đem đến cho lòng người sự ấm áp lại
Thiên thiên đáng yêu như thế, còn con người thì sao? Ta xét tiếp câu hát:
“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Con người rất kì vĩ Tố Hữu vẽ nên hình ảnh người dân Việt Bắc cũng là hìnhảnh con người kháng chiến trong khung cảnh “Đèo cao” lồng lộng với ánh nắng rực
rỡ làm hình ảnh con người “dao gài thắt lưng” thêm oai phong lẫm liệt
Thời gian trong hai câu thơ tiếp theo được xác định bởi yếu tố “ngày xuân”
Trang 36TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Chính ấn tượng “ngày xuân” này tạo sự vật vận động, sinh sôi nảy nở Không
gian ở đây như là cổ tích Mới vừa rồi màu xanh bạt ngàn điểm hoa chuối đỏ, bâygiờ nở bung ra những rừng mơ trắng muốt thoảng hương thơm Cái màu trắng dìudịu tinh khiết ấy phủ lên cả cánh rừng, gợi lên trong lòng ta một cảm giác thơ mộngbâng khuâng Ngoài ra màu trắng của hoa mơ gợi cho người ta cái thanh thoát hơn,đem lại cho lòng ngưỡi sự thanh thản, thảnh thơi Câu thơ làm cho ta thấy dườngnhư màu xanh đã bị lấn lướt Mùa xuân ở đây không tưng bừng như mùa xuân củaXuân Diệu mà nó đến một cách lặng lẽ, âm thầm nhưng không kém niềm vui
“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Mùa xuân miêu tả trong câu thơ rất đặc trưng cho mùa xuân Việt Bắc Sợigiang là sản phẩm của Việt Bắc Do vậy người lao động đó là người Việt Bắc chớkhông phải là người miền xuôi Nhìn thấy được từng sợi giang, tức là con ngườiđược nhìn ở tầm gần Việc làm này có nhàn nhã như chính mùa xuân, mùa xuân làmcho người ta cảm thấy thơ thới và đem đến cho họ dáng điệu sống như thế
Thế rồi, khoảnh khắc nhàn hạ của mùa xuân cũng qua mau, qua mau, con ngườitiếp tục sống cuộc sống của họ
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Bức tranh gợi sự chú ý cho người đọc bằng thị giác, lẫn thính giác Đầu tiên,cái độc đáo ở đây chính là âm thanh, âm thanh mùa hạ, tiếng “ve kêu” Câu thơ tạo
ra hình ảnh nhân hóa Con ve là loài vật, vậy mà nó biết kêu, biết gọi, nó xui khiếnrừng phách đổ vàng ở đây, chúng ta nên dành một ít thời gian để tìm hiểu cái rừngphách kì lạ này Rừng phách là những cây lạ ở miền Bắc Nó không mọc riêng rẽ màmọc thành rừng, rất nhạy cảm với thời tiết Tiếng ve kêu râm ran đây đó đã báo hiệumùa hạ, nhưng lúc này đã là cuối hạ Cái lạnh đang tràn ngập núi rừng, lá cây bắtđầu chuyển sang màu vàng, cả rừng phách thay áo mới, chiếc áo vàng óng ánh dướiánh nắng mặt trời Cảnh thiên nhiên đẹp và rực rỡ thế lại càng lãng mạn hơn, vì
trong cánh rừng bạt ngàn ấy có thêm bóng dáng của một sơn nữ ”hái măng một
mình” Đọc tới đây khiến ta liên tưởng đên một hình ảnh tương tự trong thơ Nguyễn
Bính, nhà thơ của đồng quê:
“Thơ thẩn đường chiều một khách thơ
Say nhìn ra rặng núi xanh lơ Khí trời lặng lẽ và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ”
Đây là khổ thơ thứ nhất trong bài thơ”Cô hái mơ” Ta thấy có sự giống nhau rất ngẫu nhiên: cũng là rừng núi và cô gái đang làm việc Chỉ có điều ở đây là “hái
mơ” chớ không phải “hái măng”
Từ “hái” ở đây dường như không thể thay thế bằng một động từ nào khác: bẻ,
đốn… vì chỉ có nó mới phù hợp nét dịu dàng, uyển chuyển, mềm mại của cô gái màthôi Ta hãy thử tưởng tượng bức tranh mùa hạ như thế này đẹp biết bao Cảnh thiênnhiên tuyệt mỹ như thế lại khảm chạm thêm vào hình ảnh một người thiếu nữ nhẹnhàng làm việc Quả thật bức tranh vừa đẹp vừa có thần nữ Rõ ràng thiên nhiên vàcon người đã hòa quyện vào nhau, tô điểm cho nhau
Cuối cùng đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh mùa thu cũng không kém phần đẹp
đẽ
Trang 37Câu thơ thiếu cụ thể nên con người ở đây cũng thiếu cụ thể Từ “ai” nhòa đi để tạo nền cho cả đoạn và cũng nhằm trả lời cho câu hỏi đầu tiên: “Mình về có nhớ ta
chăng?” Tuy hỏi thế nhưng trong lòng họ vẫn biết rằng con người ấy vẫn thủy
chung, son sắt Đây là lời đồng vọng trong tâm hồn của cả hai người yêu nhau cùng
nhớ, cùng thương” “nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Qua đây ta thấy bao trùm cả đoạn thơ là tình cảm nhớ thương tha thiết tiếp tục
âm hưởng chung của nghệ thuật ca dao Câu thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, ý
nọ gợi ý kia cứ trào lên dào dạt trong lòng người ra đi và người ở lại Đặc biệt là qua
cách xưng hô “mình” với “ta” Ở đây điệp từ nhớ dùng để xoáy sâu vào cảm hứng chủ đạo là hồi ức Từ ”rừng” lặp lại là khoảng không gian cho nỗi nhớ tồn tại Màu
sắc cũng ảnh hưởng không ít tới bức tranh, đỏ lặng lẽ, nhưng có sức sống Màu condao thể hiện sự hoạt động Màu trắng làm thanh thoát con người và màu vàng làmcho bức tranh rực rỡ trong hoàng hôn Rõ ràng bức tranh đã có sự hòa điệu của màusắc Bên cạnh đó,nhạc đệu dịu dàng trầm bổng khiến cả đoạn thơ mang âm hưởngbâng khuâng, êm êm như một khúc hát ru – khúc hát ru kỉ niệm Có lẽ khúc hát ru
này không của ai khác là của ”ta” và cho người nhận là “mình” Cả ”ta” và
“mình” đều cùng chung nỗi nhớ, cùng chung ”Tiếng hát ân tình “ và ân tình sâu
nặng ấy mãi còn lưu luyến vấn vương trong những tâm hồn chung thủy
Có thể nói đây là đoạn thơ hay và có giá trị nhất trong bài “Việt Bắc” Cảnh
thiên nhiên và con người trong đây được miêu tả hết sức tuyệt vời và tươi đẹp, trànngập sức sống Và với giọng thơ ngọt ngào, tâm tình khiến đoạn thơ như một bảntình ca về lòng chung thủy sắt son của người cách mạng đối với cả nhân dân, quêhương Việt Bắc
3) Bức tranh Việt Bắc ra quân :
Theo dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình, bài thơ dẫn người đọc vào khungcảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấpnập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức Cáchmạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậysức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc Bài thơ tràn đầy âmhưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ một sử thi hiện đại, bởi vì chỉ cần phác hoạkhung cảnh hùng tráng ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho thấy khí thế vô cùng mạnh mẽcủa cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do Vì vậy, Việt Bắc
đã ghi lại những chiến công của bộ đội, dân quân ta trong kháng chiến chống Pháp.Đoạn thơ toát lên vẻ đẹp hào hùng của dân quân ta:
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Trong phần I của bài thơ, cùng với những cánh “rừng che bộ đội, rừng vâyquân thù” là hình ảnh khái quát về những con đường Việt Bắc trong không khí raquân được tác giả tập trung mô tả rất hào hùng Hình ảnh vừa tả thực về những đêmhành quân (đêm đêm), vừa khái quát khí thế dũng mãnh của lớp lớp những người ra
Trang 38TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
trận Cách so sánh có vẻ thậm xưng (rầm rập như là đất rung) gợi về những đoànquân cách mạng làm rung chuyển hoàn cầu
Hình ảnh người lính ra trận vừa hiện thực, vừa hào hùng và lãng mạn
Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Hiện thực ở những đoàn quân đi nối tiếp nhau, ở những chiếc mũ nan giản dị.Hào hùng ở sự trùng điệp được nhân lên “điệp điệp trùng trùng” và lãng mạn ở hìnhảnh “ánh sao đầu súng” của cuộc chiến đấu gian khổ vì lí tưởng cao đẹp và thiêngliêng
Bên cạnh người lính là hình ảnh người dân ra trận như một sức mạnh chiếnthắng
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Trên nền hiện thực của những đoàn dân công đi phục vụ chiến dịch trong ánhđuốc, tác giả dựng lên hình ảnh lãng mạn như những hội hoa đăng chiến thắng (vớiđuốc đỏ và muôn tàn lửa bay) với sức mạnh vô địch (bước chân nát đá) Phải chăng
với lối nói thậm xưng “bước chân nát đá” tác giả cũng muốn nhấn mạnh sự lớn dậy
và kiên cường, bất khuất của dân tộc ta thời kỳ này
Hình ảnh những ánh đèn pha hành quân giữa đêm tối khẳng định khí thế mớicủa cuộc kháng chiến
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
Ánh sáng của “Đèn pha bật sáng” trong đêm hành quân là hình ảnh những đoàn
xe cơ giới thể hiện sức mạnh của quân đội ta với những trang bị hiện đại Song câuthơ thật đẹp bởi ánh sáng đó không chỉ là xua tan bóng tối của mỗi đêm mà còn làxua tan bóng đen của “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” và mang lại tương lai mớicủa “ngày mai lên”
Những câu còn lại là niềm vui của tác giả, của nhân dân Việt Bắc trước nhữngtin chiến thắng khắp mọi miền Đất Nước dồn dập bay về
Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Biện pháp liệt kê nói lên số lượng chiến thắng nhiều và niềm vui khôn xiết củaátc giả cũng là của dân tộc Dân tộc ấy đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh
để lập nên những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèoGiàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Khí thế hào hùng của
cuộc kháng chiến ấy có cội nguồn sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm
muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó
giữa con người với thiên nhiên - tất cả tạo thành hình ảnh Đất Nước đứng lên đã dẫn
tới chiến thắng
Như vậy, với bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng mạn, đoạn thơ đã làm sống dậynhững hình ảnh tiêu biểu và khái quát về chuỗi tháng năm hào hùng của cuộc khángchiến chống thực dân Pháp Có thể gọi đây là bức tranh thành công về Việt Bắc raquân
Trang 39TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
Bên cạnh việc gợi lại hình ảnh về cuộc ra quân hào hùng, đoạn thơ còn để lạitrong ta cảm nhận đẹp đẽ về những con đường của quê hương cách mạng Việt Bắc,nơi đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc Điều đó khẳngđịnh những câu thơ này là một trong những đoạn thơ hay nhất của tác phẩm
4 Nghệ thuật biểu hiện của bài thơ Việt Bắc rất đậm đà tính dân tộc Điểm
đáng chú ý trước hết là Tố Hữu đã phát huy được nhiều thế mạnh của thể lục bát
truyền thống Cấu tứ của bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình là ta và
mình, người ra đi và người ở lại hát đối đáp với nhau Trong cuộc hát đối đáp chia
tay lịch sử này, người ở lại lên tiếng trước, nhớ về một thời xa hơn, thời đấu tranhgian khổ trước Cách mạng, sau đó người ra đi nối tiếp nhớ lại kỉ niệm thời chín nămkháng chiến
Nhà thơ rất chú ý sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao, chẳng những có tác dụngnhấn mạnh ý mà còn tạo ra nhịp thuyên chuyển, cân xứng, hài hoà, làm cho lời thơ
dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:
Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng / măng mai để già Điều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động / giao thông mở đường,
Về ngôn ngữ thơ, Tố Hữu chú ý sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản
dị mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và khángchiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ
thể: Nghìn đêm thăm thẳm sương dày; Nắng trưa rực rỡ sao vàng; và cũng là thứ ngôn ngữ rất giàu nhạc điệu: Chày đêm nện cối đều đều suối xa; Đêm đêm rầm rập
như là đất rung; Đặc biệt, thơ Tố Hữu sử dụng rất nhuần nhuyễn phép trùng điệp
của ngôn ngữ dân gian: Mình về, mình có nhớ ta; Mình về, có nhớ chiến khu; Nhớ
sao lớp học i tờ; Nhớ sao ngày tháng cơ quan,; Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều, tất
cả tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời
ru, đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình nghĩa thuỷ chung
hai nét chủ đạo trong nội dung của Việt Bắc kết hợp với hình thức dân tộc đã làm
cho bài thơ tác động sâu sắc vào tư tưởng, tình cảm của người đọc
Câu hỏi ôn tập :
Câu 17 Nêu khái quát những hiểu biết về cuộc đời và con người Tố Hữu?
Câu 18 Trình bày các chặng đường thơ Tố Hữu ?
Câu 19 Nêu đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu?
Câu 20 Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc ?
Câu 21 Nêu ý nghĩa của văn bản ( bài thơ )Việt Bắc?
Câu 22 : Nêu nội dung và nghệ thuật chủ yếu của bài thơ Việt Bắc ?
Trang 40TỔ VĂN THPT THÁP MƯỜI
ĐẤT NƯỚC – Nguyễn Khoa Điềm
(Trích trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm)
I Tiểu dẫn :
1 Tác giả : Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943 trong một gia đình trí thức có
truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng ở Huế, học tập và trưởng thành trênmiền Bắc trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, tham gia chiến đấu và hoạtđộng văn nghệ ở miền Nam Ông từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban tư tưởngvăn hóa Trung ương, Bộ trưởng bộ Văn hóa Thông tin
- Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắcchính luận
2 Đoạn trích:
a Hoàn cảnh sáng tác-xuất xứ: Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu
chương V của trường ca Mặt đường khát vọng Bản trường ca được Nguyễn KhoaĐiềm hoàn thành ở chiến khu Trị- Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sựthức tỉnh của tuổi trẻ đô thị ở miền Nam về Đất Nước,về sứ mệnh thế hệ mình,xuống đường đấu tranh chống Mĩ
b Giá trị của đoạn trích : Thơ ca giai đoạn 1945 - 1975 có nhiều sáng tác đặc
sắc về đề tài Đất Nước, như Đất Nước (Nguyễn Đình Thi), Mũi Cà Mau (Xuân Diệu), Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? (Chế Lan Viên) Các sáng tác kể trên đều có sức sống lâu bền bởi những đóng góp riêng độc đáo: Đoạn trích Đất Nước
của Nguyễn Khoa Điềm cũng có một đóng góp đặc sắc Đó là cái nhìn mới mẻ củatác giả về Đất Nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bìnhdiện: lịch sử, địa lí văn hoá,
Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ là tư tưởng Đất Nước của Nhân dân, do nhândân làm ra Cảm hứng này được bộc lộ qua một cái tôi trữ tình giàu suy tư và ưaphân tích, lí giải
Tất cả được biểu đạt bằng một giọng thơ trữ tình - chính luận sâu lắng, thiếttha Nghệ thuật sử dụng nhuần nhị và sáng tạo các chất liệu văn hoá và văn học dângian đem vào câu thơ hiện đại tăng thêm sức hấp dẫn của đoạn thơ
c Nội dung và nghệ thuật chủ yếu :
- Nội dung : Đoạn trích thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về Đất Nước qua nhiều bình diện : lịch sử, địa lí, văn hóa…: Đất Nước là sự hội tụ và kết tinh bao công sức và khát vọng của Nhân dân Nhân dân là người làm ra Đất Nước
- Nghệ thuật : Giọng thơ trữ tình - chính luận, sự vận dụng sáng tạo nhiều yếu
tố của văn hoá và văn học dân gian làm sáng tỏ thêm tư tưởng Đất Nước của Nhân dân
(Đóng góp riêng của đoạn trích là sự nhấn mạnh tư tưởng Đất Nước của Nhân
Dân)
II Đọc hiểu văn bản :
1 9 câu đầu là đoạn thơ đã nói lên một cách dung dị mà thấm thía về cội nguồn sâu xa của Đất Nước trên phương diện văn hoá
Giọng điệu thủ thỉ tâm tình, nhà thơ gợi lên một không khí trầm lắng như kểchuyện cổ tích, như dẫn hồn ta ngược thời gian trở về cội nguồn Đất Nước và dântộc Bốn chữ "ngày xửa ngày xưa" dùng rất khéo:
"Khi ta lớn lớn Đất Nước đã có rồi