1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tài liệu ôn thi đại học môn ngữ văn

86 627 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 584,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi một nơi biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng ki

Trang 1

1

Tây Tiến

(Quang Dũng)

Đề 1: Bình giảng đoạn thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi châu mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

đã khẳng định một vị trí không thể nào thay thế trong lòng mỗi bạn đọc yêu thơ hôm nay Thi phẩm gồm có nhiều đoạn, đoạn thơ dưới đây chính là đoạn thơ thứ hai trong bài

“Tây Tiến”, ở đó nhà thơ đã tái hiện vẻ đẹp tình quân dân và cảnh sông nước miền Tây:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Nếu như ở đoạn thơ trước đó nhà thơ nhớ về con đường Tây Tiến lắm dốc, nhiều đèo với những nỗi gian nan, vất vả thì đến đoạn thơ này, tác giả lại nhớ về đêm liên hoan văn nghệ với những tình cảm ngây ngất, say mê cùng với bức tranh sông nước miền Tây Bắc hư ảo, mộng mơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”

Trên chặng đường hành quân đầy gian lao, vất vả, binh đoàn Tây Tiến đã có lúc dừng chân nghỉ ngơi Nơi dừng chân của trung đoàn bỗng trở thành “Doanh trại” – hai chữ gợi cho người đọc về sự vững vàng, thanh bình nhưng không kém phần mạnh mẽ Nổi bật lên trên cái nền thanh bình ấy là hình ảnh “ngọn đuốc hoa” “bừng lên”, một thứ ánh sáng mạnh mẽ, đột ngột, lan toả trong không gian xua tan đi bóng đêm lạnh lẽo nơi núi rừng Tây Bắc Đồng thời hình ảnh “hội đuốc hoa” gợi cho ta liên tưởng đến một đêm hội hoa

đăng lung linh, huyền ảo

“Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp”

Trang 2

2

Ngay mở đầu dòng thơ, nhà thơ đã đem đến cho người đọc một cảm giác ngỡ ngàng của những người lính Tây Tiến trước vẻ đẹp của “em” bởi chữ “kìa” Theo nhà thơ Trần

Lê Văn – bản thân của Quang Dũng thì “em” ở đây chính là những người lính Tây Tiến

mà thôi Với chất dí dỏm, tinh nghịch, họ đã giả trang thành những thiếu nữ miền sơn cước để diễn kịch Nhưng ta cũng có thể hiểu “em” ở đây chính là sơn nữ - đoá hoa rừng

đầy hương sắc Trong bộ “xiêm áo” rực rỡ, những cô gái hiện lên với vẻ đẹp lạ lẫm, say

mê, duyên dáng và không kém phần hoang sơ với những cử chỉ “e ấp” Đọc đến đây, ta có cảm giác như âm thanh của cuộc chiến tranh khốc liệt dường như đã lắng xuống, chỉ còn lại nét lãng mạn, bay bổng trong tâm hồn người lính Họ không chỉ nhìn, ngắm vào còn lắng nghe, nghe từng “khèn” “man điệu” đầy bí ẩn, quyến rũ, để rồi bao cảm xúc được cộng hưởng thành:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Một bức tranh được bao phủ bởi “sương” giăng mờ mịt, bồng bềnh khắp các thung lũng, triền núi gợi lên cảnh núi rừng hư ảo, vắng lặng Trong cái bức tranh ấy, nhà thơ khắc hình ảnh “hoa lau” – một hình ảnh đặc trưng của vùng cao “lau” mọc ở các triền sông vách đá làm cho cảnh núi rừng trở nên hoang vu, vắng vẻ Trong bài thơ “Việt Bắc”

- Tố Hữu cũng đã từng miêu tả

Quang Dũng không miêu tả sắc màu hay dáng hình “hoa lau” mà tập trung khắc hoạ linh hồn của nó, cũng như linh hồn của bức tranh Tây Bắc thêm phần tĩnh lặng, hắt hiu Chỉ với bốn câu thơ nhưng đã có đến hai câu hỏi xuất hiện: “có thấy ”, “có nhớ ” Dẫu

là lời để hỏi hay tự hỏi thì nó cũng chứng tỏ cho người đọc thấy nhà thơ đang đắm chìm trong một nỗi nhớ dâng đầy Nhớ hình ảnh dáng người trên con thuyền độc mộc Đây có thể là hình ảnh những người lính đè sóng lướt gió nhưng cũng có thể hiểu đó là dáng của những cô gái miền Tây Bắc với dáng hình mềm mại, uyển chuyển

Nhà thơ đã sử dụng kết cấu câu vắt dòng Dòng thơ thứ ba liền kề kết nối với cụm từ

“trời dòng nước lũ” của câu thứ tư hoà với dáng vẻ mềm mại của thiếu nữ trên dòng sông

Trang 3

3

Tây Bắc là dáng hình mềm mại của “hoa lau” Từ “đong đưa” có hồn hơn từ “đung đưa” bởi nó gợi lên vẻ tình tứ của thiên nhiên và con người lính chân xa rời mà lòng còn lưu luyến

Bằng bút pháp lãng mạn kết hợp với tâm hồn nghệ sĩ tài hoa, Quang Dũng đã thể hiện được nét lãng mạn, mộng mơ trong tâm hồn người lính đó là nét lãng mạn vút lên

từ hiện thực chiến đấu gian khổ mà hào hùng

Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi một nơi biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

áo bào thay chiếu anh về đất

áng thơ ca đẹp lấy cảm hứng từ hiện thực của cuộc chiến đấu cũng như hình ảnh anh bộ

độ cụ Hồ vẫn còn sống mãi với thời igan mà suốt cuộc đời sau này không dễ vượt qua Trong số đó, đặc biệt nổi lên là bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng “Tây Tiến” được viết năm 1948, trong những năm tháng chống Pháp gian khổ với tên ban đầu là “Nhớ Tây Tiến” Cho dù sau này nhà thơ đã cắt bớt chữ “Nhớ” trong nhan đề nhưng bao trùm lên tất cả vẫn là nỗi nhớ của nhân vật trữ tình Nỗi nhớ hiện lên là thiên nhiên Tây Bắc dữ dội nhưng cũng đầy nên thơ, là hình ảnh đoàn binh Tây Tiến những con người xuất thân

từ thủ đô hoa lệ sẵn sàng “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” Bức tượng đài của những người chién sĩ đầy hào hùng nhưng cũng rất hào hoa ấy được nhà thơ khắc hoạ qua đoạn thơ:

“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Trang 4

4

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

áo bào thay chiếu anh về đất

Song, tất cả những hình ảnh này đều được thể hiện qua bút pháp hiện thực cách mạng Với Quang Dũng, cũng viết về người lính trong giai đoạn này, cũng là căn bệnh sốt rét rừng nhưng nhà thơ không nhìn dưới tâm hồn hiện thực mà nhìn nó dưới cái nhìn lãng mạn hiện thực Vì vậy mà có lẽ chưa có vần thơ nào ấn tượng như vần thơ Quang Dũng với những hình ảnh độc đáo “không mọc tóc”, “xanh màu lá”

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Thực sự do căn bệnh sốt rét mà những người lính Tây Tiến đã bị rụng tóc ở đây, nhà thơ

đã sử dụng phép đảo ngữ “không mọc tóc”, biến cái bị động thành cái chủ động Hiện thực khốc liệt ấy được tái hiện qua tâm hồn lãng mạn của Quang Dũng nên cái đầu không có tóc của anh vệ trọng lại mang vẻ oai phong lẫm liệt khác thường Do thiếu thốn về vật chất lại bị căn bệnh sốt rét rừng hành hạ mà những người lính da xanh vàng vọt Qua tâm hồn lãng mạn của Quang Dũng, nó đã trở thành màu xanh của lá nguỵ trang, màu xanh của rừng bạt ngàn Lãng mạn của Quang Dũng quả thực không phải

là cái lãng mạn tô hồng bôi đen cuộc sống, không phải thứ lãng mạn thoát li cuộc đời như Nam Cao đã từng kịch liệt phê phán trong tác phẩm “Giăng sáng” (1943) “Chao ôi, nghệ thuật không nền là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp làm than” Đó là lãng mạn cách mạng, lãng mạn lý tưởng Nhờ có cái lãng mạn đó mà người lính Tây Tiến hiện lên trong thơ Quang Dũng oai phong như mãnh hổ “dữ oai hùm”, chế ngự cái khắc nghiệt của của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, làm cho quân thù phải khiếp sợ Tuy rằng gian khổ, thiếu thốn, chấp nhận hy sinh nhưng vượt lên trên tất cả, họ vẫn giữ được cái hào

hùng của người lính trẻ

Nếu hai câu thơ đầu, Quang Dũng khắc tạo trước mắt người đọc hình dáng bề ngoài của người lính Tây Tiến thì hai câu thơ sau, nhà thơ lại lách sâu ngòi bút của mình để mô tả đời sống nội tâm của các anh

Trang 5

5

Còn ở đây, những người lính Tây Tiến phần lớn là thanh niên trí thức Hà Thành Theo tiếng gọi của đất nước, họ đã ra đi, đến chiến trường và mang theo cả cái lãng mạn hào hoa vốn có Do vậy, khi nhớ về quê hương, nhớ về Hà Nội, nỗi nhớ ấy có phần lãng mạnh hơn :

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Quang Dũng đã thể hiện một chất lính rất thực – chất lính của người trí thức Đây là những thanh niên Hà Thành một thời kỳ được ngồi trên ghế nhà trường, tâm hồn họ thấm đẫm áng văn chương cổ Nhớ về Hà Nội, họ xem Hà Nội như một “dáng kiều thơm” Những tình cảm rất mộng mơ ấy là động lực nâng đỡ tinh thần người lính, tiếp sức cho

họ trong cuộc chiến đấu Vẻ đẹp của khổ thơ này còn được kết tinh qua thủ pháp nghệ thuật đối lập Điều này được thể hiện qua hình ảnh “Mắt trừng gửi mộng” “Mắt trừng” vốn là tìm về phía quân thù để canh chừng, cảnh giác, nêu cao quyết tâm chiến đấu Những khát vọng, ý chí chiến đấu, mộng ước chiến tranh đều được thể hiện qua ánh mắt quyết tử – một ánh mắt đầy giận dữ, nảy lửa, áp đảo kẻ thù Nó mang vẻ dữ dằn, oai hùng đầy dũng khí Còn “gửi mộng” là gửi những lý tưởng, những ước mơ, những mộng

ước chiến tranh “Mộng” và “mơ” được họ gửi về hai phương trời “Mộng” giết giặc gửi qua biên giới sang nước bạn Lào còn “mơ” về “dáng kiều thơm” được gửi về nơi Hà Thành mỹ

lệ Như vậy, với bốn câu thơ cùng với nền hiện thực và cái nhìn đa chiều, Quang Dũng đã xây dựng một bức tường đài nghệ thuật sống động chân thực về hình tượng anh bộ đội cụ

Hồ ẩn chứa dưới dáng vẻ bề ngoài oai hùng dữ dằn là một kho tâm hồn khao khát yêu thương một trái tim cháy bỏng căm hờn, một trái tim biết căm thù quân xâm lược, một trái tim rực lửa anh hùng

Sự kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp lãng mạn với tinh thần bi tráng được tác giả thể hiện

rõ khi miêu tả tư thế ra đi và sự hy sinh của người lính Tây Tiến Nếu như bốn câu thơ

đầu, Quang Dũng tập trung miêu tả cõi sống thì bốn câu thơ sau lại miêu tả “cõi chết” của những người lính Tây Tiến

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

áo bào thay chiếu anh về đất

Sông mã gầm lên khúc độc hành”

Đã từng có một thời gian dài, người ta quan niệm thơ văn kháng chiến không nên miêu tả, đề cập đến cái chết bởi người ta sợ sẽ làm ảnh hưởng đến ý chí, tinh thần chiến

đấu của người lính Nhưng Quang Dũng đã nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh mất mát

hy sinh Bởi vậy, những câu thơ này được xem là hiếm hoi Quang Dũng không chỉ một

Trang 6

6

lần mà đã hai lần nhắc đến cái chết trong bài thơ này ở đoạn trên, cái chết được hiện về qua hình ảnh

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Có thể đây là một giấc ngủ của người lính Tây Tiến giữa hai giờ súng nổ cũng có thể

đây là sự ra đi vĩnh viễn của các anh Đến đây, cái chết không chỉ còn là một nét tả thực,

cụ thể không còn là một khoảng khắc đau thương giữa đường hành quân mà đã trở thành một nét chiêm nghiệm hay nói cách khác, cái cụ thể đã được nâng lên thành tầm khái quát Những hình ảnh này gợi lên được vẻ đẹp của các anh bộ đội cụ Hồ luôn ca cái chết nhẹ tựa lông hồng

“Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng

Lòng khoẻ mạnh anh dân quê sung sướng

Ngả mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành

Và trong mơ thơm mắt lửa đồng xanh”

Cái bi của đoạn thơ được Quang Dũng gợi lên qua hình ảnh nấm mồ nơi rừng sâu biên giới Viết về cái bi nhưng thơ Quang Dũng không luỵ bởi nhà thơ đã sử dụng hàng loạt những từ Hán Việt Câu thơ “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” gồm bảy âm tiết nhưng đã

có năm âm tiết là những từ Hán Việt Việc sử dụng hàng loạt những từ Hán Việt này tạo sắc thái trang trọng, thiêng liêng, giảm bớt đau thương và nâng tầm cái chết của những người lính Như vậy, nói về cái chết nhưng thơ Quang Dũng không gây cảm giác bi luỵ

mà chỉ để lại trong lòng người cảm giác bi hùng, bi tráng Sự thật đáng sợ không làm nhụt nhuệ khí của những chàng trai Tây Tiến bởi khát vọng lên đường đầy cao đẹp của

họ Với họ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Hai chữ “đời xanh” gợi lên cái tuổi trẻ với bao mộng đẹp, ước mơ, hoài bão Phảng phát trong những vẫn thơ này có âm hưởng lãng mạn, hào hùng

“Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi Nào có sá chi đâu ngày trở về”

Một khi đã cất bước ra đi, các anh chỉ muốn hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình cho đất nước:

“Ôi! Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng

Ôi ! Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”

Đó là thái độ của những con người đầy trách nhiệm khi Tổ quốc lâm nguy Ta bắt gặp hình ảnh ấy qua tứ thơ của Trần Mạnh Hảo trong trường ca “Đất nước hình tia chớp”

“Thế hệ chúng con ra đi như gió thổi

Trang 7

7

áo quân phục xanh đồng sắc với chân trời

Chưa kịp yêu một người con gái

Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai”

Đoàn binh Tây Tiến trong chặng đường hành quân gian khổ phải đối mặt với bao nhiêu thiếu thốn, gian nan, cho đến khi các anh ngã vào lòng đất mẹ, những thiếu thốn

ấy vẫn hiện về qua hình ảnh thơ :

“áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Câu thơ đầu có nhiều cách hiểu khác nhau Có cách hiểu đây là hình ảnh chiếu thay

áo bào Nếu được hiểu theo cách này, ta lại nhớ đến tứ thơ của Hoàng Lộc trong bài

“Viếng bạn”:

“ở đây không gỗ ván Vùi anh trong tấm chăn

Của đồng bào Cửa Ngăn

Tặng tôi ngày phân tán”

“áo bào” là một hình ảnh quen thuộc trong văn học cổ, được Quang Dũng sử dụng để tái tạo một vẻ đẹp tráng sĩ làm mờ đi hiện thực thiếu thốn nơi chiến trường Các tráng sĩ xưa, lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh còn với người lính Tây Tiến chỉ có tấm áo

đơn sơ các anh vẫn mặc hằng ngày

Giây phút tiễn đưa các anh không chỉ có đồng đội mà còn có dòng sông Mã như một chứng nhân lịch sử gầm lên những khúc bi ai Tiếng gầm sông Mã là một âm hưởng hoành tráng, là âm vang của sông núi, là điệu kèn vĩnh quyết, là khúc hát bi hùng tạo ra một nghi lễ trang trọng, thiêng liêng để tiễn biệt các anh Và từ đây, các anh vĩnh viễn nằm lại bên dòng sông Mã cuồn cuộn chảy về xuôi mang theo những truyền thuyết bất tử

về người lính anh hùng Trong hai câu thơ cuối của đoạn thơ, con người bình thường đã

được phản ánh bằng cảm thức sử thi, thần thoại hoá và bất tử hoá

Có thể xem đoạn thơ trên là một trong những khúc đoạn hay nhất của bài thơ “Tây Tiến” Đoạn thơ đã góp phần xây dựng chủ đề về đề tài anh bộ đội cụ Hồ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Cái bi và cái hùng, cái hiện thực và lãng mạn, cái hào hùng và hào hoa là chất liệu chủ yếu mà Quang Dũng đã sử dụng để miêu tả bức tượng đài về người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” ở họ ánh lên một vẻ đẹp lạ lùng, vừa mang chất nghệ sĩ lại vừa pha chất tráng sĩ thời xa xưa Chính vẻ đẹp ấy của người lính Tây Tiến đã khiến bài thơ sau bao thăng trầm lịch sử vẫn còn sống mãi và được khẳng định như một bài ca không quên của thơ ca kháng chiến

Trang 8

8

Đất Nước

(Trích trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Đề bài: Tư tưởng đất nước của nhân dân trong bài thơ Đất Nước trích trong Trường ca

mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm

Bài làm

Là một gương mặt nhà thơ trẻ trên diễn đàn văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Khoa Điềm cùng thế hệ với những nhà thơ Trần Đăng Khoa, Trần Mạnh Hảo, Lê Thị Mây, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Lê Thị Thanh Nhàn Trong dàn

đồng ca chung một thời kỳ lửa cháy, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng viết về hào khí của một dân tộc

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Thơ của Nguyễn Khoa Điềm mang đậm chất triết luận, triết lý thường viết về những vấn đề lớn là như tổ quốc, nhân dân và trách nhiệm của người công dân với đất nước Nguyễn Khoa Điềm được đào tạo góp phần hoàn tất nền văn hoá mới trong thời kỳ XHCN Sau khi được đào tạo ông lại trở về quê hương trong những ngày quê hương đầy bóng giặc Nguyễn Khoa Điềm tham gia kháng chiến, trở thành người chiến sĩ Bước chân của ông in hằn trên dải đất hình tia chớp Đây là thời kỳ Nguyễn Khoa Điềm viết rất sung sức, ông cho ra đời nhiều tập thơ, trường ca có giá trị tiêu biểu như tập Đất ngoại ô, Trường ca mặt đường khát vọng Ai đã từng đọc Trường ca mặt đường khát vọng thì đều thấy rằng chương V của bài thơ với nhan đề Đất Nước - Chương hay nhất của bànr trường ca này Thành công lớn của chương V này là Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện

được tư tưởng Đất Nước của nhân dân:

“Để đất nước này là đất nước của nhân dân

Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại”

Có thể khẳng định một điều rằng, tư tưởng đất nước của nhân dân như một mạch ngầm chảy sâu vào nền văn chương nước nhà Nó có từ thời cổ trung đại Tư tưởng này

đã xuất hiện trong thơ văn ở thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã từng đề cao vai trò của nhân dân: “Chở thuyền, thuyền lật:

“Chở thuyền cũng là dân Lật thuyền cũng là dân”

Hơn 100 năm sau, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đề cao “Dân vi bản” – “Dân là gốc của nước” Tư tưởng này còn thể hiện rõ trong quan niệm của chí sĩ Phan Bội Châu

Trang 9

9

Tuy nhiên tư tưởng đất nước của nhân dân trong các bậc hiền triết ngày xưa vẫn mang đậm tính giai cấp Chỉ đến khi cuộc cách mạng tháng tám nổ ra thành công thì tư tưởng đất nước của nhân dân mới được thể hiện rõ nét và sâu sắc Là một nhà văn được

đào tạo/ dưới nền văn hoá XHCN, là sinh viên khoá đầu tiên khoa văn Trường Đại học sư phạm I Hà Nội, Nguyễn Khoa Điềm được đào tạo rất hoàn bị theo tư tưởng Mác – Lênin Theo tư tưởng Mác – Lê nin, quần chúng nhân dân là người làm ra lịch sử Chính cuộc kháng chiến chống Mỹ, hơn một lần như minh chứng để nàh thơ khẳng định tư tưởng đất nước nhân dân Chương V của Trường ca mặt đường khát vọng, nhà thơ thể hiện rất thành công tư tưởng này

Thành công đầu tiên của Nguyễn Khoa Điềm khi thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân, tức là nhân dân làm ra đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã lựa chọn cho mình một chất liệu văn hoá phù hợp: đó là văn hoá dân gian Chúng ta biết chất liệu là hình thức

bề ngoài nhưng nó là phương tiện để truyền tải nội dung Mà chất liệu và bản chất bên trong có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau Chúng ta phải khẳng định rằng, trong bất cứ một nền văn học nào cũng có hai dòng văn hoá song song và tồn tại: đó là văn hoá dân gian và văn hoá chính thống (còn gọi là văn hoá bác học) Trong đó văn hoá dân gian

là cội nguồn của văn hoá nước nhà Bản chất của văn hoá dân gian là truyện kể Tất cả những điều này đều do nhân dân sáng tạo ra Nhất là nhân dân ta, trong quá trình lao

động sản xuất, họ đúc kết những kinh nghiệm thành những câu tục ngữ, ca dao, những câu truyện ., để thể hiện ước vọng của nhân dân ta trong buổi đầu chinh phục thiên nhiên, thế giới Cho nên văn hoá dân gian là cội nguồn dân tộc Nó như một mạch ngầm thấm sâu vào tâm hồn người Việt Nam Đó là sản phẩm của nhân dân, tư tưởng, văn hoá nhân dân

Lấy ngay chất liệu, tư tưởng văn hoá nhân dân nên Nguyễn Khoa Điềm rất thành công Vì vậy chương V với nhan đề Đất Nước, từ nội dung đến hình thức đều thấm đẫm tư tưởng đất nước của nhân dân

Đọc bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa điềm, ta có cảm giác những câu thơ rất gần gũi trong tâm hồn của mỗi chúng ta Từ thuở trong nôi, chúng ta đã từng được nghe những lời ru của bà, của mẹ, những câu ca dao, dân ca vô cùng gần gũi với chúng ta Ta thấy đâu đó của câu dao:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất”

Trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

Ta thấy đâu đây những câu truyện cổ mẹ kể từ ngày xửa ngày xưa như “Sự tích trầu cau”, “Thánh Gióng”, “Núi Vọng Phu”

Trang 10

Trong câu thơ: “Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”

Ta bắt gặp đâu đây những câu ca dao, thành ngữ:

“Miếng trầu là đầu câu truyện Cơi trầu nên dâu nhà người”

ở trong câu:

“Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

Đọc bài thơ này, mỗi người Việt Nam từ trong tiềm thức của mình, hẳn không thể quên được khi đọc đến câu thơ:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi vọng phu”

Vang vọng đâu đây câu ca dao mộc mạc từ xứ Lạng vọng về:

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Và cứ như thế, Nguyễn Khoa Điềm dắt người đọc đi khắp từ trong Bạch Đằng Giang, Cửu Long Giang trong câu thơ:

“Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm”

Rồi đưa người đọc đi qua Hạ Long để ngắm những thắng cảnh:

“Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”

Ghé que lăng Phù Đổng để thấy được sự tích trăm ao đầm để lại của chàng Thánh Gióng ngày xưa, đánh tan giặc Ân xâm lược

“Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại”

Và đi đến đâu bằng hàng loạt câu truyện cổ tích, bằng hàng loạt những câu ca dao,

ông cứ tâm tình, cứ thủ thỉ Và tất cả điều đó là sản phẩm của nhân dân Nhà thơ còn

đưa chúng ta đến những cái phong tục của nhân dân ta như làm nhà, làm cửa, cách để tóc sau đầu, nền văn minh công nghiệp:

“Tóc mẹ thì bới sau đầu”

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay, muối mặn”

“Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương

Trang 11

do ai gìn giữ và bảo vệ? Trong suốt 4000 năm qua? Và cả bài thơ Đất Nước được viết vô cùng thoải mái, phóng túng, tất cả như một dòng nội tâm tuôn chảy Chúng ta có cảm giác rằng nhà thơ không hề có sự sắp đặt theo khuôn khổ nào Ông cứ dùng hàng loạt những thủ pháp nghệ thuật: lý giải, cắt nghĩa, khám phá Và bài thơ Đất Nước là một câu trả lời, một câu trả lời vô cùng sâu sắc và đầy triết luận, chất thơ Tất cả điều này

đều do nhân dân Tức là Đất Nước này do nhân dân xây dựng lên Đất Nước do nhân dân gìn giữ và bảo vệ Chính muôn triệu người dân là chủ thể của Đất Nước này, là chủ thể của lịch sử, của văn hoá, phong tục, tập quán

Nhìn sâu vào bài thơ này ta thấy tư tưởng đất nước của nhân dân được triển khai trên 3 bình diện sau:

Thứ nhất, đất nước được triển khai trong không gian địa lý lãnh thổ Nguyễn Khoa

Điềm đi tìm đất nước trong những: cái ngày xửa ngày”

“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”

Như vậy, đi đến đâu trên dải đất Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm đều khẳng định nó,

có từ “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”

Nguyễn Khoa Điềm đi lần giở lại lịch sử để xem đất nước do ai sáng tạo ra Nguyễn Khoa Điềm đã tìm ra hai nguyên tổ gốc, hai tế bào đầu tiên, đó là Đất và Nước Dùng nghệ thuật cắt nghĩa, ông cắt khái niệm đất nước thành hai yếu tố là Đất và Nước Ông

đồng nghĩa đất là không gian gìn giữ gắn bó với anh

“Đất là nơi anh đến trường”

Nước là không gian gắn bó với em:

“Nước là nơi em tắm”

Rồi nhà thơ lại nhập vào khẳng định Đất Nước gắn với không gian, thời gian, kỷ niệm của tình yêu đôi ta

“Đất Nước là nơi ta hò hẹn”

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

“Đất là nơi con chim Phượng Hoàng bay về hòn núi bạc

Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Ông lại nhập vào:

“Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ”

Vậy làm ra Đất Nước là ta, là anh là em, là muôn triệu người dân Để có tính thuyết phục hơn, Nguyễn Khoa Điềm lại chứng minh:

“Khi 2 chúng ta cầm tay

Đất Nước hài hoà nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn”

Trang 12

Đất Nước hài hoà, vẹn tròn, to lớn là khi chúng ta cầm tay mọi người Như vậy, phát triển, gìn giữ đất nước này không ai khác là nhân dân Và những câu hỏi đầu tiên đất nước này ai làm ra, ai gìn giữ đất, những con người làm nên chủ thể của đất nước

Để chứng minh đất nước là của nhân dân Nguyễn Khoa Điềm đã đi ở khía cạnh thứ hai ///// , lý giải tên địa danh Một đất nước, Việt Nam như thế này từ Bắc vào Nam là sự cộng gộp biết bao ngọn núi, con sông, ruộng đồng, gò bài, ở đâu cũng có tên đất, tên làng, tên núi, tên sông

Một mảnh đất chừng nào chưa có tên gọi sẽ còn thiếu đi sự sống thiêng liêng của con người Đặt tên gọi không thể tuỳ tiện được bởi đằng sau tên gọi là một huyền thoại, một

sự tích, là cuộc đời của một con người Chính cuộc đời, con người ấy đã hoá thân thành

“dáng, hình xứ sở” như:

“Những người dân nào đã đặt tên ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, bà Điểm”

Hay những núi non là công sức của những người học trò nghèo Điều này thể hiện tinh thần hiếu học của người dân Việt Nam

Đó là hình ảnh của núi Vọng Phu Ngọn núi của những người vợ hoá đá chờ chồng

Đất nước Việt Nam trong 4000 năm trải qua biết bao cuộc chiến tranh trường kỳ gian khổ, biết bao người phụ nữ đã ngồi chờ chồng đến hoá đá Nó tượng trưng cho đức tính của người phụ nữ Việt Nam, thuỷ chung, son sắc Trên đất nước Việt Nam này có biết bao danh lam, thắng cảnh đẹp như: con cóc, con gà Những người yêu quê hương đã thổi hồn mình vào “con cóc”, con gà làm cho Hạ Long thành thắng cảnh” Nhiều, nhiều nữa không thể kể hết , Nguyễn Khoa Điềm đi đến kết luận khái quát

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gõ bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước một lối sống ông cha”

Qua đó tác giả đã giáo dục thế hệ sau biết giữ gìn bảo vệ đất nước bởi đất nươcf do nhân dân làm ra, đất nước mang đậm lối sống ông cha

Tác giả khẳng định đất nước do người dân xây dựng và bảo vệ:

“Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm

Trang 13

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập”

(Bình Ngô Đại Cáo) Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nhìn lịch sử 4000 năm là 4000 nghìn lớp người, 4000 thế

hệ mang trong mình ngọn lửa của dân tộc Việt Nam:

“Em ơi em hãy nhìn rất xa Vào 4000 năm Đất nước

Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta”

Trong 4000 lớp người ấy đều mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước Việt Nam:

“Lớp cha trước, lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành”

Đó là tinh thần của những con người sẵn sàng ra trận, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng

“Tôi muốn viết bài ca trên báng súng Con lớn lên để viết tiếp thay cha

Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống

Người hôm nay viết tiếp người hôm qua”

Chính người dân Việt Nam đã đứng dạy bảo vệ và ngã xuống Máu của họ đã thấm

đấm mảnh đất này Cho nên chính họ đã viết nên trang sử vàng Angghen đã từng nói

“Không có máu và mồ hôi của nhân dân, dân tộc ấy không có lịch sử” Vì vậy viết nên lịch sử của Việt Nam là nhân dân, là muôn triệu người dân Việt Nam

Hơn nữa, nói đến lịch sử trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là lịch sử của chiến trận, mà còn là lịch sử của những con người biết gìn giữ văn hoá, ngôn ngữ

“Họ đã giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ truyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi”

Trong 4000 năm qua, người Việt Nam biết giữ gìn hạt lúa, ngọn lửa, ngôn ngữ cho thế

Trang 14

giữ qua bao đời Đó là những câu chuyện cổ tích, những câu hò sông nước, những câu tục ngữ, lời ru, cách gìn giữ ngọn lửa, gìn giữ ngôn ngữ Tất cả đều là những công trình văn hoá chân chính gắn liền với sự sống bền bỉ của dân tộc Đó là sự sống hằng ngày của nhân dân ta Tư tưởng theo hướng này, Nguyễn Khoa Điềm đã có những khám phá bất ngờ có thể làm ngỡ ngàng tất cả chúng ta Chẳng hạn khi viết về miếng trầu như là một

sự sáng tạo về văn hoá

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

Câu thơ mới đọc nghe như một nghịch lý, bởi Đất Nước có từ ngàn năm sao lại có thể bắt đầu bây giờ qua hình ảnh miếng trầu Miếng trầu nhỏ bé kia lại chứa đựng những giá trị thiêng liêng lớn lao đến vậy? Nhưng khi chúng ta ngẫm nghĩ vào chiều sâu của câu thơ này thì chúng ta mới thấy hết sự hợp lý và sắc sảo của câu thơ Miếng trầu bà ăn hôm nay đều chứa đựng một phần Đất Nước Mùi nồng của vôi, vị hăng của trầu, vị cay của thuốc Chính là sự kết tinh mọi thăng trầm của lịch sử Hơn nữa, miếng trầu còn nhắc nhở người ta đến Sự tích Trầu Cau, câu chuyện cổ tích về tình cảm anh em, vợ chồng thắm thiết Từ thuở khai thiên, lập địa và cho tận đến bây giờ Vì vậy, mỗi miếng trầu ấy đều đã 4000 năm tuổi Câu thơ như là sự đúc kết từ nhiều tập tục, nhiều giá trị nghệ thuật Do đó, nó gợi cho chúng ta nhớ đến những câu thơ, câu tục ngữ, thành ngữ gắn liền với tâm hồn người Việt, như “Miếng trầu nên dâu nhà người” Cứ như thế, Nguyễn Khoa Điềm đã có những đóng góp độc đáo để thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân

Từ những cảm nhận trên, tác giả phải thốt lên khẳng định:

“Đất Nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại”

Câu thơ như một lời kết gói gọn tư tưởng Đất Nước của nhân dân mà tác giả muốn khẳng định trong đoạn trích này

Đúng là Đất Nước không ở đâu xa, không phải là những gì cao siêu, xa vời mà rất gần gũi gắn bó với mỗi chúng ta, do chính bàn tay người dân xây dựng và làm nên Qua

đó, tác giả như nhắc nhở mỗi chúng ta phải có ý thức trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ Đất Nước

Để thể hiện tư tưởng tiến bộ trên chúng ta phải kể đến những thành công về nghệ thuật của đoạn trích này Bởi nội dung và hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau Xác định được mối quan hệ đó, tác giả đã dùng thể thơ mới – Trường ca, khiến vần thơ mang tính triết luận nhưng vẫn đậm tính trữ tình Tác giả đã chọn lọc chất liệu dân gian

để xây dựng lên hình ảnh thơ Giọng thơ mượt mà, trữ tình, cách xưng hô anh – em khiến bài thơ như câu chuyện tâm tình, như lời đối đáp của đôi lứa yêu nhau đang khẳng

định Đất Nước là do nhân dân làm nên phải gìn giữ, bảo vệ Đất Nước

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Trang 15

Phải biết gắn bó và san sẻ

Làm nên Đất Nước muôn đời”

Không mạnh mẽ, gân guốc, không đanh thép và hùng hồn, Nguyễn Khoa Điềm cứ nhẹ nhàng gieo vào lòng người những âm thanh trầm lắng trữ

tình về một thi đề tưởng như logic triết luận khô khan với một giọng kể thủ thỉ, tâm tình

rất riêng, độc đáo và đầy tính sáng tạo Nhà thơ đã thành công khi thể hiện tư tưởng Đất

Nước của nhân dân Tuy nhiên, tư tưởng này được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện ở một thể

loại thơ mới, đó là thể loại trường ca Mọi khổ thơ đều dài, khó thuộc và khó nhớ Do vậy

bài thơ Đất Nước cũng không tránh được những khuyết điểm trên Thế nhưng, nhìn một

cách tổng quát thì Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm vẫn xứng đáng là một điểm đối

xứng quan trọng, đáng ghi nhớ, là một tác phẩm đã đi vào trí nhớ của bạn đọc bằng

những vần thơ đẹp của những năm tháng không thể nào quên ấy Đó là những vần thơ

vẫn xanh trong một thời kỳ lửa cháy

Đề 2 Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau:

“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương, xay, giã, dần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó”

“Đất Nước” Trích trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm

Bài làm

Đất Nước ta đã trải qua bốn nghìn năm lịch sử với nhiều cuộc kháng chiến từ thời các

vua Hùng cho đến ngày hôm nay Vì vậy, đề tài Đất Nước luôn thu hút các nhà văn, nhà

thơ hướng tới sáng tác và đã trở thành chủ đề xuyên suốt trong văn học nước nhà Trong

kho tàng văn học đồ sộ ấy phải kể đến đoạn trích “Đất Nước” nằm trong trường ca “Mặt

Trang 16

đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm được ông viết vào thời ký kháng chiến chống

Mỹ Mở đầu đoạn trích:

“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương, xay, giã, dần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó”

Đây là đoạn thơ có cảm hứng sâu sắc,mới mẻ, tiến bộ thể hiện cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước thông qua những điều rất bình dị, gần gũi gắn bó với cuộc sống Chúng ta hãy cùng tìm hiểu đoạn trích này để thấy rõ cái hay, cái đẹp của nó

Thật vậy, Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận Đất Nước từ những điều rất giản đơn Đó

là những câu chuyện cổ tích mẹ thường hay kể cho con để ru con ngủ Trong câu chuyện

đó là những ông tiên, những cô công chúa đáng yêu để đem lại cho con những giấc ngủ

êm ái, dễ chịu Rồi Đất Nước còn được cảm nhận từ những phong tục tập quán của người Việt Nam ta: ăn trầu Người Việt Nam ta có câu: “Miếng trầu là đầu câu chuyện” Phong tục này đã có ngàn đời trở thành một nét văn hoá đặc biệt của người Việt Cùng với đó là thói quen của người phụ nữ: “Bới tóc sau đầu” Người phụ nữ Việt nổi tiếng là những con người tần tảo chịu thương, chịu khó Hơn nữa, các chị lại hay để tóc dài, vì vậy việc bới tóc đã trở nên rất phổ biến , điều đó trở thành thói quen rất đỗi bình dị Không chỉ có vậy

Đất Nước trong tâm thức của Nguyễn Khoa Điềm còn được cảm nhận Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể ở truyền thống quý báu của dân tộc: Trồng tre

đánh giặc Thật sự cây tre đã trở nên vô cùng thân thiết với người dân Việt Nam ta “Tre giữ làng ,giữ nước,giữ mái nhà tranh,giữ đồng lúa chín” Người dân ta luôn phải chịu

đựng sự nhòm ngó xâm lăng của kẻ thù và tre đã luôn đồng hành cùng ta, trở thành thứ

vũ khí lợi hại giúp ta chiến thắng kẻ thù Và trong suy nghĩ của nhà thơ “Đất Nước lớn lên” kể từ ngày dân ta biết trồng tre mà đánh giặc” Không chỉ có thế, Nguyễn Khoa

Điềm còn cảm nhận Đất Nước qua lối sống, quan hệ đối xử giữa vợ và chồng,tình yêu chung thủy của vợ chồng

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

Trong kho tàng ca dao tục ngữ có câu

“Tay bưng chén muối chén gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

Trang 17

Có lẽ Nguyễn Khoa Điềm đã mượn câu ca này để nói về tình cảm thuỷ chung, sự gắn

bó keo sơn của vợ và chồng để làm nên một gia đình chan chứa hạnh phúc, yêu thương

Đó cũng là một truyền thống rất quý báu của nhân dân ta Ngoài ra tác giả còn cảm nhận Đất Nước từ cách đặt tên giản dị: lấy những đồ vật gần gũi quen thuộc “cái kèo, cái cột” để gọi cho con cái Vì người Việt Nam ta từ xa xưa đã quan niệm đặt tên cho con càng xấu thì càng dễ nuôi Hơn thế đó là cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về truyền thống của con người Việt Nam: cần cù, chịu khó:

“Hạt gạo phải một nắng hai sương, xay, giã, dần, sàng”

Thật vậy để làm nên một hạt lúa vàng, người nông dân đã phải đổ bao công sức, sớm khuya, thậm chí nhiều khi cả nước mắt và chịu bao đắng cay Thế mới có câu

“Một hạt thóc vàng chín giọt mồ hôi”

Quả thực đức tính chịu thương, chịu khó đã ăn sâu vào mỗi con người Việt cho đến ngày hôm nay Bởi thế người Việt Nam ta luôn được bàn bè quốc tế khen ngợi ở sự chăm chỉ, chịu khó tìm tòi, học hỏi Vậy đấy Đất Nước trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm

là những câu chuyện cổ tích là những phong tục, tập quán, là truyền thống yêu nước, sẵn sàng đấu tranh vì sự tự do của Đất Nước mình, là cách đặt tên giản dị, là đức tính chăm chỉ, cần cù Tất cả đã góp phần làm nên một Đất Nước Đát nước không phải là cái gì đó

to tát lắm, xa lạ lắm mà thực chất là những thứ luôn tồn tại, hiện hữu xung quanh mỗi người

Có thể khẳng định rằng đoạn trích là sự cảm nhận mới mẻ tiến bộ của Nguyễn Khoa

Điềm về Đất nước mà trước đó chưa nhà thơ, nhà văn nào có được Đoạn trích đã khẳng

định Đất Nước xuất hiện, lớn lên từ nhân dân, từ những điều rất đỗi bình dị của cuộc sống, của lao động Đoạn trích đã góp phần làm sáng tỏ cho “chân lý” của Nguyễn Khoa

Điềm nêu trong phần sau đó là:

“Đất Nước là Đất Nước nhân dân

Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”

ở đoạn trích tác giả đã thành công khi sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật như sử dụng điệp từ “Đất Nước” dùng nhiều thành ngữ, ca dao Ngoài ra ngôn ngữ rất giản dị mộc mạc quen thuộc với cuộc sống hàng ngày Giọng thơ tha thiết như lời tâm tình, lời hát ru vậy.Qua đoạn trích ,Nguyễn Khoa Điềm đã gián tiếp bày tỏ tình yêu của mình dành cho Đất Nước rất chân thành, sâu sắc Ông cũng làm cho chúng ta nhận ra rằng

Đất Nước luôn tồn tại, hiện hữu xung quanh mỗi chúng ta, giúp chúng ta thấy Đất Nước sao mà gần gũi, thân quen, đáng yêu đến thế Từ đó ta thêm yêu và gắn bó với quê hương, đất nước mình, thêm yêu những điều giản dị, nho nhỏ mà cuộc sống đem đến cho mình, yêu những con người lao động tần tảo sớm khuya, yêu cha mẹ ta, ông bà ta

Trang 18

Đây là một đoạn trích rất hay và độc đáo Nó đã làm cho “ Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm có sức lôi cuốn, hấp dẫn lớn với người đọc Xin cảm ơn Nguyễn Khoa Điềm đã viết nên bài thơ hay này, cảm ơn ông đã dạy cho chúng ta một bài học giản dị mà quý báu Tác phẩm của ông, đoạn trích “Đất Nước” đóng góp lớn vào kho tàng văn học thời

kỳ kháng chiến chống Mỹ và nhất định sẽ sống mãi trong lòng người đọc

Sóng

(Xuân Quỳnh)

Đề bài: Phân tích hình tượng sóng và tâm sự của người phụ nữ đang yêu

Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” hơn một lần đã phải thốt lên:

“Làm sao sống được mà không yêu, không nhớ, không thương một kẻ nào” để rồi sau đó lại tự vấn: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” Vâng, làm sao cắt nghĩa được tình yêu, bởi

lẽ tình yêu là một cung bậc tình cảm của con người Cung bậc tình cảm này cũng đi vào văn học êm đềm như chính sự cuốn hút êm đềm của nó với tất cả mọi người trong mọi thời đại Thế kỷ trước, khi ngọn lửa của đề tài tình yêu trong thơ mới đang âm ỷ, bỗng xuất hiện một nữ sĩ có tâm hồn yêu khao khát, mãnh liệt cảm xúc yêu dào dạt tuôn trào, hàng loạt bài thơ tình yêu của bà đã góp thêm độ nóng cho ngọn lửa yêu đương kia:

“sóng” ra đời Cái tên Xuân Quỳnh bỗng trở nên quen thuộc

Pauxtôpxki đã từng cho rằng: “Dù người ta có nói với bạn điều gì, bạn cũng hãy tin rằng cuộc sống là những điều kỳ diệu và đẹp đẽ” Cuộc sống đẹp phải chăng vì cuộc sống

có tình yêu Tình yêu là sức mạnh giúp con người vượt qua gian nan phong ba sóng gió Với Xuân Quỳnh – một người phụ nữ khao khát yêu, muốn yêu đam mê cháy bỏng thì tình yêu quả là một liều tiên dược Và rồi, tất cả nỗi lòng, tất cả khao khát đam mê kia

đã được gói trọn, gửi gắm trọn trong “sóng”

Xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng Sóng là một hình tượng thơ có tính biểu trưng rất lớn Sóng, hay cũng chính là em, em và trái tim yêu rực lửa, em cùng với mọi cung bậc trong bản đàn tình yêu muôn đời, muôn thuở

“Dữ dội và dịu êm

ồn ào và lặng lẽ”

Sóng biển ngàn năm vẫn vỗ vào bờ cát, lúc dịu êm, đằm thắm, khi lại dữ dằn và chất chứa bão táp phong ba Có khi sóng ồn ã vui tươi nhưng cũng có khi ưu sầu, trầm tư và lặng lẽ Đây phải chăng cũng chính là những biến tấu của tình yêu đôi lứa Sóng lúc này cũng đang mang tâm tư, tình cảm, mọi cảm xúc của con người, của một người phụ nữ với trái tim yêu thiết tha mãnh liệt Tình yêu làm cho con người trở nên lạ lẫm với chính

Trang 19

Khát vọng khám phá tình yêu là khát vọng muôn đời, và với sóng – với em, tình yêu

là biển mênh mông rộng lớn, sóng – em muốn tìm thấy nguồn cội của tình yêu, muốn thấy được mọi trạng thái của tình yêu không chỉ bó hẹp trong một không gian hữu hạn, sóng muốn xô bờ, em muốn tìm thấy nơi bắt đầu tình yêu bằng hành động táo bạo : “Tìm

Khi nào ta yêu nhau?”

“Khi nào ta yêu nhau”, em không biết, không ai biết, chỉ có con sóng kia vẫn ngày ngày xô bờ cát Cũng giống như em ngày đêm khao khát được hưởng hạnh phúc của tình yêu mà cũng không cần biết : tình yêu kia từ nơi đâu tìm đến

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu tư đâu”

Câu hỏi tưởng chừng vô lý Song nếu như đặt em và sóng là hai hình tượng song song như sóng và em của cái cung bậc tình cảm khổ thơ đầu, thì câu hỏi trở nên vô cùng ý nghĩa Vâng, sóng không cần biết gió bắt đầu từ đâu cũng như em không biết ta yêu nhau khi nào, em chỉ biết rằng tình yêu đến khi mọi cung bậc trạng thái cảm xúc xuất hiện trong em

Xuân Quỳnh đã liên tiếp đặt ra những câu hỏi không cần lời đáp, câu hỏi tu từ hỏi để

mà khẳng định

“Gió bắt đầu từ đâu ?

Khi nào ta yêu nhau ?”

Không chỉ vậy, đến những khổ tiếp theo, sóng – em và trái tim yêu càng tha thiết :

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được”

Đã phần nào trả lời cho cái khát vọng tình yêu của tâm hồn yêu khao khát:

“Ôi con sóng ngày xưa

Trang 20

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Sóng ngầm, tình yêu sâu thẳm, sóng nhớ bờ không ngủ được hay cũng là những khát vọng tình yêu nơi sâu thẳm trái tim em, em nhớ anh, ngày đêm em thao thức Một loạt những điệp từ “con sóng” đã giúp Xuân Quỳnh bộc bạch tình yêu của mình, lồng trong tình yêu sóng và em một cách ý nhị, sâu xa, khéo léo Nếu tình yêu là một liều tiên dược, thì nỗi nhớ trong tình yêu là một cốc nước cho người ta tiếp thêm sức mạnh bởi liều tiên dược kia Sóng nhớ bờ “ngày đêm không ngủ được” em nhớ anh đến đêm ngày thao thức Sóng khẳng định với biển một điều:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày nay vẫn thế”

Cũng tiếp thêm sức mạnh niềm tin cho anh bởi tình yêu của em đối với anh trường tồn, bất diệt ở đây, hai chữ “bồi hồi” và “ngực trẻ” đã được Xuân Quỳnh sử dụng khéo léo và vô cùng biểu cảm, đọc câu thơ, mỗi người dường như sẽ được sống lại cái cảm giác yêu đương ngọt ngào chỉ có một lần trong thời trẻ

“Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Nơi “ngực trẻ” kia, trái tim em, trái tim của anh, tim của sóng, tim của bờ, của đại dương bao la đang đập chung nhịp đập Nhịp đập yêu thương chung thuỷ, tha thiết nguyện gắn bó suốt đời

Trước cái bao la rộn ngợp của đất trời, trước không gian mênh mông của biển cả, sóng

Trang 21

Để ngàn năm còn vỗ”

Vì tình yêu, sóng sẽ tan ra hoà vào biển lớn Vì tình yêu, nếu được như sóng, em cũng nguyệt sẽ tan ra giữa biển tình yêu vô hạn Bởi lẽ em khao khát tình yêu Cho dù tình yêu và không gian biển lớn của sóng, của biển có dài rộng bao la vô tận đến nhường nào :

“Cuộc đời kia dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa”

Sóng chung thuỷ với bờ cũng như em luôn chỉ yêu anh Không gian và thời gian cho

dù có bao la cũng không ngăn được tình yêu đôi lứa Em sẽ nguyện :

“Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩa

Hướng về anh một phương”

Vâng, tình yêu là thế! Xuân Quỳnh là một tâm hồn phụ nữ khao khát yêu thương, có

lẽ vì thế mới có người nói, Xuân Quỳnh là một nữ sĩ “ham yêu” và “đôn hậu” Đọc bài thơ Sóng, ta có cảm giác dường như Xuân Quỳnh đã hoà làm một với con sóng kia, bộc bạch tất cả nỗi lòng, tâm sự, khao khát, kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt và mạnh

mẽ, tình yêu trong sóng với đủ mọi cung bậc đã rung động lòng người

Với “Sóng” – Xuân Quỳnh đã khiến cho người đọc cảm nhận được một điều : bà đã lao

động hết mình, cống hiến hiết mình vì nghệ thuật, và tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh, trong sóng như được gạn lọc từ tất cả mọi tinh tuý của cuộc đời, ngôn ngữ cùng với những hình tượng thơ đã làm cho Xuân Quỳnh trở thành nữ sĩ được yêu mến Nỗi vất vả của nhà thơ được Maiacopxki viết :

“Nhà thơ trả chữ với giá cắt cổ

Như khai thác chất hiếm Radium

Lấy một gam phải mất hàng năm lao lực

Lờymột chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ”

Nỗi vất vả của nữ sĩ đã được bù đắp bởi sức vang của “Sóng”, đến tận ngày hôm nay Mỗi khi nhắc đến Xuân Quỳnh, ta không thể bỏ qua không nói đến “Sóng”, cũng như nói

đến “Sóng” ta không thể không một lần thốt lên: “Tình yêu - điều kỳ diệu muôn thuở”

Trang 22

Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đề bài: Vẻ đẹp con sông Đà và hình tượng người lái đò sông Đà trong tuỳ bút Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân

Bài làm

Trước cách mạng, Nguyễn Tuân đi theo chủ nghĩa xê dịch, tìm tòi những vẻ đẹp con người của một “thời vang bóng” Sau cách mạng, ông khám phá những vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước với những con sông và vẻ đẹp của những người lao động bình dị, đẹp ngay cả trong cuộc sống đời thường “Người lái đò sông Đà” là một tuỳ bút như thế Trong tuỳ bút này, thiên nhiên và con người là hai nét đẹp chính: Hình tượng con sông Đà và người lái đò sông Đà

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” được sáng tác vào những năm 1960 khi mà nhân dân

ta đang náo nức theo tiếng gọi của Đảng đến với những vùng đất xa xôi của Tổ quốc để xây dựng, kiến thiết Tây Bắc được chọn là đích đến của Nguyễn Tuân “Ông đi tìm cái gọi là chất vàng mười của những con người lao động đã qua thử lửa”

“Người lái đò sông Đà” tập trung vào khai thác vẻ đẹp hình tượng con sông Đà và người lái đò sông Đà

Trước hết, đó là hình tượng con sông Đà - vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc

Con sông Đà hiện lên qua hai tính cách đối lập nhau: hung bạo và trữ tình Nguyễn Tuân đã sử dụng nghệ thuật của điện ảnh rất thành công khi miêu tả về tính hung bạo của sông Đà Có những đoạn sông Đà như một cái yết hầu chặn đứng, vách đá cheo leo, hiểm trở Hay có những lúc cảnh tượng con sông Đà được miêu tả với một chuỗi những hiểm trở “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió ” Chẳng những thế, khi tiếng thác nước đổ xuống gầm lên như hàng ngàn con trâu mộng đang rống lên Nhưng có lẽ, sông Đà hung bạo ơhn cả là khi Nguyễn Tuân miêu tả ba thạch trận mà ông lái đò phải vượt qua Mỗi thạch trận đều là những nguy hiểm, càng thạch trận về sau thì nguy hiểm càng nhiều Lớp lớp con sóng như muốn ăn tươi nuốt sống con thuyền của người lái đò Trái ngược với tính cách hung bạo ấy, con sông Đà hiện lên một vẻ đẹp trữ tình – vẻ đẹp này được nhân hoá Sông Đà đẹp ngay cả ở cái tên Lúc đầu, sông có tên là Ly Tiên sau có tên là Bả Biên Giang, giờ là sông Đà Con sông Đà đẹp như một áng tóc trữ tình mà đầu tóc, chân

Trang 23

tóc ẩn hiện trong vùng trời Tây Bắc Đâu chỉ đẹp ở tên thôi mà sông Đà đẹp còn bởi lúc Nguyễn Tuân miêu tả mặt nước Mùa thu, mặt nước xanh màu ngọc bích chứ không phải xanh cái màu xanh của canh hến Nguyễn Tuân đã khẳng định “màu xanh ngọc bích” bởi màu xanh này đẹp chứ không thể giống với màu xanh của canh hến, hay màu xanh

“trầm mặc” trong “Việt Bắc” của Tố Hữu, ấy là màu xanh thuần tuý, cao sang Thông thường, chúng ta chỉ miêu tả “đỏ như son” hay “đỏ tươi” nhưng Nguyễn Tuân lại vẻ lên một mặt nước sông Đà đỏ như mặt của người mặt đỏ vì say rượu Cách so sánh của ông khá độc đáo, và khác người lắm chứ Theo bước chân Nguyễn Tuân chúng ta được ngắm những cảnh đơn sơ mà lại rất thanh bình ấy là hình ảnh một vài con nai đang ngơ ngác tìm kiếm điều gì đó Đi sâu hơn nữa trong những làn sương nhẹ nhẹ là âm thanh tiếng còi tàu rúc lên Nguyễn Tuân đã sử dụng thị giác và thính giác của mình Trên nền cảnh nên thơ ấy, vọng lại đâu đây những câu đồng dao, những ý thơ mang phong vị Đường thi:

“Tam hoa yên nguyệt há Dương Châu”

Con sông Đà hiện lên tuy hai tính cách đối lập nhau song lại không hề rời rạc mà liên kết chặt chẽ với nhau Bằng ngòi bút tinh tế, nhạy cảm, Nguyễn Tuân đã làm nên một sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ, vừa nhẹ nhàng, đẹp quyến rũ như một “thiếu nữ” Trong tuỳ bút này vẻ đẹp của con sông Đà mà tác giả khắc hoạ vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà Đó là một ông lái đò khoẻ mạnh, dũng cảm, am tường con sông, nhưng cũng hết sức lạc quan

Ông lái đò khoảng bảy mươi tuổi nhưng thân thể vẫn cường tráng, khoẻ mạnh Cuộc sống của ông lúc nào cũng gắn với nghề nghiệp “Tay ông lêu nghêu như cái sào còn chân

ông khuỳnh khuỳnh như đang đạp một cái cuống lái tưởng tượng” Ông làm nghề lái đò

đã hơn chục năm nay, hơn một trăm lần đưa khách qua sông Ông là người có nhiều kinh nghiệm trong việc vượt thác

Ông lái đò là một người am hiểu con sông và có nhiều kinh nghiệm trận mạc Điều này được thể hiện rõ nhất khi ông phải vượt qua ba trùng vi thạch trận Ba trùng vi ấy như một trận đồ bát quái mà không phải bất cứ ai cũng vượt qua được

Trùng vi thứ nhất, chiếc thuyền đơn phương độc mã với “đám tảng đám hòn chìa làm

ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền” Một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có dàn trận địa sẵn Thạch trận này khá nguy hiểm nhưng với tài trí và kinh nghiệm của mình, ông lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình “Mặt nước ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo

vũ khí trên tay ông Sóng liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có những lúc chúng đội cả thuyền lên Cứ thế sóng thác bóp chặt hạ bộ người lái đò Trong tích tắc, cả mặt sông sáng loà lên như muôn vàn con đom đóm đổ xuống” Thế là qua thạch trận thứ nhất Đang hồi hộp giọng văn Nguyễn Tuân trở nên

Trang 24

Hẹp lại cửa sinh, trùng vi thứ ba lại toàn là cửa tử cả Chúng ta cứ tưởng rằng có lẽ thạch trận này ông lái đò sẽ không vượt qua nổi Nhưng con thuyền dưới sự điều khiển của ông lái đò lão luyện vút qua cổng đá cánh mở cánh khép “Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Thế là hết thác” Giọng văn đang lên gân, lên cốt, bỗng lại như thở phào bởi đã hết nguy hiểm đối với người lái đò

Vượt ba thạch trận nguy hiểm này không phải là điều dễ dàng do vậy điều này càng chứng tỏ ông lái đò là một người giàu kinh nghiệm, lão luyện và hết sức dũng cảm

Trong số chúng ta nếu ai đó khi vừa vượt qua một sự nguy hiểm có lẽ sẽ ăn mừng hay làm một điều gì gây chấn động Nhưng còn với ông lái đò sau khi vượt qua những thạch trận nguy hiểm giữa ranh giới sự sống và cái chết ông lại bình thản và lạc quan

Tối hôm đó, họ ngồi nói chuyện về các loại cá: Cá dầm xanh, cá anh vũ Cũng chả thấy

ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân vừa rồi “Cuộc sống của họ là ngày nào cũng phải chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp ”

Điều này chứng tỏ sức mạnh, khả năng chiến đấu, thuần phục của con người lao động đối với thiên nhiên Con người luôn chiến thắng để làm chủ thiên nhiên

Qua những nguy hiểm phải trải qua, ông lái đò càng hiện lên đẹp đẽ một cách phi thường, đẹp ngay trong những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên – sông Đà Xây dựng hình ảnh ông lái đò, Nguyễn Tuân chứng tỏ sự mới mẻ trong cách sáng tác, cách miêu tả vẻ đẹp con người sau cách mạng với con người trước cách mạng Bởi lẽ, trước cách mạng, Nguyễn Tuân xây dựng Huấn Cao với tài viết chữ đẹp với một thiên lương trong sáng còn ông lái đò đẹp ở sự dũng cảm, đẹp ở niềm lạc quan, tin tưởng với cuộc đời Đó là những anh hùng trong lao động đời thường Đó là chất vàng mười mà tác giả tìm kiếm

Để thể hiện thành công vẻ đẹp sông Đà và ông lái đò, Nguyễn Tuân sử dụng thành công bút pháp miêu tả, xây dựng nhân vật cùng với vốn kiến thức uyên bác am hiểu nhiều lĩnh vực “Người lái đò sông Đà” là một thành công của Nguyễn Tuân sau cách

Trang 25

mạng viết về đề tài ca ngợi thiên nhiên, đất nước Ông ca ngợi thiên nhiên hùng vĩ và con người lao động dũng cảm phi thường, lạc quan Tác phẩm như bản hùng ca ca ngợi vẻ đẹp non sông, đất nước, ca ngợi những nghệ sĩ trong lao động tài hoa

Hoàng Phủ Ngọc Tường – cất tiếng khóc chào đời tại Huế Huế không phải quê gốc nhưng là nơi nhà văn lớn lên trưởng thành và gắn bó nhiều Ông là nhà văn chuyên viết

về bút ký – một thể loại thể hiện sự phóng túng, bộc lộ được cái tôi tác giả, mang đậm chất tự sự, chất lãng mạn Sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn có sự kết hợp giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều với nhiều kiến thức phong phú về nhiều lĩnh vực Lối hành văn chu đáo của ông là lối hành văn hướng nội súc tích, mê đắm và tài hoa Điều này được thể hiện rõ nét trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” Tác phẩm ra đời như một sự cảm tạ đối với đất mẹ Huế, nơi đã sinh ra nhà văn Bút ký gợi ấn tượng cho người đọc ngay từ nhan đề tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” nhan đề gợi sự hấp dẫn, cuốn hút, gợi trí tò mò, thể hiện sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của sông Hương Sông Hương thấm đẫm sắc màu của huyền thoại hay chính vẻ đẹp của sông Hương đã dệt nên nhiều huyền thoại xoay quanh con sông này

Bằng ngòi bút tài hoa mang đậm tâm hồn Huế ,tác giả đả viết lên vẻ đẹp sông Hương như vẻ đẹp kiều diễm của người con gái xứ Huế trong làn sương mờ ảo

Trước hết vẻ đẹp sông Hương được tác giả phát hiện qua cảnh sắc thiên nhiên, qua sự thay đổi của chính dòng sông

Thật vậy! ở thượng nguồn sông Hương hiện nên huyền bí, dữ dội, hoang sơ, có lúc lại dịu dàng say đắm sông Hương được tác giả so sánh như bản hợp âm của những nốt bổng, trầm để mãi mãi ngân nga vang vọng giữa đại ngàn của rừng già Trường Sơn Sông

Trang 26

Hương còn như một cô gái Digan “phóng khoáng và man dại” Chính rừng già tạo bản tính gan dạ, tự do, phóng khoáng cho sông Hương và chế ngự sức mạnh bản năng này Khi chảy qua rừng già, sông Hương mang vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung mãnh liệt và hoang dại Để rồi khi ra khỏi rừng già, sông Hương đã thay đổi Sông Hương như

đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng và “ném chìa khoá vào hang đá ở chân núi Kim Phụng” Sông Hương lúc này mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở Sông Hương đã thay đổi hẳn Chính tác giả phải thốt lên: “Nếu chỉ mải mê ngắm khuôn mặt kinh thành của nó tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không thấu hiểu phần tâm hồn sâu thẳm của nó”

Bằng óc quan sát tinh tế, trí tưởng tượng phong phú, bằng việc sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hoá tài hoa táo bạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trung đầy cá tính của dòng sông gợi lên ở người đọc những liên tưởng kỳ thú, gợi cảm, xác đáng, hấp dẫn

Ra khỏi rừng già, xuôi về đồng bằng phì nhiêu, hành trình của sông Hương vẫn nằm gọn trong tầm quan sát và miêu tả tài hoa của người nghệ sĩ

Hành trình này bắt đầu khi sông Hương trên đường tìm đến với Huế Mở đầu cho hành trình này tác giả đã có sử dụng nghệ thuật ẩn dụ thật táo bạo Tác giả ví sông Hương như người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại

Và đồng bằng chính là người tình mong đợi đã đến đánh thức nó Trên đường tìm gặp Huế, sông Hương “chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm” Sông Hương thay đổi hướng chảy; đang chảy theo hướng Nam – Bắc qua điện hòn Chén, vấp Ngọc Trản rồi “vẽ đường cung thật tròn

về phía Đông Bắc ôm lấy chân đồi Thiên Mụ” sông Hương được ví như người con gái đang kiếm tìm người tình mong đợi, tìm gặp thành phố tương lại của nó

Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo vô cùng Từ ngã ba tuần sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn sắc nước trở lên xanh thẳm quan Tam Thai, Vọng Cảnh; Sông Hương mềm như tấm lụa dòng sông như một tấm gương phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím Dòng sông mang vẻ đẹp cổ kính trầm mặc như triết lý,

cổ thi khi chảy qua những rừng thông u tịch, những lăng tẩm đồ sộ của Cố đô ở thượng lưu Sông Hương qua cái nhìn đầy lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, hiện lên như như một cô gái dịu dàng mơ mộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu theo tiếng gọi vang vọng từ trái tim Bằng nghệ thuật so sánh cân đối, hài hoà đậm chất thơ, ngôn ngữ phong phú gợi hình, nhà văn đã khắc hoạ vẻ đẹp dòng sông huyền ảo, lung linh sắc màu để rồi trầm tư, dịu dàng gợi sự cổ kính trường thi

Trang 27

Hành trình tiếp theo của sông Hương là chảy vào thành phố Huế ở chặng đường này tác giả miêu tả sông Hương gặp gỡ Huế như cuộc gặp gỡ của hai người yêu nhau, lâu ngày không gặp

Vẻ đẹp của Huế hiện nên với cầu Tràng Tiền in trên nền trời nhỏ nhắn như vành trăng non Đây là một trong những biểu tượng của Huế như mơ màng chờ đợi, như vẫy gọi dòng sông Tiếp theo là đến những Cồn Hến, Cồn Giã Viên, những lăng tẩm của Cố

đô Tổng thể Huế như một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông

Đúng là Huế thật đẹp và thơ, làm nên vẻ đẹp đó không thể không nói đến vẻ đẹp sông Hương ở chặng này

Mong đợi gặp người tình Huế, khi mới đến ngoại ô Kim Long, biết là tìm đúng đường

về, sông Hương vui tương hẳn lên, kéo một nét thực thẳng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc ở Cồn Giã Viên sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến, khiến dòng sông mềm hẳn đi “như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu” ở đoạn này, sông Hương hiện nên e thẹn, ngượng ngùng khi gặp người tình mong đợi và thể hiện sự thuận tình, bằng lòng mà không nói ra

Sông Hương và Huế đã hoà làm một Sông Hương làm nên vẻ mộng mơ của Huế, Huế làm nên vẻ đẹp trầm tư sâu lắng của sông Hương Sông Hương với nhiều nhánh sông đào mang nước đi khắp nơi

Lưu tốc của dòng nước sông Hương giảm hẳn Khi đi qua thành phố Huế sông Hương chảy “trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh” thể hiện khát vọng được gắn bó, lưu lại mãi với mảnh đất này Cuộc gặp gỡ của Huế và sông Hương được tác giả cảm nhận như cuộc hội ngộ của tình yêu Tác giả đã khám phá, phát hiện vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tâm trạng để thấy sông Hương gặp thành phố Huế như đến với điểm hẹn của tình yêu sau hành trình dài vất vả, gian truân Vì vậy, sông Hương ở đây vui tươi, dịu dàng, mềm mại, thẹn thùng như người con gái đứng trước người tình của mình Nghệ thuật so sánh đầy mới lạ, bất ngờ khiến sông Hương trở nên có linh hồn, tràn trề

sự sống như một cô gái si tình đang say đắm trong tình yêu

Hội ngộ, gắn bó để rồi phải chia tay Sông Hương chia tay với Húe thật bịn rịn, lưu luyến bâng khuông Đây là sự lưu luyến bịn rịn của đôi tình nhân “Như sực nhớ lại một

điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ”

Sông Hương được tác giả ví như nàng Kiều trong đêm tình tự với với chàng Kim với nỗi vấn vương, lẳng lơ kín đáo của tình yêu, như tấm lòng chung tình của người dân ở Châu Hoá với quê hương xứ sở Ngã rẽ ấy, chỗ ngoặt ấy như lời thề của sông Hương với Huế – người tình trước khi về với biển cả bao la Sông Hương – Huế vốn đã đẹp, mộng mơ

Trang 28

“Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới ra nửa vời”

Dòng Hương Giang còn là đề tài gợi cảm hứng cho các nghệ sĩ để tạo nên một dòng thi

ca về sông Hương Dòng thi ca về sông Hương không bao giờ tự lặp lại mình bởi mỗi nghệ

sĩ có khám phá riêng về nó Từ Hương Giang xanh biếc hàng ngày, nó thay màu thực bất ngờ trong thơ Tản Đà

Điều đó được tác giả khám phá qua màu sương khói trên sông Hương giống như màu áo

điều lục một sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng Hay vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương như một nét riêng – rất riêng của tâm hồn con người xứ Huế “rất dịu dàng và rất trầm tư ”

Tiếp tục cuộc hành trình khám phá vẻ đẹp sông Hương, tác giả đem đến cho người đọc

vẻ đẹp sông Hương gắn với lịch sử hào hùng của mảnh đất Cố đô

Đó là lần theo thời gian lịch sử, tác giả lùi về quá khứ xa xưa thời các vua Hùng, sông Hương hiện nên là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước Rồi đến thế kỷ XV, XVI sông Hương đã “chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam Đại Việt” hay “vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ” Để rồi, trong kháng chiến chống Pháp, sông Hương chứng kiến những bi thương của phong trào khởi nghĩa Cần Vương và lập lên chiến công oanh liệt trong cách mạng tháng 8

Trong kháng chiến chống Mỹ, tết Mậu Thân, sông Hương góp sức mình vào chiến dịch này, mong muốn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Trang 29

Để khái quát vẻ đẹp sông Hương trong lịch sử của mảnh đất Cố đô, tác giả đã xây dựng sông Hương như một người con gái anh hùng, khi tổ quốc gọi, nó tự biết hiến đời mình làm một chiến công

Sông Hương là dòng sông của sử thi là niềm tự hào của đất nước Sử thi mà trữ tình, bản hùng ca mà cũng là bản tình ca dịu dàng tươi mát Đó là nét độc đáo của xứ Huế, của sông Hương được tác giả khám phá và khắc hoạ từ góc độ lịch sử

Nhìn lại toàn bài ký, chúng ta ai cũng nhận ra bài ký mở đầu và kết luận bằng một câu hỏi “Ai đặt tên cho dòng sông?” Nếu nhan đề là một câu hỏi gợi sự cuốn hút, lôi cuốn

độc giả đồng thời thể hiện tình cảm ngưỡng mộ, ngỡ ngàng, thái độ trân trọng ngợi ca của tác giả về sông Hương, với Huế thì chính nội dung bài ký là câu trả lời Chính con người

đã đặt tên cho dòng sông như gửi gắm vào đấy tất cả những ước vọng muốn đem cái đẹp

và tiếng thơm để xây đắp văn hoá và lịch sử như tác giả từng lý giải

“Ai đã đặt tên cho dòng sông” được đánh giá là bài ký hay nhất viết về vẻ đẹp sông Hương, Cố đô Huế thân yêu Bài ký thể hiện tình yêu thiết tha đến say đắm của tác giả

đối với cảnh và người xứ Huế, đồng thời thể hiện phong cách viết ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Đó là sự phóng túng, tài hoa, am hiểu kiến thức về văn hoá, lịch sử, địa lý, văn chương, với cảm hứng ngợi ca “Ai đã đặt tên cho dòng sông” như lời cảm tạ của tác giả đối với đất mẹ Huế, nơi nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn

Trang 30

Tô hoài có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta Sự am hiểu tường tận đó đã mang đến cho “Vợ chồng A Phủ” (1952, in trong tập truyện Tây Bắc) giải nhất – giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955 Truyện xoay quanh cuộc đời của cô gái Mỡo nghèo khổ tên Mỵ Thành công lớn nhất của Tô Hoài trong câu chuyện này là ông đã xây dựng nhân vật Mỵ vô cùng chân thực và sống động với sức sống tiềm tàng, bất diệt Đặc biệt khát vọng sống trong Mỵ

được tác giả miêu tả khá kỹ trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài

Đoạn kể truyện Mỵ ở Hồng Ngài là đoạn kể về quãng đời tối tăm, tủi nhục của cô

Mỵ vốn là một cô gái Mèo xinh đẹp, tài hoa Vừa bước vào tuổi thiếu nữ, Mỵ đã phải gánh trên vai một món nợ từ đời cha mẹ Mỵ Cha con Thống Lý bắt Mỵ về làm con dâu gạt nợ Món nợ truyền kiếp của gia đình đã cướp trắng tuổi thanh xuân dào dạt khát vọng của

Mỵ Những năm tháng bị đoạ đầy dai dẳng trong cái địa ngục trần gian trong nhà Thống

Lý, Mỵ gần như biến thành tảng đá vô tri Mỗi ngày Mỵ không nói, lùi lũi như con rùa núp sau xó cửa Lúc nào Mỵ cũng lầm lũi, mặt buồn rười rượi Mỵ bây giờ chỉ là cái xác vô hồn, một cỗ máy biết nói Mỵ sống nhưng thực chất chỉ là để kéo dài những ngày chưa

được chết mà thôi “Ai ở xa về có việc vào nhà Thống Lý Pá tra thường trông thấy một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa Lúc não cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối, cô cũng cúi, mặt buồn rười rượi” Cuộc sống với Mỵ chỉ là một màn sương mờ đục không dĩ vãng, hiện tại, tương lai Phải chăng ngọn lửa sống trong lòng Mỵ đã lặng tắt, trái tim Mỵ đã chai sạn và tê liệt, tâm hồn Mỵ đã hoàn toàn nguội lạnh và an phận?

Mùa xuân đến, tất cả những gì tưởng chừng đã chết trong lòng Mỵ đều đã được hồi sinh Mùa xuân là mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa hội hè đình đám, mùa gặp gỡ hẹn hò của lứa đôi Mùa xuân đến với núi rừng Tây Bắc, đến với mảnh đất Hồng Ngài

được Tô Hoài miêu tả bằng những câu văn rất lãng mạn Có thể nói những trang viết về mùa xuân của tác giả là những trang văn tuyệt hay Ta gặp ở đó bức tranh mùa xuân với màu rực rõ: cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy rực rỡ phơi trên mỏm đá xoè ra như những cánh bướm Thanh âm cũng rộn ràng: Tiếng trẻ con nô đùa, tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết Mùa xuân bừng bừng một sức sống mãnh liệt bất chấp cái giá lạnh của đất trời Dường như sự sống, cảnh vật, con người đang được mùa xuân khơi dậy làm cho bừng tỉnh Với Mỵ mùa xuân còn là mùa gắn với bao kỷ niệm đẹp đẽ của thời trẻ tự do Trong không khí núi rừng rạo rực vào xuân ấy, Mỵ nghe tiếng sáo từ xa vọng lại thiết tha, bồi hồi Tiếng sáo là thứ âm thanh quen thuộc của núi rừng khi hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc Đêm đêm trên núi cao tiếng sáo chính là tiếng lòng đắm say của trai gái Mèo trao gửi bạn tình Trong khoảnh khắc ấy, tiếng sáo đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn

Mỵ Mỵ ngồi nhẩm thầm bài hát:

Trang 31

Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu

Tiếng hát cất lên từ trái tim tưởng như khô cằn, chai sạn của Mỵ Mỵ trước đây sống không ý thức về thời gian, không gian, sự vật, trước mặt Mỵ luôn là một màn sương trắng mờ đục Giờ đây tiếng sáo đã đánh thức tâm hồn ngủ yên và an phận của Mỵ Tiếng sáo rung lên trong trái tim Mỵ, những giai đoạn mở đầu của khát vọng được yêu, cái khát vọng bấy lây nay được chôn chặt trong trái tim Mỵ Mỵ đã bừng tỉnh mọi cảm nhận về cuộc sống, ý thức về cuộc sống đã trở lại trong Mỵ Mỵ nhìn thấy, nghe thấy: trai gái, trẻ con ra sân chơi đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thôi khèn và nhảy, nhà Thống Lý Pá tra chiêng đánh ầm ĩ Mỵ lén uống rượu, cứ uống ừng ực từng bát Đó là cách uống của người thưởng xuân ư? Chắc chắn không phải vậy Uống rượu thưởng xuân phải uống

từ từ từng bát một, nhấm nha, nhấm nháp để tận hưởng và đón nhận hương vị xuân Đó

là cách uống của người khát rượu, thèm rượu ư? Không đáng, đã từ lâu Mỵ chẳng thèm khát gì Tô Hoài viết: “Ngày tết Mỵ cũng uống rượu”, mọi người uống, Mỵ cũng uống Mỵ uống theo thói quen ngày xuân của người Mỡo Cách uống ừng ực từng bát ấy giống như

Mỵ uống cho bõ tức, cho nuốt hận tủi hờn Rồi Mỵ say, Mỵ lịm mặt nhìn mọi người nhảy

đồng, ngồi hát nhưng trong lòng Mỵ đang sống về ngày trước (sống chứ không phải nhớ)

Mỵ đang thoát xác để lần theo sợi dây quá khứ tìm về những ngày xưa hạnh phúc Đúng trong khoảnh khắc ấy tai Mỵ văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng Tiếng sáo đã gọi dậy những kỷ niệm ngọt ngào của thời thiếu nữ “Ngày trước, Mỵ thổi sáo giỏi, Mỵ uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mỵ”

Mỵ như lãng quên hiện tại Người ta hát mà Mỵ không nghe, người ta nhảy mà Mỵ không thấy, rượu tan lúc nào Mỵ cũng chẳng hay Chính quá khứ ngọt ngào đã thổi vào lòng những cảm xúc khiến Mỵ thấy phơi phới trở lại trong lòng một niềm vui sướng Mỵ nhận ra mình còn trẻ lắm và muốn đi chơi Lúc này ý thức về bản thân và quyền sống đã trỗi dậy Nhưng cũng là lúc Mỵ nghĩ đến cái chết “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này,

Mỵ sẽ ăn cho chết ngay” Đây cũng là lúc Mỵ thấy thấm thía nhất cảnh ngộ cay đẳng của hiện tại “A Sử với Mỵ không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” Hơn thế từ lâu lắm rồi, Mỵ tồn tại trong một trạng thái gần như tê liệt “Sống lâu trong cái khổ Mỵ quen khổ rồi Mỵ cũng chẳng còn nghĩ đến chuyện ăn lá ngón tự tử nữa” Vì thế trong giây phút thức tỉnh, Mỵ muốn chết bởi hơn lúc nào hết Mỵ đang yêu thiết tha cuộc sống Tiếng sáo lại trở về song nó không còn lấp ló ngoài đầu núi, văng vẳng ngoài đầu làng mà lửng lơ bay ngoài đường Tiếng sáo đã thôi thúc Mỵ đi đến hành động: xắn mỡ bỏ vào đèn

Trang 32

cho sáng Hình ảnh ngọn đèn chính là ngọn lửa sống đang trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng

Mỵ Mỵ ý thức được hoàn cảnh tăm tối và muốn thay đổi Mỵ sửa soạn đi chơi: quấn tóc, lấy váy hoa Đó là hành động của một tâm hồn ham sống đang bừng dậy mãnh liệt, bất chấp bạo quyền Hình như trong tâm hồn Mỵ lúc này tiếng sáo mùa xuân tuổi trẻ đã thực sự ngân lên khát vọng tình yêu, hạnh phúc, tự do đang trào dâng không kìm nén

được Song đây cũng là lúc nó bị vùi dập phũ phàng Khi A Sử xuất hiện: quấn tóc, trói chặt Mỵ vào buồng tối, thản nhiên tắt đèn, khép cửa đi ra Bị trói, Mỵ vẫn thả hồn theo tiếng sáo Tiếng sáo đưa Mỵ đi theo những cuộc chơi, dìu Mỵ về với khát khao yêu đương hạnh phúc “Em không yêu, quả pao rơi rồi Em yêu người nào, em bắt pao nào…” Suốt

từ đầu tới cuối chỉ thấy cô im lặng âm thầm cam chịu ẩn chứa bên trong lại là cô Mỵ khác, một cô Mỵ đang náo nức say sưa với những kỷ niệm của tình yêu Say sưa đến nỗi

“như không biết mình đang bị trói, khiến Mỵ vùng dậy bước đi” Nhưng dây trói, tiếng chân ngựa đẩy Mỵ về hiện thực “Mỵ không nghe thấy tiếng sáo nữa… Mỵ thổn thức nghĩ mình không bằng con trâu, con ngựa”, Mỵ nhận ra đêm đã khuya, thời gian chạm vào kỷ niệm đẹp nhất của lòng Mỵ Mỵ nín khóc, lòng lại bồi hồi Trong suốt đêm bị trói, Mỵ đã sống trong một tâm trạng giằng xé giữa quá khứ đẹp đẽ với hiện thực khổ đau, giữa ước mơ hạnh phúc và nỗi tủi hờn vì thân kiếp ngựa trâu Đó là biểu hiện của một tâm hồn yêu sống, thèm sống bất chấp cường quyền chà đạp, vùi dập

Diễn biến tâm lý của Mỵ trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài là một tâm trạng hỗn hợp: vui sướng và đau khổ, ham sống và tủi nhục muốn chết Trong bóng tôi nặng nề

ấy, hành động của Mỵ rất ít Phần lớn là những dòng nội tâm đang trỗi dậy tuôn trào trong lòng Mỵ Tác giả đã bộc lộ rõ nét tài năng miêu tả diễn biến nội tâm của nhân vật một cách chân thật, sinh động Sự trỗi dậy của trong đêm tình mùa xuân tuy không thay

đổi số phận nhưng nó là tiền đề quan trọng cho những đột biến lớn lao trong cuộc đời Mỵ

Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn Mảnh đất màu mỡ để ông phát huy

sở trường của mình là nông thôn với những con người nông dân chất phát, chân thật

Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê bình dị với những thú chơi và sinh hoạt văn hoá cổ truyền của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ Đó là những “thứ đồng quê”, “phong lưu đồng ruộng” như: chơi núi non bộ, thả chim, đánh vật, chọi gà … Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống của người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lý của họ _ những con người gắn bó tha thiết với quê hương với cách mạng Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn lạc quan, yêu đời, chân thật, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa “Vợ nhặt’ là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân, được xây dựng trên bối cảnh của nạn đói

Trang 33

năm 1945 Trong cảnh tối sầm của nạn đói, trong tình cảnh bi đát thê thảm ấy, người lao

động Việt Nam đã giúp đỡ, cưu mang, đùm bọc nhau, vẫn sống đầy tình thương và hy vọng Để làm nổi bật tư tưởng trên, Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện

độc đáo Tình huống đặc biệt này góp phần làm nên thành công lớn của truyện ngắn “Vợ nhặt”

Tình huống truyện như “một khúc của đời sống” “một lát cắt của đời sống” mà qua

đó ta có thể hình dung được diện mạo toàn thể của cả đời sống Tình huống vẫn được hiểu như một loại sự kiện đặc biệt của đời sống được sáng tạo theo hướng lạ hoá Tại đó, vẻ

đẹp nhân vật được hiện hình ảnh sắc nét, ý nghĩa tư tưởng được thể hiện toàn vẹn Người viết có được một tình huống đặc sắc là đã có đựơc một tiền đề khá chắc chắn cho thành công của một truyện ngắn Còn người đọc nắm được tình huống thì xem như có một chìa khoá tin cậy để mở vào thế giới bí ẩn của tác phẩm

Cái độc đáo của tình huống truyện được thể hiện trong nhan đề của tác phẩm: Vợ nhặt Nhan đề đó gợi nhiều éo le, trắc trở trong hoàn cảnh và số phận của nhân vật và cũng thâu tóm đuợc toàn bộ tình huống độc đáo vừa khôi hài vừa bi thảm xót xa, vừa thắm đẫm tình người của tác phẩm “Vợ nhặt” là cuộc hôn nhân kỳ lạ Những mối kỳ duyên vốn là một môtip rất phổ biến trong văn chương nghệ thuật Ta từng gặp những mối tình duyên giữa Tiên Dung – Chử Đồng Tử, Thạch Sanh – Quỳnh Nga, Cô Tấm – nhà vua …, trong văn học dân gian Trong văn học viết: Chí Phèo yêu Thị Nở, Nguyệt

đến với Lãm, Mị kết duyên cùng A Phủ … dù ít hay nhiều đều có dáng dấp của những mốc kỳ duyên Tràng và người vợ nhặt đến với nhau giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang sảy ra đe doạ trực tiếp đến cuộc sống mỗi con người thì anh dân nghèo ngụ cư tên là Tràng lại nhặt được vợ và dám nhặt vợ về xây tổ ấm Đây là một tình huống kỳ lạ gây ngạc nhiên đối với tất cả mọi người vì hai lý do Thứ nhất người như Tràng mà lại lấy

được vợ: nghèo túng, xấu xí, thô kệch, dân ngụ cư, không tiễn cưới vợ, xưa nay con gái không ai thèm để ý đến Dân ngụ cư vốn là đối tượng ngoài sự để ý của các cô gái đến tuổi lấy chồng:

Trai làng ở góa còn đông

Cớ sao em lại lấy người ngụ cư?

Vậy mà bỗng dưng Tràng lấy được vợ mà lại vợ theo hẳn hoi – theo chỉ vài ba bát bánh đúc và mấy lời mời ỡm ờ tán tỉnh bâng quơ cứ như một anh chàng tốt số đào hoa Nguyên nhân thứ hai, Tràng lấy vợ giữa lúc trời đất tối sầm vì đói khát, cái chết rình rập

ở khắp nơi Trẻ con không buồn nhúc nhích, ngồi ủ rũ trong các xó tưòng Người người xanh xám như những bóng ma “người chết như ngả rạ Không buổi nào người trong làng

đi chợ, đi làm đồng không gặp ba, bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” Không gian đầy mùi ám khí chết chóc: đêm đêm không ánh lửa đèn, tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết, tiềng hò khóc tỉ

tê của nhũng nhà có người chết Trong bối cảnh ấy, người như Tràng gắng sức đi làm nuôi bản thân và mẹ còn chưa nổi thế mà lại còn đèo bòng vợ vốicn Nhưng việc anh Tràng có vợ cũng khác lạ Anh đã nhặt được vợ ở chợ như người ta nhặt một thứ đồ vật vô chủ nào đó Người ta lấy vợ có dạm hỏi cưới xin đàng hoàng, có cỗ bàn dù ít cũng phải một vài mâm thế mà anh Tràng có vợ nhờ một câu nói đùa

Tình huống như vậy lại xảy ra trong lúc đói kém nên khiến cả xóm ngạc nhiên

Đầu tiên là lũ trẻ trong xóm, “ lũ ranh” ấy vốn coi Tràng là bạn, ngày nào chúng đứng đợi Tràng đi làm về để đùa nghịch Thế mà hôm này chúng bỗng nhiên mất hẳn đi một người bạn chơi Chúng thấy rất lạ bởi vì trước đó Tràng chỉ đi có một mình mà chiều nay lại dẫn thêm một người đàn bà Vẻ mặt Tràng cũng lạ lắm: nghiêm nghị khác hẳn mọi người, mà lại còn lắc đầu ra hiệu không bằng lòng khi Tràng sợ bọn trẻ con vẫn đùa như ngày trước Nhưng trong đám bọn trẻ đã có đứa nhận ra quan hệ của họ là “ chông vợ hài

“ Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến người trong xóm lạ lắm

họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán họ ngớ ra “ không tin đuợc dù đó là sự thật

” thì thầm đoán già đoán non Khi nhìn thấy cái vể thèn thẹn của người đàn bà đi sau Tràng, họ nhận ra “ừ, khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ!” Khi đã tỏ, người trong

Trang 34

xóm tò mò thì ít mà cứ ngại nhiều hơn “giời đất này còn rước cái của nợ đời Biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không?” Tiếp đó là bà cụ Tứ, bà là người bất ngờ nhiều nhất Là một người mẹ, con trai đã lớn bà chỉ mong muốn có nàng dâu, có cháu bế vui tuổi già Vậy mà khi Tràng đưa vợ về bà lại vô cùng ngạc nhiên Trong đầu bà hàng loạt câu hỏi hiện ra “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?, Người đàn bà nào lại

đứng ngang đầu giường con trai mình thế kia, sao lại chào mình bằng u? không phải con cái Đục mà Ai thế nhỉ? ….Ô hay thế này là thế nào nhỉ.’’ Một người mẹ nghèo khổ thấy dằn vặt, đau xót, lo lắng vì có mỗi một đứa con trai mà không lo nổi cho con Vì thế việc Tràng có vợ ngoài sức tưởng tượng của bà Ngay cả Tràng là người trong cuộc cũng thấy lạ về bản thân mình, không hết ngạc nhiên tối hôm trước hắn cứ đứng “tây ngây” giữa nhà, đến tận sáng hôm sau rồi vẫn thấy “cứ lơ lửng như người đi ra từ trong một giấc mơ”

Nhưng chính khi bị đặt vaò hoàn cảnh bi đát, tưởng chừng như tuyệt vọng, tưởng chừng như bị dồn vào bước đường cùng ấy lại làm cho ba con người khốn khổ nương tựa vào nhau, cùng nhau hi vọng vào phía trước Cả ba đều biến đổi, tâm trạng bà cụ Tứ có

sự biến đổi sâu sắc nhất Một tâm trạng đan xen giữa vui mừng, lo lắng, hy vọng Bà mừng vì dù sao Tràng cũng đã có vợ Thế là niềm mơ ước của bà mẹ nghèo chỉ tưởng có thể thành hiện thực trong giấc mơ nay đã là sự thật hiển nhiên trước mắt bà, dù đó là “vợ nhặt” ở ngoài đường Niềm vui, sự cảm thông khiến lời nói của bà với nàng dâu mới thật chân tình, xúc động “ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” Bà chăm lo vun vén cho hạnh phúc của các con, hướng các con tới những triết lý lạc quan “Rồi ra may mà ông trời cho khá biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Trong không khí đầm ấm, hoà hợp mới mẻ này, bà cụ Tứ thấy “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” Cùng với nàng dâu, bà cụ xăm xắm thu dọn, quét tước nhà cửa Bà cố gắng tạo một bữa cơm gia đình được coi là tươm tất trong hoàn cảnh bấy giờ để đón nàng dâu mới Bữa cơm mà bà chắt chiu dành dụm bấy lâu trong lúc thiên hạ đang chết đói.Trong bu lời nói khích lệ “Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem, xóm ta khối nhà còn chả có mà ăn đấy” Người mẹ từng trải và nhân hậu ấy đã bằng mọi cách nhen nhóm niềm vui, chuyện sung sướng về sau” Bà tìm thấy ý nghĩa của đời mình trong sự vun vén hạnh phúc cho con Vì thế những năm tháng cuối

đời bà, niềm hi vọng không tàn theo đói nghèo và tuổi tác Nhân vật người vợ nhặt cũng biến đổi rõ rệt Thị lúc đầu theo không Tràng về chỉ vì ý thức bám vào sự sống, vì muốn tránh cái đói, muốn tìm cho mình một chốn nương tựa trong thì đói kém Nhưng đến nhà cái đói vẫn bày ra trước mắt, thị không tránh được Nhưng bù lại thị đã có được tình thương, có được mái ấm gia đình và sự cưu mang của người chồng, người mẹ Thị đã ý thức được bổn phận làm vợ, làm dâu của người phụ nữ Thị đã sống như một con người

Sự thay đổi của thị khiến Tràng phải ngạc nhiên “Tràng nom thị hôm nay trông khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát ,chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh” Cũng giống như thị, việc Tràng có vợ khiến hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” Trong giờ phút có tính chất bước ngoặt

ấy, con người ta bỗng thấy mình trưởng thành Niềm vui sướng hạnh phúc của Tràng đã gắn liền với ý thức về bổn phận, trách nhiệm Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn Trong tình huống đắc biệt ấy, Kim Lân đã để cho các nhân vật bộc lộ rõ tính cách Những con người ở dưới đáy cùng của sự nghèo đói vẫn không bị mất niềm tin vào cuộc sống, trái lại càng yêu thương, cưu mang đùm bọc nhau hơn và cùng nhau xây dựng một gia đình tin tưởng vào ngày mai

Tình huống truyện tạo cho nhà văn có tiếng nói riêng tố cáo mạnh mẽ thực dân phong kiến đã gây nên nạn đói khủng khiếp năm 1945 “người chết như ngả rạ” Tội ác tày trời đó chính là do giặc Pháp, giặc Nhật một mặt thi nhau vơ vét thóc gạo, mặt khác

Trang 35

lại bắt dân ta nhổ lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh Cái đói qua ngòi bút của Kim Lân ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời, số phận của mỗi con người Cái đói đã đẩy những người dân lao động bình thường, cực chẳng đã phải từ bỏ lòng tự trọng và danh dự vốn có của mình Cái đói đã hạ phẩm giá, nhân cách của con người đến chỗ rẻ mạt Người ta đã phải đau xót khi bỏ quên sự xấu hổ để bám lấy sự sống Vợ nhặt, vợ theo chỉ cần vài ba bát bánh đúc

Qua tình huống rất đặc biệt của truyện ngắn “vợ nhặt” , Kim Lân muốn nhấn mạnh vào giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm: dù hoàn cảnh bi thảm đến đâu, dù con người có cập kề bên cái chết vẫn khao khát hướng về sự sống, hạnh phúc, vẫn hi vọng và hơn nữa vẫn cưu mang đùm bọc nhau Tình huống truyện độc đáo và khả năng phân tích nhân vật tinh tế, ngôn ngữ nông thôn nhuần nhuyễn đãc góp phần làm nên thành công của “Vợ nhặt:

Đề số 2: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ Qua đó anh (chị) hiểu gì về tấm lòng của người mẹ nghèo?

Bài văn

Kim Lân có nhiều tác phẩm đặc sắc với đề tài tái hiện sinh hoạt văn hoá phong phú ở thôn quê “Vợ nhặt” là một truyện ngắn hay của Kim Lân và văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 viết về đề tài này Tác phẩm được rút trong tập “Con chó xấu xí” in năm 1962 Truyện đã xây dựng rất thành công nhân vật bà cụ Tứ -một bà

mẹ nghèo thương con vui buồn với những gì đang diễn ra trong cuộc đời con

Hình ảnh bà cụ Tứ tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của nhà văn

Bà là hình ảnh chân thực về người mẹ nông dân nghèo khổ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 Bà xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm với tiếng ho húng hắng, với dáng vẻ lọng khọng từ ngoài rặng tre đi vào Vừa đi bà vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng Cái dáng vẻ tội nghiệp của người mẹ nghèo gánh trên vai biết bao những vất vả, lo toan, cực nhục của một đời người Dường như trong bà mẹ đau khổ ấy lúc nào cũng thường trực những lo âu trước cuộc đời và đầy sóng gió bất trắc Thấy Tràng “reo lên như một đứa trẻ, và gọi với vào trong nhà: U đã về đấy” vồn vã khác thường, lại còn chạy tận ra ngõ

đón, tâm trạng bà cụ Tứ cũng trở nên phấp phỏng Có cái gì đó không giống như mọi ngày đang chờ đợi bà “Đến giữa sân là lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn” Kim Lân đã khéo chọn ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng đầy ngạc nhiên của bà cụ: “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái

Đục mà Ai thế nhỉ?” Hết nhìn người đàn bà lạ lại nhìn con trai mà bà vẫn chưa hiểu việc gì đã xảy ra Sự ngạc nhiên của bà càng tăng thêm khi thấy tiếng chào u từ người

đàn bà xa lạ Khi nghe con trai giới thiệu về mình nàng dâu mới bà hiểu ra, bà cúi đầu nín lặng “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sở, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con trai mình”, Bà thấy tủi hờn Sinh con ra mang trách nhiệm bổn phận làm mẹ mà không lo nổi cho con, để con phải lấy vợ trong tình cảnh trớ

Trang 36

trêu: không cưới xin, không dạm hỏi, không cả mâm cơm ra mắt họ hàng “Chao ôi, người

ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con

đẻ cái mở mặt sau này Con mình thì ” Rồi bà lo không biết chúng nó có vượt qua nổi cơn đói khát này không, cuộc đời chúng có đỡ cơ cực hơn bố mẹ trước kia không? Bà thương các con và thấu hiểu cho hoàn cảnh của nàng dâu mới Người mẹ nghèo, nhân hậu, giàu lòng vị tha, rất mực nhạy cảm ấy đã thông cảm và hiểu ngay cái cảnh ngộ của người phụ nữ xa lạ bỗng trở thành con dâu của mình: “Người ta có gặp bước khó khăn,

đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có được vợ Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó ” Bà mừng vì bao lâu nay mơ ước có một nàng dâu mới như một cái gì đó khó khăn xa vời, nay đã thành hiện thực Sau khi khẽ dặng hắng một tiếng bà lão ôn tồn, nhẹ nhàng nói với nàng dâu mới “ừ, thôi thì các con

đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng” Lời nói giản dị, chân tình của bà cho thấy tấm lòng nhân từ, đẹp đẽ trong lòng người mẹ nông dân nghèo Lời lẽ ấy xoá đi bao mặc cảm xa cách giữa hai người đàn bà xa lạ, xoá đi mặc cảm theo không của thị, trả lại danh dự nàng dâu cho thị khiến thị tự tin hơn Bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót Những câu nói của bà với thị nghe thật cảm động, chân thành

Bà hướng các con tới tương lai với những triết lý lạc quan “Rồi ra may ông giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau” Suy nghĩ của bà vô cùng lạc quan thể hiện niềm tin cháy lên từ bùn đất của cuộc sống cần lao, từ trái tim nhân ái của người mẹ từng trải Bà chăm lo vun vén cho hạnh phúc của các con Và cũng như biết bao bà mẹ nhân từ khác, bà cụ Tứ những mong con mình hoà thuận “Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi” Nét mặt bà tràn ngập niềm vui “nhẹ nhõm, tươi tỉnh, khác ngày thường Bà lão xăm xắm thu dọn, quét tước nhà cửa” Bữa cơm đón nàng dâu mới thật thảm hại “giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon” Trong bữa cơm bà bàn toàn chuyện làm ăn, toàn chuyện sinh sôi nảy nở, tốt đẹp sung sướng sau này “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy

mà có đàn gà ngay cho mà xem” Những lời động viên khích lệ của bà có ý nghĩa rất lớn trong lúc khốn khó này “Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chẳng có cám mà ăn đấy” Bà lão là người già cả lọng khọng, người cập kề miệng lỗ lại là người gieo vào lòng con trẻ biết bao hy vọng về sự đổi mới Bà cụ Tứ là người gần đất xa trời, nhưng lạ là người nói đến hy vọng đến ngày mai nhiều hơn cả Bà không mơ ước gì cho mình mà chỉ sống vì con và hy vọng cho con Bà tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình trong sự chăm lo, vun vén, xây đắp hạnh phúc cho các con Tấm lòng của người mẹ nghèo thật tội nghiệp, thương con, lo cho con, mong cuộc sống của con bớt đi sự cực nhọc nhưng bà bất

Trang 37

lực vì nghèo đói Nhưng tình thương yêu sâu sắc, đùm bọc, chở che động viên các con của

bà chính là một tấm lòng vàng đáng giá hơn bất kỳ mọi của cải vật chất mà bà dành cho

đôi vợ chồng mới cưới

Người mẹ Tràng có nhiều nỗi niềm nhưng tất cả đều quay về một hướng: hạnh phúc cho con trai Những năm tháng cuối đời bà, niềm hy vọng không tàn theo đói nghèo

và tuổi tác Điều đó cho thấy tấm lòng của người mẹ dành cho con thật bình dị, thầm lặng mà sâu sắc mênh mông

Diễn biến tâm lý của bà cụ Tứ thật đa dạng, phong phú, phức tạp, phù hợp với quy luật cuộc sống Kim Lân đã nhập vào nội tâm nhân vật sống với niềm vui, hạnh phúc

lo âu của nhân vật Trái tim nhân ái của nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với những gì thuần hậu nguyên thuỷ của cuộc sống nông thôn, đã giúp ông khám phá thành công vẻ đẹp nhân vật bà cụ Tứ - một người phụ nữ Việt Nam - người mẹ Việt Nam giàu

đức hy sinh, giàu lòng nhân ái Một lần nữa Kim Lân đóng góp cho văn học Việt Nam tiếng nói nhân đạo, cảm động thông qua việc khắc hoạ ngợi ca hình tượng người mẹ nông dân bình dị tiêu biểu này

Đề số 3: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân

Trang 38

+ Anh Tràng cũng thật liều lĩnh “nhặt” vợ để xây tổ ấm

+ Dắt vợ về làng như sự thách thức của niềm hy vọng sống trước sự tuyệt vọng của hầu hết mọi người

- Niềm ham sống đã thắng → thể hiện sự tin tưởng của tác giả vào con người + Người mẹ chăm lo cho hạnh phúc của hai con

+ Người đàn bà tự đổi thay

+ Anh Tràng ý thức được bổn phận và trách nhiệm với gia đình

+ Gửi niềm tin, hy vọng vào cách mạng

III Kết bài:

- ‘’Vợ nhặt ‘’là tác phẩm ca ngợi tình yêu cuộc sống

- Khẳng định vai trò của Cách mạng tháng Tám đối với cuộc đổi đời của bao kiếp lầm than

Đề số 4: Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân

Bài văn

Đầu năm 1940, Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân ta rơi vào tình cảnh một cổ hai tròng Nhật bắt nhổ lúa trồng đay, Pháp ra sức tăng thuế khoá vơ vét bóc lột Vì thế năm 1945, nhân dân ta lâm vào nạn đói chưa từng có trong lịch sử: hơn hai triệu người chết đói thê thảm Nỗi đau này làm ứa máu bao trái tim người nghệ sĩ Một loại tác phẩm

về chủ đề này đã ra đời “Đói! Đói” (Tố Hữu), “Địa ngục” (Nguyên Hồng) Trong đó có “Vợ nhặt” của Kim Lân được coi là “thần bút, mẫu mực” trong sự nghiệp sáng tác của ông Tác phẩm (trích trong tập “Con chó xấu xí” - 1962) là một trong những tập truyện ngắn

đặc sắc của văn xuôi Việt Nam từ sau Cách mạng Thành công của truyện ngắn này là Kim Lân đã khắc họa được hình tượng người lao động nghèo, nhân hậu Dù trong hoàn cảnh khốn cùng nhưng họ không bao giờ từ bỏ niềm yêu đời, khao khát hạnh phúc, sẵn sàng yêu thương, đùm bọc những người cùng cảnh ngộ và luôn có niềm tin vào sự thay

đổi cuộc đời ngày một tốt đẹp hơn trong tương lai Tràng là điển hình cho người nông dân nghèo tốt bụng, cởi mở, mong muốn hạnh phúc gia đình và tin ở ngày mai tươi sáng

Anh Tràng là người lao động nghèo nhưng giàu tình thương Bản thân Tràng là dân ngụ cư nghèo, không tiền cưới vợ đang sống trong tình trạng sống dở, chết dở vì đói Hình ảnh Tràng xuất hiện trong ánh chiều tàn của cuộc sống thê lương ảm đạm với dáng

vẻ mệt mỏi, đăm chiêu, lo lắng vì cuộc sống mưu sinh Bên trong hình dáng thô kệch, xấu

xí của Tràng là bản tinh hiền lành, cởi mở khiến người trong xóm ngụ cư rất quý mến anh Giữa lúc cái đói đang hoành hành khắp nơi, vì đói người ta có thể tranh giành nhau như con vật để có miếng ăn thì khi gặp thị - người đàn bà đói Tràng sẵn sàng đãi thị bữa

Trang 39

no bánh đúc Tràng đã làm điều đó vì tình thương khi nhìn thấy vẻ tiều tuỵ của người

đàn bà “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Việc làm đó của Tràng đã thể hiện truyền thống nhất ái của dân tộc ta “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”

Tràng là người lôn khao khát hạnh phúc, có ý thức xây dựng hạnh phúc Trong câu nói nửa đùa, nửa thật “Làm đếch gì có vợ Này nói đùa chứ có về với tới thì ra khuân hàng nên xe rồi cùng về” đã ẩn chứa niềm khao khát có một gia đình Lúc đầu Tràng cho rằng việc lấy vợ chỉ là đùa bỡn tầm phào chứ không nghiêm túc Đến khi thấy người đàn

bà quyết tâm theo mình, hắn chợn, nghĩ “Thóc gạo này đến cả thân mình cũng chả biết

có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi “Chậc, kệ”, sau cái chậc lưỡi là một quyết định táo bạo: Tràng đã dám đánh cuộc cùng cái đói để có

vợ Tràng đã chấp nhận tất cả để có hạnh phúc gia đình Bởi như tất cả những người đàn

ông đến tuổi lấy vợ, Tràng rất muốn có một người phụ nữ để cùng xây tổ ấm Cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn không cho phép Tràng thực hiện mơ ước rất đỗi bình thường đó Giờ

đây thấy có người cười tình với hắn lại muốn theo về, hắn thích lắm vì “Từ cha sinh mẹ

đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế” Quyết định đó của Tràng chứng tỏ mong muốn hạnh phúc, khao khát được yêu thương trong Tràng là rất lớn bởi vì nó đã chiến thắng được cái đói cái chết Đó là khao khát đầy tính nhân bản Vì

từ bao đời nay cái hạnh phúc được yêu thương vẫn lớn hơn tất cả Hạnh phúc gia đình vẫn luôn là khát vọng vô cùng mạnh mẽ của nhân loại Có một danh nhân đã từng nói

“Tôi sẵn sàng đánh đổi sự nghiệp nếu biết rằng trong căn phòng nhỏ ấm áp có người đàn

bà đang ngóng đợi tôi về ăn tối” Chính nhờ hạnh phúc lứa đôi nên nhân loại trường tồn vượt qua bao khó khăn để đến được ngày hôm nay

Từ khi chậc lưỡi quyết định đưa thị về nhà Trên đường về tâm trạng, hành động của Tràng hoàn toàn thay đổi Tràng đã trở thành một con người khác “Hẳm tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt sáng lấp lánh” Kim Lân đã hơn hai mươi lần nhắc đến nụ cười của Tràng Trước ánh mắt tò mò của người dân trong xóm, người đàn bà ngượng nghịu, chân nọ dính vào chân kia, còn Tràng thì tỏ ra thích chí và tự đắc Chưa hết ngay thô kệch nhưng trong những lúc vụng về nhất anh Tràng hôm nay cũng không còn giống với ngày hôm qua Hắn thấy ngượng nghịu khổ sở, lúng ta lúng túng, tay nọ xoa vào tay kia chỉ vì đi bên cạnh một người đàn bà ở một nơi vắng vẻ Tràng muốn nói một câu tình

tứ mà chịu không sao nói nổi Hắn sung sướng khoe chai dầu con như một cử chỉ ga lăng với một cảm giác hãnh diện: được làm chồng, hôm nay là tối tân hôn nên được phép tiêu hoang hai hào dầu cho cuộc đời mình Ai đã qua tình yêu chắc không có gì ngạc nhiên trước cảm xúc đó Kim Lân diễn tả vừa cụ thể vừa sinh động niềm khao khát tổ ấm gia

đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ đã vượt lên tất cả, bất chấp cả cái

Trang 40

đói và cái chết đang lửng lơ trước mắt: ‘’Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng” Đây là cảm xúc rất chân thật của tình yêu, rất giàu tinh thần nhân bản Khi về

đến nhà Tràng vẫn còn ngượng, hắn đứng tây ngây giữa nhà sờ sợ Nhìn thị, hắn nghĩ bụng “Quái sao nó lại buồn thế nhỉ? ồ sao nó lại buồn thế nhỉ? “Đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Bởi vì việc Tràng có vợ đến quá nhanh, dễ dàng, đột ngột, bất ngờ, khó tưởng tượng Lời giới thiệu với mẹ “Kìa nhà tôi nó chào u” là cách xác nhận đầy sự trân trọng đối với người đàn bà xa lạ

Sáng hôm sau, qua một đêm sống trong hạnh phúc tình yêu; Tràng thực sự thấy cuộc đời mình từ đây đã thay đổi Tràng cảm thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong giấc mơ đi ra”, hắn nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi, mới mẻ, khác lạ: Nhà cửa, sân vườn đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, quần áo được đem ra phơi, ang đã kín nước ăm ắp, đống rác mùn ngay lối đi đã được hót sạch, bà cụ đang giẫy những búi cỏ, vợ hắn quét sân Hắn thấy thấm thía và cảm động trước khung cảnh sinh hoạt bình thường Trong giờ phút có tính chất bước ngoặt của cuộc đời, Tràng bỗng thấy mình trưởng thành khôn lớn Bổn phận, trách nhiệm với những người thân gắn liền với niềm vui sướng niềm hạnh phúc của Tràng “Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”, “Một nguồn vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này Hắm xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa căn nhà” Cái hạnh phúc đơn sơ bình dị ấy đã làm chuyển biến mạnh mẽ ý thức của Tràng Tràng thật sự trưởng thành, thành người đàn ông trụ cột, người chủ ngôi nhà Chứng tỏ, sức mạnh của hạnh phúc gia đình thật kì diệu, nó có thể làm thay đổi bản tính con người,

có thể cải tạo hoàn cảnh Khi con người cảm thấy được yêu thương, họ sẽ sống tốt hơn, trách nhiệm hơn với những người xung quanh Tình yêu cũng đã từng làm thay đổi Chí Phèo - một con quỷ dữ của lãng Vũ Đại chuyên sống rạch mặt và ăn vạ là nỗi khiếp sợ cho người dân trong làng Thế mà kể từ bữa gặp Thị Nở, người đàn bà xấu đến nỗi ma chê quỷ hờn, lại hâm hâm có dòng giống mả hủi, cái phần người trong Chí lại trỗi dậy mãnh liệt Chí ước ao làm người lương thiện, muốn làm hòa với mọi người, muốn lấy Thị

Nở Nhưng Chí Phèo bất hạnh hơn nhiều so với Tràng, bởi vì cái xã hội kia đã không chấp nhận, Thị Nở khước từ tình yêu của Chí Nhưng Chí cũng không thể quay lại sống như trước kia được nữa Nhưng Kim Lân đã không để cho nhân vật của mình bị lâm vào bước đường cùng Theo lời Kim Lân, viết “Vợ nhặt” ông không muốn dìm người đọc trong

Ngày đăng: 31/01/2015, 08:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w