1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

LỊCH SƯ THẾ GIỚI TRUNG ĐẠI-TÀI LIỆU THAM KHẢO.

38 550 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 366 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời Đường có chính sách lấy ruộng đất công, đất hoang chia cho nông dân, nhưng kinh tế vẫn tiêu điều, nông nghiệp đình đốn.2: Thủ công nghiệp và thương nghiệp: a: Thủ công nghiệp: Trung

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ

PHẠM TP HCM

KHOA LỊCH SỬ LỚP 1B- SỬ-GDQP MÔN: LỊCH SỬ THẾ GIỚI TRUNG ĐẠI

TRUNG HOA PHONG KIẾN VÀ CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT

NHÓM TT: 5

Trang 2

B:Tình hình kinh tế- xã hội

I: Các ngành kinh tế:

1: Nông nghiệp:

Trải qua từng triều đại nền nông nghiệp Trung Quốc

có thay đổi và phụ thuộc vào tình hình chính trị

Sau khi công cụ bằng sắt được sử dụng khá phổ

biến, sức sản xuất phát triển, chế độ tư hữu về

ruộng đất dần xuất hiện dẫn đến sự tan rã của chế

độ tỉnh điền

Thời Tần Hán chính sách khôi phục phát triển trình

độ kỹ thuật, diện tích gieo trồng được mở rộng,

vấn đề thuỷ lợi được chú ý xây dựng

Trang 3

Thời Đường có chính sách lấy ruộng đất công, đất hoang chia cho nông dân, nhưng kinh tế vẫn tiêu điều, nông nghiệp đình đốn.

2: Thủ công nghiệp và thương nghiệp:

a: Thủ công nghiệp:

Trung Quốc có nền thủ công nghiệp phát triển rất sớm, đến thời trung đại số ngành nghề càng

nhiều, quy mô sản xuất càng lớn, kĩ thuật càng

tinh xảo và đạt nhiều thành tựu như luyện sắt, dệt

tơ lụa, làm đồ sứ, đóng thuyền, làm giấy…

Trang 4

Ngoài ra các nghề làm đồ gốm, đồ sơn, đồ đồng, dệt vải,…phát triển từ rất sớm Riêng nghề in, dệt vải bông ra đời muộn nhưng có vai trò quan trọng

trong đời sống xã hội

Ở Trung Quốc có các hình thức sản xuất nhà nước,

tư nhân và tổ chức phường hội

Thế kỉ XVI xuất hiện hình thức xưởng thủ công

mang tính chất tư bản chủ nghĩa

Trang 5

nghiệp phát triển nhất là ngoại thương.

Thế kỉ XVIII nhà Thanh thi hành chính sách đóng

cửa biển, hạn chế sự giao lưu buôn bán bằng

đường biển với các nước

Trang 6

c: Thành thị:

Từ thế kỉ VII thành thị phát triển nhiều thành phố

sầm uất được ra đời hầu như là trung tâm chính trị

và bị nhà nước quản lí chặt chẽ

II: Chế độ ruộng đất:

Thời cổ đại ruộng đất Trung Quốc thuộc sở hữu của nhà nước Đến thời Xuân thu-chiến quốc chế độ thái ấp và chế độ tỉnh điền dần dần tan rã, ruộng đất tư hữu bắt đầu ra đời Từ thời Tần đến Thanh,

ở Trung Quốc tồn tại hai hình thái sở hữu ruộng

đất, đó là sở hữu nhà nước và tư nhân

Trang 7

1: Ruộng đất của nhà nước:

Ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước được gọi bằng các tên như Công điền, Vương điền,

Quan điền với số lượng rất lớn

Thời phong kiênd ruộng đất do nhà nước quản lí

được chia làm 3 loại ruộng: chia cho các quan lại làm bổng lộc, hình thành đồn điền, điền trang sản xuất, chia cho nhân dân dưới hình thức quân điền

để thu thuế

Chế độ quân điền ra đời năm 483 dưới thời vua

Hiến Văn Đế của Bắc Nguỵ, nhằm khôi phục , phát triển kinh tế, phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nguồn thu từ thuế cho nhà nước, đảm bảo

nhân dân có ruộng sản xuất

Trang 8

Tiếp sau Bắc Nguỵ các triều đại Bắc Tề, Tuỳ, Đường đều tiếp tục thi hành chính sách quân điền.

Có nhiều loại ruộng đất: ruộng thưởng công, ruộng vĩnh viễn, ruộng chức vụ

Ruộng vĩnh nghiệp được truyền cho con cháu

Ruộng trồng lúa khi đến 60 tuổi phải đem trả cho nhà nước Ruộng chức vụ của quan lại khi thôi

chức phải giao lại cho người kế nhiệm Ruộng ban thưởng cho quan lại được tự do buôn bán

Trang 9

Trên cơ sở chế độ quân điền, nhà nước bắt nông

dân phải chịu nghĩa vụ ngang nhau về thuế khoá

và lao dịch Đặc biệt đến thời Tuỳ Đường, nghĩa

vụ đó được quy thành chế độ “tô, dung, điệu”

Chế độ quân điền giúp nhân dân thoát khỏi địa chủ, giúp diện tích đất hoang được đưa vào sản xuất, nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được nâng lên

Tuy vậy chế độ quân điền chỉ được thực hiện ở miền Bắc nhưng cũng không triệt để, nhiều nông dân

không nhận được đủ số ruộng đất theo mức quy định Và ở thời Đường có sự chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ làm cho 1 số nông dân bỏ quê hương đi tha phương cầu thực

Trang 10

-> Chế độ “tô, dung, điệu” không còn được sử dụng

về sau nữa, chế độ quân điền bị phá bỏ hoàn toàn

Và cho tới năm 780 chính sách thuế khoá mới

được đưa ra: “lưỡng thuế pháp”, tức nhà nước

đưa vào số lượng ruộng đất và tài sản thực để

đánh thuế, đồng thời thuế được thu làm 2 lần vào

2 vụ thu hoạch

Từ đó đến cuối chế độ phong kiến, bộ phận ruộng

đất của nhà nước vẫn tiếp tục tồn tại nhưng ngày càng bị thu hẹp

Trang 11

2: Ruộng tư nhân:

Ruộng tư nhân gồm ruộng đất vào tay đại địa chủ,

điền trang, ruộng chùa quán

a: Ruộng đất vào tay đại địa chủ:

Bắt đầu từ thời chiến quốc và phát triển qua từng

triều đại, nghiêm trọng là vào thời Nguyên, Minh, chế độ này đã làm xuất hiện tình trạng địa chủ Hán đua nhau chiếm đất của nông dân, có nơi 5/6

ruộng đất của một huyện thuộc về địa chủ

Ruộng đất thuộc về địa chủ nhiều khiến cho nông

dân nghèo không có tấc đất căm dùi, đời sống khổ cực, bần cùng

Trang 12

b: Chế độ điền trang:

Ra đời từ thời Đông Hán, tồn tại lâu dài trong lịch

sử

Điền trang là những đơn vị kinh tế tự sản tự tiêu

Trong điền trang trồng cây lương thực và cây công nghiệp (ngũ cốc, dâu, đay,…).Phát triển cả nghề khai thác gỗ, quặng,…lực lượng sản xuất là điền khách ,bộ khúc,nô tì

Thời kì chính quyền trung ương suy yếu, đất nước loạn li, điền trang là cơ sở sản xuất của lực lượng phong kiến, và đã có tính chất độc lập, điền trang phát triển nhiều, nhưng tính chất tự nhiên bị giảm bớt -> đây là những biểu hiện sự tan rã của chế độ điền trang Trung Quốc

Trang 13

c: Ruộng đất của chùa, quán:

Diện tích này rất lớn

Thế kỉ thư IX Đường vŨ Tông đã ra lệnh “bỏ Phật”

để tịch thu ruộng đất, tuy vậy Phật giáo và đạo

giáo vẫn phát triển mạnh mẽ, làm cho diện tích

này ngày càng nhiều

Trong thừoi kì này xuất hiện ruộng đất nông dân tự canh với số luwongj ít ỏi, quyền tư hữu bấp bênh, nhưng vẫn tồn tại suốt thời kì trung đại ở Trung Quốc

Trang 14

d: NHững chính sách hạn chế ruộng tư của nhà

nước:

Nhà nước ban hành nhiều chính sách: Chính sách hạn điền, quân điền, cấm chiếm đoạt ruộng đất,… nhằm hạn chế sự chiếm hữu ruộng đất vô độ của giai cấp địa chủ Tuy nhiên hiệu quả chẳng được bao nhiêu, chế độ chiếm hữu ruộng đất vẫn có xu thế tăng và không thể ngăn chặn được

Trang 15

Gồm địa chủ quan lại, địa chủ bình dân.

Địa chủ quan lại là giai cấp giàu sang, có thế lực Dòng họ quý tộc luôn thay đổi

Giai cấp này tồn tại suốt chế độ phong kiến

Địa chủ bình dân là tầng lớp chiếm đoạt, bóc lột nông dân, không có chức vụ trong xã hội

Trang 16

b: Giai cấp nông dân:

Có hai loại là nông dân tự canh, nông dân lĩnh canh.Nông dân tự canh: có diện tích riêng, có nghĩa vụ

nộp thuế, và có nghĩa vụ lao dịch, là nông dân tự

Trang 18

từ năm 140 – 87 TCN Nho học được chọn làm cơ sở

lí luận và tư tưởng cho nền thống trị giai cấp

phong kiến

năm 136 TCN Hấn Vũ Đế chính thức ra lệnh bãi

truất bách gia độc tôn nho thuật

Về mặt đạo đức Nho giáo có tam cương ngũ

thường:

Tam cương gồm ba cặp: vua –tôi, cha-con,

chồng-vợ

Trang 19

Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Nho học đã trở thành một học thuyết mang màu sắc tôn giáo Là công cụ tinh thần bảo vệ chế độ

phong kiến

2: Đạo giáo:

Được bắt đầu từ thời Đông Hán, Đạo giáo là sự kết hựp giữa ước mơ có một lực lượng siêu nhiên và hình thức mê tín dị đoan bói toán

Đạo giáo dựa hoàn toàn vào học thuyết Lão Trang.Nội dung tư tưởng chhính của tôn giáo này là chủ

trương thoát li hiện thực, không vướng mắc bụi

đời, chỉ tu dưỡng nội tâm để kéo dài tuổi thọ Hơn nữa nếu luyện được thuốc tiên để uống thì trẻ mãi không già

Trang 20

Tiểu thuyết: Minh- Thanh rất phát triển những tác

phẩm nổi tiếng như truyện Thuỷ Hử của Thị Nại

Âm, Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung

Trang 21

Kịch: là hình thức văn học nghệ thuật tiêu biểu của đời Nguyên, ca vũ kịch đã ra đời.

III: SỬ HỌC:

Sử học là một lĩmh vực độc lập bắt đầu từ thời Tây Hán Người đặt nền móng là Tư Mã Thiên

Ở mỗi thời kì có nhiều tác phẩm giá trị to lớn được

ra đời, như Tam quốc thống trí của Trần Thọ, Hậu Hán Thư của Trần Việp,…

IV: KHOA HỌC KĨ THUẬT:

Ở thời kì này khoa học kĩ thuật phát triển trên nhiều lĩnh vực

Đạt được nhiều thành tựu trong toán học, thiên văn

và y dược

Trang 22

Phát minh ra giấy, kí thuật in, la bàn, thuốc súng.Tóm lại dưới thời phong kiến nền văn hoá Trung

Quốc phát triển rực rỡ, những thành tựu lớn lao trong lĩnh vực này đã làm cho Trung Quốc trở

thành một trung tâm văn minh quan trọng ở Viễn Đông và trên thế giới

Trang 23

A: CHÍNH TRỊ:

Kể từ khi Trung Quốc trở thành một nhà nước phong kiến thống nhất vào cuối thế kỉ III TCN- giữa TK

XIX ở Trung Quốc đã diễn ra nhiều cuộc chiến

trang phức tạp dẫn đến sự thành lập và diệt vong của các triều đại nối tiếp nhau

I: Nhà Tần (221-206 TCN):

Nhà Tần là nước có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn

mạnh, thịnh trị nhất và luôn tấn công tiêu diệt các nước xung quanh

Bộ máy chính trị: dưới vua là một hệ thống quan lại

do Thừa tướng đứng đầu các quan văn, Thiều uý đứng đầu các quan võ.Ngoài ra còn có các chức quan coi giữ binh nã, tiền tài,…

Trang 24

Pháp luật nước tần được thi hành trên toàn Trung Quốc Nhà nước thi hành nhiều chính sách hà

khắc tàn bạo làm chho đời sống nhân dân khổ

cực, lòng oán giận của nhân dân lên đến tột độ,

phong trào nổi dậy diễn ra khắp nơi Nổi bật như khởi nghĩa của Trần Thắng, Ngô Quảng,…

Nhà Hán đã phát động nhiều cuộc chiến tranh xâm lược để thôn tính, đồng hoá các nước xung quanh

Trang 25

Làm cho cuộc sống nhân dân trong nước ngày càng bấp bênh.

Năm 8 CN Tây Hán bị sụp đổ

Năm 220 vua Đông Hán phải nhường ngôi cho họ Tào

III: Tam quốc: Nguỵ, Thục, Ngô

Chính quyền trung ương suy yếu, trật tự xã hội hỗn loạn, các quan lại châu quận và các nhà hào phú

ở địa phương đã phát triển lục lượng vũ trang của mình trở thành nhiều tập đoàn quân phiệt, chiếm nhiều nơi trong nước

Năm 129- 208 nội chiến xảy ra quyết liệt

Trang 26

Thời kì này chính trị hỗn loạn nội chiến xảy ra “loạn tám vương”

Trang 27

Năm 383 triều Tần kéo quân đánh Đông Tấn, chính quyền Đông Tấn lung lay và rơi vào tay Lưu Dụ.Năm 420 Đông Tấn diệt vong.

V: Thời kì Nam- bắc triều (420-589):

Trang 28

Năm 589 Trần bị triều Tuỳ ở miền bắc tiêu diệt.

Bắc Triều:

Tình hình chia cắt diễn ra nghiêm trọng

Các vua Bắc Nguỵ tích cực thi hành chính sách Hán hoá, hết sức chú trọng đến nông nghiệp, chế độ quân điền được ban hành

Năm 538 Bắc Nguỵ chia thành hai nước Đông Nguỵ

và Tây Nguỵ Năm 550 Bắc Tề thay thế Đông

Nguỵ Năm 557 Tây Nguỵ bị Bắc Chu cướp, trong thời gian này Bắc Chu diệt Bắc Tề Năm 581 một tên ngoại thích giành ngôi Bắc Chu hiệu là Văn

Đế, đổi tên nước là Tuỳ đóng đô ở Trường An

Năm 580 Tuỳ diệt Trần, Trung Quốc lại được

thống nhất

Trang 29

VI: Triều Tuỳ:

Áp dụng rất nhiều chính sách phát triển kinh tế, chế

độ quân điền, chế độ giảm tô lao dịch, thống nhất tiền tệ -> kinh tế phát triển, xã hội ổn định, chính

quyền nhà Tuỳ rất vững chắc

NĂm 604 Dương Quảng lên ngôi,hiệu là Dưỡng Đế,

từ đây mâu thuẫn gay gắt

Vua là một tên bạo chúa thi hành nhiều chính sách

áp bức nhân dân làm cho cuộc sống của nhân dân khổ cực

Tuỳ có tham vọng mở rộng diện tích đất nước Năm

598 cướp Cao Câu Li, Năm 603 cướp Vạn xuân, năm 609 cướp Đột Dục Hồn và thuần phục được các nước phương Tây

Trang 30

VII: Triều Đường:

Năm 618 Lí Uyên xưng vua, đặt quốc hiệu là

Đường Đường Thái Tông đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho nhân dân giúp kinh tế phát triển, chính trrị ổn định, lịch sử gọi Trung Quốc là “nền thịnh trị thời Trịnh Quán”

Năm 683 Võ Thập Tiên thâu tóm mọi quyền hành , thi hành mọi chính sách thẳng tay đàn áp nhân

dân làm mâu thuẫn xã hội dâng cao, phong trào nông dân nổ ra

Nhà Đường phát động nhiều cuộc chiến tranh xâm lược các nước xung quanh tiêu biểu như chính

phục Đông Đột Khuyết và Tiết Diện Đà,…

Trang 31

VIII: Thời kì Ngũ đại thập quốc (907-960):

Năm 960 miền Bắc Trung Quốc dựng lên 5 triều đại: Hậu

Lương, Hậu Tần, Hậu Hán, Hậu CHu Ở miền nam hình thành 9 nước: Tiền Thục, Ngô Việt, Mân, Ngô, Nam Hán, Nam Bình, Sở, Hậu Thục, Nam Đường.

Ở thời kì này Trung Quốc bị Khất Đan chiếm đất.

IX: TRiều Tống (906-1279):

Trong thời kì này phải chống nhiều kẻ thù xâm lược như

Khuất Đan, Nước Kim.

Bên cạnh đó Tống cũng đi xâm lược các nước xung quanh như Đại Cồ Việt.

năm 1069 Vương An Thạch đề ra chương trình cải cách

tương đối toàn diện: cho dân vay nợ trong kì giáp hạt, thu mua nông sản trong ngày mùa, tăng cường củng cố quốc phòng,…

Trang 32

Triều Nguyên cũng mở rất nhiều cuộc xâm lược các nước xung quanh như Miến Điện, Chiêm Thành, Đại Việt.

Trang 33

XI: Triều Minh (1368-1644):

Về kinh tế thi hành nhiều chính sách tiến bộ, làm

kinh tế phục hồi nhanh chóng và có bước phát

triển

Về chính trị quan tâm đến việc xây dựng chế độ

quân chủ chuyên chế tập quyền

từ thập kỉ 30 của TK XV triều Minh bắt đầu sụp đổ.Các cuộc phong trào nông dân tiêu biểu như Cao

Nghiêm Tường, Lí Tự Thành,…

XII: Triều Thanh:

Giữa thế kỉ XVII triều Thanh thành lập một đế quốc rộng lớn Trong khoảng thời gian này triều Thanh tiếp tục bình định Trung Quốc và mở các cuộc

xâm lược sang các nước xung quanh như Đại

Việt, Miến Điện

Trang 34

Mãn Thanh thi hành chính sách huỷ diệt, đồng thời

ra sức củng cố bộ máy nhà nước chuyên chế tập quyền trung ương, áp bức nhân dân… Đặc biệt có nhiều chính sách tiến bộ như giảm tô, khuyến

khích khai hoang làm cho cuộc sống nhân dân cải thiện

Trong thời kì này có quan hệ ngoại giao với các

nước phương Tây Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã xâm nhập vào Trung Quốc

Năm 1840 chiến tranh Trung Quốc-Anh bùng nổ,

triều Thanh buộc phải nhượng bộ

Xã hội Trung Quốc bước vào giai đoạn mới, giai

đoạn nửa phong kiến nửa thuộc địa Đến năm

1911 chế độ phong kiến Trung Quốc thống nhất

Ngày đăng: 29/06/2015, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w