1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tư liệu tham khảo GDCD 11.Bài 13

24 2,3K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Wto Với Vấn Đề Giáo Dục Ở Nước Ta
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Giáo Dục Công Dân
Thể loại Bài viết
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 5,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo cam kết thì bên cạnh hình thức liên doanh, bắt đầu từ 1-1-2009, họ tức các nước phát triển nhất trong WTOđược phép thành lập không hạn chế các cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài đối

Trang 1

WTO VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA

Thực hiện Cam kết có điều kiện về dịch vụ giáo dục trong WTO, nền giáo dục nước nhà sẽ đón nhận nhiều cơ hội đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức mới Làm thế nào để tận dụng tối đa các mặt tích cực và hạn chế thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của nó, nhanh chóng xây dựng nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, khoa học và hiện đại đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là tâm huyết của tác giả bài viết gửi tới bạn đọc.

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Theo đúng tên gọicủa nó, thì WTO chỉ là không gian buôn bán, trao đổi hàng hoá trên phạm vi toàn cầu, nhưng trên thực tế nó lạiđòi hỏi các nước phải tuân theo những quy định chung nghiêm ngặt, liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động

ngoài thương mại Cựu Thủ tướng thuộc Đảng Xã hội Pháp đã nói: Luật lệ của WTO là do các nước giàu đặt

ra và chỉ để phục vụ lợi ích của nước giàu Quy định giáo dục là một ngành dịch vụ thương mại của WTO khá

xa lạ đối với Việt Nam và mang tính áp đặt, nên không phải nước nào cũng tán thành và chịu cam kết SongViệt Nam chấp nhận có điều kiện quan điểm đó và đã cam kết thực hiện một số điều chủ yếu sau đây vớiWTO (trích bản Cam kết về dịch vụ giáo dục của Việt Nam):

5 DỊCH VỤ GIÁO DỤC

Chỉ cam kết các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa học kinhdoanh, kinh tế học, kế toán, luật quốc tế và đào tạo ngôn ngữ

Đối với các phân ngành (C), (D) và (E) dưới đây: Chương trình đào tạo phải được Bộ Giáo dục và Đào tạocủa Việt Nam phê chuẩn

B Dịch vụ giáo dục phổ

thông cơ sở

(CPC 922)

(1) Chưa cam kết

(2) Không hạn chế

(3) Chưa cam kết

(4) Chưa cam kết, trừcác cam kết chung

(1) Chưa cam kết

(2) Không hạn chế

(3) Chưa cam kết

(4) Chưa cam kết, trừ các cam kết chung

C Giáo dục bậc cao

(CPC 923)

D Giáo dục cho người

lớn (CPC 924)

E Các dịch vụ giáo dục

khác 929 bao gồm đào tạo

ngoại ngữ

(1) Chưa cam kết

(2) Không hạn chế

(3) Không hạn chế,ngoại trừ:

Kể từ ngày gia nhập, chỉcho phép thành lập liêndoanh Cho phép phía nướcngoài sở hữu đa số vốntrong liên doanh Kể từngày 1-1-2009 sẽ cho phépthành lập cơ sở đào tạo100% vốn đầu tư nướcngoài

Sau 3 năm kể từ ngàygia nhập: không hạn chế

(4) Chưa cam kết, trừ

(1) Chưa cam kết

(2) Không hạn chế

(3) Giáo viên nước ngoài làm việc tại các cơ sở đàotạo có vốn đầu tư nước ngoài phải có tối thiểu 5 nămkinh nghiệm giảng dạy và phải được Bộ Giáo dục vàĐào tạo của Việt Nam công nhận về chuyên môn

Trang 2

các cam kết chung.

Những cam kết trên đây của Việt Nam đòi hỏi chúng ta, trước hết là trên bình diện chính sách vĩ mô, phảitìm ra những biện pháp phù hợp để khai thác triệt để các lợi ích có thể có, đồng thời ngăn ngừa, gạt bỏ được

những ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục của Việt Nam theo quan điểm "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" với các chức năng "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" cho công cuộc xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Điều quan trọng trước hết cần tìm hiểu là các nước phát triển đòi mở cửa dịch vụ giáo dục ở Việt Namnhằm mục đích gì Theo chúng tôi, mục đích trực tiếp trước mắt của họ là tạo nguồn nhân lực phù hợp với mụctiêu sản xuất, kinh doanh để họ đạt được lợi nhuận cao nhất trong thương mại, kinh doanh không chỉ ở ViệtNam (việc có vài tổ chức giáo dục nói rằng họ không có mục đích lợi nhuận chỉ là một cách che đậy mục đích

kiếm lời gián tiếp lâu dài về sau mà thôi) vì hai lý do: nguồn tuyển sinh dồi dào và chi phí đào tạo thấp Theo

cam kết thì bên cạnh hình thức liên doanh, bắt đầu từ 1-1-2009, họ (tức các nước phát triển nhất trong WTO)được phép thành lập không hạn chế các cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài đối với các phân ngành giáo dụcbậc cao (C), giáo dục người lớn (D) và các dịch vụ giáo dục khác trong đó bao gồm đào tạo ngoại ngữ (E)

(riêng vấn đề ngoại ngữ chúng tôi sẽ bàn tới sau), nghĩa là họ có thể tuyển thẳng số lượng lớn những học

sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, các cử nhân, thạc sĩ và những người lớn khác (hiện naynền giáo dục của chúng ta chưa thể đáp ứng đầy đủ nguyện vọng học tập của mọi người dân cả về số lượng vàchất lượng) để trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực theo yêu cầu và cho nhu cầu của họ tại Việt Nam và ngoài ViệtNam (thí dụ cho các doanh nghiệp ở nước thứ ba mà nhân công ở đó quá thiếu hoặc đắt đỏ hơn) Như vậy, vềmặt số lượng, mục tiêu của nước ngoài phù hợp với mục tiêu của Việt Nam, nên chúng ta có thể tận dụng cơhội này để nhanh chóng nâng nguồn nhân lực được đào tạo từ 27% hiện nay lên trên 40% vào năm 2010 và caohơn nữa trong những năm tiếp theo Song ngay trong việc tăng trưởng số lượng thuộc phạm vi các lĩnh vực kỹthuật, công nghệ, quản trị kinh doanh, luật pháp quốc tế v.v theo cam kết trên chúng ta cũng cần có các biệnpháp hữu hiệu để giám sát và điều chỉnh sao cho phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội và các định hướng pháttriển cơ bản và lâu dài của Việt Nam, nếu không nó sẽ dẫn tới sự mất cân đối nghiêm trọng về nguồn nhân lựccho các ngành nghề cần ưu tiên phát triển của Việt Nam

Về chất lượng đào tạo đội ngũ lao động, chúng ta càng có cơ sở để hy vọng rằng, WTO cũng có thể giúp tanhanh chóng đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động trong nước và thế giới, vì các

cơ sở giáo dục của họ có những chuyên gia bậc cao, có cơ sở vật chất - kỹ thuật đào tạo tiên tiến, có nhiều kinhnghiệm quản lý giáo dục khá hiệu quả Mặt mạnh này của họ cần được ngành giáo dục tận dụng tối đa đểchẳng những sớm tạo đủ nguồn nhân lực tốt, mà còn nắm bắt được những ưu điểm của họ để nhanh chóng đưanền giáo dục Việt Nam trong các lĩnh vực kể trên tiến lên ngang hàng với các nước tiên tiến Song cũng ở mặtchất lượng đào tạo chúng ta cần thấy rõ sự khác biệt rất cơ bản là bên nước ngoài chủ yếu đòi hỏi trình độchuyên môn, tay nghề cao cùng với tác phong công nghiệp tương ứng với các dây chuyền công nghệ hiện đại,với những ngành chuyên môn sâu, mà không cần tính đến nhân cách toàn diện của người lao động, trong khiViệt Nam đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo người lao động có chất lượng toàn diện, trong đó chất lượngchuyên môn cao không được tách rời khỏi lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và lý tưởng xã hội chủ nghĩaViệt Nam Hơn nữa, cũng cần phải thấy rõ sự khác biệt rất xa về chất lượng giữa loại trường chi nhánh xuấtkhẩu giáo dục này với các trường mẹ ở chính quốc Trước hết nó khác biệt ở chỗ là tại trường mẹ kế hoạch vàchương trình đào tạo bao giờ cũng có các phần nội dung xã hội nhân văn của họ Bước vào thế kỷ XXI nhiềunước còn gọi đây là thế kỷ giáo dục nhân văn, nên chất lượng giáo dục của họ nói chung là khá toàn diện theoquan điểm nhân văn của mỗi nước Bởi thế chi phí đào tạo ở các nước có nền giáo dục tiên tiến là rất cao,

Trang 3

không phù hợp với khả năng tài chính của đại bộ phận phụ huynh học sinh của các nước đang phát triển muốngửi con em đi du học ở nước ngoài Một lượng học bổng khuyến khích quá ít ỏi không đủ đáp ứng nhu cầu vềnhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp của họ và của các nước đang phát triển trên khắp thế giới Chonên việc đưa dịch vụ giáo dục vào các nước này là biện pháp tối ưu đối với các nước phát triển Suy ngẫm kỹvề phương thức đào tạo theo kiểu kỹ trị thực dụng ấy tại Việt Nam quả thực thấy nó rẻ hơn nhiều so với trongnước họ vì: họ có thể không phải tính đến những chi phí quốc gia và xã hội cho giáo dục trước đó của học sinh,có thể không phải chi trả học bổng mà chỉ cần miễn học phí cho học sinh (hiện nay Nhật Bản, Hàn Quốc vẫnđang cấp kinh phí cho nhiều đoàn tu nghiệp sinh Việt Nam sang nước họ để đào tạo công nhân theo địa chỉ), cóthể rút ngắn thời gian đào tạo tới một, hai năm so với trường bình thường ở nước ta và nước họ, do chỉ tập trung

vào dạy các môn chuyên ngành trực tiếp liên quan đến sản xuất, kinh doanh của họ (các môn học xã hội

-nhân văn của Việt Nam hoặc của nước ngoài đều không được cam kết dạy ở các trường này) Để tận dụng triệtđể các nhân tố tiết kiệm kể trên và đẩy nhanh tốc độ đào tạo nhân lực cho nhu cầu lớn lao này, các nước pháttriển trong WTO mới cố đòi được mở dịch vụ giáo dục ở các nước đang phát triển

Về bản chất kiểu giáo dục đào tạo kỹ trị thực dụng là cách thức tốt nhất và nhanh nhất tạo ra tại chỗ mộtđội ngũ những người rất mờ nhạt ý thức tự chủ, tự tôn dân tộc, mà sẵn sàng an phận làm thuê cho nước giàu.Bởi vậy, không nên đánh giá nhầm và ngộ nhận chất lượng cao của loại hình trường này ở nước ngoài với chấtlượng thực sự tiên tiến của các trường mẹ tại chính quốc, rồi vồ vập, đón chào và cho họ mở cửa ồ ạt các dịchvụ giáo dục kiểu này Trái lại, cần phải hết sức quan tâm giải quyết tốt những mặt tiêu cực trong chất lượnggiáo dục của loại trường này trên lãnh thổ Việt Nam Nếu không, nguy cơ chảy máu chất xám ngay tại ViệtNam là rất nghiêm trọng, và hậu quả tai hại của khuynh hướng giáo dục kỹ trị thực dụng đối với công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là không thể lường trước hết được Vậy là với nguồn tuyểnsinh phong phú và chi phí đào tạo thấp ở Việt Nam, cộng thêm các thương hiệu giáo dục - đào tạo vốn đã nổitiếng tiên tiến trên thị trường lao động quốc tế đang hợp lại thành lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ và chắc chắn nósẽ tạo ra sức ép rất lớn đối với nền giáo dục Việt Nam Nhờ có những lợi thế đó họ sẽ thu hút được đông đảohọc sinh có năng lực nhất vào học Cùng với tấm bằng có thương hiệu quốc tế nữa thì học sinh tốt nghiệp củahọ sẽ dễ tìm được việc làm hơn và thu nhập cao hơn Chính sức cạnh tranh ở đầu ra của dịch vụ giáo dục sẽ cótác dụng trực tiếp điều chỉnh, thậm chí chi phối cả đầu vào của cả hệ thống giáo dục - đào tạo bậc cao của ViệtNam Tỷ lệ thí sinh đại học của các ngành xã hội nhân văn năm học vừa qua tụt xuống mức thấp nhất từ trướcđến nay cho thấy xu thế thực dụng đang phát triển mạnh trong tầng lớp trẻ và cũng từ đó có thể chỉ ra cho thấymột viễn cảnh đáng quan ngại về nguồn nhân lực và nhân tài ở một số lĩnh vực nhất định sau khi ta vào WTO

Vì vậy, Nhà nước ta phải có những đối sách phù hợp ngay từ đầu thì giáo dục mới có thể làm tròn sứ mệnh củamình là vừa tận dụng được thời cơ sớm tạo ra một nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu vĩ mô của nền kinh tế, đủvề số lượng, mạnh về chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướngxã hội chủ nghĩa "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", mà lại vừa không để mình bịhòa tan trong WTO, không để bị cái "thế giới phẳng" của các nước giàu có nhất cố tình đè lên trên và kìm hãmmãi dưới tầng sâu của những nước chậm phát triển về kinh tế và bị buộc phải cam phận cung cấp không hạnchế những người làm thuê giá rẻ cho cái thế giới phẳng ấy

Mục đích sâu xa, lâu dài của những nước yêu cầu Việt Nam mở cửa dịch vụ giáo dục không hạn chế, thì

không có nghi ngờ gì cả là họ nhằm từng bước tác động làm thay đổi tận gốc nhân cách của học sinh, sinh viên theo những định hướng giá trị toàn cầu về mọi mặt của họ để cuối cùng là thu hút, lôi cuốn một bộ phận đáng kể những thanh niên có năng lực nhất của Việt Nam nghĩ như họ, làm theo họ và đi theo con đường phát triển chính trị - xã hội trên cái "thế giới phẳng" mà họ đang mong muốn hoàn toàn làm chủ.

Trang 4

Cách thực thi những mục đích này thì "muôn hình, vạn trạng" và vô cùng tinh vi Đây là một thực tế hiển nhiênmà người ta cố tình lảng tránh và che giấu, còn trong chúng ta thì lại có một số người chưa thấy hoặc có thấynhưng ngần ngại đả động tới nó vì những lí do tế nhị riêng tư Chân lý đơn giản này đã được lịch sử chứng minhrõ ràng rằng từ xưa đến nay mọi nền giáo dục, mọi kiểu nhà trường đều tự nhiên, đương nhiên tiến hành đánhgiá, chọn lọc các giá trị chính trị, tư tưởng, đạo đức, kinh tế, văn hóa, khoa học v.v hiện có ở trong và ngoàinước, rồi bằng những phương thức và phương pháp thích hợp nhất truyền đạt, bồi dưỡng, huấn luyện cho ngườihọc theo định hướng của các mục đích trước mắt và lâu dài của mình Việt Nam đã chọn con đường đi lên chủnghĩa xã hội, nên nền giáo dục của Việt Nam phải đào tạo cho được những con người xã hội chủ nghĩa thôngminh, tài giỏi nhiều mặt, kiên định và sẵn sàng xả thân vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như cácthế hệ cha anh đã nêu gương Đó là những định hướng giá trị cơ bản nhất của nền giáo dục xã hội chủ nghĩaViệt Nam, mà các nhà trường nước ngoài đều cố né tránh hoặc cố ý uốn chệch theo hướng các giá trị của họ.

Bác Hồ đã chỉ rõ rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa Con

người xã hội chủ nghĩa Việt Nam đương nhiên phải do và chỉ có thể do nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ViệtNam tạo ra, chứ không thể trông cậy hoặc phó mặc cho nước ngoài Tuy thế, chúng ta không hề "đóng cửa" màvẫn đang ra sức tranh thủ học hỏi những thành tựu giáo dục tiên tiến nhất của thế giới Cho dù các nền giáodục tư bản chủ nghĩa có tiên tiến đến đâu thì mục đích của họ về bản chất cũng đều trái ngược tính chất xã hộichủ nghĩa của nền giáo dục Việt Nam Đành rằng chúng ta chỉ cam kết cho mở một số lĩnh vực kể trên, hơnnữa còn ghi rõ "Chương trình đào tạo phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam phê chuẩn", "giáo viênnước ngoài làm việc tại các cơ sở đào tạo có vốn đầu tư nước ngoài phải có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm giảngdạy và phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam công nhận về chuyên môn", thế nhưng tất cả nhữngđiều đó cũng mới chỉ cho phép ta giám sát được yêu cầu và nội dung giáo dục kiến thức khoa học trong phạm

vi các môn học ấy thôi Cho nên, không thể yên tâm và bằng lòng với một vài quy định bắt buộc đó, vì rằng

bản thân hệ thống chương trình đào tạo của các trường nước ngoài tại Việt Nam thiếu vắng các môn khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam tự nó đã làm mất đi tính cân đối trong việc hình thành nhân cách và thiên về giáo dục mang nặng tính chất kỹ trị theo định hướng giá trị của chủ nghĩa thực dụng rồi Với tính

hấp dẫn về các lợi ích kinh tế trước mắt, kiểu nhà trường kỹ trị - thực dụng này có thể có tác động làm xói mòndần những giá trị nhân văn dân tộc và xã hội chủ nghĩa trong xã hội Việt Nam và kể ngay cả trong các trườnghọc của chúng ta

Có thể sẽ nảy sinh sức ép xã hội đòi nhà trường Việt Nam cũng phải tăng phần nội dung khoa học - kỹthuật lên ngang các trường nước ngoài ấy và giảm thiểu các phần giáo dục xã hội và nhân văn (tại chính nướchọ các trường học không hề được phép cắt bỏ những môn học xã hội nhân văn do Nhà nước quy định) để tấmbằng của mình cũng dễ dàng được chấp nhận tương đương với các nước trong khu vực và thế giới Chạy theođòi hỏi này là vô hình trung ta chỉ hướng tới mục đích tạo nguồn nhân lực sẵn sàng làm thuê cho nước ngoài,mà không cần biết đến hoặc quên đi lý tưởng độc lập, tự chủ, chấn hưng dân tộc để trong tương lai không xaViệt Nam có thể "sánh vai cùng các cường quốc năm châu" như lời căn dặn thanh, thiếu niên của Bác Hồ từnhững ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Chừng nào đất nước Việt Nam chưa thực sự đượcchấn hưng, nền kinh tế chưa được phát triển như các nước thì đời sống nói chung và mức thu nhập nói riêng củangười lao động Việt Nam, kể cả những người có chuyên môn và tay nghề cao, vẫn sẽ luôn luôn thấp hơn ở cácnước phát triển và cũng thấp hơn cả ở các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam Chắc hẳn không có một aitrong chúng ta muốn kéo dài mãi sự kém cỏi như thế, không ai muốn mang thân đi làm thuê mãi cho nướcngoài để mong có đời sống cao hơn đồng bào, đồng nghiệp của mình Tuy nhiên, vẫn có một số ít người bị tiêmnhiễm nặng tư tưởng thực dụng muốn dựa vào nước ngoài để sớm tự tách ra cảnh nghèo nàn lạc hậu cho riêng

Trang 5

mình Còn tình trạng lạc hậu chung của cả đất nước Việt Nam hiện nay chỉ có thể được chấm dứt khi chúng talàm cho tất cả mọi người Việt Nam, kể cả những người đi học nước ngoài hoặc theo học tại các trường nướcngoài trên đất nước mình, trước hết là những đảng viên và thanh niên, biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộclên trên hết; sẵn sàng từ bỏ phần nào các quyền lợi riêng tư, tạm thời chấp nhận một số thiệt thòi vật chất nhấtđịnh trước mắt để đem hết trí tuệ và nhiệt tình ra phụng sự cho sự nghiệp chấn hưng dân tộc

Việc phân tích cặn kẽ cả hai mục đích trước mắt và lâu dài của dịch vụ giáo dục trong WTO cho thấy, đốivới sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta phương thức hiện diện thương mại, tức mở trường nướcngoài tại Việt Nam, tuy có mang lại không ít lợi ích trực tiếp trước mắt dễ nhận thấy, nhưng đồng thời cũngtiềm ẩn những nguy hại lâu dài, thật to lớn và rất khó lường, nên cần hết sức tỉnh táo tìm ra những đối sách thậtkhôn khéo và hữu hiệu để tận dụng được tối đa các mặt tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất những ảnhhưởng tiêu cực của nó Điều này chúng ta tin rằng có thể làm được, nếu tất cả đều thực sự đồng lòng kiênquyết và khôn khéo áp dụng đồng bộ các phương sách thích hợp trên cơ sở giữ vững lập trường độc lập, khônghữu khuynh buông lỏng nguyên tắc trước sức ép thường xuyên về nhiều mặt của đối tác và cũng là đối thủ.Những phương sách này vừa phải nhằm tương tác với những lợi ích kinh tế trực tiếp trước mắt để cùng có lợicho cả hai bên, vừa phải hướng tới ngăn chặn các mục tiêu chính trị - xã hội tiêu cực lâu dài của đối phương.Bởi vì, suy cho cùng lĩnh vực giáo dục - đào tạo là nơi diễn ra thầm lặng, nhưng quyết liệt nhất giữa các đốiphương nhằm tranh thủ và chiếm lĩnh trọn vẹn trái tim và khối óc của thế hệ trẻ về phía mình, để xây dựngvững chắc một cơ sở chính trị - kinh tế - xã hội bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng của những mục tiêu chiến lượccủa mình Cho nên, chúng ta không thể coi nhẹ và lơ là với hoạt động giáo dục của nước ngoài trên đất nướcViệt Nam

Để tiếp tục phát triển mạnh mẽ nền giáo dục Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trìnhgia nhập sâu vào WTO, chúng ta cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, điều kiện cấp phép mở trường Người xin mở dịch vụ phải cam kết tuân thủ đầy đủ các bộ luật

hiện hành của nước ta, trước hết là Bộ Luật giáo dục, ngoại trừ các điều khoản luật đã có thỏa thuận riêng vớiWTO Chỉ cho phép mở dịch vụ giáo dục tại Việt Nam những trường lớp đã được cấp giấy thẩm định chấtlượng quốc tế và được Việt Nam thẩm định lại tính phù hợp về năng lực đào tạo (năng lực chuyên môn vànăng lực tài chính) với nhu cầu số lượng và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta Điều kiện này bảođảm chắc chắn ngay từ đầu về chất lượng và số lượng nhân lực được đào tạo, tránh được lãng phí và mang lạilợi ích cho cả hai bên Chỉ được thuê đất xây trường hoặc thuê nhà làm trường theo chuẩn cơ sở vật chất trườnghọc của Việt Nam tại địa điểm do Chính phủ Việt Nam cho phép Giá đất được phía Việt Nam quy định tùytheo những ưu tiên sinh lợi và ưu tiên ngành nghề Các ngành nghề không thuộc diện khuyến khích thì khôngđược hưởng ưu tiên Có các biện pháp hành chính, kinh tế hạn chế hoặc từ chối cho thuê đất làm trường đàotạo theo hướng xâm hại tới lợi ích trước mắt và lâu dài của Việt Nam Được phép xây dựng hoặc thuê nhà làmký túc xá cho học sinh theo Luật Đầu tư doanh nghiệp nước ngoài của Việt Nam Ngoài hoạt động chuyên mônđào tạo ra, cơ sở dịch vụ giáo dục nước ngoài phải tuân thủ và chấp hành đúng các quy định trong Luật Giáodục của Việt Nam Không được cản trở và hạn chế thành lập các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam trongnhà trường nước ngoài để tạo điều kiện cho học sinh được hưởng các quyền lợi như các công dân khác của ViệtNam Phải đình chỉ hoạt động giáo dục, nếu cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam kết luận là cơ sở đó đã viphạm nghiêm trọng các pháp luật hiện hành của Việt Nam

Hai là, điều kiện tuyển sinh Chỉ được tuyển công dân Việt Nam và công dân nước ngoài cư trú lâu dài tại

Việt Nam đã có chứng chỉ bằng cấp tương ứng với cấp bậc dự tuyển và phải trả phí đào tạo mà nhà nước ViệtNam đã chi cho thí sinh ấy trong suốt cả quá trình học tập trước đó ở nhà trường Việt Nam, nhất là đối với

Trang 6

những học sinh đã được học qua các trường lớp đặc biệt, đã được cấp học bổng Được thu, giảm, miễn học phívà cấp học bổng theo các mức thỏa thuận với phía Việt Nam trong từng địa bàn và từng thời điểm để đảm bảosự ổn định tình hình giáo dục ở trong nước, tránh sự cạnh tranh không lành mạnh

Ba là, điều kiện tuyển chọn, sử dụng cán bộ Nhà cung cấp dịch vụ giáo dục được phép tự mình chỉ định

người quản lí và giám đốc điều hành cơ sở giáo dục của mình, nhưng phải làm thủ tục nhập cảnh và cư trú cóthời hạn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Được phép tuyển dụng chuyên gia giáo dục trong và ngoàinước Việt Nam, nhưng đều phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam công nhận có trình độ chuyênmôn phù hợp với yêu cầu về chất lượng của từng bộ môn Phải ưu tiên tuyển dụng chuyên gia Việt Nam cótrình độ chuyên môn phù hợp và trả mức lương tương đương với chuyên gia nước ngoài cùng ngạch bậc Chỉđược di chuyển chuyên gia, cán bộ giảng dạy trong phạm vi những cơ sở giáo dục của một chủ thể đăng kýdịch vụ tại Việt Nam Không được phép chuyển nhượng chuyên gia tại Việt Nam Nhà quản lý và các chuyêngia không được tiến hành các hoạt động không liên quan đến chức năng, nhiệm vụ giáo dục trong trường vàkhông tham gia vào những việc làm gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự chính trị - xã hội ở Việt Nam.Những chuyên gia có hành động vi phạm pháp luật Việt Nam sẽ phải chịu sự phán quyết của tòa án Việt Nam,chỉ khi có liên quan đến các luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc thừa nhận mới có thể đưa ra xemxét trước một tòa án quốc tế thích hợp

Bốn là, điều kiện cấp bằng và tuyển dụng người tốt nghiệp Khóa học sinh tốt nghiệp đầu tiên và tiếp

theo định kỳ 5 năm phải được cơ quan giám định chất lượng giáo dục có thẩm quyền quốc tế, hoặc Việt Namcông nhận thì bằng tốt nghiệp mới có giá trị sử dụng Nhà trường không có trách nhiệm làm dịch vụ môi giớihoặc tuyển dụng trực tiếp những người tốt nghiệp của mình, ngoại trừ số người được đào tạo theo hợp đồng vớinhững doanh nghiệp có trả phí đào tạo trước Sinh viên tốt nghiệp có đóng học phí trong suốt quá trình học tậpthì không phải trả phí tuyển dụng, sinh viên được học bổng hoặc giảm miễn phí đào tạo thì phải trả phí tuyểndụng Người tuyển dụng phải nộp phí tuyển dụng lao động cho nhà nước Việt Nam

PGS, TS Bùi Hiềnhttp://www.tapchicongsan.org.vn

http://vietnamnet.vn

Trang 7

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Nhằm đạt được các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2010 và 2020 mà Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã đề ra, vấn đề phát triển khoa học và công nghệ để thúc đẩy những công nghệ sản xuất và kinh doanh mới, hiện đại, có hiệu quả cao trong các khu vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế đất nước có ý nghĩa rất quan trọng Những công nghệ sản xuất mới và hiện đại sẽ tạo

ra các sản phẩm mới với giá trị gia tăng lớn hơn, thúc đẩy ngày càng nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

1 - Kinh nghiệm phát triển khoa học và công nghệ nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa của các nước Đông Á

Vào nửa cuối thế kỷ XX, nguồn lực công nghiệp hóa duy nhất mà các nước đi sau ở Đông Á có được là nhờlực lượng lao động giá rẻ và có giáo dục, nhưng còn chưa có nhiều kiến thức khoa học và công nghệ Bằngcách tận dụng lợi thế nhân công rẻ, các nước trong khu vực bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa và dựa vào vaymượn công nghệ để thâm nhập vào thị trường quốc tế

Đi sau ở Đông Á, tiêu biểu là Hàn Quốc và Đài Loan đã dựa trên ưu thế của hệ thống đổi mới quốc giatrong việc quyết định những vị trí then chốt của các mối liên hệ công nghệ từ bên ngoài để tạo nên sự tăngtrưởng kinh tế của họ Trong giai đoạn công nghiệp hóa của mình từ năm 1962 đến 1985, Hàn Quốc đã sử dụng3.538 giấy phép nhập khẩu công nghệ cho các sản phẩm chế tạo lớn, còn Đài Loan, từ năm 1953 đến 1984, đãsử dụng 51.521 giấy phép công nghệ

Theo một nghiên cứu của Đài Loan về nguồn công nghệ của 4.226 doanh nghiệp vào năm 1985 thì 62,9%cho rằng hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ là nguồn lực công nghệ chính, còn 30,64%cho biết công nghệ của họ tiếp nhận từ nước ngoài bằng cách mua công thức, giấy phép hoặc thiết bị, hợp táccông nghệ với nước ngoài, dịch vụ tư vấn nước ngoài và sửa đổi sản phẩm của nước ngoài Trong lĩnh vực chếtạo của Đài Loan, các doanh nghiệp nội địa chủ yếu dựa vào năng lực bản thân để tiếp nhận công nghệ, trongkhi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại dựa chủ yếu vào công nghệ nước ngoài Nếu phân loại theoquy mô doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ của Đài Loan dựa chủ yếu vào các hoạt động nghiên cứu và triển

khai khoa học công nghệ của mình hoặc dựa vào các công nghệ "làm ngược" (bắt chước, làm giả hay biến đổi

các sản phẩm hiện có) và coi đó là nguồn lực công nghệ chính của họ Những doanh nghiệp lớn có quan hệ tốtvới các viện nghiên cứu trong nước và đã thiết lập liên minh với các doanh nghiệp nước ngoài thì nguồn tiếpnhận công nghệ chủ yếu là dựa vào hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ của bản thândoanh nghiệp, các dự án nghiên cứu phát triển phối hợp với các viện nghiên cứu trong nước, hợp tác với cácđối tác nước ngoài hoặc thuê cố vấn và chuyên gia nước ngoài

Cho đến nay, sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và Đài Loan chủ yếu dựa vào việc du nhập kiến thứckhoa học công nghệ nước ngoài và ứng dụng chúng vào sản xuất trong nước Nhật Bản và Mỹ là hai nướcchính cung cấp công nghệ nhưng có vai trò khác nhau Mỹ là nhà cung cấp lớn nhất các công nghệ nguyên bản,còn Nhật Bản lại đứng đầu về cung cấp những công nghệ công nghiệp Để thực hiện việc tìm hiểu các côngnghệ tiên tiến nước ngoài, NIEs cần có đủ nguồn ngoại tệ cung ứng cho quá trình nhập khẩu công nghệ baogồm các chi phí sáng chế công nghệ, chi phí sản xuất, chi phí đàm phán và chi phí bán hàng Nguồn ngoại tệnày đã được cân đối bằng chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của cả Hàn Quốc và Đài Loan

2 - Hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của Việt Nam trong thời gian qua.

Trang 8

Mặc dù, hơn 20 năm đổi mới vừa qua, nhất là trong 10 năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệtchú trọng đẩy mạnh hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của đất nước, nhưng trên thực tế, hoạt độngnày vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hiện nay, nước ta có khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật, trên 2.250.000 người có trình độ đại học và caođẳng, trên 18.000 thạc sỹ và 16.000 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, trong đó có 610 tiến sỹ khoa học Bình quân có

193 cán bộ khoa học công nghệ trên 10.000 dân Theo Báo cáo Phát triển con người năm 2004 của UNDP, ở

Việt Nam đang có khoảng 50.000 người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ Trong số này có hơn 37.000 người (72% có trình độ đại học trở lên) làm việc trong các tổ chứcnghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Nhà nước, với 68,9% làm việc theo chế độ biên chế và31,1% làm việc theo chế độ hợp đồng Tuy nhiên, tháp nhân lực khoa học và công nghệ này của nước ta cònrất hẹp, nếu so sánh với một nước công nghiệp phát triển như Cộng hòa Liên bang Đức với 82 triệu dân và 1,6triệu tiến sỹ

Các kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của nước ta được thể hiện rõ ràng nhất thông quasố lượng các công trình khoa học được công bố và số lượng các đăng ký sáng chế hằng năm ở Việt Nam

Bảng: Kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của Việt Nam thời kỳ 1996 - 2005

Số lượng

bài báo đăng

trên các tạp chí

khoa học và

công nghệ

trong nước

Số lượng

đăng ký sáng

chế và giải

pháp hữu ích

Tỷ lệ % số

lượng đăng ký

sáng chế và

giải pháp hữu

Trang 9

Đài Loan: 0,77%; Xin-ga-po: 0,25%; Thái Lan: 0,11%; Ma-lai-xi-a: 0,08%; Phi-líp-pin: 0,05%; In-đô-nê-xi-a:0,04%

Số lượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích chủ yếu là do các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đăng kýthông qua nhập khẩu công nghệ Số lượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt Nam mới đạtkhoảng 10% trong một số năm gần đây Số đăng ký sáng chế quốc tế của Việt Nam trong 5 năm (2001-2005)chỉ có 11 đơn, trong khi đó của một số nước trong khu vực và trên thế giới là: Ma-lai-xi-a: 147; Phi-líp-pin: 85;Thái Lan: 39; In-đô-nê-xi-a: 36; Hàn Quốc: 15.000; Nhật Bản: 87.620; Mỹ: 206.710 Những con số trên chothấy trình độ khoa học và công nghệ của nước ta vẫn còn một khoảng cách lớn so với ngay cả các nước trongkhu vực

Năm 2006, tổng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ đã tăng lên gần 5.890 tỉ đồng,đạt 2% chi ngân sách nhà nước Do môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh chưa cao nên các hoạt động khoahọc và công nghệ chưa trở thành một công cụ và động lực thúc đẩy sản xuất của các doanh nghiệp ở Việt Nam.Nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm đến 60% tổng đầu tư của xã hội cho khoa học và công nghệ, trongđó 2/3 dành cho sự nghiệp khoa học và 1/3 dành cho xây dựng cơ bản ở các nước, số đầu tư của doanh nghiệpcho khoa học và công nghệ chiếm trên 60%, còn đầu tư của nhà nước chỉ chiếm 30%

Về đầu tư của các doanh nghiệp, kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ tại 28 tổng công ty 90 - 91, từnguồn vốn tự có của doanh nghiệp này chiếm tỷ lệ 60% tổng số vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ của cácdoanh nghiệp toàn quốc Tỷ lệ đầu tư nghiên cứu phát triển/đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là 6%/94% Tỷ lệchi cho nghiên cứu phát triển của các tổng công ty dao động trong khoảng từ 0,05% - 0,1% trên tổng doanh thu(các nước là 5 - 6%) Như vậy, tỷ lệ này còn rất thấp để các tổng công ty 90 - 91 có thể cạnh tranh trên thịtrường trong nước và quốc tế

Tình hình phát triển công nghệ ở Việt Nam có thể đánh giá thông qua giá trị nhập khẩu máy móc, trangthiết bị công nghệ trong thời gian gần đây Trong 5 năm giai đoạn 2001 - 2005, nước ta đã nhập khẩu 35.997triệu USD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch nhập khẩu Năm 2006, consố này là 9.597 triệu USD, chiếm 21,8 % tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam

Chính vì tốc độ nhập khẩu công nghệ còn chậm nên hiện nay mặt bằng công nghệ trong các ngành sản xuấtkinh doanh của nước ta còn ở mức thấp do công nghiệp hóa chưa hoàn toàn gắn với hiện đại hóa Số ngành,lĩnh vực có công nghệ tiên tiến, hiện đại còn ít Các ngành sử dụng công nghệ cao mới đang bắt đầu hìnhthành

Đến nay, nước ta sử dụng công nghệ trung bình là phổ biến, tỷ lệ nhóm ngành công nghệ cao của Việt Namhiện nay mới đạt khoảng 20%, trong khi đó của Xin-ga-po là 73%, Ma-lai-xi-a là 51% và Thái Lan là 31%(theo tiêu chí, để đạt trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải là trên 60%) Tốc độ đổi mới công nghệ củacả nước đạt khoảng 10% (nếu tính riêng 3 vùng kinh tế trọng điểm là nơi tập trung công nghệ cao nhất cả nướccũng chỉ đạt khoảng 12%), so với tốc độ đổi mới công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới thì đó là mứccòn rất thấp Trong công nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp tự động hóa chỉ chiếm khoảng 1,9%, bán tự động là19,6%, cơ khí hóa 26,6%, bán cơ khí hóa 35,7%, thủ công 16,2%

Việc chưa chú trọng tiếp nhận công nghệ và sự phát triển chậm của lĩnh vực công nghiệp chế tạo của ViệtNam đã biểu hiện qua năng lực cạnh tranh công nghệ yếu kém Theo báo cáo phát triển công nghiệp 2002 -

2003 của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đánh giá về sự phát triển công nghiệp vànăng lực cạnh tranh trong sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của 87 nền kinh tế đang phát triển,trong đó có 14 nền kinh tế châu á thì Việt Nam vẫn chưa nằm trong danh sách này Theo xếp hạng của Diễnđàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2004, năng lực cạnh tranh tổng hợp của nền kinh tế nước ta chỉ đứng thứ

Trang 10

77/104 nền kinh tế, chỉ số về chuyển giao công nghệ được xếp thứ 66 là nhờ tỷ lệ vốn FDI vào nước ta ở mứccao so với các nước trong khu vực Chỉ số xếp hạng về công nghệ chỉ đứng thứ 92 do tỷ lệ nhập khẩu máy móc,thiết bị trên tổng kim ngạch nhập khẩu mới ở mức thấp Chỉ số về mức độ sử dụng bằng sáng chế công nghệnước ngoài của Việt Nam chỉ đứng thứ 99 trong số 104 nền kinh tế được xếp hạng

Các số liệu trên cho thấy Việt Nam cần phải sớm khắc phục tình trạng yếu kém về chuyển giao công nghệ,đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo định hướng xuất khẩu, khắc phục sự mất cân đối giữa sử dụngbằng sáng chế công nghệ nước ngoài của các doanh nghiệp trong nước với tiếp nhận công nghệ qua các doanhnghiệp FDI và khắc phục sự liên kết yếu kém giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất

Hiện nay, mặc dù vốn đầu tư của Nhà nước đang chiếm tỷ lệ rất cao, nhưng các ngành công nghiệp nước ta

còn chưa tập trung thích đáng vào việc nhanh chóng phát triển và làm chủ các công nghệ nguồn, công nghệ chế

tạo định hướng xuất khẩu, có xu hướng để các nhà đầu tư nước ngoài "phát triển giúp" các ngành công nghiệp

nói trên Điều này dẫn đến nguy cơ "công nghiệp hóa mà không nắm giữ được những bí quyết công nghệ chiến

lược và mũi nhọn" như tình trạng của nhiều nước Đông - Nam Á hiện nay Tỷ lệ nhập khẩu máy móc, thiết bị

sản xuất công nghiệp trên tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nền kinh tế nước ta cũng chỉ đạt mức thấp so vớiyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong giai đoạn trình độ công nghiệp hóa tương tự, tỷ lệ này của NhậtBản và Hàn Quốc vào khoảng 40%

3 - Khoa học và công nghệ cần phải làm gì để thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, cần tăng cường trình độ khoa học và công

nghệ theo hai hướng: tăng cường trình độ công nghệ trong từng ngành sản xuất và chuyển dịch cơ cấu sản xuất

sang những ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ cao - cũng chính là những ngành có giá trị gia tăng lớn.

Sự tiến bộ công nghệ của nền kinh tế đất nước được thực hiện bằng cách kết hợp đẩy mạnh nhập khẩucông nghệ ở nước ngoài và tự phát triển, sáng tạo công nghệ tiên tiến trên nền tảng các công nghệ nhập khẩu.Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với một nước đang trong quá trình phát triểnnhư Việt Nam thì nhập khẩu công nghệ tiên tiến ở nước ngoài là phương pháp vừa tiết kiệm thời gian, vừa tiếtkiệm chi phí nếu lựa chọn hiệu quả được những công nghệ có mức độ tiên tiến thích hợp với giá thành hạ trongquá trình nhập khẩu Điều này được gọi là lợi thế đi sau của các nước đang phát triển do không bắt buộc phảitrải qua hành trình tiến bộ công nghệ như các nước phát triển

Vấn đề nhập công nghệ tiên tiến đòi hỏi chi phí đầu tư lớn trong khi khả năng nguồn vốn của nền kinh tếcòn hạn hẹp Vì vậy, quá trình nhập khẩu và nâng cao trình độ công nghệ chỉ có thể được đẩy mạnh bằngchiến lược phát triển thị trường vốn trong nước và khai thông, kết nối với thị trường vốn quốc tế, đặc biệt là thịtrường chứng khoán Đây cũng chính là bí quyết công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Hàn Quốc, ĐàiLoan trước kia và của Trung Quốc hiện nay Đồng thời với quá trình trên, chúng ta phải nhanh chóng thúc đẩyviệc tiếp thu và phát triển khả năng tự chế tạo, tiến tới sáng tạo công nghệ Khả năng sáng tạo công nghệ làcon đường duy nhất để Việt Nam cũng như các nước đang phát triển đuổi kịp và vượt trình độ của các nướccông nghiệp phát triển, nhờ vậy mới có thể giảm bớt những khoản chi phí tốn kém cho việc nhập khẩu nhữngcông nghệ tiên tiến Khả năng sáng tạo công nghệ dựa trên cơ sở óc sáng tạo và trình độ quản lý hoạt độngnghiên cứu và trình độ nghiên cứu khoa học tự nhiên và công nghệ ứng dụng Nó phụ thuộc vào tiềm năng trítuệ của dân tộc và đòi hỏi một chính sách đầu tư lâu dài liên tục và đúng phương hướng vào khoa học và côngnghệ của đất nước

Như tất cả các nước đang phát triển có nguồn lực còn hạn chế, nước ta phải vượt qua khó khăn trong quátrình đầu tư hiện đại hóa công nghệ, là tích lũy và sử dụng tối ưu nguồn vốn Trong thời kỳ đầu, chúng ta đãtập trung vốn vào các ngành kinh tế với công nghệ chưa phải tiên tiến và đòi hỏi nguồn vốn thấp để phát huy

Trang 11

lợi thế so sánh động so với các nước phát triển hơn Tuy nhiên, để vượt qua trạng thái dừng của nền kinh tế cótrình độ công nghệ thấp, trong thời kỳ tới chúng ta phải có chiến lược nâng cao trình độ khoa học và công nghệđể tối ưu hóa chất lượng sản phẩm và hiệu quả của nền kinh tế Đây chính là mô hình phát triển "xuất khẩutịnh tiến" bằng động lực khoa học và công nghệ.

Việc nâng dần trình độ khoa học và công nghệ của nền kinh tế phải được thực hiện đồng thời bằng hai quátrình:

Thứ nhất, nâng dần trình độ công nghệ của các ngành sản xuất đã có để phá vỡ trạng thái dừng của các

ngành này, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sản lượng và thu nhập lao động

Thứ hai, chuyển dịch dần cơ cấu sản xuất sang các ngành có trình độ khoa học và công nghệ và giá trị gia

tăng cao hơn

Quá trình thứ nhất diễn ra một cách tự nhiên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong

cùng một ngành Còn quá trình đòi hỏi phải có một sự định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong chínhsách ưu đãi phát triển ngành sản xuất, giáo dục và đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học và công nghệ, đitrước một bước tương ứng với quá trình đột phá và dịch chuyển của nền kinh tế lên trình độ công nghệ cao hơn.Trong mỗi thời kỳ phát triển, ngành sản xuất chủ yếu đang nắm giữ lợi thế so sánh của nền kinh tế có nhiệmvụ xuất khẩu và tích lũy vốn, trong khi đó ngành sản xuất mũi nhọn được bảo hộ tương đối trong chiến lượcnâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế Những ngành mũi nhọn này có nhiệm vụ đột phá về công nghệcủa nền sản xuất trong nước, và đến khi đã trưởng thành chúng phải đứng vững trong cuộc cạnh tranh quốc tế,đặt nền tảng cho việc mở rộng cơ cấu xuất khẩu ở trình độ công nghệ cao hơn và chuyển thành ngành sản xuấtchủ yếu Lúc đó lại xuất hiện những ngành mũi nhọn mới có nhiệm vụ tiếp tục nâng cao hơn nữa trình độ côngnghệ của nền sản xuất trong nước, tạo thành quá trình "xuất khẩu tịnh tiến" liên tục với các sản phẩm xuấtkhẩu có hàm lượng khoa học và công nghệ ngày càng cao hơn Vì vậy, việc lựa chọn đầu tư ngành mũi nhọnvà phát triển khoa học và công nghệ phù hợp có ý nghĩa chiến lược trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa và tạo điều kiện cho quá trình tăng trưởng cao liên tục của nền kinh tế đất nước

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải thực hiện đồng thời hai quá trình: chuyển từkinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và nâng cao trình độ khoa học, công nghệ Vấn đề tăng cườngtiềm lực và nâng cao hiệu quả khoa học và công nghệ để đất nước có thể bắt kịp và làm chủ công nghệ hiệnđại có tầm quan trọng quyết định Hiện nay, nước ta đã bước vào cuối giai đoạn phát triển kinh tế theo bề rộng,dựa vào tài nguyên thiên nhiên là chính và sẽ phải bước vào thời kỳ phát triển theo chiều sâu với sự đóng gópngày càng lớn của khoa học và công nghệ trong thời gian tới

Sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn phụ thuộc vào việc chủ động hội nhập kinh tếquốc tế kết hợp với tăng cường các yếu tố năng lực nội sinh của dân tộc như văn hóa, giáo dục, khoa học.Không có đủ tri thức, không có đủ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ thì trong quá trình hội nhập đấtnước sẽ bị thua thiệt, bị bóc lột, chèn ép và sẽ trở thành bãi thải công nghệ của các nước khác

Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là sử dụng tri thức khoa học và công nghệ mới nhất để phát triển nềnkinh tế, chuyển nền kinh tế từ tình trạng năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp sang nền kinh tế năng suất, chấtlượng, hiệu quả cao Tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam không thua kém những nước mới công nghiệphóa thành công ở châu Á Con người Việt Nam có thể nhanh chóng tiếp thu và làm chủ các tri thức mới, côngnghệ mới; một số lĩnh vực mới hình thành đã sử dụng công nghệ mới nhất và theo kịp trình độ thế giới

Với tiềm năng trí tuệ, tinh thần sáng tạo, ý chí và bản lĩnh kiên cường của dân tộc Việt Nam, phát huy tính

ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của toàn dân tộc, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chúng

Trang 12

ta nhất định sẽ thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, đạt tới mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Bùi Sĩ Tiếu

* TS, Phó Trưởng Ban Thường trực - Phụ trách Ban Khoa giáo Trung ương

http://www.tapchicongsan.org.vn

http://www.kinhtenongthon.com.vn

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

Từ xưa đến nay, bản sắc văn hóa dân tộc làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng người Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió, thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua để không ngừng phát triển và lớn mạnh Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên tối đa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc

Từ xưa, nền "văn hiến" (văn hóa) lâu đời của dân tộc đã có trong niềm tự hào của cha ông ta khi khẳngđịnh về độc lập, chủ quyền của đất nước trước kẻ thù xâm lược Văn hóa là một di sản cực kỳ quý báu được kếthừa từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngày hôm nay, văn hóa xuất hiện trên hầu hết các lĩnh vực của cuộcsống: văn hóa tình cảm, văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh, văn hóa tranh luận, phê bình văn hóa là hànhtrang của đất nước trên con đường hội nhập quốc tế

Để có một quan niệm đầy đủ, toàn diện về văn hóa quả không phải là điều đơn giản Có rất nhiều quanniệm đã được đưa ra vì mỗi cá nhân, mỗi tác giả lại đứng trên một góc độ khác nhau để nhìn nhận về văn hóa.Có người cho rằng, văn hóa gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; văn hóa là tổng thể những nét riêngbiệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính chất một xã hội hay của một nhóm người trongxã hội Cũng có người cho rằng, văn hóa theo nghĩa rộng là, toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, gồm támlĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống; giáo dục đào tạo; khoa học công nghệ; văn học nghệ thuật; giao lưu vănhóa; thông tin đại chúng; thể chế văn hóa; đời sống văn hóa Nghĩa hẹp gồm nếp sống, lối sống; văn học nghệ

Ngày đăng: 23/06/2013, 01:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w