1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số kinh nghiệm dạy phân môn chính tả lớp 1

23 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 5,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài việc rèn luyệnphẩm chất đạo đức, tác phong, giáo viên còn có nhiệm vụ không kém phần quantrọng đó là không ngừng học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Giáo viên luôn là

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài 2

II Mục đích nghiên cứu 3

III Đối tượng nghiên cứu 3

IV Đối tượng khảo sát thực nghiệm 3

V Nhiệm vụ nghiên cứu 3

VI Kế hoạch nghiên cứu 3

VII Phương pháp nghiên cứu 3 PHẦN II: NỘI DUNG I Cơ sở lí luận 4

II Cơ sở thực tiễn 4

III Một số biện pháp cụ thể: 7

1.Luyện phát âm: 7 2 Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ - ghi nhớ từ: 7

3 Dạy học sinh viết - trình bày bài chính tả: 8 3.1 Tập chép và viết chính tả 8 3.2.Hướng dẫn trình bày bài chính tả 9 4 Dạy theo nhóm đối tượng học sinh, kết hợp sử dụng một số “mẹo luật” chính tả 11

5 Dạy chính tả theo nguyên tắc tích hợp 14 6 Chú ý tư thế ngồi viết và cách cầm bút. 15 7 Đổi mới phương pháp dạy học: 16 8 Thi đua – khen thưởng: 17 9 Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường: 18 IV Kết quả đạt được: 19

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận: 20 2 Bài học kinh nghiệm: 20

3 Đề xuất – khuyến nghị: 21

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Giáo dục là nền tảng của sự phát triển con người về mọi mặt Thời gianqua giáo viên là những người cố gắng hết sức trong sự nghiệp giáo dục thế hệtrẻ Nhờ đó mà ngành giáo dục đã đạt được những thành tích đáng kể Nhữngngười làm giáo dục phải có lòng nhiệt huyết với nghề Ngoài việc rèn luyệnphẩm chất đạo đức, tác phong, giáo viên còn có nhiệm vụ không kém phần quantrọng đó là không ngừng học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Giáo viên luôn là chiếc cầu nối cho học sinh nắm bắt được kiến thức cơ bản

về con người, tự nhiên, xã hội… và một số kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết,của Tiếng việt, là một trong những mảng kiến thức quan trọng ấy Đọc - viết,nghe - viết là những kĩ năng đặc trưng của phân môn Chính tả là một trongnhững vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn TiếngViệt trong nhà trường

Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Phân mônChính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả.Đây là phân môn mang đậm dấu ấn truyền thống của việc dạy và học TiếngViệt Vì tôi đã tìm hiểu và nhận thấy những điểm mới, điểm nổi trội trong nộidung và phương pháp dạy học phân môn này để có những cách tiếp cận vàchuyển tải phù hợp hơn đến các đối tượng học sinh, nhằm đạt được hiệu quả tốttrong việc hình hành kĩ năng nghe – viết cho cơ cấu chương trình môn TiếngViệt nói riêng, các môn học ở trường phổ thông nói chung

Muốn đọc thông viết thạo, học sinh phải được học phân môn chính tả.Chính tả là phân môn có tính chất công cụ Nó có vị trí quan trọng trong giaiđoạn học tập đầu tiên của học sinh Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việchọc tập Tiếng Việt Ngoài ra, phân môn Chính tả còn rèn luyện cho học sinhmột số phẩm chất như: Tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, bồi dưỡng cho học sinh lòngyêu quý Tiếng Việt và chữ Tiếng Việt

Ở bậc tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí vô cùng quan trọng Vì họcsinh Lớp 1 là giai đoạn đầu cấp và cũng là giai đoạn then chốt trong quá trìnhhình thành khả năng chính tả cho học sinh Không phải ngẫu nhiên mà ở bậctiểu học học chính tả còn được bố trí thành một phân môn độc lập (thuộc mônTiếng Việt) có tiết dạy riêng Giống như các phân môn khác, tính nổi bật củamôn Chính tả là tính thực hành, chỉ có thể hình thành các kỹ năng, kỹ xảo chohọc sinh thông qua việc thực hành và luyện tập

Đối với học sinh Lớp 1 khi học phân môn Chính tả sẽ gặp những khó khănnhất định Vì các em là lứa tuổi đầu tiên phải làm quen với môn học này mộtcách mới lạ, bỡ ngỡ Nó đòi hỏi các em phải có trí tư duy về nhiều mặt đối vớinhững bài chính tả nghe/ viết vừa phải nghe bằng tai và viết thành chữ chođúng Điều mà tôi băn khoăn lo lắng là làm thế nào để tiết dạy không còn nhàmchán giữa thầy, trò để đạt kết quả cao

Trong quá trình giảng dạy tôi cũng đã tích luỹ được một số kinh nghiệm để

dạy tốt phân môn Chính tả Trong phạm vi bài viết này, tôi xin giới thiệu “Một

số kinh nghiệm dạy phân môn Chính tả lớp 1” để bạn bè đồng nghiệp cùng

tham khảo

Trang 3

II Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, tìm tòi 1 số biện pháp hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả

trong các tiết học

III Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp giúp học sinh lớp 1 viết đúng chính tả.

IV Đối tượng khảo sát thực nghiệm

Học sinh lớp 1`

V Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về việc dạy chính tả ở lớp 1.

- Tìm hiểu nội dung, phương pháp, thực trạng dạy và học các bài chính tả lớp 1

ở trường đang giảng dạy

- Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp viết đúng chính tả để học sinh lớp 1học tốt phân môn chính tả lớp 1

- Trên cơ sở đó rút ra kết luận và khuyến nghị cần thiết

VI Kế hoạch nghiên cứu

Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018

VII Phương pháp nghiên cứu

1 Đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo

2 Dự giờ đồng nghiệp

3 Phương pháp điều tra

4 Phương pháp khảo sát

5 Phương pháp đàm thoại

6 Phương pháp dạy thực nghiệm

7 Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm

8 Phương pháp thống kê tính toán

9 Phương pháp đối chiếu, so sánh

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận

Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng, một tiếng nói riêng.Tiếng Việt là ngôn ngữ được thống nhất trên toàn đất nước ta Để giữ gìn vàphát triển vốn chữ viết của Tiếng Việt thì nhà trường đóng vai trò vô cùng quantrọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ cả một quốc gia trong một giaiđoạn xã hội – lịch sử nhất định, là nơi thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo ởmỗi cấp học, bậc học Trong đó dạy chính tả ở Tiểu học là một trong những vấn

đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn Tiếng Việt trongnhà trường Thông qua việc học chính tả mà các em nắm được quy tắc chính tả

và hình thành những kỹ năng, kỹ sảo về chính tả Từ đó, mà nâng cao dần tìnhcảm quý trọng tiếng mẹ đẻ và nền văn học dân tộc

Trong những năm gần đây, phong trào vở sạch chữ đẹp đã và đang được mọingười quan tâm và gặt hái được những thành tích đáng kể, được tất cả giáo viên

và học sinh chú trọng tham gia nhiệt tình với quyết tâm cao Bên cạnh đó, cònđược các bậc phụ huynh, các cấp các ngành quan tâm, khuyến khích động viên

đó chính là động lực giúp giáo viên và học sinh thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

đề ra “ Giáo dục con người toàn diện”

II Cơ sở thực tiễn

Chúng ta ai cũng biết nếu là người dân Đất Việt, dù được sinh ra ở đâu làdân tộc nào thì đều phải biết nói tiếng mẹ đẻ của mình - đó là Tiếng Việt Nhưngkhông ít người trong chúng ta lại hay nói phát âm một cách chính xác từngtiếng, từng từ trong Tiếng Việt Đặc biệt là học sinh lớp 1- lớp học đầu tiên củabậc Tiểu học Khả năng tư duy của các em còn rất hạn chế, còn mang nặng tínhtrực quan Trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1: Từ tuần 1 đếntuần 24 học sinh được học phần học vần, viết chữ theo cỡ chữ vừa Từ tuần 25trở đi học sinh được học Tiếng Việt với nội dung tổng hợp trong đó có phânmôn chính tả Ở đây, yêu cầu từ sự hiểu biết, từ thói quen có được trong phầnhọc vần, trong các môn học khác, học sinh phải vận dụng, phải chuyển từ viếtchữ cỡ vừa sang cỡ chữ nhỏ để chép và viết chính tả Đó là một sự khó khăn đốivới học sinh lớp 1 Các em còn lúng túng trong khi viết, khi trình bày bài, chữviết không đều nét, không đúng cỡ và mắc nhiều lỗi chính tả

Qua thực tế giảng dạy lớp 1, qua tìm hiểu học sinh tôi thấy:

- Học sinh lớp 1 viết chính tả nhìn chung đảm bảo tốc độ viết chữ theoqui định

- Có nhiều học sinh viết bài sạch sẽ, trình bày đẹp, chất lượng về vở sạchchữ đẹp đều đạt kết quả cao trong các đợt kiểm tra Song bên cạnh đó, giáo viên

và học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong giờ học chính tả Cụ thể:

+ Học sinh còn viết sai nhiều về độ cao các con chữ (đặc biệt là ở nhữngbài chính tả đầu tiên), nét chữ chưa chuẩn, sai cách ghi dấu thanh

+ Một số học sinh còn ngọng: l – n , ch – tr, s – x, ưu – ươu … nên khi

viết chính tả hay mắc lỗi

+ Một số học sinh không nhớ qui tắc chính tả: g – gh, ng – ngh, c – k nên

khi gặp bài chính tả nghe-viết, học sinh dễ viết sai

Trang 5

+ Trong các buổi học, học sinh thường viết chính tả đẹp và đúng hơn khilàm bài kiểm tra trong các đợt kiểm tra định kì

+ Học sinh không biết cách trình bày một bài viết chính tả (đoạn văn, đoạnthơ hay bài thơ) Đặc biệt với bài thơ viết theo thể lục bát hoặc viết chính tả tậpchép, học sinh nhìn bài “mẫu” của giáo viên hoặc trong vở chính tả để chép vàkhi thấy giáo viên xuống dòng ở đâu ( ở chữ nào) thì học sinh cũng xuống dòng

ở chữ đó, hoặc vở hết chỗ viết nhưng học sinh không xuống dòng viết tiếp mà

cố viết chữ đó cho giống bài mẫu ( vì học sinh không hiểu bản chất của vấn đề) Vậy, tại sao học sinh lại hay mắc lỗi chính tả như vậy ? Ở đây, tôi xin mạnhdạn đưa ra một số nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh như sau:

1 Nguyên nhân khác quan:

* Về phía gia đình:

+ Ở nhà, khi các em nói sai, nói ngọng thường là phụ huynh bỏ qua, chỉ có

số ít phụ huynh chú ý sửa sai cho con em mình

+ Một số phụ huynh thường xuyên để con tự học mà không có sự kiểm tragiám sát

+ Bản thân một số phụ huynh còn nói sai, viết sai chính tả Cụ thể khi traođổi trực tiếp với giáo viên hay trao đổi với giáo viên chủ nhiệm qua sổ liên lạc Vậy khi học sinh nói sai, viết sai không được sửa, và khi nhìn thấy phụhuynh viết sai thì các em thường cho đó là đúng, đâu có biết như vậy là sai Chỉ

có phần ít các em biết phát hiện đúng – sai Do đó, các em cứ theo cái sai đó dẫn

đến các em sẽ nói sai, viết sai

Ngoài ra còn nhiều người nói không chuẩn, đặc biệt là những người ở thôn,xóm nơi các em sinh sống(do ảnh hưởng tiếng địa phương)

* Về phía học sinh:

Một số học sinh do hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, có em do bố mẹ bỏnhau nên ít được quan tâm đến việc học tập

2 Nguyên nhân chủ quan

*Về phía giáo viên:

+ Một số giáo viên chưa vận dụng một cách nhuần nhuyễn các phương pháp

trong dạy chính tả ở lớp 1 chính vì vậy mà trong quá trình dạy chủ yếu dạy theocảm tính, chưa thật sự phân tích cẩn thận giữa các chữ viết đúng với các chữ viếtsai dẫn đến tình trạng một số học sinh viết sai mà vẫn không biết mình sai chỗnào Bên cạnh đó chưa có trách nhiệm trong việc tìm ra nguyên nhân học sinhviết sai do đâu

+ Bản thân một số giáo viên còn phát âm ngọng

+ Trong các giờ học chính tả, giáo viên chưa thực sự tổ chức tiết học sôinổi, chưa có sự đổi mới phương pháp – hình thức dạy học chưa phong phú

+ Giáo viên chưa phát động các cuộc thi “vui học” ngoài phong trào “vở

sạch - chữ đẹp” để phát triển tối đa khả năng viết chính tả của học sinh

* Về phía học sinh:

+ Một số em phát âm chưa chuẩn( nói ngọng)

+ Chưa nắm chắc về âm – vần nên khi phân tích để viết một số tiếng khó cònlúng túng, không phân tích được

Trang 6

+ Các em nghe hiểu còn hạn chế Còn nhiều em không nắm được nghĩa củacác từ.

+ Các em chưa thật sự nắm vững kĩ thuật viết chữ (viết liền mạch, kĩ thuật

“rê bút”, kĩ thuật “lia bút” nên khi viết các em không thể hiện được nhanh đúngtốc độ quy định

+ Một số học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút chưa đúng

+ Đôi lúc học sinh còn viết theo cảm tính và chưa hợp tác với giáo viên

+Tính tự giác trong ý thức học tập của một số học sinh còn hạn chế, đặcbiệt là trong việc rèn luyện kĩ năng viết chính tả

Từ thực trạng trên tôi nhận thấy để dạy tốt phân môn Chính tả giáo viênphải nắm vững các phương pháp dạy học chính tả và đổi mới phương pháp dạyhọc Đồng thời trong các tiết học giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu đượcnghĩa của một số từ, cung cấp một số quy tắc viết chính tả Từ đó, giúp học sinhviết đúng, đẹp và yêu thích môn học hơn Sau đây tôi xin trình bày một số kinhnghiệm mà bản thân đã tích lũy được trong quá trình dạy học

Trang 7

III MỘT SỐ BIỆN PHÁP CỤ THỂ:

1 Luyện phát âm:

Muốn học sinh viết đúng chính tả, tôi phải chú ý luyện phát âm cho họcsinh, giúp các em phân biệt các âm đầu, âm chính, âm cuối qua giọng đọc mẫucủa giáo viên

Ví dụ 1: Dạy bài chính tả tập chép “Tặng cháu”, tôi cho học sinh luyện đọc

lại bài sau đó đưa ra một số từ khó mà học sinh lớp tôi hay viết chưa đúng như:

lòng, nước non Sau khi đọc xong tôi cho học sinh phân tích âm tiết Đồng thời

tôi cho học sinh phân biệt cách đọc hai âm l – n

Ví dụ 2: Khi dạy bài chính tả nghe – viết: “Cái Bống” tôi cho học sinh luyện

đọc lại bài sau đó đưa ra một số từ khó mà học sinh lớp tôi hay viết chưa đúng

như: khéo sảy, khéo sàng Sau khi đưa ra tôi cho học sinh đọc, phân tích âm tiết: chữ “khéo” gồm có chữ “kh” nối với chữ ghi vần “eo” và dấu thanh sắc:

khéo = kh + eo + ( / ) Bên cạnh đó tôi cho học sinh phân biệt cách đọc hai âm s – x

Như vậy, học sinh đọc, phân tích, nhận diện rồi viết, học sinh sẽ ghi nhớ chữviết và viết chính tả tốt hơn

Việc rèn phát âm được tôi thực hiện thường xuyên không chỉ trong các tiếtTập đọc, tiết Chính tả mà cả một số môn học khác như môn Toán khi dạy họcsinh đọc số

Ví dụ: Khi dạy học sinh đọc số 5: đọc đúng là năm không đọc là lăm Hay đọc các số có hai chữ số như 55 đọc là: năm mươi lăm không đọc là lăm mươi

năm

2 Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ - ghi nhớ từ:

Là giáo viên giảng dạy lớp 1, tôi luôn chú trọng yếu tố này Ngay từ các bài

học vần, tôi luôn giải nghĩa từ khoá, từ áp dụng trong các bài học vần qua tranhảnh, mô hình, lời giải thích giúp học sinh hiểu nghĩa từ, hiểu câu Đồng thời, tôiđưa từ, câu văn vào văn cảnh cụ thể để học sinh dễ dàng hiểu từ, hiểu câu vàhiểu sâu hơn ( Phần luyện nói, đoạn ứng dụng ).Từ đó, giúp học sinh có cáchđọc đúng, viết đúng

Bài viết chính tả phần lớn là viết lại một phần nội dung bài tập đọc đã học

Vì vậy, để học sinh viết tốt các bài chính tả thì ngay các tiết học tập đọc, tôi luôn

có ý thức giúp cho học sinh hiểu nghĩa của từ trong bài đọc, hiểu câu, hiểu nộidung cơ bản của bài đọc

Ví dụ: Bài tập đọc: Tặng cháu, tôi giúp học sinh hiểu: Bác Hồ đã mong

muốn điều gì ở các bạn học sinh?

Trước khi viết bài chính tả, tôi gợi ý, hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dungbài viết Như vậy, khi viết chính tả, học sinh bắt đầu đã có vốn từ, nắm được nộidung bài, học sinh sẽ tự đọc - phân tích - viết đúng, đặc biệt là những tiếng, từviết khó, hạn chế sự mắc lỗi

Ví dụ: Khi dạy bài chính tả tập chép Tặng cháu: Tôi cũng giúp học sinh tìm hiểu nội dung bài viết bằng cách đặt câu hỏi: Bác hồ đã tặng vở cho ai? Bác

Hồ mong các cháu làm điều gì?

Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên vàhọc sinh Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học chứ

Trang 8

không phải người dạy Tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu hứng thú,thói quen và năng lực của người học Như vậy, mục đích của dạy học ở đây làtrẻ em phát triển trên nhiều mặt chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức Khi dạyhọc, hoạt động tư duy của trẻ được khơi dậy, phát triển và coi trọng Đó chính làdạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Trong các giờ chính tả, giáo viên thường lạm dụng con đường giải thích cáchviết, nhận xét luôn bài viết của học sinh Như vậy chưa phát huy tính tích cựccủa học sinh.Vì vậy, khi dạy chính tả giáo viên cần lưu ý:

+ Với những tiếng khó viết trong bài, giáo viên nên để học sinh tự phát phân tích - viết bảng Sau đó, học sinh tự nhận xét, sửa sai cho nhau Giáo viênchỉ là người hướng dẫn rồi tổng kết

+ Qua những bài tập chính tả để giúp học sinh hiểu nghĩa từ - ghi nhớ từ,nắm qui tắc chính tả Giáo viên không nên giảng từ thay học sinh mà giáo viênphải biết giúp học sinh dựa vào tranh vẽ, biết đưa từ vào văn cảnh cụ thể để hiểunghĩa từ - ghi nhớ từ Có như vậy, học sinh ghi nhớ từ sẽ chính xác, lâu bền hơn

3 Dạy học sinh viết - trình bày bài chính tả:

Từ tuần 25 học sinh lớp 1 bắt đầu viết chính tả Giai đoạn này học sinh vừaluyện chữ cỡ vừa và bắt đầu học phân môn chính tả Như vậy, học sinh lớp 1không có một tiết học riêng nào và cũng chưa có lần nào để làm quen với cáchviết các chữ theo cỡ chữ nhỏ trước khi các em viết bài chính tả Do đó học sinhthường lúng túng khi viết chính tả

Vậy, chúng ta cần phải làm gì giúp các em khỏi bị lúng túng khi viết chính

tả, đặc biệt ở những bài đầu của phân môn chính tả ?

Với học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em rất dễ nhớ nhưngcũng rất nhanh quên Nếu như các em không được làm quen, được nhắc nhởthường xuyên thì các em sẽ không biết làm, nếu có làm thì dễ bị sai, bị nhầm lẫn

Trang 9

Để làm tốt việc này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có ý thức luyện chữ và khôngphải chỉ ở giờ chính tả, tập viết mà tất cả các giờ học khác đòi hỏi chữ viết trênbảng của giáo viên phải thật sự mẫu mực

3.2 Hướng dẫn trình bày bài chính tả:

Việc trình bày bài chính tả của học sinh ở những bài đầu khó khăn

Học sinh không biết cách trình bày như thế nào cho đúng chứ chưa nói gìtrình bày cho đẹp, từ cách ghi tên bài viết rồi đến trình bày nội dung bài viết Chúng ta đã biết, học sinh Tiểu học, đặc biệt là đối với học sinh lớp 1, các

em luôn luôn bắt chước và thậm chí bắt chước một cách máy móc do các emkhông hiểu bản chất của vấn đề Ví dụ về hiện tượng học sinh mắc lỗi cách trìnhbày xuống dòng như tôi đã trình bày ở phần thực trạng Vậy làm thế nào để khắcphục tình trạng này? Ở đây tôi xin được trình bày cách làm mà tôi đã thực hiện

và thấy có hiệu quả như sau :

- Cách ghi thứ, ngày - tháng - ghi tên môn – ghi tên bài viết

Tôi luôn luôn chú ý đến cách trình bày bảng của mình đặc biệt trong giờ

chính tả Khi hướng dẫn học sinh viết vở, tôi đưa ra quy định chung cho họcsinh của lớp mình

+ Cách ghi thứ - ngày - tháng: chữ “Thứ” cách lề vở 1 ô

+ Cách ghi tên phân môn: “Chính tả” cách lề 5 ô

+ Cách ghi tên bài: tùy theo số lường chữ( giáo viên quy ước)

Cách ghi tên bài không phải là đến khi viết chính tả tôi mới giới thiệu chohọc sinh Với tôi, ngay trong các bài học vần, trong các môn học khác khi ghitên bài tôi luôn chú ý trình bày làm sao cho đúng, cho khoa học và đẹp mắt tức

là viết đúng và trình bày cân đối trên bảng Đặc biệt trong giờ học “mĩ thuật, thủcông” chúng ta giáo dục học sinh cái đẹp của hình ảnh, của cách trình bày (bốcục, khoảng cách) ngay sự khéo léo, óc sáng tạo của học sinh Vì thế, khi ghi tênbài vào vở tổng hợp, tôi kết hợp hỏi học sinh tại sao lại trình bày như vậy ? Qua đó, tôi giúp cho học sinh thấy được cái đẹp ở đây không những chỉ vềchữ viết mà còn cả về cách trình bày Từ đó, hình thành cho học sinh cách trìnhbày bài một cách khoa học và đẹp mắt Cách trình bày đó được tôi nhắc nhở xen

kẽ trong các bài học của môn học khác Đến khi viết chính tả, tôi chỉ cần lưu ýhọc sinh là các em có thể tự ước lượng và trình bày vào vở của mình (có thểchưa thật cân đối) và dần dần trở thành thói quen Được thực hành nhiều lần các

em sẽ có kỹ năng trình bày bài đúng, đẹp và khoa học Đối với những học sinhyếu, tôi sẽ chỉ và hướng dẫn các em ở một số bài đầu tiên về cách viết, viết cách

lề khoảng mấy ô Sau đó yêu cầu học sinh tự ước lượng, tự thực hành

- Cách trình bày đoạn văn, đoạn thơ:

Khi viết chính tả, tôi luôn hướng dẫn và giúp học sinh hiểu được cách trình

bày một đoạn văn hay một khổ thơ như sau:

+ Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải được viết hoa con chữ đầu tiên (đốivới chữ viết), in hoa (đối với chữ in)

+ Cuối đoạn thơ có dấu chấm

Hơn nữa, ở đây giáo viên còn phải giúp học sinh nhận thấy số chữ ở từngdòng thơ và cách trình bày khác với bài trước

Dòng 6 chữ phải lùi vào 2 ô so với lề vở

Trang 10

Dòng 8 chữ phải lui ra khoảng 1 ô so với dòng 6.

Đoạn văn : giáo viên phải giúp học sinh thấy được: chữ đầu đoạn văn, chữđầu câu phải viết hoa con chữ đầu tiên, cuối câu có sử dụng dấu câu “.” Nhưvậy, ngay từ các bài học vần, giáo viên giới thiệu cho học sinh, cách trình bàycách viết hoa (viết hoa tên riêng …) cách ghi dấu chấm, cách ghi dấu phẩy hay

cả cách ghi dấu chấm hỏi có trong bài

Ví dụ1: Khi dạy bài chính tả: “Trường em”, học sinh phải chép một câu

ở đoạn một và một câu trong đoạn hai của bài, học sinh không hiểu cách trìnhbày một bài viết có nhiều đoạn Chính vì thế, ngay từ bài tập đọc, giáo viên cầnhướng dẫn học sinh xác định rõ đoạn 1, đoạn 2 của bài tập đọc Sau đó, giáoviên cho học sinh nhắc rõ từng đoạn như thế học sinh cũng phần nào hiểu vềcách trình bày hết đoạn 1 sang đoạn 2 ta phải xuống dòng, viết lùi vào 1 ô vàviết hoa con chữ đầu tiên

Ví dụ 2: Khi dạy bài chính tả: “Cái Bống”, Sau khi học sinh đã nắm được

đây là bài đồng dao được viết theo thể thơ lục bát, tôi hướng dẫn học sinh cáchtrình bày: tên bài viết cách lề vở 5 ô; câu 6 tiếng viết cách lề vở 2 ô; câu 8 tiếngviết cách lề vở 1 ô

Bên cạnh đó trong những bài chính tả của những tuần đầu, tôi luôn luôn cóbài chép mẫu Tôi lựa chọn những bài viết đúng, đẹp, các con chữ đều, chuẩn đểhọc sinh quan sát Bên cạnh đó tôi lưu cả bài viết có mắc lỗi về cách trình bày đểhọc sinh sửa sai

Trước khi học sinh chép bài chính tả, tôi đưa ra bài mẫu này để học sinh nhậnxét, rút ra cái sai Từ đó giúp học sinh không mắc phải cái sai đó

Trang 11

4 Dạy theo nhóm đối tượng học sinh, kết hợp sử dụng một số “mẹo luật” chính tả.

Là giáo viên Tiểu học vừa làm công tác chủ nhiệm, vừa trực tiếp giảng dạynên hiểu rất rõ về học sinh cũng như chất lượng chữ viết của học sinh lớp mình

Để khắc phục những nhược điểm, phát huy được mặt mạnh, giáo viên phải biếtphân loại học sinh thành các nhóm theo các lỗi sai cơ bản học sinh hay mắc đểtrong các giờ học, đặc biệt là giờ luyện Tiếng Việt, giáo viên thấy học sinh lớpmình yếu về mặt nào thì chủ động rèn cho học sinh về mặt đó Giáo viên phảiphân loại một cách rõ ràng: Em nào sai cách trình bày; Em nào sai khi đọc và

viết l - n, r – gi – d, ch – tr ; sai các nét; sai cách viết dấu thanh… thì phân biệt

riêng để có những bài tập phù hợp

Đối với phân môn chính tả, nhược điểm chính của học sinh lớp 1 là viết sai

các lỗi thông thường như: l – n, d – gi – d, tr – ch…, sai khoảng cách các con

chữ, nét chữ chưa chuẩn, sai cách ghi dấu thanh…Vì vậy, giáo viên cần lưu ý: + Ngay từ những bài học vần đầu tiên cho đến khi học sinh viết chính tả,giáo viên cần luôn luôn chú ý đến từng nét chữ của học sinh Giáo viên viết mẫuhướng dẫn học sinh, chữ viết của giáo viên rõ ràng chính xác thế nhưng khôngphải em nào cũng viết được đúng, được đẹp như giáo viên hướng dẫn có em viếtđúng chữ nhưng sai nét như: Nét chữ không bám dòng kẻ, nét chữ viết nghiêngkhông đều, sai độ rộng… giáo viên phải sửa từng nét chữ cho học sinh, dùngphấn, bút khác màu mực (màu đỏ) sửa cho các em, giúp các em có ý thức tự sửasai trong các lần viết sau Đối với học sinh khá, giỏi, giáo viên có thể cho họcsinh tự nhận xét, sửa sai hoặc sửa sai khi giáo viên chỉ rõ cái sai đó Điều nàygiáo viên phải chú ý sửa sai cho các em từ các bài tập viết phần học vần (gạchchân – sửa những nét học sinh hay mắc lỗi) Trước khi viết bài mới, giáo viêncho học sinh viết lại những lỗi viết sai chính tả của mình, giúp các em không bị

Ngày đăng: 05/06/2020, 14:23

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w