Phân tích tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp là đề tài đã được sử quan tâm của nhiều tác giả không chỉ ở nước ta mà còn ở tất cả các nước trên thế giớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ THU HƯƠNG
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY
CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội -2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ THU HƯƠNG
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY
CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số : 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THẾ HÙNG
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Mục tiêu, chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.1.1.Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.1.2.Mục tiêu, chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 10
1.2.1 Tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 10
1.2.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 10
1.2.3 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 15
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp 16
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 16
1.3.2 Các nhóm hệ số tài chính 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦNBÁNH KẸO HẢI HÀ 2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 32
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 32
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 32
2.1.3 Nhiệm vụ và đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty 33
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 36
Trang 42.2 Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
2.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính 39
2.2.2 Phân tích các nhóm chỉ số tài chính 54
2.3 Đánh giá chung tình hình tài chính Công ty Cổ phần Bánh kẹoHải Hà 2.3.1 Ưu điểm 70
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 72
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNHCỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ 3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển của Công ty trong thời gian tới 74
3.1.1 Phân tích SWOT của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 74
3.1.2.Định hướng, mục tiêu phát triển của Công ty 75
3.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 77
3.2.1 Giải pháp tăng hiệu quả quản lý hàng tồn kho 77
3.2.2 Giải pháp tăng lợi nhuận 78
3.2.3 Đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ quản lý tài chính 79
3.2.4 Quản trị khoản phải thu, nâng cao khả năng thanh toán 80
3.2.5 Huy động vốn và sử dụng vốn hợp lý 81
3.2.6 Tìm kiếm các cơ hội đầu tư 85
3.3 Một số kiến nghị 85
3.3.1 Kiến nghị với ngành 85
3.3.2 Kiến nghị với Công ty 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 AFTA ASEAN Free Trade Area(Khu vực thương mại tự do ASEAN)
6 ROS Return on Salesdoanh thu) (Tỷ suất lợi nhuận trên
7 ROA Return on Assetstài sản) ( Tỷ suất lợi nhuận trên
8 ROE Return on Equity( Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Bảng phân tích cơ cấu và biến động tài
8 Bảng 2.8 Bảng phân tích khả năng thanh toán tổng
9 Bảng 2.9 Bảng phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn 54
10 Bảng 2.10 Bảng phân tích khả năng thanh toán nhanh 55
11 Bảng 2.11 Bảng phân tích khả năng thanh toán bằng tiền 56
Trang 7STT Số hiệu Nội dung Trang
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
2 Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện sự biến động TSDH và TSNH 42
3 Hình 2 3 Biểu đồ thể hiện sự biến động giữa nợ phải trả và VCSH 45
4 Hình 2.4 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của HHC giai đoạn 2011-2013 51
Biểu đổ thể hiện khả năng thanh toán nợ
6 Hình 2.6 Biểu đổ thể hiện khả năng thanh toán nhanh 56
7 Hình 2.7 Biểu đổ thể hiện khả năng thanh toán bằng tiền 57
Biểu đồ thể hiện số vòng quay hàng tồn
9 Hình 2.9 Biểu đồ thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản 60
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng trong quy mô dân số với dân số trẻ, sản xuất bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam Trong khi các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ đang bị thu hẹp dần thì các công ty bánh kẹo lớn trong nước ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng của mình trên thị trường với sự đa dạng trong sản phẩm, chất lượng khá tốt và phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam Trong đó, Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà cũng là một trong những doanh nghiệp có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của ngành sản xuất bánh kẹo tại Việt Nam
Tuy nhiên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, mức độ cạnh tranh trên thị trường bánh kẹo ngày càng gay gắt với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu Do vậy, để đứng vững trên thị trường nội địa, cũng như mở rộng thị trường xuất khẩu thì các doanh nghiệp bánh kẹo phải biết phát huy nội lực, tận dụng những cơ hội và tiềm năng sẵn có của mình, phải biết kinh doanh và kinh doanh có hiệu quả Nhưng để đánh giá được hiệu quả hoạt động, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp mình, các nhà quản lý doanh nghiệp bánh kẹo và các đối tượng quan tâm đều phải dựa vào kết quả phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho các nhà quản lý và các đối tượng quan tâm thấy được bức tranh toàn cảnh về tài chính của doanh nghiệp, thấy được nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cở sở đó đưa ra những quyết định hợp lý và phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng
Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tình hình tài chính trong các Doanh nghiệp nói chung và sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính
Trang 10Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà nói riêng trong giai đoạn hiện nay, tôi
quyết định chọn đề tài: “ Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần
Bánh kẹo Hải Hà” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Phân tích tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp là đề tài đã được sử quan tâm của nhiều tác giả không chỉ ở nước ta mà còn ở tất cả các nước trên thế giới
Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp được trình bày trong các tài liệu xuất bản trong và ngoài nước
Một số luận văn về đề tài phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp như:
- “Phân tích tài chính công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA”, Luận
văn Thạc sỹ của tác giả Ngô Thị Tân Thành năm 2010.Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Khái quát
về công ty Bảo hiểm Nhân thọ AIA, Mỹ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tài chính Công ty Bảo hiểm Nhân thọ AIA Trên cơ sở phân tích, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm cải thiện tình hình tài chính góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh công ty AIA
-“Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần VINACONEX 25”,
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Bùi Văn Lâm viết năm 2011 cũng đề cập đến thực trạng phân tích tình hình tài chính của công ty và đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính phục vụ nhu cầu quản lý tài chính, sản xuất kinh doanh của Công ty
- “Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thực phẩm Đức Việt”, Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đào Thị Bằng viết năm 2012 Hệ thống
hóa cơ sở lý luận làm chỗ dựa cho việc phân tích tài chính công ty Phân tích thực trạng hoạt động tài chính của Công ty CP Thực phẩm Đức Việt, chỉ rõ
Trang 11mặt hạn chế, bất cập và những nguyên nhân của chúng Đề xuất, luận giải các giải pháp cụ thể nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính và nâng cao hiệu qủa tài chính, hiệu quả kinh doanh của công ty
- “Phân tích tài chính Công ty Cổ phần Kinh Đô”, Luận văn Thạc sỹ
của tác giả Vũ Thị Bích Hà viết năm 2012 Trình bày thực trạng tài chính của công ty cổ phần Kinh Đô từ đó chỉ ra nhữngđiểm mạnh cũng như những hạn chế của công ty Phân tích biến động tình hình tài chính trong tương lai mà có biện pháp đối phó thích hợp Đề xuất một số giải pháp thực tế và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý tài chính tại công ty
Các luận văn trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận về phân tích tài chính, phân tích thực trạng hoạt động tài chính của các công ty, và đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính
Về phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà đã có một số công ty chứng khoán và tư vấn tài chính thực hiện phân tích và đưa ra các đánh giá Các bản phân tích và đánh giá này đã đưa ra được những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động tài chính của công ty và là những thông tin cần thiết cho các đối tượng bên trong và bên ngoài công ty
Tuy nhiên trong các phân tích này, một số vấn đề như tốc độ tăng trưởng bền vững của Công ty, mô hình điểm Z ( hệ số phá sản Z) chưa được nhắc đến Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích sâu hơn tình hình tài chính với thông tin,số liệu mới nhất trong báo cáo tài chính để đánh giá tổng quát hơn về hoạt động tài chính của công ty là một việc làm cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Nghiên cứu, phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh
kẹo Hải Hà
* Phạm vi nghiên cứu: Phân tích và đánh giá tình hình tài chính tại
Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà trong giai đoạn 2011-2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích và tổng hợp
Ngoài các phương pháp chung, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tài chính thông dụng như: Phương pháp so sánh, phân tích cơ cấu, phân tích xu hướng Cụ thể :
- Thống kê và tổng hợp số liệu qua các báo cáo tài chính, tài liệu của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà cùng các tài liệu trên báo chí, trang web…
- Phân tích và so sánh các số liệu thực tế thông qua các báo cáo tài chính, tài liệu của Công tyCổ phần Bánh kẹo Hải Hà
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích một cách hệ thống về tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
- Đánh giá một cách khoa học những ưu điểm, hạn chế qua thực trạng tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính Công ty
Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
7 Kết cấu luận văn
- Tên đề tài: “Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Bánh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của
Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Mục tiêu, chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự phân chia, chia nhỏ các sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các bộ phận cấu thành của sự vật, hiện tượng đó Trên cơ sở nhận thức được bản chất, tính chất và hình thức phát triển của các sự vật, hiện tượng đang được nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các sự vật, hiện tượng
Từ khoa học tự nhiên đến khoa học kinh tế, xã hội nói chung và lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng, con người đều sử dụng phân tích như một công cụ chủ yếu nhất để nhận thức nội dung, bản chất, tính chất, hình thức và xu hướng phát triển của các sự vật, hiện tượng
Hoạt động tài chính có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ và biện chứng với các hoạt động khác của doanh nghiệp Do vậy, để nhận thức được bản chất, tính chất và xu hướng phát triển của tài chính doanh nghiệp cần phân chia hoạt động tài chính doanh nghiệp thành các bộ phận cấu thành trong mối quan
hệ với biện chứng giữa các bộ phận và xem xét trong mối quan hệ biện chứng với các hoạt động kinh tế khác
Như vậy, có thể nói rằng: Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, cũng như dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp Từ đó, giúp các đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác
Trang 15về thực trạng tài chính của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm [4, tr.5]
1.1.2 Mục tiêu, chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng theo đuổi những mục tiêu khác nhau, vì vậy phân tích tài chính đối với mỗi đối tượng sẽ đáp ứng những vấn đề chuyên môn khác nhau và có những mục tiêu cũng khác nhau.[4,tr.10]
- Đối với những nhà quản lý: phân tích tài chính nhằm đáp ứng những mục tiêu sau:
+ Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
+ Hướng các quyết định theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như các quyết định về đầu tư, tài trợ và phân phối lợi nhuận
+ Là cơ sở cho những dự đoán tài chính
+ Là công cụ để kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý trong doanh nghiệp
- Đối với các cổ đông hiện tại và những người đang mong muốn trở thành cổ đông của doanh nghiệp: họ quan tâm trực tiếp đến những giá trị tính toán của doanh nghiệp, được hưởng thu nhập là tiền lời được chia và thặng dư giá trị của vốn Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp Vì vậy, phân tích tài chính giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác thực trạng doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khả năng sinh lời và phân tích rủi ro trong kinh doanh
Trang 16- Những người cho doanh nghiệp vay tiền như ngân hàng, các tổ chức tài chính, người mua tín phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay Thu nhập của họ
là lãi suất tiền vay Do vậy, phân tích tài chính đối với những người cho vay
là xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp
- Những người tham gia vào đời sống của doanh nghiệp - những người hưởng lương trong doanh nghiệp: thu nhập của họ là tiền lương được trả và tiền lời được chia nếu có cổ phần trong doanh nghiệp Những khoản này phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm ổn định của mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được phân công đảm nhiệm
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan thuế, tài chính, thống kê: Phân tích tài chính giúp họ đánh giá được thực trạng tài chính, trách nhiệm nộp thuế cho ngân sách của doanh nghiệp, trên cơ sở đó hoạch định chính sách về quản lý tài chính như chống độc quyền, bán phá giá
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan, chủ quan giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm
1.1.2.2.Chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Với vị trí là công cụ của nhận thức các vấn đề liên quan đến tài chính doanh nghiệp, phân tích tài chính doanh nghiệp thực hiện ba chức năng: đánh giá, dự đoán, điều chỉnh [4]
- Chức năng đánh giá: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng dịch chuyển giá trị, các luồng vận động của các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ hoặc vốn hoạt động của
Trang 17doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Thực hiện chức năng đánh giá, phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ trả lời được các câu hỏi: những yếu tố nào tác động đến sự vận động và chuyển dịch? Mức độ và chiều hướng tác động như thế nào, gần với mục tiêu hay ngày càng xa rời mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, có phù hợp với cơ chế chính sách, pháp luật hay không? Quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn hoạt động và các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp diễn ra như thế nào, tác động
ra sao đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp?
- Chức năng dự đoán: bản thân doanh nghiệp dù ở giai đoạn nào trong chu kỳ phát triển thì các hoạt động cũng hướng tới những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này được hình thành từ nhận thức về điều kiện, năng lực của bản thân cũng như những diễn biến của tình hình kinh tế quốc tế, trong nước, ngành nghề và các doanh nghiệp khác cùng loại trong sự tác động của các yếu
tố kinh tế xã hội trong tương lai Vì vậy, để có những quyết định phù hợp và
tổ chức thực hiện hợp lý, đáp ứng được những mục tiêu mong muốn của các đối tượng quan tâm cần phải thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
- Chức năng điều chỉnh: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan
hệ kinh tế tài chính dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động Hệ thống các quan hệ đó bao gồm nhiều loại khác nhau, rất phong phú đa dạng và phức tạp, chịu ảnh hưởng của các nhiều nguyên nhân
và nhân tố cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Vì thế, để có thể kết hợp hài hòa các mối quan hệ, doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan phải điều chỉnh các mối quan hệ và các nghiệp vụ kinh tế nội sinh Muốn vậy, cần nhận thức rõ nội dung, tính chất, hình thức và xu hướng phát triển của các quan hệ kinh tế tài chính có liên quan Phân tích tài chính giúp doanh nghiệp
và các đối tượng quan tâm nhận thức được điều này
Trang 181.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.1 Tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
Tài liệu quan trọng nhất để sử dụng trong phân tích tình hình tài chính của công ty đó là báo cáo tài chính Hệ thống báo cáo tài chính trong doanh nghiệp gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính Trong đó, thường được quan tâm và sử dụng nhiều nhất là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
1.2.1.2 Vai trò của các báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ
sở hữu, công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tinkế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu khi phân tích tài chính doanh nghiệp
a) Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là bảng báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai góc độ là tài sản và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo Do đó, kết cấu của bảng cân đối kế toán gồm hai phần: phần tài sản và phần nguồn vốn
Phần tài sản: Phản ánh giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp Về mặt
kinh tế, đây là phần phản ánh quy mô và kết cấu của các loại tài sản dưới hình thái vật chất (tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu, tài sản cố định) Về mặt pháp lý, số liệu ở phần này phản ánh số tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
Trang 19Phần nguồn vốn: phản ánh các nguồn hình thành nên các loại tài sản
của doanh nghiệp Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu ở phần này phản ánh quy
mô và kết cấu của các nguồn vốn đã được doanh nghiệp đầu tư và huy động vào sản xuất kinh doanh (nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu) Còn về mặt pháp lý, các chỉ tiêu này phản ánh trách nhiệm về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn cho doanh nghiệp (Nhà nước, các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, người lao động…)
Bảng cân đối kế toán do vậy là nguồn thông tin quan trọng cho công tác phân tích tài chính , nó giúp đánh giá được khả năng cân bằng tài chính , khả năng thanh toán, năng lực hoa ̣t đô ̣ng, tài sản hiện có và nguồn hình thành nó ,
cơ cấu vốn của doanh nghiê ̣p
b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là bảng báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tóm lược tình hình doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ
Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng giúp cho nhà phân tích
so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ; so sánh tổng chi phí phát sinh với tổng số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh: lãi lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 20Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động khác và chi phí tương ứng với từng hoạt động đó
Những loại thuế như: VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất không phải là doanh thu và không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không được phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Toàn bộ các khoản thuế đối với doanh nghiệp và các khoản phải nộp khác được thực hiện trong phần II- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính mà doanh nghiê ̣p cần lâ ̣p để cung cấp cho người sử du ̣ng thông tin của doanh nghiê ̣p về những vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào , ra trong doanh nghiê ̣p , tình hình tài trợ , đầu tư bằng tiền của doanh nghiê ̣p trong từng thời kỳ Những luồng tiền vào ra của tiền và các khoản coi như là tiền được tổng hợp và chia thành 3 nhóm:
- Lưu chuyển tiền tê ̣ từ hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh
- Lưu chuyển tiền tê ̣ từ hoa ̣t đô ̣ng đầu tư
- Lưu chuyển tiền tê ̣ từ hoa ̣t đô ̣ng tài chính Trên cơ sở đó, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ Từ đó, có thể thiết lập mức dự phòng tối thiểu cho doanh nghiê ̣p đảm bảo khả năng chi trả
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có mối liên hệ chặt chẽ với bảng cân đối kế toán và bảng kết quả kinh doanh trong phân tích tài chính Đây là cơ sở quan
trọng để nhà quản lý xây dựng kế hoạch quản lý tiền mă ̣t
d) Thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 21Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán
cụ thể Thuyết minh báo cáo tài chính cũng có thể trình bày những thông tin khác nếu doanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý báo cáo tài chính
1.2.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp thực chất bao gồm hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng chuyển dịch và biến đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Tùy vào đối tượng và mục tiêu phân tích cụ thể, người ta có thể chỉ sử dụng một số phương pháp, cũng có thể kết hợp sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau Ở đây, luận văn đề cập đến 3 phương pháp cơ bản, thường được vận dụng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp.[6]
1.2.2.1 Phương pháp phân tích xu hướng
Phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánh các tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính
1.2.2.2 Phương pháp phân tích cơ cấu
Việc phân tích cơ cấu tài chính doanh nghiệp được bắt đầu bằng phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn
Trang 22Phân tích cơ cấu tài sản là việc xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng tài sản và thông qua đó có thể đánh giá được việc bố trí, phân bố vốn, trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp có hợp lý hay không Việc bố trí vốn hợp lý hay không hợp lý sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến việc quản lý, sử dụng vốn cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích cơ cấu nguồn vốn là việc xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn cũng như xem xu hướng biến động của từng nguồn vốn qua các thời kỳ
1.2.2.3 Phương pháp phân tích Dupont
Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu thập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan
hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp
Phương pháp phân tích Dupont là phân tích tổng hợp tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông qua quan hệ của một số chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh thành tích tài chính của doanh nghiệp một cách trực quan, rõ ràng Thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích Dupont để phân tích từ trên xuống không những có thể tìm hiểu được tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại mà còn có thể giúp các nhà quản lý doanh nghiệp làm tối ưu hóa cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài chính, tạo cơ
sở cho việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp
ROA = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản
ROA =
TS
DT DT
LNST TS
LNST
*
Trang 23ROE = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản x Hệ số sử dụng vốn cổ phần
ROE =
VCSH
TS TS
DT DT
LNST VCSH
LNST
*
*
1.2.3 Quy trìnhphân tích tài chính doanh nghiệp
* Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng
lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nó bao gồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về
số lượng và giá trị… Trong đó các thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
*Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc
độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử
lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
*Dự đoán và ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định hoạt động kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu
Trang 24Đối với cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư, đối với cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp
1.3.Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm nhận định sơ bộ thực trạng và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, biết được mức độ độc lập về mặt tài chính cũng như những khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp đang phải đương đầu, nhất là lĩnh vực thanh toán Qua đó các nhà quản lý có thể đề ra các quyết định cần thiết về đầu tư, hợp tác, liên doanh, liên kết, mua bán, cho vay
Với mục đích trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính chỉ dừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánh những nét chung nhất thực trạng hoạt động tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp như: tình hình huy động vốn, khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Mặt khác, hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khái quát tình hình tài chính trên các mặt chủ yếu của hoạt động tài chính cũng mang tính tổng hợp, đặc trưng Việc tính toán những chỉ tiêu này cũng hết sức đơn giản, tiện lợi, dễ tính toán Do vậy để đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích cần sử dụng các chỉ tiêu cơ bản như: Biến động của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận và biến động của dòng tiền
1.3.1.1 Biến động của tài sản, nguồn vốn
a) Biến động của tài sản
Toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm được phản ánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán Nó không những thể hiện
cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo mà
Trang 25còn có khả năng biểu hiện những dấu hiệu tương lai trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài sản là phân tích sự biến động các khoản mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu: sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của từng loại tài sản qua các thời kỳ như thế nào; sự thay đổi này bắt đầu từ những dấu hiệu chủ động hay bị động trong quá trình kinh doanh; có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho kế hoạch, chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp hay không
b) Biến động của nguồn vốn
Nếu như toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo được phản ánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán, thì nguồn hình thành nên chúng được phản ánh trên phần nguồn vốn của cùng bảng cân đối
kế toán đó Phân tích sự biến động các khoản mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu: sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào; sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình kinh doanh; có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ, khả năng khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không
Phân tích biến động của nguồn vốn ta dùng bảng cân đối kế toán làm tài liệu phân tích chủ yếu Việc phân tích này cho phép nắm được tổng quát diễn biến thay đổi của nguồn vốn và sử dụng vốn trong mối quan hệ với vốn bằng tiền của doanh nghiệp, trong một thời kỳ nhất định giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán Từ đó, giúp doanh nghiệp có thể định hướng cho việc huy động vốn và sử dụng vốn ở thời kỳ tiếp theo
Về cách thức thực hiện, để phân tích biến động của nguồn vốn người ta
so sánh các chỉ tiêu cuối kỳ với đầu kỳ Sự thay đổi của từng khoản mục là
Trang 26căn cứ xem xét và phản ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hay diễn biến nguồn vốn theo nguyên tắc:
- Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn
- Diễn biến nguồn vốn sẽ tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản Biến động của nguồn vốn được đặt trong mối quan hệ với vốn bằng tiền Các khoản mục liên quan đến nguồn vốn và sử dụng vốn được sắp xếp theo hình thức một bảng cân đối Qua bảng này, người phân tích có thể xem xét và đánh giá tổng quát: số vốn tăng hay giảm trong kỳ đã được sử dụng vào việc gì và các nguồn phát sinh dẫn đến việc tăng, giảm vốn Trên cơ sở phân tích đó có thể định hướng huy động vốn cho kỳ tiếp theo
Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng (giảm) bao nhiêu? tình hình sử dụng vốn như thế nào? Những chỉ tiêu nào là chủ yếu ảnh hưởng tới sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp? Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Nhìn chung, trong quá trình phân tích phải đồng thời xem xét mối quan
hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Mối quan hệ chặt chẽ này được thể hiện qua quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn tài trợ ngắn hạn, giữa tài sản dài hạn và nguồn tài trợ dài hạn Qua đó xem xét, đánh giá xem doanh nghiệp đã đảm bảo được cân bằng tài chính hay chưa
1.3.1.2 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận
a) Phân tích doanh thu
Doanh thu là một chỉ tiêu rất quan trọng, khi phân tích doanh thu ta cần
so sánh giữa các chỉ tiêu biến động với doanh thu thuần để đánh giá hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp tăng hay giảm so với kỳ trước hoặc so với
doanh nghiệp khác là cao hay thấp Nếu mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm, mức sinh lợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng
Trang 27so với kỳ gốc và so với các doanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ tăng lên và ngược lại mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng, mức sinh lợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm so với kỳ gốc và so với các doanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ là thấp đi
b) Phân tích chi phí
- Phân tích các chỉ tiêu chi phí trên báo cáo kết quả kinh doanh
- Phân tích các tỷ suất phản ánh mức độ sử dụng chi phí và kết quả kinh doanh
Phương pháp phân tích là so sánh các chỉ tiêu kỳ này với kỳ trước
c) Phân tích lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh Việc phân tích lợi nhuận giúp ta đánh giá được số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, kết quả sử dụng các yếu tố sản xuất về tiền vốn, lao động, vật tư Khi so sánh lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch hay so với kỳ trước ta thấy được sự tăng giảm của lợi nhuận từ các hoạt động
1.3.1.3 Biến động của dòng tiền
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tác dụng rất quan trọng trong việc phân tích, đánh giá khả năng tạo ra tiền, khả năng đầu tư, thanh toán tiềm lực thực
sự của doanh nghiệp trong xu hướng phát triển, mở rộng hay đi xuống, thấy được năng lực quản lý dòng tiền của doanh nghiệp Để quản trị tốt dòng tiền doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích và hoạch định dòng tiền thông qua phân tích thực tế dòng tiền thu - chi - cân đối thu chi
1.3.2 Các nhóm hệ số tài chính
Các nhà tài chính còn dùng các hệ số tài chính để giải thích thêm về các mối quan hệ tài chính Mỗi một doanh nghiệp khác nhau, có các hệ số tài chính khác nhau Do đó người ta coi các hệ số tài chính là những biểu hiện
Trang 28đặc trưng nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định [6,7]
Các nhómhệ số tài chính đặc trưng bao gồm:
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
- Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản
- Nhóm chỉ tiêu về đòn bẩy tài chính
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
- Nhóm các hệ số giá trị thị trường
- Nhóm các hệ số tăng trưởng
1.3.2.1 Khả năng thanh toán
Tình hình tài chính của doanh nghiệp trước hết được phản ánh qua khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Vì thế, đây là nhóm chỉ tiêu được nhiều đối tượng quan tâm nhất như tổng cục thuế, nhà đầu tư
+ Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản
mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng với số nợ phải trả
Hệ số này được tính theo công thức:
Hệ số thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Tổng nợ phải trả
+Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Hệ số khả năng thanh toán tạm thời là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán tạm thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn
Hệ số này được tính theo công thức:
Hệ số thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Trang 29+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh cũng tương tự như hệ số khả năng thanh toán hiện hành, nhưng là số đo thanh khoản chặt chẽ hơn vì nó loại trừ tồn kho ra tài sản lưu động hiện hành
Hệ số
Tài sản lưu động – hàng hóa tồn kho
+ Hệ số thanh toán bằng tiền (tức thời)
Hệ số này đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp một cách hữu hiệu nhất, nó cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tiền và chứng khoán dễ bán của doanh nghiệp
Tiền
Nợ ngắn hạn Khả năng thanh khoản cao thì rủi ro thanh khoản sẽ thấp, tuy nhiên lợi nhuận có thể thấp vì tiền mặt nhiều, phải thu nhiều và hàng tồn kho nhiều
Khả năng thanh toán thấp thì rủi ro thanh khoản sẽ cao, tuy nhiên lợi nhuận có thể cao vì tài sản lưu động được sử dụng hiệu quả, nguồn vốn đầu tư cho tài sản lưu động nhỏ, ROA và ROE có thể tăng
Trang 301.3.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản
Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp đòi hỏi phải đầu tư vào cả tài sản ngắn hạn (hàng tồn kho và các khoản phải thu) và tài sản cố định (bất động sản, đất đai và trang thiết bị)
+ Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho=
Doanh thu Hàng tồn kho bình quân Trong đó, doanh thu là doanh số của toàn bộ hàng hóa tiêu thụ trong kỳ không phân biệt đã thu tiền hay chưa, trừ đi phần hoa hồng chiết khấu, giảm giá hay hàng hóa bị trả lại Còn hàng hóa tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu , sản phẩm dở dang, thành phẩm, vật liệu phụ còn tồn trong kho Độ lớn của quy mô tồn kho tùy thuộc vào sự kết hợp của nhiều yếu tố như: ngành kinh doanh, thời điểm phân tích, mùa vụ Trong quá trình tính toán, chúng ta cần lưu ý: Mặc dù doanh thu được tạo ra trong suốt năm, nhưng giá trị hàng tồn kho trong Bảng cân đối là mức tồn kho tại một thời điểm cụ thể, do vậy khi tính chúng ta phải lấy giá trị tồn kho trung bình năm
Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của các loại hàng hóa thành phẩm, nguyên vật liệu, là chỉ tiêu phản ánh năng lực tiêu thụ hàng hóa và tốc độ vòng quay hàng tồn kho, đồng thời để ước lượng hiệu suất quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp và là căn cứ để người quản
lý tài chính biết được doanh nghiệp bỏ vốn vào lượng hàng tồn quá nhiều hay không Do đó, nhìn chung hàng tồn kho lưu thông càng nhanh càng tốt Nếu mức quay vòng hàng tồn kho quá thấp, chứng tỏ lượng hàng tồn quá mức, sản phẩm bị tích đọng hoặc tiêu thụ không tốt sẽ là một biểu hiện xấu trong kinh doanh, vì hàng tồn kho còn trực tiếp liên quan đến năng lực thu lợi của doanh nghiệp
Trang 31+ Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bình quân ngày
= Vòng quay khoản phải thu Trong đó, các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu tiền
có thể là hàng bán trả chậm, hàng bán chịu hay bán được mà chưa thu tiền, các khoản tạm ứng chưa thanh toán, các khoản trả trước cho người bán
Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán, cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp Vì nếu các khoản phải thu của doanh nghệp không được thu hồi đủ, đúng hạn thì không những gây tổn thất đọng nợ cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới năng lực kinh doanh
Số ngày trong kỳ bình quân thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ khó đòi, tốc độ thu hồi nợ nhanh và hiệu quả quản lý cao
Đồng thời, việc nâng cao mức quay vòng của các khoản thu còn có thể giảm bớt kinh phí thu nợ và tổn thất tồn đọng vốn, làm cho mức thu lợi của việc đầu tư tài sản lưu động của doanh nghiệp tăng lên tương đối Ngược lại, nếu tỷ số này cao thì doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ Trong nhiều trường hợp, có thể
do kết quả thực hiện một chính sách tín dụng nghiêm khắc, các điều kiện trả
nợ hà khắc làm cho lượng tiêu thụ bị hạn chế, nên công ty muốn chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trả chậm hay tài trợ nên có kỳ thu tiền bình quân cao
Điều đáng lưu ý khi phân tích là kết quả phân tích có thể được đánh giá là rất tốt, nhưng do kỹ thuật tính toán đã che dấu những khuyết điểm trong việc
Trang 32quản trị các khoản phải thu Nên cần phải phân tích định kỳ các khoản phải thu
để sớm phát hiện các khoản nợ khó đòi để có biện pháp xử lý kịp thời
+ Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần
Tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này nhằm đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Nó cho biết với một đồng tài sản ngắn hạn doanh nghiệp bỏ ra trong một kỳ kinh doanh thì sẽ thu được về bao nhiêu đồng doanh thu
+ Hiệu quả sử dụng tài sản cố định (vòng quay tài sản cố định)
Hệ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần
TSCĐ bình quân Muốn đánh giá việc sử dụng tài sản dài hạn có hiệu quả không phải so sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc so sánh với các thời kỳ trước Tuy nhiên, khi phân tích hệ số này cần lưu ý là trong tài sản dài hạn có tài sản
cố định mà tài sản cố định phải được xác định theo giá trị còn lại tại thời điểm báo cáo
+ Hiệu quả sử dụng tổng tài sản (vòng quay toàn bộ tài sản)
Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu quả sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân Nếu như trong các thời kỳ, tổng mức tài sản của doanh nghiệp đều tương đối ổn định, ít thay đổi thì tổng mức bình quân có thể dùng số bình quân của mức tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ Nếu tổng mức tài sản có sự thay
Trang 33đổi biến động lớn thì phải tính theo tài liệu tỷ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phân tử và mẫu số trong công thức phải lấy trong cùng một thời kỳ Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng tốt Giá trị của chỉ tiêu càng cao chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của doanh nghiệp càng cao Nếu ngược lại, thì chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp chưa được sử dụng
có hiệu quả
1.3.2.3 Đòn bẩy tài chính
Các doanh nghiệp luôn muốn thay đổi tỷ trọng các loại nguồn vốn theo
xu hướng hợp lý nghĩa là tìm cho chúng một kết cấu tối ưu nhất Nhưng kết cấu này luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư Vì vậy tìm hiểu về hệ số nợ trên tổng tài sản, hệ số nợ trên VCSH và tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn sẽ cung cấp cho các nhà quản trị một cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính doanh nghiệp
Chủ nợ thường thích công ty có hệ số nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có hệ số cao vì sử dụng đòn bẩy tài chính nói chung gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông
+ Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu:
Trang 34ro thấp Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay
nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế
+ Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định Khoản tiền mà doanh nghiệp dùng để trả lãi vay là thu nhập trước thuế và lãi vay Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết công ty sẵn sàng trả lãi đến mức nào Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể đem lại khoản lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vay hay không
Khả năng thanh toán lãi vay = EBIT
Lãi vay Lãi vay bao gồm tiền lãi phải trả cho các khoản vay ngắn hạn, vay dài hạn và tiền lãi của các hình thức vay mượn khác như trả lãi trái phiếu
Lãi vay được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của doanh nghiệp nên tạo ra phần tiết kiệm thuế Do vậy, doanh nghiệp có thể cân nhắc lựa chọn một mức
sử dụng nợ hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào Việc không trả được các khoản nợ sẽ thể hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản
1.3.2.4 Khả năng sinh lời
Để phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất - kinh doanh và hiệu năng quản lý, chúng ta cần phải tính toán các tỷ số lợi nhuận Thông qua các tỷ số
Trang 35lợi nhuận, các nhà quản lý đánh giá năng lực thu lợi của doanh nghiệp vì lợi
nhuận là kết quả cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp, thu được lợi
nhuận là mục tiêu chủ yếu của sự tồn tại doanh nghiệp
Đây là những chỉ tiêu thường được các nhà quản trị, các nhà đầu tư…
quan tâm xem xét bởi họ đặc biệt chú ý đến khả năng sử dụng tài sản một
cách có hiệu quả nhất, để mang lại lợi tức cao nhất
+ Tỷ suất doanh lợi (biên lợi nhuận) (ROS)
Doanh thu thuần
Để xác định chỉ tiêu này tốt hay không tốt,ngoài việc so sánh nó với chỉ
tiêu trong năm gốc và kế hoạch để có thể thấy rõ xu hướng phát triển của
doanh nghiệp, nhà quản lý còn phải xem tính chất của ngành kinh doanh mà
doanh nghiệp đang hoạt động Chẳng hạn có những ngành mang tính chất
sinh lợi cao như khai khoáng (thường >20%), nhưng cũng có ngành chỉ đạt 2
– 5% như ngành thương mại
+ Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của tài sản (%) = Lợi nhuận sau thuế
Tài sản bình quân ROA cho biết hiệu quả sử dụng của tài sản trong hoạt động tại doanh nghiệp
Chỉ tiêu trên cho biết cần phải có bao nhiêu đồng tài sản để tạo ra 1 đồng lợi
nhuận sau thuế
+ Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời của VCSH (%) =
Vốn chủ sở hữu bình quân ROE cho biết tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là bao nhiêu, thường được
những người góp vốn và các cổ đông quan tâm
Trang 36Tương tựROA, ROE cho thấy hiệu quả của việc đầu tư vốn chủ sở hữu trong kinh doanh
1.3.2.5.Nhóm các hệ số giá trị thị trường
+ Thu nhập trên mỗi cổ phần thường (EPS)
Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức:
EPS = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông
Trong việc tính toán EPS, sẽ chính xác hơn nếu sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kỳ
EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E
+ Hệ số P/E:
P/E được tính bằng cách lấy giá thị trường bình quân của cổ phiếu do doanh nghiệp phát hành trong một kỳ nhất định chia cho thu nhập bình quân trên một cổ phần mà doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư trong kỳ đó
Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau: P/E = P/EPS
Trang 37Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao
+ Tỷ số M/B:
- Tỷ số M/B giữa giá thị trường (Market value) và giá trị sổ sách (Book value)
M/B = Giá thị trường của cổ phiếu/Giá trị sổ sách của cổ phiếu
- Ý nghĩa của giá trị sổ sách chính là số tiền thực sự được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp và giá trị gia tăng cho nền kinh tế; ý nghĩa của giá thị trường là mức độ kỳ vọng của công chúng vào khả năng tạo ra tiền trong tương lai của doanh nghiệp; và tỷ số M/B thể hiện lợi nhuận mà một đồng tiền thực tạo sẽ phải gánh cho M/B đồng kỳ vọng
1.3.2.6 Đánh giá rủi ro phá sản (hệ số phá sản Z)
Hệ số nguy cơ phá sản, hay còn gọi là Z score do nhà kinh tế học Hoa
Kỳ Edward I Altman, giảng viên trường đại học New York thiết lập Hệ số này có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá tốt rủi ro tốt hơn, thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần Hệ số này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp chứ không áp dụng cho các định chế tài
Trang 38chính như ngân hàng hay là các công ty đầu tư tài chính Công thức tính hệ số nguy cơ phá sản:
Z score = 1,2X1+1,4X2+3,3X3+0,6X4+1,0X5
Trong đó:
X1 = Vốn lưu động ròng (= [Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn]/Tổng tài sản) X2 = Lợi nhuận chưa phân phối/Tổng tài sản
X3 = EBIT (Lợi nhuận trước lãi vay và thuế)/Tổng tài sản
X4 = (Giá thị trường của cổ phiếu*Số lượng cổ phiếu lưu hành)/Tổng nợ X5 = Hiệu quả sử dụng tài sản =Doanh thu/Tổng tài sản
Nếu Z Score ≥ 2.99 thì doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh Nếu 1.81<Z-Score<2.99 thì doanh nghiệp không có vấn đề trong ngắn hạn, tuy nhiên cần phải xem xét điều kiện tài chính một cách thận trọng
Nếu Z-Score ≤ 1.81 thì doanh nghiệp có vấn đề nghiêm trọng về tài chính
1.3.2.7 Tỷ số tăng trưởng
Đây là nhóm tỷ số phản ánh mức tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhóm tỷ số này gồm 2 tỷ số là:
+ Tỷ số tăng trưởng nội tại:
- Tỷ số lợi nhuận giữ lại
Tỷ số lợi nhuận giữ lại (hay hệ số tái đầu tư) là một tỷ số tài chính đánh giá mức độ sử dụng lợi nhuận sau thuế cho tái đầu tư của doanh nghiệp Tỷ số này được tính bằng cách lấy lợi nhuận giữ lại chia cho lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ số này cho biết cứ trong 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì doanh nghiệp giữ lại bao nhiêu đồng để tái đầu tư Tỷ số càng lớn tức là doanh nghiệp tái đầu tư càng mạnh
Trang 39- Tỷ số tăng trưởng nội tại (IGR)
ROA x b IGR =
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
BÁNH KẸO HẢI HÀ
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty
Tên giao dịch: Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Tên giao dịch hợp pháp của Công ty bằng tiếng Anh:
HAIHA CONFECTIONERY JOINT - STOCK COMPANY
Tên viết tắt của Công ty: HAIHACO
Số giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: 0101444379
Vốn điều lệ : 82.125.000.000 đồng
Vốn đầu tư của chủ sở hữu: 82.125.000.000 đồng
Mã cổ phiếu : HHC
Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà là Công ty cổ phần được chuyển đổi
từ Công ty Bánh Kẹo Hải Hà theo Quyết định số 191/2003/QĐ-BCN ngày 14/11/2003 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương)
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà, tên giao dịch quốc tế là Haiha Confectionery Joint-Stock Company (HAIHACO) Công ty được thành lập ngày 25/12/1960, hơn 50 năm phấn đấu và trưởng thành, từ một xưởng làm nước chấm và magi đã trở thành một trong những nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với trên 1.200 CBCNV, gồm 7 phòng ban, 05 xí nghiệp thành viên đặt tại Hà Nội, Việt trì, Nam Định và các chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng
Tháng 01/2004: Công ty đã chuyển đổi thành Công ty cổ phần với Vốn điều lệ ban đầu là 36,5 tỷ đồng, trong đó 51% vốn của nhà nước, 49% vốn của