Đề tài về :Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính
Trang 1Trờng đại học vinh
lê thị hiền
ngôn ngữ thơ tình
nguyễn bính
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Trang 2Vinh - 2008
2
Trang 3Trờng đại học vinh
Trang 4Vinh - 2008
4
Trang 5Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Phơng pháp nghiên cứu 7
5 Cái mới của đề tài 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chơng 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài 8
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ 8
1.1.1 Sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi 8
1.1.2 Đặc trng của ngôn ngữ thơ 10
1.1.3 Các lớp từ giàu màu sắc biểu cảm trong thi ca Việt Nam.12 1.1.4 Các biện pháp tu từ thờng dùng trong thơ ca 14
1.2 Nguyễn Bính - cuộc đời về thơ ca 20
1.2.1 Cuộc đời và tác phẩm 20
1.2.2 Thơ tình trong thơ Nguyễn Bính 21
Chơng 2 Cấu trúc và âm điệu thơ tình Nguyễn Bính 26
2.1 Các thể thơ tiêu biểu trong thơ tình Nguyễn Bính 26
2.1.1 Kết quả thống kê phân loại về thể thơ 26
2.1.2 Tổ chức của bài thơ tình Nguyễn Bính 47
2.1.3 Khổ thơ trong thơ tình Nguyễn Bính 49
2.2 Âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính 53
2.2.1 Vần điệu trong thơ tình Nguyễn Bính 56
2.2.2 Nhịp điệu trong thơ tình Nguyễn Bính 58
2.2.3 Thanh điệu trong thơ tình Nguyễn Bính 60
Trang 6* TiÓu kÕt ch¬ng 2 61
6
Trang 73.1 Từ ngữ giàu giá trị biểu cảm trong thơ tình Nguyễn Bính 62
3.1.1 Từ láy âm trong thơ tình Nguyễn Bính 62
3.1.2 Từ tình thái trong thơ tình Nguyễn Bính 64
3.1.3 Từ địa phơng trong thơ tình Nguyễn Bính 69
3.1.4 Từ khẩu ngữ trong thơ tình Nguyễn Bính 71
3.2 Từ ngữ biểu thị tình yêu trong thơ tình Nguyễn Bính 72
3.2.1 Động từ biểu thị tình yêu 73
3.2.2 Danh từ biẻu thị tình yêu 90
3.2.3 Cụm từ biểu thị tình yêu trong thơ tình Nguyễn Bính 92
3.3 Các biện pháp tu từ thờng dùng trong thơ tình Nguyễn Bính 98
3.3.1 Biện pháp ẩn dụ 98
3.3.2 Biện pháp so sánh 100
3.3.3 Biện pháp đối 105
3.3.4 Biện pháp điệp 107
* Tiểu kết chơng 3 109
Kết luận 110
Tài liệu tham khảo 112
Trang 8Lời mở đầu
Đề tài đợc thực hiện đúng thời gian quy định, chúng tôi nhận đợc sự hớng dẫn thờng xuyên và nhiệt tình của TS Trần Văn Minh, nhận đợc sự chỉ bảo tận tình, quý báu của các thầy cô giáo tổ Lý luận Ngôn ngữ Trờng Đại học Vinh
Qua đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới thầy
TS Trần Văn Minh, các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn này
Với thời gian và khả năng có hạn, những gì làm đợc ở đề tài này chỉ là
b-ớc đầu, chúng tôi chân thành mong nhận đợc sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và các bạn để có thể bổ sung cho đề tài đợc hoàn chỉnh hơn
Vinh, tháng 12 năm 2008
Tác giả
Trang 9Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ nổi tiếng những thập niên
30 - 60 của thế kỷ trớc trong văn học hiện đại Việt Nam Ông có một phong cách thơ đợc nhiều thế hệ đơng thời mến mộ, đặc biệt có nhiều bài tuy sáng tác trong phong trào Thơ Mới nhng đậm chất trữ tình dân gian cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện Di sản thơ Nguyễn Bính nói chung, thơ tình Nguyễn Bính nói riêng đã đợc nhiều ngời quan tâm nghiên cứu về mặt nội dung và nghệ thuật Tuy vậy, cho đến nay phơng diện ngôn ngữ trong thơ tình của ông vẫn cha nhận đợc sự quan tâm thích đáng Ngôn ngữ có vai trò “là phơng tiện thứ nhất của văn học”, nên chắc chắn việc khảo sát kỹ lỡng hệ thống ngôn ngữ trong thơ tình Nguyễn Bính sẽ góp phần xác định những điểm độc đáo, đặc sắc
về hình thức biểu hiện, nhất là về cấu trúc, âm điệu, các lớp từ giàu giá trị biểu nghĩa và các biện pháp tu từ nổi bật Đề tài luận văn “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” chúng tôi đi theo hớng tiếp cận thơ Nguyễn Bính dựa trên quan
hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức cũng nh quan hệ giữa cá tính của nhà thơ
và thi phẩm của ông Mặt khác, kết quả khảo sát “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” có thể góp phần lý giải tại sao mảng thơ này lại có sức cuốn hút nhiều thế
hệ ngời Việt đến vậy
1.2 Là một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung, nên khá nhiều bài thơ của Nguyễn Bính đợc đa vào giảng dạy ở trờng phổ thông Trong chơng trình đào tạo
cử nhân Ngữ văn ở các trờng đại học và cao đẳng, Nguyễn Bính luôn có vị trí một tác giả lớn Tuy vậy, phơng diện ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính nói chung, ngôn ngữ trong những bài thơ của Nguyễn Bính đợc giảng dạy ở nhà trờng nói riêng cha đợc
đề cập, phân tích Đề tài luận văn “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” chúng tôi lựa chọn và thực hiện với mong muốn tiếp cận mảng thơ tình của Nguyễn Bính từ góc
độ ngôn ngữ, qua đó góp phần nhỏ vào việc dạy học tác giả và tác phẩm Nguyễn Bính trong nhà trờng hiện nay
Trang 102 Lịch sử vấn đề
Trong nhiều thập kỷ qua, thơ Nguyễn Bính đã trở thành đối tợng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình yêu thích thơ ông và đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ viết về cuộc đời và tác phẩm Nguyễn Bính với quy mô và hớng tiếp cận, nghiên cứu khác nhau
Trớc cách mạng tháng tám thẩm định hay nhất, gợi đúng cái “Chân quê” của hồn thơ Nguyễn Bính phải kể đến bài giới thiệu về Nguyễn Bính của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh là ngời đầu tiên nhận ra vẻ đẹp kín đáo đậm đà của hồn thơ Nguyễn Bính đồng thời đã cắt nghĩa về sự quan tâm cha thích đáng của giới nghiên cứu đối với thơ ông “Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm đợc một số đông công chúng mộc mạc khó lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính họ
sẽ bảo “Thơ nh thế này có gì?” Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà ngời ta không thể hiểu bằng một lý trí, một điều đáng quý vô ngần “hồn xa đất nớc” Nguyễn Bính đã đánh thức ngời nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng chúng ta” [30; 334]
Cùng thời với Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại cũng chỉ ra thứ tình quê xác thực đợc toát lên từ những câu thơ mang dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính [27; 701], Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cao thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là mảng thơ viết về làng quê
Hai nhà nghiên cứu đã có cái nhìn tinh tế, nhạy cảm trong việc nhận diện một hồn thơ độc đáo, một lối đi riêng của Nguyễn Bính Những ý kiến trên có ý nghĩa định hớng, tin cậy cho công việc nghiên cứu thơ của Nguyễn Bính sau này
Trong kháng chiến chống Pháp, những vần thơ xa của ông vẫn đợc trân trọng Năm 1951, nhà xuất bản Hơng Sơn cho tái bản liên tiếp hai tập thơ Hơng
cố nhân và Mây tần Trong thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh nên việc
nghiên cứu thơ Nguyễn Bính có nhiều hạn chế
10
Trang 11ở miền Nam, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính đợc chú ý hơn Thơ Nguyễn Bính đợc tái bản trong giáo trình của Đại học Văn khoa Sài Gòn, đợc
đánh giá thẩm định trong một số chuyên luận về thơ tiền chiến Đáng chú ý hơn cả là “Việt Nam thi nhân tiền chiến” (Quyển thợng) - Sài Gòn (1968) của soạn giả Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng Đặc biệt trong tập san văn học số
60 có nhiều bài viết về Nguyễn Bính và thơ ông: Nguyễn Bính - thi sĩ suốt đời mang bệnh tơng t (Vũ Bằng), Nguyễn Bính - nhà thơ kháng chiến tại miền nam (Thái Bạch), Nguyễn Bính một ngôi sao sáng trên thi đàn dân tộc (Nguyễn Phan) Tuy số lợng bài viết trong thời gian này khá nhiều song thành tựu cha
đáng kể
Thơ Nguyễn Bính đợc nghiên cứu rầm rộ đặc biệt sau năm 1985, khi ngời
ta có cái nhìn thận trọng, đúng dắn và sáng suốt hơn với văn học quá khứ trong
đó có phong trào Thơ Mới Cũng nh một số nhà Thơ Mới khác nh Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên hàng loạt tập thơ và tuyển chọn thơ Nguyễn Bính…
đợc xuất bản: “Thơ Nguyễn Bính” (Nxb văn học, 1986), “Tuyển tập Nguyễn Bính” (Nxb văn học, 1986), “Thơ tình Nguyễn Bính” (Nxb Đồng Nai, 1996),
“Thơ Nguyễn Bính chọn lọc” (Nxb văn học, 1992)
Thơ Nguyễn Bính cũng đợc nhắc đến nhiều trong các bài giới thiệu hoặc trong các chuyên luận về văn chơng: “Ngôn ngữ thơ” (Nguyễn Phan Cảnh, 2001), “Giáo trình văn học Việt Nam 1930 - 1945” (Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà Minh Đức), “Thơ với lời bình” (Vũ Quần Phơng, 1992),
“Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca” (Hà Minh Đức, 1993)
Năm 1992 nhà xuất bản hội nhà văn cho ra mắt “Nguyễn Bính - thi sĩ của thơng yêu” do Hoài Việt su tầm và biên soạn Năm 1996 nhà xuất bản văn học
ấn hành cuốn sách “Nguyễn Bính - thi sĩ của đồng quê” Năm 1994 nhà xuất bản văn học Hà Nội ra mắt bạn đọc cuốn “Nguyễn Bính thơ và đời” do Hoàng Xuân su tầm và biên soạn Gần đây nhất là cuốn “Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mạc Tử” của tác giả Chu Văn Sơn, “Nguyễn Bính
Trang 12hành trình sáng tạo thi ca” của Đoàn Đức Phơng (2006) Những công trình này
đã thu hút sự chú ý của nhiều ngời yêu thơ Đó là cha kể hàng loạt bài viết của các nhà văn hoặc nhà nghiên cứu phê bình khác nh Tô Hoài, Lại Nguyên Ân,
Đoàn Hơng, Đỗ Lai Thuý, Đức Phơng, Phơng Lan Thơ Nguyễn Bính đã thở thành đề tài quen thuộc của nhiều khoá luận, luận văn, luận án trong cả nớc
Nhìn chung qua các thời kỳ khác nhau, thơ Nguyễn Bính có những thăng trầm, nhng việc cảm thụ, đánh giá thơ Nguyễn Bính ít có những khác biệt hoặc những mâu thuẫn gay gắt Về căn bản, những nhận xét đánh giá của giới phê bình về Nguyễn Bính khá thống nhất Dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Bính vẫn đợc xem là nhà thơ của “Chân quê”, “Hồn quê”, “Tình quê”
Trong thời gian dài, thơ Nguyễn Bính đã đợc nghiên cứu xem xét ở nhiều góc độ từ nội dung đến nghệ thuật, từ t tởng đến phong cách, từ giọng điệu đến kết cấu Cha có một tác giả nào trực tiếp nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính một cách tập trung có hệ thống Một số tác giả có đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính Chẳng hạn các bài viết của Hà Minh Đức, Đoàn Hơng, Phơng Lan, Hoài Việt Tóm lại ch… a có một công trình nào đi sâu nghiên cứu khía cạnh hình thức thơ tình Nguyễn Bính một cách đầy đủ cụ thể và có hệ thống
* Lịch sử nghiên cứu thơ tình Nguyễn Bính
Ngời đầu tiên đề cập đến thơ tình Nguyễn Bính đó là nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” nhạy cảm, tinh tế Hoài Thanh đã phát hiện ra
vẻ đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính Đó là chất “Chân quê” là “hồn
xa đất nớc”, một phẩm chất “quý giá vô ngần” mà chúng ta không hiểu đợc bằng lý trí
Trong lời giới thiệu tập “Chân quê” Mã Giang Lân cũng có băn khoăn giữa tính chất “Chân quê” với Thơ Mới trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính:
“Trong thơ Nguyễn Bính bên cạnh những câu thơ duyên dáng thuần thục nh ca
12
Trang 13dao ta thấy xen vào những câu thơ quá mới nên thơ ông giống ca dao mà cũng khác ca dao” [21; 17].
Hoài Việt (trong “Nguyễn Bính thi sĩ của thơng yêu”) đã có nhận xét công bằng hơn “Có ngời trách anh từ khi “đi tỉnh về” thì để cho “hơng đồng gió nội bay đi ít nhiều” chúng tôi không nghĩ thế có “Đi tỉnh” trong thơ anh mới có
đợc cách ngắt nhịp, đặt câu kể cả việc cấu tứ, lập ý góp cho thơ anh vừa dân tộc vừa hiện đại, toàn bộ thơ anh hợp thành một “tổ khúc đồng nội” không lẫn với
ai, không lẫn vào đâu đợc” [12; 258]
Có thể thấy, các nhận định đánh giá của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính đều gặp nhau ở điểm: ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính vừa truyền thống vừa hiện đại nhng nghiêng về truyền thống, gần gũi với ca dao hơn
là sự cách tân, đây cũng là chỗ đặc sắc hơn ngời của Nguyễn Bính
Còn Phơng Lan và Vũ Quần Phơng đều khẳng định đóng góp riêng, đặc sắc của thơ tình Nguyễn Bính trên thi đàn Thơ Mới “Khi Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và phần lớn các nhà thơ đơng thời chịu ảnh hởng của phơng Tây
và chính điều đó mang lại cho phong trào Thơ Mới những đặc sắc thì Nguyễn Bính mang đến cho phong trào Thơ Mới một phong cách mộc mạc, chân quê, một lối ví von đậm đà màu sắc ca dao” [12; 209]
Đỗ Đình Thọ trong “Đôi lời cuốn sách” đã cảm nhận đợc vẻ đẹp ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính “Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn bính mộc mạc mà duyên dáng, chân chất mà điêu luyện, đôi lúc xuất thần tạo nên một tứ lạ cuốn hút ng-
ời đọc đến bất ngờ” [12; 301]
Mỗi tác giả đều có những tìm tòi phát hiện những cái riêng của ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính Trong chuyên luận “Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê”
Hà Minh Đức cho rằng: “Nguyễn Bính thích những ngôn ngữ nhiều màu sắc trong thơ Nếu Hàn Mặc tử nói nhiều đến hơng vị trong đời, trong thơ, thì Nguyễn Bính lại chuộng màu sắc” [12; 160]
Trang 14Trong bài viết “Thi pháp dân gian trong thơ Nguyễn Bính”, Nguyễn Quốc Tuý cho rằng: “Ngôn ngữ Thơ Mới dân gian Nguyễn Bính trớc hết là ngôn ngữ của ca dao của thơ ca dân gian nói chung và rộng hơn nữa là ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày của quảng đại quần chúng nhân dân đợc nhà nghệ sĩ dân gian Nguyễn Bính chọn lọc mài giũa và tinh luyện” [12; 352].
Nhìn chung những bài viết của những tác giả trên có những phát hiện, nhận định, mới mẻ về các khía cạnh ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính Tuy nhiên các nhà nghiên cứu chỉ đề cập ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính nh là những dẫn chứng để minh hoạ cho những phát hiện về những vấn đề lớn nh thế giới nghệ thuật thơ, phong cách thơ, thể loại thơ, bản sắc thơ Nguyễn Bính Cha có công trình nào dành riêng nghiên cứu ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính một cách đầy
đủ mang tính hệ thống
Trên cơ sở lựa chọn đề tài “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” ngời viết sẽ tập trung khảo sát, đi sâu tìm hiểu hình thức ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính một cách có hệ thống để làm nổi bật những nét cơ bản của hình thức ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của đề tài
Qua khảo sát bộ phận thơ tình Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ, đề tài có mục đích góp phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, một phong cách thơ có sự nối kết hiệu quả giữa truyền thống và cách tân trong nền thơ Việt Nam giữa thế kỉ XX
3.2 Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu
Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Khảo sát và miêu tả về cấu trúc và âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính
14
Trang 15- Khảo sát và miêu tả các lớp từ và các biện pháp tu từ nổi bật trong thơ tình Nguyễn Bính.
Luận văn tập trung khảo sát 106 bài thơ tình (đợc sáng tác trớc cách mạng tháng tám năm 1945) có trong tập thơ: Thơ tình Nguyễn Bính (Nxb Đồng
Nai, 1996) và Tuyển tập Nguyễn Bính (Nxb văn học, Hà Nội 1986).
đó khái quát thành các luận điểm cơ bản
- Phơng pháp so sánh - đối chiếu: Đợc dùng khi so sánh đối chiếu với nhà thơ cùng thời về sử dụng ngôn ngữ để làm rõ những đặc điểm riêng về phong cách ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính
5 Cái mới của đề tài
Chúng tôi hy vọng đây là một trong những luận văn đầu tiên cố gắng đi vào tìm hiểu ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính một cách toàn diện về phơng tiện nội dung và hình thức góp phần vào việc giảng dạy thơ Nguyễn Bính trong nhà trờng một cách tốt hơn
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm ba chơng:
Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Cấu trúc và âm điệu thơ tình Nguyễn Bính
Trang 16Ch¬ng 3: Ng÷ nghÜa ng«n ng÷ th¬ t×nh NguyÔn BÝnh.
16
Trang 17Chơng 1
Một số giới thUYếT liên quan đến đề tài
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi
Thơ và văn xuôi là hai kiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khác nhau thuần tuý bề ngoài trớc hết là ở cơ cấu nhịp điệu Nhịp điệu ở thơ đợc tạo ra do
sự phân chia (theo những quy tắc mang tính số lợng) dòng ngôn từ tác phẩm thành những ngữ đoạn vốn không trùng với sự phân chia dòng ngôn từ theo quy tắc cú pháp.Dòng ngôn từ ở văn xuôi đợc phân chia thành những câu và đoạn văn vốn có ở lời nói hàng ngày, nhng đã đợc tu chỉnh lại Tuy nhiên nhịp điệu ở văn xuôi là hiện tợng phức tạp khó thấy và cha đợc nghiên cứu kỹ
Trong khi văn xuôi thẻ hiện t tởng, tình cảm của tác giả bằng con đờng tái hiện một cách khách quan các hiện tợng đời sống thì thơ lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con ngời, nghĩa là con ngời tự cảm thấy mình qua những ấn tợng, ý nghĩa cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh Thơ cũng tái hiện đời sống trực tiếp, miêu tả thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện tơng đối liên tục (nh: “Ma” - Nguyễn Bính, “Mùa xuân chín” - Hàn Mạc Tử, “Núi đôi” - Vũ Cao), song sự tái hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tởng của mình
Tác phẩm văn xuôi thờng có cốt truyện và hành động Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật đợc khắc hoạ đầy đủ Thơ thờng không có cốt truyện, mỗi bài thơ thể hiện một tâm trạng nên dung lợng của nó thờng ngắn (vì một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài)
Trong thơ, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, thờng xuất hiện dới dạng nhân vật trữ tình Còn ở văn xuôi thì nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí là nhân tố tổ chức ra thế
Trang 18giới nghệ thuật của tác phẩm, nó đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tợng
ng-ời trần thuật
Thơ là tiếng nói bộc bạch làm việc trên trục dọc (trục lựa chọn, thay thế, tơng đồng, quy chiếu, trục của các ẩn dụ) còn văn xuôi là tiếng nói đối thoại làm việc trên trục ngang (trục kết hợp, trục tuyến tính) Trong thơ trữ tình chỉ có một kiểu lời nói duy nhất thống lĩnh toàn bộ thế giới nghệ thuật: kiểu lời độc thoại trực tiếp của nhân vật trữ tình (hoá thân của chủ thể trong tác phẩm) ở đó tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ đợc dùng để xây dựng các thông báo Thơ sử dụng nhiều hình ảnh, nhiều từ đồng nghĩa để diễn tả một tâm trạng,…một suy t
Không gian trên trang giấy in thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang in văn xuôi Đặc điểm này cho thấy, thơ nói ít mà chứa đựng nhiều nghĩa, thơ là văn bản không liên tục, nó còn có nhiều khoảng “lặng” Chính những khoảng trắng
ấy là nơi chất thơ lan toả, là nơi tràn đầy t duy, cảm xúc và hiển nhiên lợng ngôn từ còn lại là tinh chất đã đợc gạn lựa, chắt lọc công phu
Trong văn xuôi, ngôn từ mang tính miêu tả (tạo hình), nó ít tập trung vào chính nó, trong khi đó thơ thì không thể tách rời ngôn từ ở văn xuôi, ngôn từ còn trở thành đối tợng miêu tả, nó nh là “lời của kẻ khác” không trùng với lời của tác giả Thơ mang tính độc thoại, trong khi đó văn xuôi thiên về tính đối thoại, nó thu hút vào mình những “giọng nói” không trùng nhau ở văn xuôi nghệ thuật, sự tơng tác phức tạp giữa các giọng nói (của tác giả, của ngời kể chuyện, của các nhân vật) nhiều khi khiến ngôn từ trở nên đa hớng, đa trị - tính
đa trị này khác về bản chất so với tính đa nghĩa của ngôn từ thơ ca
Văn xuôi nghệ thuật và thơ đều cải biến các khách thể thực tại và xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, nhng văn xuôi thực hiện điều này trớc hết bằng việc thiết định theo cách riêng các khách thể và hành động, hớng tới tính
cụ thể cá nhân của các hàm nghĩa biểu đạt
18
Trang 19Có những hình thức trung gian giữa thơ và văn xuôi: thơ văn xuôi, văn xuôi nhịp điệu Đôi khi thơ và văn xuôi xuyên thấm lẫn nhau (ví dụ văn xuôi trữ tình) hoặc chứa đựng trong nhau những mảng văn bản “dị loại” (tác phẩm thơ
có những mảng văn xuôi hoặc tác phẩm văn xuôi có những đoạn thơ xen kẽ của các nhân vật hoặc của tác giả)
ca Việt Nam có dáng vẻ độc đáo về tính nhạc Khi khai thác về tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý những đối lập sau
- Sự đối lập trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm
- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các phụ âm cuối
- Sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu
Bên cạnh sự đối lập đó vần và nhịp cũng góp phần quan trọng trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca Những yếu tố về ngữ âm này là cơ sở cũng là
Trang 20chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca, tạo nên những âm tởng trầm bổng diệu kỳ.
Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ca đa thơ ca xích gần lại với âm nhạc làm chỗ dựa cho các phơng pháp diễn đàn âm nhạc
b Về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa trong thơ ca không đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữ giao tiếp đời thờng, thậm chí khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi Ngữ nghĩa trong văn xuôi chủ yếu là nghĩa miêu tả, tờng thuật, kể chuyện Còn nghĩa của ngôn ngữ thơ ca phong phú hơn nhiều Mỗi từ ngữ khi đợc đa vào thơ đều hoạt
động rất linh hoạt và đa dạng
Văn xuôi không hạn chế về số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ Còn trong thơ tuỳ theo thể loại mà có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà còn có những ý nghĩa mới tinh tế hơn, đa dạng hơn, mới lạ hơn nhiều Đó là nghĩa bóng hay gọi là ý nghĩa biểu trng của ngôn ngữ thơ ca Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ đối với ngời đọc, ngời nghe Bởi họ không chỉ tiếp nhận văn bản thơ bằng mắt, bằng tai mà bằng cả tình cảm, trí tởng tợng, liên tởng Điều đó làm làm cho ngôn ngữ thơ không chỉ là phơng tiện giao tiếp mà còn đóng một vai trò khác đó là phơng tiện thể hiện t tởng, tình cảm con ngời
c Về ngữ pháp
Nếu hiểu thơ là “một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [28; 23] Thì sự quái gở, kỳ lạ đó đợc thể hiện rất rõ ràng trong bình diện ngữ pháp của ngôn ngữ thơ ca
Trớc hết là sự phân chia dòng thơ, có ngời quan niệm mỗi dòng thơ tơng ứng với một câu thơ Tuy nhiên trong thực tế câu thơ không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm câu trong ngữ pháp Vì vậy, trong thơ, câu và dòng thơ
20
Trang 21không phải lúc nào cũng trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng mà mỗi dòng thơ chỉ có một vế câu Điều này thể hiện rõ trong thơ ca hiện đại qua hiện tợng câu thơ vắt dòng Có khi trên một dòng thơ lại chứa nhiều câu mà mỗi câu có đầy đủ nòng cốt chủ - vị, cũng có câu là những câu đặc biệt.
Cấu trúc câu trong ngôn ngữ thơ thờng không tuân theo quy tắc bắt buộc
và chặt chẽ nh câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng Nhà thơ có thể
sử dụng các kiểu câu khác nhau nh câu đảo ngữ, câu vắt dòng, câu trùng điệp
mà không làm ảnh hởng đến việc tiếp nhận văn bản của ngời đọc Ngợc lại những kết hợp tổ chức ngôn ngữ “bất quy tắc” lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca Sự “quái đản” về cú pháp của ngôn ngữ thơ giúp nhà thơ diễn đạt đợc những tầng lớp nghĩa phức tạp, tinh tế vô cùng của sự vật trong sự hữu hạn của câu chữ, thể loại nhờ đó tạo nên phong cách riêng của mỗi nhà thơ
Tóm lại ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ có tính nghệ thuật Nhờ có tính nghệ thuật đó mà ngôn ngữ thơ có khả năng miêu tả những trạng thái tinh tế, bí
ẩn của thế giới tâm hòn con ngời
1.1.3 Các lớp từ giàu mầu sắc biểu cảm trong thơ ca Việt Nam
1.1.3.1 Lớp từ láy
Từ láy là “những từ đợc cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho giá trị giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối hài hoà với nhau về âm và về nghĩa có giá trị tơng đơng hoá” [20; 33]
Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm và số lần tác động của phơng thức láy
Căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm có thể phân biệt hai kiểu từ láy:
Từ láy bộ phận chia làm hai loại:
Láy phụ âm đầu: Vu vơ, thấp thỏm, long lanh, nhí nhảnh…
Láy phần vần: Cập rập, chon von, lòng thòng, lênh khênh…
Từ láy hoàn toàn chia làm hai loại:
Trang 22Từ láy toàn bộ âm tiết giữ nguyên: Xa xa, lo lo, chuồn chuồn, xanh xanh…
Căn cứ vào số lần tác động của phơng thức láy có thể phân biệt các kiểu
từ láy:
Từ láy đôi: Sạch sẽ, ngoằn ngèo, khúc khuỷu, chập chờn…
Từ láy ba: Dửng dừng dng, cỏn còn con, sạch sành sanh…
Từ láy t: Thập thà thập thò, gập gà gập gềnh, đủng đa đủng đỉnh…
Từ láy có những đặc trng ngữ nghĩa riêng, đợc hình thành từ nghĩa của hình vị gốc theo hớng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cờng hay giảm nhẹ, tổng hợp hay chuyên biệt hoá
Trong văn chơng Việt Nam đơng đại, các nhà thơ mới đã tài tình và khéo léo sử dụng từ láy để làm nổi bật bức tranh thiên nhiên và tâm trạng con ngời
Huy Cận đã dùng các từ: điệp điệp, song song, chót vót, mênh mông…
để miêu tả chiều sâu và chiều rộng không chỉ của con sông dài Tràng Giang mà còn của tâm trạng nhà thơ
Nguyễn Khuyến rất tài khai thác khả năng diễn tả của từ láy: (thấp) le te
(đom đóm) lập loè, (bé) tẻo teo, (thằng bé) lom khom…
Do khả năng biểu cảm của từ láy rất phong phú nên các nhà văn, nhà thơ lớn đều tận dụng và khai thác tối đa tiềm năng to lớn của từ láy trong văn chơng của mình để đạt hiệu quả cao nhất
Tình thái đứng đầu câu để biểu thị gọi - đáp: ơi, hỡi, ạ, vâng, dạ…
Ví dụ: - Nga ơi !
22
Trang 23Tình thái từ đứng ở đầu câu để biểu thị sự ngạc nhiên, vui mừng, sợ hãi, bực tức, tiếc thơng, xúc động.
Ví dụ: Anh Nam về nhé !
Nhờ lớp tình thái làm tăng giá trị biểu cảm trong câu Tình thái từ biểu thị những sắc thái tình cảm ở những góc độ khác nhau khi phát ngôn
1.1.4 Các biện pháp tu từ thờng dùng trong thơ ca
Ai làm cho bớm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vờn hồng
“Hoa” và “bớm”, “chim xanh” và “vờn hồng” là những hình ảnh ẩn dụ chỉ ngời con trai và ngời con gái, ngời đi - ngời chờ “bớm” và “chim xanh” là yếu tố vô định có thể bay đi nhiều nơi còn “hoa” và “vờn hồng” thì không xê dịch
Trang 24Nàng rằng khoảng vắng đêm trờng
Vì hoa nên phải đánh đờng tìm hoa.
Từ “hoa” đợc dùng để ví ngời tình nhân hào hoa, phong nhã Có khi từ
“hoa” lại đợc dùng để ví ngời có phẩm chất cao đẹp, đối lập với “cỏ” ví hạng thấp hèn trong cuộc đời éo le đầy nghịch cảnh
Phợng những tiếc cao diều bay liệng
Hoa thờng hay héo cỏ thờng tơi.
(Nguyễn Trãi)
ẩn dụ thực chất là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh đợc giảm lợc, chỉ còn lại vế đợc so sánh Phép ẩn dụ là phơng thức chuyển nghĩa của một đối tợng này thay cho một đối tợng khác khi hai đối tợng có một chút nghĩa tơng đồng nào đó [19; 194]
Với chức năng làm mới, làm giàu, làm đẹp, làm biến chuyển ngôn ngữ…
ẩn dụ là một trong những phơng thức tu từ xuất hiện nhiều nhất trong thơ đặc biệt thơ trữ tình thực sự là vơng quốc của ẩn dụ
ẩn dụ thể hiện phong cách sáng tạo của tác giả, phong cách thời đại, phong cách dân tộc Vì vậy nghiên cứu ẩn dụ của một tác giả có thể bao quát đ-
ợc thế giới thơ ca của tác giả đó
1.1.4.2 So sánh (tỉ dụ)
So sánh là “phơng thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tợng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tợng có dấu hiệu tơng đồng nhằm làm nổi bật đặc
điểm thuộc tính của hiện tợng này qua đặc điểm thuộc tính của hiện tợng kia” [25; 282]
So sánh thờng có hai vế, vế đầu là hiện tợng cần đợc biểu đạt một cách hình tợng Vế sau là hiện tợng đợc dùng để so sánh Hai vế này thờng đợc nối với nhau bởi từ “nh” hoặc bằng các từ so sánh khác “bằng”, “hơn”, “kém”
Ví dụ: Thân em nh tấm lụa đào
24
Trang 25Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
tình yêuKiểu cấu trúc so sánh trên giúp ngời đọc hiểu rõ hơn về tính chất, trạng thái của hình ảnh đợc so sánh
Mô hình 2: Cấu trúc so sánh vắng yếu tố thứ hai
Trang 26Tác giả Nguyễn Thái Hoà cho rằng: “ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của sự lĩnh hội và so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng ta đi vào thế giới của cái đẹp của tởng tợng hơn là ngỡng cửa của logíc học”[ 19 ].Phép so sánh muốn trở thành “đôi cánh” để giúp ngời đọc “bay vào thế giới của cái đẹp” phần lớn phải nhờ vào trí tởng tợng kỳ diệu bay bổng của nhà văn, nhà thơ khi chọn lựa hình ảnh so sánh.
1.1.4.3 Đối (đối ngẫu)
Đối là “một phơng thức tổ chức lời văn bằng cách điệp ngữ pháp nhằm tạo ra hai vế, mỗi vế là một câu tơng đối hoàn chỉnh đợc viết thành hai dòng cân xứng, sóng đôi với nhau” [24; 123]
Ví dụ: Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dới
Đá xanh xây cống, hòn dới nống hòn trên.
Luật đối của văn chơng cổ điển Trung Hoa và Việt Nam có những quy
định chặt chẽ và phức tạp nhng về đại thể nó yêu cầu hai vế đối phải cân xứng sóng đôi với nhau về ý và lời
Về lời: Mỗi vế đối có thể chỉ có ba hoặc năm tiếng tạo thành một câu rút gọn
Ví dụ: Ô ! Quạ tha gà
Xà ! Rắn bắt ngoé.
Nhng dù câu rút gọn hay câu mở rộng thì số lợng âm tiết của hai vế đối phải bằng nhau Các từ đối nhau ở hai vế phải giống nhau về từ loại và chức năng cú pháp nhng các âm tiết đối nhau trái ngợc nhau về thanh điệu
Ví dụ: Tôi tôi vôi
Trang 27Hội truy điệu liền đây, thấp thoáng hơng đà bén khói.
Đối hai ý thuận chiều:
Ví dụ: Non xanh nớc biếc tha hồ dạo
Rợu ngọt chè tơi mặc sức say.
Đối có nhiều loại, vì vậy có thể phân loại đối theo nhiều cách khác nhau, căn cứ vào sự thuận chiều hay tơng phản của lời và ý có thể chia đối thành hai loại: đối cân và đối chọi
Dựa vào cách thức tuân thủ luật lệ, phép tắc ngời ta lại có thể chia đối thành hai loại: công đối (đối chỉnh) và khoan đối (đối rộng, đối không chỉnh)
Phép đối mang lại vẻ đẹp độc đáo cho câu thơ Đờng luật Trung Quốc Phép tiểu đối cũng tạo ra vẻ đẹp riêng cho câu thơ lục bát trong sáng tác của các nhà thơ cổ điển và hiện đại Việt Nam Nhờ kết cấu đối làm cho câu thơ trở nên ngắn gọn, cô đọng, súc tích, nhịp điệu trở nên cân xứng hài hoà, ý thơ nổi bật
1.1.4.4.Điệp ngữ
Điệp ngữ là “một hình thức tu từ có đặc điểm: một từ, cụm từ, câu hoặc
đoạn thơ văn đợc lặp lại với dụng ý nhấn mạnh hoặc gây ấn tợng cho ngời đọc, ngời nghe” [25; 117]
Ví dụ: Mẹ mang về tiếng hát
Từ cái bống cái bang
Từ cái hoa rất thơm
Từ cánh cò rất trắng.
(Chuyện cổ tích về loài ngời - Xuân Quỳnh)
Căn cứ vào tính chất của tổ chức cấu trúc, điệp ngữ đợc chia ra làm nhiều dạng:
Điệp ngữ nối tiếp: Những từ ngữ đợc lặp lại trực tiếp đứng bên nhau
Ví dụ: Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh.
(Tơng t chiều - Xuân Diệu)
Trang 28Điệp ngữ cách quãng: Những từ ngữ đợc lặp lại đứng cách xa nhau.
Ví dụ: Hoa ơi sao chẳng nói
Anh ơi sao lặng thinh.
Điệp ngữ vòng tròn: Những từ ngữ đúng cuối câu trớc đợc láy lại thành những từ ngữ đứng đầu câu sau
Ví dụ: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Biện pháp tu từ điệp ngữ đợc sử dụng rộng rãi trong tất cả phạm vi của lời nói Nhờ điệp ngữ mạch văn có khi kéo dài nh đợt sóng làm cho câu văn, câu thơ có sức thuyết phục mạnh, nêu bật đợc mối liên hệ nội tại tất yếu của sự vật trong quá trình phát triển
Nhờ điệp ngữ câu văn tăng thêm tính tơng đối, nhịp nhàng, hài hoà, có tác dụng nhấn mạnh sắc thái, ý nghĩa, tình cảm nào đó, làm nổi bật những từ quan trọng khiến cho lời nói trở nên sâu sắc, thấm thía có sức thuyết phục mạnh
đối với ngời đọc
1.2 Nguyễn Bính - Cuộc đời và thơ
1.2.1 Cuộc đời và tác phẩm
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Nhà thơ sinh vào cuối xuân đầu hạ năm Mậu Ngọ (1918) trong một gia đình nhà nho nghèo tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Thuở bé Nguyễn Bính không đợc đi học ở trờng mà mà chỉ học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau đợc cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy Nguyễn Bính là ngời rất có năng khiếu ông bắt đầu làm thơ từ lúc 13 tuổi, năm 1932 Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội và từ đây bắt đầu nổi tiếng trong sự
28
Trang 29nghiệp sáng tác văn học Ông đợc giải khuyến khích của tự lực văn đoàn với tập
Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ Cây đàn tỳ bà.
Năm 1947 Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và đợc giữ những trách nhiệm trọng yếu nh phụ trách hội văn hoá cứu quốc tỉnh Rạch Giá, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh ở tỉnh Rạch Giá, sau làm ở ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn quân khu tám Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ
động tinh thần yêu nớc quyết chiến quyết thắng giết giặc lập công Tháng
11-1954 Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn Việt Nam Năm
1956 ông làm chủ bút tuần báo “Trăm hoa” và đã cho đăng báo một số bài viết
Năm 1958 Nguyễn Bính về c trú tại Nam Định, ông công tác tại ty văn hoá thông tin Nam Định Ông đã góp phần vào sự trởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ của quê hơng và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phơng cũng nh của cả nớc
Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn hoá Nam Định sơ tán vào huyện Lý Nhân Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm ất Tỵ (20-1-1966) lúc đến thăm một ngời bạn ỏ xã Hoà Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông cha kịp sang tuổi 49 Ông vừa hoàn thành và cho in bài thơ Quê hơng,
một bài thơ có những nét báo hiệu của một giai đoạn mới trong đời thơ ông
Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thế loại khác nhau (thơ, truyện thơ, kịch thơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác) Hoạt động văn nghệ của ông phong phú đa dạng song thành tựu xuất sắc nhất đợc độc giả a chuộng là thơ bởi thơ là mảng sáng tác kết tụ tài năng và tâm huyết của cuộc đời ông Riêng về thơ có thể nói rằng ông là cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ Mới Chỉ trong một thời gian ngắn (1940-1945) Nguyễn Bính đã cho ra đời những tập thơ có giá trị:
Tâm hồn tôi (1940); Lỡ bớc sang ngang (1940); Hơng cố nhân (1941); Một nghìn cửa sổ (1941); ngời con gái ở lầu hoa (1942); Mời hai bến nớc (1942);
Trang 30Mây tần (1942); Bóng giai nhân (Kịch thơ - 1942); Truyện tỳ bà (truyện thơ -
1944)
Sau cách mạng Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ: Ông lão mài
g-ơm (1947); Đồng tháp mời (1955); Trả ta về (1955); Gửi ngời vợ miền Nam
(1955); Trông bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958); Tình nghĩa
1.2.2 Thơ tình trong thơ Nguyễn Bính
Thơ tình yêu là một mảng đề tài sáng tác không phải ngẫu nhiên mà là sản phẩm có ý thức lựa chọn của thi sĩ Sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn là sự bùng nổ của cái “Tôi” cá nhân cùng với những khát khao đợc tự do về mặt tình cảm, lúc này đề tài tình yêu luôn là cảm hứng chúnh trong quá trình sáng tác của cả một trào lu và đây cũng chính là nguồn cảm hứng chính trong quá trình sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bính
Trong phong trào Thơ Mới (1932 - 1945), Nguyễn Bính là nhà thơ tình
có phong cách riêng Ông tự xem mình là “Thi sĩ của thơng yêu” Đơng thời, d luận báo chí nhận xét đọc “Hơng cố nhân ta thấy thi sĩ Nguyễn Bính là ngời đa cảm, mảnh hồn trong trẻo của tuổi thanh niên đã sớm theo luồng gió ái ân mà nên câu tuyệt diệu” [7; 71]
Con tằm đã luỵ ba sinh
Mà em đã luỵ của anh muôn đời.
30
Trang 31(Chức nữ Ngu lang)
Trong thơ tình Nguyễn Bính có một tâm hồn luôn khao khát yêu đơng, nhớ nhung, chia sẻ Nhà văn Trúc Đờng anh trai Nguyễn Bính đã nhận xét
“Bính nh ngời khát nớc mùa hè, yêu nhiều thất bại không ít, có lúc thất tình
nh-ng chỉ tronh-ng mơ thôi Vì nh-ngời tronh-ng mộnh-ng, tronh-ng thơ, đến nh-ngời nh-ngoài đời là một khoảng cách khó khăn”
Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính không bình yên ổn định mà luôn ở trạng thái bất an Và chính cái bất an ấy làm cho câu thơ sao xuyến không ngừng rất thích hợp với tâm trạng ngời đang yêu
Lạ quá ! làm sao tôi cứ buồn?
Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn?
Làm sao tôi cứ tơng t mãi Ngời đã cùng tôi phụ rất tròn?
Con ngời ấy, tình yêu ấy không dễ tạo đợc quả tròn hạnh phúc, phải chăng tình yêu là mảnh đất hứa không bao giờ có thể đến đợc với nhà thơ, kẻ si tình mộ đạo khao khát đi tìm trong suốt cuộc đời Có thể vì thế các mối tình trong thơ Nguyễn Bính thờng ở trạng thái dở dang, nhỡ nhàng, không có sự hoà hợp
Tình tôi nở giữa mùa thu Tình em lẳng lặng kín nh buồng tằm.
Thơ tình Nguyễn Bính là tiếng lòng buồn bã, lỡ làng của một trái tim
đang thổn thức yêu đơng và đến với ngời đọc nh một cô gái quê duyên dáng kín
đáo Trong thơ Nguyễn Bính hay nói đến một mối tình đơn phơng một phía trong các bài Dối lòng, Diệu vợi, Ngời con gái ở lầu hoa, Cô hái mơ, Hà Nội
hồn đang khao khát yêu đơng
Trang 32Em ạ ! Ngày xa vua ớc Bớm Kén nhân tài mở Điệp lang khoa Vua không lấy trạng, vua thề thế Con bớm vàng truyền đậu thám hoa.
(Truyện cổ tích)
Thơ tình Nguyễn Bính thờng chú ý đến thân phận và cảnh ngộ các nhân vật trong truyện tình duyên
đã viết những câu thơ giầu cảm thơng với cô hàng xóm bạc phận, với cảnh đời
lỡ bớc sang ngang, sự chờ đợi vô vọng của cô lái đò Những ngời con gái trong thơ Nguyễn Bính họ thật đáng yêu và có nhiều nét hiền lành duyên dáng của ngời phụ nữ truyền thống nh cô gái quê bên khung cửi “Tuổi trẻ còn nh cây lụa trắng” Họ đến với tình yêu nhng đã sớm nhận ra những chua chát, xót xa của
Trang 33tha hoá biến chất, không để những ham muốn trong tình yêu lứa đôi cuốn con ngời vào vòng truỵ lạc.
Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ
Đành phụ nhau thôi kẻo đến ngày.
Thơ tình Nguyễn Bính luôn khao khát một mái ấm gia đình đơn sơ giản dị
Nhà gianh thì sẵn đấy
Vợ xấu có làm sao Quốc kêu ngoài bãi sậy Hoa súng nở đầy ao.
(Hoa với rợu)
Có thể nói, Nguyễn Bính là một trong số những cây bút viết sung sức nhất Trong thời kỳ trớc năm 1945, mảng thơ tình chiếm 7/10 tập thơ của ông Thơ tình Nguyễn Bính toát lên tình yêu thơng mãnh liệt “Nguyễn Bính đã đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái, dở dang, phân cách, bẽ bàng Với ngòi bút của thi nhân, Nguyễn Bính tả chân thực đợc nỗi u buồn, trầm lặng, giải toả đợc những tiếng kêu bi thơng của những tâm hồn mộc mạc” [12; 298] Chính điều đó đã làm cho hồn thơ Nguyễn Bính đi vào tâm hồn ngời
đọc một cách nhẹ nhàng
Trang 35Lµ mét nhµ Th¬ Míi, NguyÔn BÝnh võa kÕ thõa nhiÒu h×nh thøc cña th¬
ca d©n téc nhng l¹i lµ mét nhµ c¸ch t©n, s¸ng t¹o trªn cÊu tróc vµ m« h×nh truyÒn thèng cã s½n §i vµo t×m hiÓu cÊu tróc vµ ©m ®iÖu trong th¬ t×nh NguyÔn BÝnh còng chÝnh lµ t×m hiÓu nh÷ng c¸ch t©n vÒ h×nh thøc nghÖ thuËt trong th¬ t×nh NguyÔn BÝnh
2.1 C¸c thÓ th¬ tiªu biÓu trong th¬ t×nh NguyÔn BÝnh
Trang 36bát Đến thời đại Thơ Mới (1932-1945), với sự dâng trào của cảm xúc cá nhân, thơ tự do bắt đầu xuất hiện, tiếp theo là thơ văn xuôi Ngời ta đã quên đi những niêm luật cầu kì, những phép đối câu, đối chữ rắc rối để tiến dần đến sự thể hiện tình cảm một cách tự do phóng khoáng, không gò bó Tuy nhiên không phải nhvậy mà những thể thơ lục bát, thơ 7 chữ, thơ 5 chữ không còn tồn tại và không
có vai trò to lớn trong phong trào Thơ Mới
Qua khảo sát 106 bài thơ tình của Nguyễn Bính trớc cách mạng, một điều chúng tôi dễ nhận thấy là thơ ông không có sự xuất hiện thơ tự do, thơ văn xuôi
nh các nhà Thơ Mới khác Nhà thơ sử dụng chủ yếu và tiêu biểu nhất vẫn là thể thơ lục bát với số lợng nhiều nhất 50 bài (47,16%), tiếp đến là thể thơ 7 chữ 48 bài (45,28%) Ngoài ra để góp phần làm tăng sự phong phú cho thể loại thơ tình, Nguyễn Bính còn sáng tác một số bài thơ 5 chữ và thơ Đờng luật trong đó thơ Đờng luật chiếm số lợng ít nhất 3 bài (2,83%) trong tổng số 106 bài thơ tình Nguyễn Bính
Có thể nói, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ thành công nhất với thể lục bát trong phong trào Thơ Mới Nguyễn Bính lựa chọn thể lục bát làm thể thơ chủ yếu cho thế giới thơ tình của mình là tìm đến một sự phù hợp cao độ giữa đặc trng của thể loại lục bát là mền mại, uyển chuyển với phong cách thơ mình là mộc mạc, đằm thắm, dịu dàng Do vậy sự lựa chọn này là tất yếu và thể thơ lục bát cũng là một đặc trng phong cách thơ tình Nguyễn Bính
2.1.1.1 Thể thơ lục bát
Nguyễn Bính là đứa con đợc sinh ra khi ca dao ngầm giao duyên cùng Thơ Mới Nhng trong đứa con ấy gen trội vẫn thuộc về ca dao nên Nguyễn Bính
là tiếng đàn bầu vẫn lặng lẽ ngân rung trong lúc giàn giao hởng tân nhạc của thơ
đơng thời đang diễn tấu mải mê dới chiếc đũa chỉ huy của ngời nhạc trởng toàn năng là cái tôi cá thể Song nó không có cái mặc cảm lạc lõng, lạc thời Trái lại
nó vẫn diễn tấu theo lối của mình bằng dây tơ riêng kiên trì tự tin Vẫn cất lên
điệu riêng của mình mà khiến ngời nghe phải chú ý, phải say mê Trong lúc
36
Trang 37phần đông đang cuốn theo sức hút khó cỡng lại đợc của thơ tự do, thơ hiện đại cải cách thơ mình theo lối mới thì Nguyễn Bính lại về với câu lục bát dân gian vẫn chìm nổi bao đời nay nơi đồng quê.Về với lục bát, đối với Nguyễn Bính là
về với cội nguồn, với hơng đồng gió nội, với chân quê
Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu dân gian, thơ lục bát đã có từ lâu đời (vào cuối thế kỷ 15).Từ đó đến nay, thể thơ này đã phát triển qua các giai đoạn: lục bát từ cuối thế kỷ 15 đén trớc truyện kiều, lục bát trong truyện kiều, lục bát trong phong trào Thơ Mới, lục bát đơng đại
Một tác phẩm lục bát có thể rất nhiều dòng nhng khuôn hình cơ bản của lục bát gồm một dòng 6 và một dòng 8 Đây là chỉnh thể tối thiểu để thơ lục bát
đầy đủ t cách là một tác phẩm trọn vẹn
Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi
Với sự tuần hoàn của hai câu 6 và 8 với vần chân và vần lng bao giờ cũng hiệp vần theo thanh bằng, thể thơ lục bát rất thích hợp cho giọng kể lể, tâm sự, cho những nỗi niềm buồn đau thơng xót, bâng khuâng, nhớ nhung Nguyễn
Đình Thi đã từng so sánh “Dùng một hình ảnh có thể ví lối thơ Đờng luật nh một chiếc bình pha lê kết tinh trong sáng xuốt nhng không đủ lôi cuốn của một dòng sông Thơ lục bát trái lại vì hợp với tiếng nói nớc ta hơn nên có thể sử dụng nguồn cảm hứng tràn lan, đó là thể thơ ca hát, kể truyện dân chúng” [ 17;43]
Nếu nh lục bát ca dao mang vẻ hồn nhiên tơi thắm của chất trữ tình đồng quê, nếu lục bát truyện kiều mền mại uyển chuyển thì những bài thơ lục bát của Nguyễn Bính nh Lỡ bớc sang ngang, Chân quê, Ngời hàng xóm, Tơng t vừa
thanh thoát, gợi cảm, vừa trau chuốt, điêu luyện Điểm mặt mhững cây bút lục bát nổi bật nhất trong phong trào Thơ Mới ngời ta vẫn nhắc nhièu đến hai khuôn mặt với hai phong cách khác nhau là Huy Cận và Nguyễn Bính Nếu tác giả
Trang 38Lửa thiêng nghiêng về lục bát cổ điển điệu ngâm thì tác giả Lỡ bớc sang ngang
lại nghiêng về lục bát dân gian điệu nói Điều này cho thấy Thơ Mới trong khi căn bản đổi sang điệu nói vẫn không quên mang theo hành trang của nó cả điệu ngâm để làm giầu cho mình
Thơ tình lục bát của Nguyễn Bính là những bài thơ tình hoàn chỉnh, mỗi bài là một câu chuyện về một cuộc đời, một thân phận, có cảnh ngộ và tâm trạng riêng nh trong các bài Lỡ bớc sang ngang, Lòng mẹ, Ngời hàng xóm Bởi
vậy mà dung lợng bài thơ tình lục bát của Nguyễn Bính phần lớn là những bài thơ dài Qua khảo sát 50 bài thơ tình lục bát của Nguyễn Bính chúng tôi thấy có
22 bài thơ lục bát dới 10 dòng trong số đó có một bài ngắn nhất là 2 dòng (Hoa
cỏ may) và 28 bài thơ lục bát dài trên 10 dòng trở lên, trong đó có bài dài tới
Vũng khô năm đợi mời chờ
Ma sang xứ khác Ai ngờ hồn tôi.
38
Trang 39(Vũng nớc)
Với lối vắt dòng, chấm câu giữa dòng, câu thơ tình lục bát Nguyễn Bính
đã “mềm” đi rất nhiều so với ca dao Đây cũng chính là một hiện tợng phổ biến của thi pháp Thơ Mới
Trong thơ Nguyễn Bính, âm hởng của thơ ca dân gian còn vang vọng ở thể thơ lục bát (thể loại điển hình nhất của ca dao dân ca) Nguyễn Bính đã biết cách làm giàu cho sáng tác của mình trên mảnh đất văn hoá dân gian, từ đó khai thác và khơi nguồn cảm hứng để tạo nên những thi phẩm mới Do vậy, ta cứ thấy trong thơ Nguyễn Bính phảng phất hình bóng của những câu ca dao
Nếu ca dao có câu:
Nếu câu ca dao:
Có con phải khổ vì con
Thôn Đoài / ngồi nhớ/ thôn Đông
Trang 40Một ngời / chín nhớ/ mời mong/ một ngời
(Tơng t)
Cũng là thôi / cũng là đành Sang sông lỡ bớc / riêng mình chị sao
Ngoài ra, thơ lục bát của Nguyễn Bính cũng rất tự nhiên,mợt mà, không
gò ép nhng cũng không rơi vào diễn ca, vần vè dễ dãi Bởi thể lục bát dờng nh
đã nhuyễn vào hồn thơ Nguyễn Bính Theo thi sĩ Mộng Tuyết thì Nguyễn Bính làm thơ lục bát rất dễ dàng “Bính viết lục bát nhanh nh văn xuôi”[34;185] Đọc thơ Nguyễn Bính, ta nh đợc thởng thức những khúc nhạc êm dịu của ca dao
Tình tôi là giọt thuỷ ngân
Dù nghiền chẳng nát dù lăn vẫn tròn Tình cô là đoá hoa đơn
Bình minh nở để hoàng hôn mà tàn.
(Tình tôi)
Phát huy nhịp điệu trầm buồn, êm ái, mợt mà của thể lục bát, Nguyễn Bính đã sáng tác nên những bài thơ lục bát rất hay, mang đậm phong cách thơ
“chân quê” nh Tơng t, Qua nhà, Cô hàng xóm, Chân quê, Dòng d lệ
Về ngôn ngữ, cũng nh ngôn ngữ của thơ ca dân gian, ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính không cầu kì khuôn sáo mà gần gũi, chân thành
Hôm nay dới bến xuôi đò Thơng nhau qua cửa tò vò nhìn nhau.
Trong thơ, Nguyễn Bính sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân một cách thuần thục, tự nhiên, đặc biệt là trong cách trò chuyện, tỏ tình của những đôi trai gái quê
Nói ra sợ mất lòng em Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa
40