Xuất phát từ nền tảng lý thuyết về trường từ vựng- ngữ nghĩa và một số vấn đề có liên quan, luận văn này mạnh dạn áp dụng những lý thuyết đó vào tìm hiểu đề tài Từ ngữ biểu thị phạm trù
Trang 1- -
TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHẠM TRÙ CHIM TRONG THƠ TỐ HỮU VÀ
THƠ CHẾ LAN VIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Kim Anh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công
trình nghiên cứu nào khác Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích trong luận
văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Phạm Thị Kim Anh – người đã
tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua
Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện mọi mặt của các
thầy, cô giáo trường Đại học Hải Phòng, Phòng quản lý đào tạo Sau đại học, Viện
Ngôn ngữ học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp
cho em những vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đã đóng góp những ý
kiến quý báu cho đề tài
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động
viên, tạo điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ, trường từ vựng - ngữ nghĩa 6
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ 6
1.1.2 Sơ lược về trường từ vựng - ngữ nghĩa 10
1.2 Sơ lược về lí thuyết phân tích diễn ngôn 15
1.2.1 Khái niệm phân tích diễn ngôn 15
1.2.2 Sơ lược về một số lí thuyết phân tích diễn ngôn - phân tích dụng học 16
1.3 Khái lược về tín hiệu thẩm mĩ văn chương 17
1.3.1 Khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ văn chương 17
1.3.2 Một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ văn chương 19
1.3.3 Sơ bộ về phương thức tạo nghĩa thẩm mĩ ẩn dụ 23
1.4 Tiểu kết chương 1……… 25
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHẠM TRÙ CHIM TRONG THƠ TỐ HỮU VÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN 27
2.1 Vài nét về nhà thơ Tố Hữu và nhà thơ Chế Lan Viên 27
2.2 Khảo sát từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt 29
2.2.1 Từ ngữ chỉ tên gọi chim, giống loài chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt 30
2.2.2 Từ ngữ chỉ đặc điểm sinh học bản thể của chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt 30
2.2.3 Từ ngữ chỉ hoàn cảnh sinh tồn của chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt 31
2.3 Khảo sát từ ngữ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên 31
2.3.1.Khảo sát từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu 31
Trang 5iv
2.3.2 Khảo sát từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Chế Lan Viên 40
2.4 Tiểu kết chương 2 52
CHƯƠNG 3 Ý NGHĨA CỦA TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHẠM TRÙ CHIM TRONG THƠ TỐ HỮU VÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN 54
3.1 Ý nghĩa của từ chim và các từ làm tên gọi loài chim trong tác phẩm của hai nhà thơ 54
3.1.1 Nghĩa của từ chim trong tác phẩm của hai nhà thơ 54
3.1.2 Vai trò, ý nghĩa của các từ làm tên gọi những loài chim tiêu biểu 59
3.2 Ý nghĩa của một số từ ngữ chỉ đặc điểm bản thể của chim trong thơ Tố Hữu và Chế Lan Viên 65
3.2.1 Từ ngữ biểu thị đặc điểm chủ yếu về ngoại hình 65
3.2.2 Từ ngữ biểu thị hoạt động của chim 68
3.3 Ý nghĩa của các từ ngữ biểu thị hoàn cảnh sinh tồn của chim trong thơ của hai tác giả 71
3.3.1 Từ ngữ biểu thị không gian sinh tồn của chim 71
3.3.2 Từ ngữ biểu thị thời gian 73
3.3.3 Từ ngữ biểu thị sự tác động của con người tới sinh tồn của các loài chim 76
3.4 Vai trò ý nghĩa thẩm mĩ của trường nghĩa chim chóc trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên 78
3.5 “Cánh cò màu xanh” tiếp nối phạm trù chim… 79
3.6 Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 62.3 Bảng kết quả khảo sát từ ngữ chỉ tên gọi chim trong thơ Tố Hữu 33
2.4 Bảng kết quả khảo sát từ ngữ chỉ đặc điểm bản thể của chim
trong thơ Tố Hữu
2.8 Bảng kết quả khảo sát từ ngữ chỉ đặc điểm bản thể của chim trong
thơ Chế Lan Viên
44
2.9 Bảng kết quả khảo sát từ ngữ chỉ hoàn cảnh sinh tồn của chim
trong thơ Chế Lan Viên
46
2.10 Bảng thống kê các từ ngữ tiêu biểu thuộc phạm trù chim trong
thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên
48
Trang 7vi
DANH MỤC VIẾT TẮT
BTKH Biến thể kết hợp BTQH Biến thể quan hệ BTTV Biến thể từ vựng
Cđbh Cái được biểu hiện
THTM Tín hiệu thẩm mĩ TSXH Tần số xuất hiện TTC1 Tiểu trường cấp 1 TTC2 Tiểu trường cấp 2
Ví dụ chú thích tài liệu trích dẫn:
[12]: 12 là số thứ tự tài liệu tham khảo được trích dẫn
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Từ là đơn vị trung tâm, điển hình của toàn bộ hệ thống ngôn ngữ Trong hệ thống ngôn ngữ ấy, các đơn vị từ vựng không tách rời nhau mà luôn có những mối quan hệ nhất định về hình thức và ý nghĩa Ngôn ngữ học hiện đại coi nghĩa và những mối quan hệ về nghĩa của từ là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất Một mặt nó giúp hiểu rõ nghĩa của từ trong hệ thống ở trạng thái tĩnh, mặt khác thấy được sự phát triển nghĩa của từ trong hoạt động hành chức Những kết quả đó giúp người nghiên cứu hiểu được phần nào quan hệ giữa hiện thực và lối tri nhận, liên tưởng của người nói khi định danh về sự vật, hiện tượng của hiện thực này Điều này lí giải tại sao cùng một đơn vị từ ngữ được lựa chọn sử dụng nhưng nội dung và ý nghĩa mà nó gợi ra lại khác nhau ở từng người nói
Thơ ca Việt Nam hiện đại là một dòng chảy nghệ thuật không ngừng nghỉ, trong
đó có sự đóng góp của hai tên tuổi lớn là Tố Hữu và Chế Lan Viên Mỗi nhà thơ đều thành công với một phong cách nghệ thuật riêng Nếu thơ Tố Hữu luôn hừng hực ngọn lửa cách mạng và lí tưởng chiến đấu thì thơ Chế Lan Viên lại đậm chất suy tưởng và triết lý sâu xa về con người, cuộc đời, thế sự… Làm nên sự khác biệt ấy phải kể đến việc các nhà thơ đã vận dụng tài tình mỗi đơn vị từ ngữ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt để truyền đi những thông điệp nghệ thuật của riêng mình Như đã thấy, công cuộc
to lớn, lâu dài là tìm hiểu và nghiên cứu phong cách nghệ thuật của mỗi nhà thơ kể trên nói riêng, các nhà thơ lớn khác nói chung đã và đang đòi hỏi nỗ lực của rất nhiều người Chúng tôi cho rằng trong những công việc cần thiết, cụ thể phải triển khai đó, việc quan trọng đầu tiên là chúng ta phải chỉ ra được sự độc đáo trong cách sử dụng từ ngữ của mỗi nhà thơ xét theo một phạm trù nhất định nào đó
Thiên nhiên từ trước đến nay luôn là nguồn cảm hứng và đề tài quen thuộc để các nhà thơ vừa khám phá, tái hiện hiện thực vừa gửi gắm những tâm tư, suy ngẫm cá nhân, biểu thị những nét cá tính nghệ thuật đặc sắc của mình Chắc chắn một đối tượng
điển hình của thiên nhiên – chim chóc sẽ là một tín hiệu điển hình trong thơ Tố Hữu và
Chế Lan Viên mang những cách cảm cách nghĩ khác nhau trong việc thể hiện nội dung
và phong cách nghệ thuật của từng nhà thơ
Trang 9Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại gắn liền với những tên tuổi lớn Tuy nhiên sự quan tâm tới phương diện từ vựng mà ở đây là phương diện nghiên cứu về sự hành chức của một nhóm từ ngữ nào đó trong thơ tuy
đã được đề cập đến khá nhiều trong thời gian gần đây song vẫn là chưa đủ Xuất phát
từ nền tảng lý thuyết về trường từ vựng- ngữ nghĩa và một số vấn đề có liên quan, luận
văn này mạnh dạn áp dụng những lý thuyết đó vào tìm hiểu đề tài Từ ngữ biểu thị
phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên nhằm góp thêm một tiếng nói
mới từ việc vận dụng những thành tựu của ngôn ngữ học, cụ thể là vận dụng những thành tựu về từ vựng- ngữ nghĩa vào nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hi vọng khi tìm hiểu Từ ngữ biểu thị phạm trù chim
trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên, hai nhà thơ được đông đảo công chúng bạn
đọc, các nhà nghiên cứu phê bình văn học thừa nhận là tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam sẽ không chỉ góp phần khẳng định tên tuổi của hai nhà thơ lớn mà còn có
những cái nhìn khái quát nhất về phạm trù chim trong thơ hiện đại Việt Nam được
biểu thị như thế nào
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của phương diện từ vựng và ngữ nghĩa trong ngôn ngữ thơ, cho đến nay nhiều nhà nghiên cứa ngôn ngữ học đã quan tâm, tìm hiểu vấn đề này Khi nghiên cứu từ vựng và ngữ nghĩa nói chung của tiếng Việt có thể kể đến những chuyên khảo được sử dụng làm giáo trình giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng nói chung của những bậc thầy về ngôn ngữ như tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, Diệp Quang Ban, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến…
Vận dụng những hiểu biết sâu sắc về từ vựng và ngữ nghĩa ở những công trình nghiên cứu trước đó, nhiều tác giả cũng đã tìm hiểu từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt trên nhiều phương diện và mức độ khác nhau Trong điều kiện nghiên cứu có hạn, chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu có liên quan:
1 Những vấn đề cơ bản về trường từ vựng – ngữ nghĩa, Phạm Thị Kim Anh,
Thông báo khoa học số 3, 2005, Đại học Hải Phòng
2 Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mạc Tử, Nguyễn Thị Thanh Đức,
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Vinh, 2002
3 Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu, Nguyễn Thị Mĩ Xuyên, Luận văn Thạc sĩ,
Trang 104 Từ ngữ chỉ địa danh trong thơ Tố Hữu, Nguyễn Thị Thoa, Luận văn Thạc sĩ,
Đại học Hải Phòng, 2013
5 Trường nghĩa lửa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và thơ Tố Hữu, Nguyễn
Thị Thanh Hà, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm I Hà Nội, 2009
6 Trường từ vựng thiên nhiên trong thơ Tố Hữu, Cao Hạ Quyên, Luận văn Thạc
chưa có công trình nào tìm hiểu từ ngữ biểu thị phạm trù chim được vận hành như thế
nào trong văn học Việt Nam hiện đại có trong tác phẩm của những nhà thơ lớn như Chế Lan Viên, Tố Hữu … Chắc chắn một đối tượng phổ biến, điển hình của thiên nhiên như
phạm trù chim sẽ có sự vận hành vô cùng phong phú, đa dạng dưới sự tái hiện và phản
ánh hiện thực sinh động của các nhà thơ Để nghiên cứu đề tài này đạt kết quả tốt, chúng tôi đã kế thừa và vận dụng tất cả những thành tựu của các công trình kể trên
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ về nghĩa của
từ, trường từ vựng- ngữ nghĩa, tín hiệu thẩm mĩ…, từ kết quả khảo sát tư liệu, đề tài sẽ
chỉ ra ý nghĩa của từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan
Viên Mục đích là góp phần đưa ra cách tiếp cận một vấn đề trong tác phẩm văn học trên cơ sở vận dụng những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại Đó cũng là một mục tiêu cơ bản trong giảng dạy văn học ở các trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Trang 11Để đạt được mục tiêu nghiên cứu này chúng tôi tiến hành khảo sát từ ngữ biểu thị
phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên trên những tập thơ tiêu biểu
Sau đó dựa vào lý thuyết điển mẫu, chúng tôi sẽ phân lập các kết quả đã khảo sát và đưa vào hệ thống các bảng biểu thể hiện đặc điểm về hình thức sử dụng cũng như ý
nghĩa cơ sở của các từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên Việc làm này chính là nhằm phân lập các từ ngữ biểu thị phạm trù chim vào các
tiểu trường khác nhau để thấy rõ tính điển hình của những từ ngữ trung tâm trong hệ thống từ ngữ đã khảo sát Từ các bảng thống kê đã thu thập được này, chúng tôi tiến
hành miêu tả, phân tích chỉ ra nội dung, ý nghĩa của các từ ngữ biểu thị phạm trù chim
trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên Trong đó, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu kĩ những đơn vị điển hình được các tác giả sử dụng nhiều nhất trong các tác phẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ những đặc điểm cụ thể về hoàn cảnh, điều kiện nghiên cứu, luận văn
này của chúng tôi chỉ lựa chọn xem xét vấn đề Từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong
thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên Như trên đã nói, đề tài nghiên cứu của chúng tôi
không đi sâu vào hướng nghiên cứu những đặc điểm về phong cách nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của hai tác giả (vốn thuộc lĩnh vực lí luận văn học, có nhiều nét giao thoa với ngôn ngữ học) Chúng tôi chỉ tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là thống kê-
miêu tả ngôn ngữ học các từ ngữ thuộc phạm trù chim trong tác phẩm của hai nhà thơ,
qua đó phần nào khắc họa được các đặc điểm sử dụng từ ngữ của mỗi nhà thơ trong lĩnh vực này Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ là tiền đề gợi dẫn hữu ích cho công cuộc nghiên cứu to lớn, phức tạp hơn rất nhiều là nghiên cứu so sánh đối chiếu toàn diện về phong cách nghệ thuật của hai nhà thơ Đương nhiên trong một số vấn đề phân tích bình giá cụ thể các ngữ liệu, khi cần thiết chúng tôi cũng có thể nêu đôi nét về cá tính, phong cách nghệ thuật của mỗi người đã chi phối như thế nào về việc dùng từ ngữ trong tác phẩm của mình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ có hạn của luận văn nên khi tìm hiểu đề tài Từ ngữ biểu thị phạm trù
chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu nhóm từ
Trang 12ngữ nói trên trong những bài thơ tiêu biểu của hai tác giả được in trong hai cuốn Chế Lan Viên toàn tập, NXB Văn học, 2002 và Tuyển thơ Tố Hữu, NXB Văn học, 2008
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Làm sáng tỏ nội dung ý nghĩa của các từ ngữ
biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên Phương pháp này
được vận dụng trong quá trình diễn giải các ngữ liệu tiêu biểu
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê những từ ngữ biểu thị phạm trù chim
trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên; từ đó phân loại các đơn vị thu thập được, đưa
ra những số liệu, tỉ lệ cụ thể về các nhóm từ được sử dụng Những kết quả nghiên cứu này được trình bày chủ yếu trên các biểu bảng thống kê, phân loại ngôn ngữ học
- Thủ pháp so sánh: Thủ pháp này dùng để đối chiếu, so sánh các số liệu đã khảo sát, thống kê, phân loại nhằm tìm ra một số nét chung và nét riêng của Tố Hữu và Chế
Lan Viên trong việc sử dụng từ ngữ biểu thị phạm trù chim, qua đó tìm hiểu tâm tư,
tình cảm của hai nhà thơ mang tư cách đại diện cho nếp cảm nếp nghĩ của dân tộc qua mỗi thời kì biến chuyển của đất nước trong thời gian gần một thế kỉ
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 4 phần: Mục lục; Quy ước viết tắt; Chính văn; Tài liệu tham khảo Trong đó, phần Chính văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2: Khảo sát các từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ
Chế Lan Viên
Chương 3: Nội dung ý nghĩa của các từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố
Hữu và thơ Chế Lan Viên
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ, trường từ vựng- ngữ nghĩa
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ
1.1.1.1 Khái niệm nghĩa của từ
Hiểu một cách chung nhất, nghĩa của từ, ngữ cố định là toàn bộ nội dung tinh thần mà một từ, ngữ cố định gợi ra khi chúng tiếp xúc với từ, ngữ đó Nhờ nghĩa của
từ mà chúng ta kết hợp từ với từ để tạo nên nghĩa của câu và nhờ nghĩa của từ trong một câu mà chúng ta hiểu được nghĩa của câu đó
1.1.1.2 Các thành phần trung tâm trong nghĩa của từ
Trong các thành phần nghĩa của từ nêu ở trên, các nhà ngôn ngữ học thường phân thành hai bộ phận là bộ phận trung tâm, điển hình gồm có thành phần nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm; nghĩa ngữ pháp là bộ phận đầu cùng của nghĩa biểu niệm nên thường gộp vào nghĩa biểu niệm, khi cần mới được tách ra; bộ phận phi trung tâm, kém điển hình bao gồm nghĩa biểu thái, nghĩa liên tưởng Trong bộ phận nghĩa phi trung tâm, các nhà nghiên cứu thường nói nhiều đến nghĩa biểu thái, nghĩa liên tưởng Sau đây là các thành phần nghĩa đó
trước mắt) Nhưng người ta vẫn có thể hình dung sự vật như thế nào thì được gọi là
chim non Cái biểu tượng chung bao gồm tất cả những sự vật được gọi làchim non, đó
là nghĩa sở thị (hay nghĩa biểu vật) của từ này Như vậy, nghĩa biểu vật của các từ bò, sách, nhà, cây, chạy, đen, buồn… là tất cả những đối tượng về sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất được các từ này biểu thị mà ta cảm biết được
Trang 14Nghĩa biểu vật của từ còn là phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng Chẳng hạn,
nghĩa biểu vật của các từ thương, yêu, hờn, dỗi, âu yếm, ăn uống, suy nghĩ, hứa, nói mát, chửi, tặng … là người, không phải là nghĩa biểu vật của các từ bất động vật
Một số điểm cần lưu ý về nghĩa biểu vật:
Nghĩa biểu vật là sự liên hệ giữa từ với đối tượng (sự vật, hiện tượng, quá trình, hoạt động, tính chất …) Khi từ biểu thị (chỉ ra, gọi tên …) sự vật, ta nói từ có nghĩa biểu vật Với nghĩa biểu vật, từ là tên gọi của sự vật, thuộc tính, hoạt động Nếu thay thế nghĩa biểu vật của từ với hình thức biểu vật phi ngôn ngữ tương ứng, chẳng hạn dùng tay để chỉ, dùng hình vẽ để biểu thị, ta sẽ thấy rõ hơn nghĩa biểu vật của từ Ví
dụ, ta thay nghĩa biểu vật của từ bút bằng chiếc bút, bức tranh vẽ bút; thay nghĩa biểu vật của từ chạy bằng hành động trực quan chạy …
Nghĩa biểu vật không chỉ tồn tại trong từ mà còn tồn tại trong cụm từ tự do, cụm từ cố định Tuy nhiên nghĩa biểu vật của từ mang tính tổng hợp, khái quát cho cả một chủng loại sự vật, nó chỉ gọi tên đối tượng một cách trực tiếp mà không chỉ ra đặc điểm của đối tượng Nó là tên gọi, định danh có tính “ngẫu nhiên” không biểu thị bản chất của sự vật, do vậy mối quan hệ giữa nó với đối tượng là mang tính võ đoán (không có lý do) Đối tượng được gọi tên ấy (sự vật, hiện tượng, quá trình hoạt động tính chất…) là cái biểu vật Cái biểu vật này có thể là hiện thực hoặc phi hiện thực, vật chất hoặc phi vật chất, là toàn bộ các cá thể đối tượng được từ gọi tên, là phạm vi biểu vật của từ đó
Trong thực tế khách quan, sự vật, hiện tượng tồn tại ở dạng cụ thể, cá thể còn
nghĩa biểu vật của từ manh tính tổng hợp, khái quát cho cả chủng loại, sự vật, hiện tượng Ví dụ, ý nghĩa biểu vật của từ đi là [hoạt động dời chỗ] nói chung nhưng thực tế lại có đi nhanh, đi chậm, đi lên đường, đi ra vườn, người đi, mèo đi…; ý nghĩa biểu vật của từ nhà là [công trình xây dựng dùng để ở]… nhưng trong thực tế mỗi cái nhà lại có
hình khối, cách xây dựng lắp ghép, vị trí, kích cỡ, chất liệu…cụ thể rất khác nhau
Nghĩa biểu vật của từ không hoàn toàn tương ứng với sự vật mà nó gọi tên trừ nghĩa biểu vật của thuật ngữ khoa học, thuật ngữ nghề nghiệp Ví dụ, trong ngôn ngữ thông dụng, trong tri nhận dân gian thông thường phổ quát ta vẫn gọi một bộ phận của
rễ cây phình to, hình tròn, nằm chìm dưới mặt đất là củ như củ khoai, củ sắn, củ chuối,
Trang 15củ lạc, củ hành, củ tỏi … nhưng trong khoa học củ chỉ đúng với khoai, sắn, còn lạc thì phải gọi là quả lạc, còn su hào, chuối phải gọi là thân…Cũng như vậy, trong ngôn ngữ
ta gọi loài động vật sống dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang, đẻ trứng… là cá như cá chép, cá quả, cá rô, cá thu, cá ngừ, cá voi, cá sấu…nhưng trong khoa học cá chỉ dùng với chép, quả, rô, thu, ngừ…còn voi phải xếp vào loại thú (vì loài này mang
những đặc điểm của loài thú như thở bằng phổi, đẻ con, nuôi bằng sữa)…
Cần thấy rằng, tồn tại thế giới mang tính tổng thể, liên tục (continium), để nghiên cứu nó, ta phải “chia cắt” tổng thể nó ra thành từng bộ phận ứng với các
“trường” thuộc những phạm vi, bình diện khác nhau Việc “chia cắt” này phụ thuộc vào thói quen tư duy, thói quen ngôn ngữ của chúng ta Thuyết tương đối luận ngôn ngữ, đại diện là Sapir và Whorf, đã chỉ ra rằng ngôn ngữ chia cắt thực tại theo những cách khác nhau và cách nhìn của chúng ta về thế giới không chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng Điều này thấy rất rõ khi đối sánh các ngôn ngữ Có những
sự vật có từ gọi tên trong ngôn ngữ này mà không có từ tương ứng trong ngôn ngữ
khác Chẳng hạn, tiếng Việt có các từ chỉ sự vật phở, bánh cuốn, áo dài, chợ quê…mà
tiếng Anh không có từ tương ứng Có những sự vật mà ở ngôn ngữ này có một từ,
ngôn ngữ kia lại có nhiều từ biểu thị Thí dụ, tiếng Việt có các từ giặt, rửa, vo, gội…cả bốn từ này tương đương với một từ tiếng Anh là Wash, tiếng Việt có một từ xanh, tiếng Anh lại có hai từ cùng chỉ màu xanh là green và blue
Kết luận: Nghĩa biểu vật là một phạm trù của ngôn ngữ, là kết quả của sự ngôn ngữ hóa các sự vật ngoài ngôn ngữ
b Nghĩa biểu niệm
Nghĩa biểu niệm còn gọi là nghĩa sở biểu Nếu quan hệ giữa nghĩa biểu vật với
sự vật mang tính võ đoán, không giải thích được lý do thì quan hệ giữa nghĩa biểu
niệm với nghĩa biểu vật mang tính có lý do (Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, tr 180-181) Tuyệt đại đa số các từ, giữa tên gọi với sự vật làm thành nghĩa biểu
vật của chúng hoàn toàn không có mối quan hệ tiền ước nào, dùng tên gọi này chỉ sự vật này đều do quy ước, thỏa thuận Nhưng quan hệ giữa nghĩa biểu vật với nghĩa biểu niệm là có lí do
Trang 16Tác giả Đỗ Hữu Châu chỉ ra rằng: “Nghĩa biểu niệm của từ là hiểu biết về nghĩa biểu vật của từ, là sự ngôn ngữ hóa các khái niệm về sự vật Đó là nghĩa quan hệ giữa
các nghĩa biểu niệm trong từ vựng một ngôn ngữ quy định” (Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, tr 95) Như vậy, nếu nghĩa biểu vật là sự ngôn ngữ hóa sự vật ngoài ngôn
ngữ thì nghĩa biểu niệm là sự ngôn ngữ hóa khái niệm về sự vật Nghĩa biểu niệm còn
do quan hệ hệ thống trong từ vựng của một ngôn ngữ mà có Chẳng hạn, ở câu Chim
là loài động vật biết bay, có lông vũ, mỏ, cánh, đẻ trứng, …tất cả các đặc trưng, tính chất của cái gọi là chim này đã phân biệt chim với các động vật khác (ong, sâu, bướm, dơi …) được gọi là nghĩa sở biểu, nghĩa biểu niệm của từ chim
Cấu trúc nghĩa biểu niệm kết hợp thành nghĩa biểu niệm Đó là một cấu trúc do
các nét nghĩa (semantic featuares) còn gọi là nghĩa tố (seme), yếu tố ngữ nghĩa nhỏ
hơn cấu thành Các nét nghĩa này một phần phản ánh các thuộc tính của sự vật ngoài
ngôn ngữ, một phần do cấu trúc ngôn ngữ quy định Ví dụ nghĩa biểu niệm của từ đi
một phần phản ánh các thuộc tính của hoạt động đi, một phần chịu sự quy định về
nghĩa biểu niệm của các từ chạy, nhảy, bò, bơi, lăn…; nghĩa biểu niệm của từ mắt một
phần phản ánh các thuộc tính của bộ phận mắt, một phần chịu sự quy định về nghĩa
biểu niệm của các từ mũi, miệng, tai, trán…Hay nghĩa biểu niệm của từ chim là một cấu trúc bao gồm các nét nghĩa: loài động vật có xương sống, biết bay,có lông vũ, mỏ, cánh, đẻ trứng…, những nét nghĩa này vừa phản ánh những đặc điểm của chim vừa
chịu sự câu thúc về nghĩa biểu niệm của các từ chỉ các động vật cũng biết bay như
ong, bướm, dơi… Trong các nét nghĩa biểu niệm có những nét nghĩa chung, có mặt
trong nhiều từ và những nét nghĩa riêng chỉ có ở từng từ Dựa vào sự đối chiếu những nét nghĩa chung này ta sẽ tìm ra được nghĩa biểu niệm của từng từ
Như vậy: nghĩa, ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định giữa các nét nghĩa và những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ
Nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu vật hợp lại làm nên nghĩa biểu hiện-nghĩa miêu
tả của từ, là bộ phận lõi trung tâm, cơ bản của nghĩa từ Bộ phận này vừa có tính khách quan, gắn với đối tượng trong thực tế khách quan vừa có tính chủ quan, mang đặc trưng văn hóa tư duy riêng của từng dân tộc Trong từ điển, hai bộ phận nghĩa này thường được nêu đầu tiên theo nguyên tắc lý thuyết điển dạng đã nêu ở trên
Trang 171.1.2 Sơ lược về trường từ vựng – ngữ nghĩa
Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa, trường từ vựng (semantic
field, lexical field), trường từ vựng - ngữ nghĩa, là một lĩnh vực nghiên cứu từ vựng
học mới được giới thiệu vào Việt Nam mấy chục năm gần đây Lí thuyết này bắt nguồn từ những tiền đề duy tâm của trường phái W Humboldt và phần nào từ những
tư tưởng của F.de Saussure về tính cấu trúc của ngôn ngữ, đặc biệt là những vấn đề về quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ
Từ khi ra đời đến nay, lí thuyết này đã được vận dụng vào nghiên cứu nhiều
kiểu trường nghĩa Kiểu trường nghĩa được nghiên cứu nhiều nhất là “nhóm từ vựng -
ngữ nghĩa” Đó là kiểu trường nghĩa được xác lập dựa trên từ khái quát, biểu thị các khái niệm chung nhất, trừu tượng nhất và trung hoà Ví dụ: trường nghĩa thời gian, trường nghĩa không gian, trường nghĩa màu sắc, trường nghĩa thực vật…
Còn có kiểu trường được xác lập theo một khái niệm chung nhất cho tất cả các
từ của nhóm: nhóm các từ ngữ chỉ sự di chuyển trong không gian; những từ chỉ hướng; chỉ cảm xúc, nói năng, suy nghĩ; chỉ quan hệ thân tộc…; ý nghĩa sự vật ở danh từ, ý nghĩa danh từ chỉ tên người, ý nghĩa tính chất ở tính từ… Đặc biệt, cũng coi là trường
nghĩa cả những kết cấu ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa (kiểu trường nghĩa nhỏ nhất) Giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa có một yếu tố chung, tạo nên trung tâm
ngữ nghĩa để thu hút các từ có quan hệ với nó Ví dụ trường nghĩa của từ mắt, từ xuân,
từ đánh, từ yêu…
Lí thuyết trường nghĩa còn được vận dụng vào nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ Lĩnh vực này, theo J Lyons: “Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình điều tra các hệ thống từ vựng trong các vốn từ của những ngôn ngữ khác nhau, liên quan tới các khu vực như họ hàng, màu sắc, thực vật và động vật, trọng lượng và đo lường, cấp bậc quân đội, cách đánh giá trong đạo đức và thẩm mĩ (…) Các kết quả đã chứng minh chắc chắn cho giá trị cách tiếp cận cấu trúc chủ nghĩa về ngữ nghĩa học” [12]
Ở Việt Nam, nhiều công trình đã giới thiệu, vận dụng lí thuyết này vào nghiên cứu các trường nghĩa, nghĩa của từ, đối chiếu trường nghĩa của tiếng Việt với trường nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác
Trang 181.1.2.1 Khái niệm trường nghĩa
Do thế giới phản ánh vào ngôn ngữ mang tính tổng thể, liên tục (continium), để nghiên cứu nó, chúng ta phải “chia cắt” tổng thể đó thành từng bộ phận Ứng với đó là các “trường” với những phạm vi, bình diện khác nhau Các nhà ngôn ngữ học Lyons, Jackendoff, Fishman, Hudson đã chỉ ra rằng, việc đưa yếu tố này hay khác vào từng
“trường” như thế đều chịu áp lực của tâm lí học ý thức Bằng so sánh, đối chiếu chúng ta tìm ra sự tương đồng hay đối lập giữa các sự vật, hiện tượng để chia cắt chúng thành từng “lát” thích ứng với thói quen tư duy, thói quen ngôn ngữ của chúng
ta Khi nghiên cứu “bức tranh ý niệm về thế giới trong ngôn ngữ” (Jackendoff gọi đó
là “thế giới được chiếu lại- projected world), ta không thể không chú ý đến “cách thức
tư duy riêng” là lối cảm, lối nghĩ riêng của từng dân tộc, từng thời đại phản ánh vào các ý nghĩa ngôn ngữ
Quan niệm về trường nghĩa (trường từ vựng- ngữ nghĩa) của chúng tôi trình bày trong luận văn chủ yếu được dựa trên các định nghĩa: “Trường nghĩa là một tổ chức các từ và các biến thể sử dụng từ có quan hệ với nhau làm thành một hệ thống Hệ thống này cho thấy mối liên kết của chúng dựa theo một cái gì đó Ví dụ những từ thân tộc như father, mother, brother, sister, uncle, aunt đều thuộc vào trường nghĩa từ thân tộc chỉ các thành viên trong gia đình, hạt nhân được xác lập dựa trên căn cứ về thế hệ, giới tính, cả bên nội lẫn bên ngoại” [12]; định nghĩa: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ
nghĩa” [19] Theo các định nghĩa này, có thể hiểu, trường nghĩa là một nhóm, một tập hợp, một tổ chức các từ có mối quan hệ nào đó với nhau về ngữ nghĩa làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Việc xác lập trường nghĩa do
đó cần phải được dựa trên những tiêu chí ngôn ngữ nhất định
1.1.2.2 Các loại trường nghĩa
Việc phân lập một trường nghĩa về cơ bản được dựa trên bảy tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất, do các trường nghĩa là các sự kiện thuộc phạm trù ngôn ngữ
cho nên việc phân lập chúng trước tiên là phải dựa vào các tiêu chí ngôn ngữ - những ý
nghĩa ngôn ngữ Ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ, cơ sở để tập hợp các từ thành trường Từ mang tư cách từ vị (lexeme), được xét trong những mối quan hệ:
quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn, quan hệ phái sinh ngữ nghĩa Tiêu chí thứ hai, phải
Trang 19tìm được các trường hợp điển hình - từ điển hình (từ trung tâm) chỉ mang cái đặc
trưng từ vựng - ngữ nghĩa được coi là cơ sở Chính nó sẽ tạo ra một “lực” nghĩa “thu
hút, hấp dẫn” các từ khác vào trong một trường Theo tiêu chí này, trường nghĩa có ranh giới tương đối, có thể độc lập hoặc giao nhau, bao hàm lẫn nhau, có những trường
hợp điển hình (trung tâm) và có những trường hợp kém điển hình (ngoại vi) Hudson
đã nói khá rõ điều này khi phân tích các cấp độ cơ bản của khái niệm Vận dụng kết quả nghiên cứu tâm lí học, nhân chủng học, Hudson cho rằng “trong các khái niệm cơ bản có ít nhất một vài cấu trúc thứ bậc”, chúng “được sắp xếp thứ tự quanh khái niệm
cơ bản thông thường là 5 đến 6 cấp độ, trong đó từ 1 đến 3 là cấp độ cơ bản”Tiêu chí ba, dựa vào các lớp ý nghĩa biểu vật và biểu niệm, có thể phân biệt trường biểu vật
và trường biểu niệm Tiêu chí bốn, với trường biểu vật, tiêu chí xác lập chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu vật Tiêu chí năm, với trường nghĩa biểu niệm, tiêu chí xác lập cũng chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu niệm Tiêu chí sáu, với trường
tuyến tính, là dựa hẳn vào ngữ nghĩa từ trung tâm Từ này phải đáp ứng được yêu cầu
về quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp của các từ trong trường Tiêu chí bảy dùng để xác
lập trường liên tưởng Cơ sở tạo lập trường này là các nghĩa ngữ dụng(meanings in use) của từ trung tâm Đó là những nghĩa mới được tạo ra trong quá trình từ hành
chức, chưa đi vào hệ thống Từ trung tâm khi cùng xuất hiện với loạt các từ nào đấy
trong nhiều ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa Khi đó, chúng sẽ tạo thành một trường nghĩa liên tưởng mà các từ có quan hệ với nhau nhờ mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó
Theo các tiêu chí trên, hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ có thể được phân lập ra các loại trường nghĩa:
a Trường nghĩa biểu vật
Trường biểu vật là một tập hợp từ ngữ có cùng hạt nhân về ý nghĩa biểu vật (denotavite meanings) Từ điển hình của trường thường là các danh từ có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật Chẳng hạn,
trường nghĩa về chim chóc, từ trung tâm khái quát chim sẽ tập hợp được các từ
có cùng hạt nhân ý nghĩa về chim: loài chim, cánh chim, đàn chim, bay, hót, mổ,
vỗ cánh, tổ, bầu trời, sâu bọ…
Trang 20Các trường biểu vật khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức các đơn vị, miền phân bố ở từng ngôn ngữ Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau, các trường hợp có thể “thẩm thấu”, “giao thoa” nhau khi một số từ của trường này cùng nằm trong trường kia Ví dụ, trong
trường nghĩa chim chóc có các từ ngữ: chân, cánh, lông, đầu, mỏ, mắt, nhanh, chậm, kêu, bay, mổ, rỉa cánh, làm tổ, kết bầy, ấp trứng, mớm mồi…dễ dàng nhận
thấy các từ ngữ này còn có ở trong nhiều trường nghĩa chỉ các động vật khác
b Trường nghĩa biểu niệm
Trường biểu niệm là một tập hợp từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm (significative meanings) của từ
Giống trường biểu vật, trường biểu niệm lớn có thể phân thành các trường nhỏ hơn với những miền, những mật độ khác nhau Do từ có nhiều nghĩa biểu niệm, nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm khác nhau Các trường biểu niệm cũng giao thoa, thẩm thấu vào nhau, cũng có lõi trung tâm là các từ điển hình và các lớp
ngoại vi là các từ kém điển hình Có thể lấy ví dụ một số trường biểu niệm của động từ bay:1.(hoạt động), (dời chỗ): bay, nhảy, đi, chạy, leo, trèo, bơi, lặn…; 2 (hoạt động), (vị trí), (mục đích): ẩn, trốn, tránh, kiếm mồi, tha mồi, làm tổ, tránh rét ; 3, (Hoạt động), (cách thức), (môi trường): nghiêng cánh, tung cánh, chao liệng, lượn, định hướng, dẫn đường, quan sát, cảnh giác, đề phòng, sà xuống ; 4, (Hoạt động), (phương hướng): ra, vào, lên, xuống, sang, qua ; 5, (Hoạt động), (tính chất): nhanh, chậm, nhẹ
nhàng, mạnh mẽ, run rẩy, yếu ớt…
c Trường nghĩa liên tưởng
Sự phân lập ra các trường kể trên là cần thiết để tìm hiểu những quan hệ và cấu
trúc ngữ nghĩa- ngữ pháp, phát hiện những đặc điểm nội tại và đặc điểm hoạt động của
từ Song đó mới chỉ là sự phân tích “cấu trúc bề mặt” (surface structure) của ngôn ngữ, trong ngôn ngữ còn có “cấu trúc bề sâu” (deep structure) của nó là ý thức (N Chomsky) Đó là lí do để xác lập trường nghĩa liên tưởng
Cơ sở xác lập trường liên tưởng là hệ thống ngữ nghĩa mới của từ nảy sinh do liên tưởng khi từ đi vào hoạt động hành chức Những ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của
Trang 21từ được sử dụng nhiều lần còn gắn liền với các dấu ấn cá nhân như thói quen, sở trường, nghề nghiệp, giai tầng xã hội Các “ý nghĩa” mới được hình thành từ bên
ngoài do sử dụng sẽ bổ sung, “làm đầy” thêm thành ý nghĩa liên hội cho từ bên những
ý nghĩa đã cố định trong hệ thống cấu trúc của từ
Ý nghĩa liên hội (sens connotatif) là ý nghĩa được hình thành do liên tưởng, do
sử dụng,có tính lâm thời, chưa đi vào hệ thống cấu trúc của từng đơn vị ngôn ngữ
Nó là hệ quả của sự xuất hiện đồng thời giữa từ trung tâm với các từ khác trong nhiều ngữ cảnh trùng lặp Ch Bally dựa vào gợi dẫn của Saussure về “chòm liên tưởng” (constellation assocciatives) đã cho rằng mỗi từ là trung tâm của một trường
liên tưởng [17] Chẳng hạn, ta thấy các trường liên tưởng về từ cò – biểu thị một loài
chim cụ thể có nhiều nét nghĩa khác nhau trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố
Hữu.Chế Lan Viên viết trong bài thơ (Tìm, 644), nhà thơ triết lí về sự tìm tòi trong thơ
“Thơ như con nai trắng, con ngựa hồng, anh không bao giờ gặp trong cuộc đời thường nhật/ Dễ gặp như cò chứ ít khi đến cùng anh như vạc ăn đêm” Cò – vạc, hai
loài chim trở thành ẩn dụ gợi liên tưởng về những giá trị đích thực mỗi nhà thơ đi tìm trong cuộc sống mà không phải ai cũng nhìn thấy, nhà thơ nào cũng có được nên phải luôn tìm tòi, khám phá là một đòi hỏi tất yếu của người làm thơ… Tố Hữu lại có liên tưởng khác Nhà thơ nghĩ đến cánh cò trong lời hát ru hời của chị hai mà giờ đây bảy
mươi mốt tuổi đời vẫn còn nhớ lại “Cái cò, cái vạc à ơi!” (Chị và em, 609) Cũng cánh
cò ấy là hình ảnh người chị hai tảo tần hôm sớm trong đói khổ, chiến tranh “Thân cò lặn lội bờ sông/ Ba mươi năm hãi hùng bom đạn”… Mỗi nhà thơ khác nhau trong cảm
nhận, trong quan điểm, suy nghĩ nên liên tưởng cũng khác nhau
Trường liên tưởng thường không ổn định, ít có tác dụng phát hiện những quan
hệ cấu trúc ngữ nghĩa nội tại nhưng nó lại có hiệu lực giải thích về việc dùng từ trong tác phẩm văn học Có khi phải viện đến trường liên tưởng thì một số hiện tượng như chuỗi kết hợp bất thường, mơ hồ về nghĩa trong ngôn phẩm mới phần nào được làm
sáng tỏ Những trường hợp như những loài chim máu, những siêu chim, mùa hạnh phúc, mùa mồ côi, mùa gái góa… trong thơ Chế Lan Viên là một ví dụ
d Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Cơ sở xác lập trường là mối quan hệ trên trục ngữ đoạn (syntagmatical axis) của các đơn vị ngôn ngữ Các từ lập thành trường tuyến tính - quan hệ cú pháp với từ
Trang 22trung tâm sẽ tường minh hóa các nét nghĩa có tính tiềm ẩn trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ này Thực tế những mối liên hệ, kết hợp có tính hình tuyến này của từ trung tâm đều chịu sự quy định chặt chẽ của các ý nghĩa từ vựng- ngữ pháp, những “ngữ trị” (valence) của từ Nghiên cứu các ý nghĩa, các kết hợp này, chúng ta có thể tìm ra những nội dung ngữ nghĩa và tính chất của các quan hệ đó Chẳng hạn, trường tuyến
tính của từ bay được xác lập dựa trên mối quan hệ giữa từ bay với các từ chim, cánh,
tung, lượn Thông qua các kết hợp ngữ đoạn, từ bay sẽ bộc lộ các ý nghĩa từ vựng-
ngữ pháp của chúng
1.2 Sơ lược về lí thuyết phân tích diễn ngôn
1.2.1 Khái niệm phân tích diễn ngôn
1.2.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ có sự tham gia của ba nhân tố lớn là ngữ cảnh và các hợp phần của ngữ cảnh; phương tiện ngôn ngữ; diễn ngôn (DN) Như vậy, DN- thông điệp bằng ngôn ngữ trước hết là một trong ba nhân tố lớn kể trên của một cuộc giao tiếp Tìm hiểu DN do đó cần phải chú trọng tìm hiểu các chức năng của giao tiếp được thể hiện trong DN
1.2.1.2 Khái niệm phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn là phân tích nội dung DN và các yếu tố hình thức của DN, bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nên DN như các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ chuyển các câu thành phát ngôn, các yếu tố kèm lời và
phi lời , được dùng khi người nói nói ra phát ngôn, DN
Nội dung của DN có hai thành phần thống hợp với nhau mật thiết là thành phần thông tin và thành phần liên cá nhân Thành phần nội dung thông tin (còn gọi là thành phần nghĩa sự vật, nghĩa miêu tả) thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp, thuộc lĩnh vực nghĩa học của TH học (ngữ nghĩa phi dụng học), bị quy định bởi tính đúng/ sai của logic Thành phần nội dung liên cá nhân tương ứng với các chức năng giao tiếp như bộc lộ, thiết lập quan hệ, hành động, giải trí, thành phần này không bị quy định bởi tính đúng/ sai logic mà thuộc nội dung nghĩa ngữ dụng của DN Bởi vậy, hiểu, thuyết giải đúng nội dung ý nghĩa của một DN là phải hiểu, thuyết giải đúng đồng thời cả hai loại thành
Trang 23phần nội dung Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố hình
thức ngôn ngữ của DN, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của các đối ngôn
1.2.2 Sơ lược về một lí thuyết phân tích diễn ngôn - lí thuyết phân tích dụng học
1.2.2.1 Khái niệm ngữ dụng học
Ngữ dụng học một lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học, nghiên cứu quan
hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh, đặc biệt với nhân vật, với hoàn cảnh giao tiếp và với các hoạt động giao tiếp thực sự của ngôn ngữ trong xã hội Như vậy, các nhân tố ngữ dụng là một bộ phận không thể tách rời trong cấu trúc hình thức và nội dung của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ và của các ngôn bản
Ngữ dụng học quan tâm trước hết đến nội dung liên cá nhân và đến cách thức phản ánh hiện thực được nói tới thành nội dung miêu tả của ngôn bản Các nhân tố ngữ dụng học có mặt khắp nơi trong ngôn ngữ và trong hoạt động ngôn ngữ Không thể hiểu được đầy đủ các yếu tố ngôn ngữ, không thể lý giải thỏa đáng ngôn bản nếu không tính đến các nhân tố ngữ dụng thống hợp với các nhân tố thuộc cấu trúc của ngôn ngữ Cần nhắc lại: không lý giải được đúng ngôn bản, tức là không ứng xử được thích hợp trong giao tiếp
1.2.2.2 Lí thuyết phân tích dụng học- nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Lí thuyết phân tích dụng học tựu trung giải quyết bốn vấn đề chính: chiếu vật; chỉ xuất; hành động ngôn ngữ; nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn Từ giới hạn của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề trung tâm, cơ bản của dụng học có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ giải quyết của đề tài là vấn đề nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn
Một phát ngôn (tức một câu hiểu theo cú pháp học thông thường) ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu câu ) còn có thể gợi ra rất nhiều ý nghĩa khác mà người nghe phải dùng đến thao tác suy ý và dựa vào những yếu
tố ngoài ngôn ngữ, vào ngôn cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại mới nắm bắt được ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố
ngôn ngữ đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh, có nhà nghiên cứu gọi là hiển ngôn,
Trang 24hay là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được, gọi là ý nghĩa hàm ẩn Ý nghĩa này bao gồm hai loại là nghĩa tiền giả định và nghĩa hàm
ý (còn gọi là nghĩa hàm ngôn không tự nhiên) Có thể thấy rõ thêm các thành phần nghĩa này qua việc khảo sát nghĩa của các từ ngữ thuộc phạm trù chim trong đoạn thơ sau của
Chế Lan Viên:
Anh ở trong nhà, trong sân quanh quẩn / Vào, ra cùng vịt, gà, ngan , ngỗng… / Không thấy con đại bàng đồng chí Đặng Tính bắn nửa giờ trước lúc hi sinh,/ Không thấy đàn chim én Long Châu xôn xao trên tháp đèn của đảo lượn quanh,/ Không thấy chim anh
vũ rừng Lào đổi từ triền mưa sang triền nắng…/ Thế mà anh đòi viết về loài có cánh! (Thơ bình phương – đời lập phương, 101)
Đây là những dòng thơ mang ý nghĩa hàm ẩn Ý nghĩa hàm ẩn này được hiểu từ nghĩa tiền giả định và nghĩa hàm ý của câu thơ Những dòng thơ đều nói về những loài
có cánh như vịt, gà, ngan, ngỗng, đại bàng, chim én, chim anh vũ Và hiển nhiên ai cũng biết vịt, gà, ngan, ngỗng là những vật nuôi quen thuộc quanh quẩn trong nhà, trong sân tuy có cánh nhưng ít khi bay hoặc bay rất thấp Ngược lại đại bàng, chim én, chim anh vũ là những loài sinh ra để bay lượn, vẫy vùng trên bầu trời rộng lớn Chế Lan Viên đã sử dụng nghĩa tiền giả định này để người đọc nhìn rõ sự đối lập hiển nhiên
của những loài có cánh trong hoạt động bay lượn của chúng để từ đó tự bạn đọc hiểu
được nghĩa hàm ý nhà thơ đang muốn nói tới Một con người luôn trăn trở vì nghệ thuật
đang nói đến sự tìm tòi những giá trị lớn lao trong cuộc sống và trong sáng tác Nếu người làm thơ chỉ quanh quẩn trong nhà, trong sân cùng vịt, gà, ngan, ngỗng làm sao
có thể viết về loài có cánh?
Như vậy lí thuyết phân tích dụng học- nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn là những thành phần ý nghĩa vô cùng quan trọng để chúng ta hiểu và phân tích ý nghĩa của thơ ca
1.3 Khái lược về tín hiệu thẩm mĩ văn chương
1.3.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ
Vấn đề tín hiệu thẩm mĩ(THTM) có nhiều tác giả đã bàn đến: E.Cassirer, S.Langer,R.Barther,A.Belưi, V.I.Prôpp, M.Bakhtin, M.B.Khrapchenco, B.X.Likhasop, Iu.A.Philipiep, Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Trần Ngọc Thêm, Trần
Trang 25Đình Sử, Phan Ngọc, Lại Nguyên Ân, Phương Lựu, Trương Thị Nhàn, Phạm Thị Kim Anh Ở luận văn này chúng tôi xin tiếp thu những thành tựu từ những công trình nghiên cứu của các tác giả trên
Trước hết, THTM là một loại tín hiệu cho nên nó cũng mang những đặc trưng của tín hiệu nói chung Theo Saussure, tín hiệu có hai mặt (tín hiệu nhị diện) là cái biểu
hiện (cbh - hình thức vật chất cảm tính) và cái được biểu hiện (cđbh - nội dung ý nghĩa),
“hai mặt này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này là có cái kia” Theo
Ch.W.Moris, tín hiệu có ba mặt (tín hiệu tam diện): kết học (syntaxtics) - quan hệ giữa các tín hiệu; nghĩa học (semantics) - quan hệ giữa tín hiệu với cđbh; dụng học (pragmatics) - quan hệ giữa tín hiệu với người sử dụng (người lí giải) Như vậy, Morris
và trước ông, Ch.S.Pierce đã bổ sung thêm vào cấu trúc tín hiệu nhị diện một nhân tố
thứ ba nữa: cái lí giải - (interpretant) (theo Pierce) hay người sử dụng - (intepreter),
người lí giải (theo Morris) Cái mới trong lí thuyết của Morris là cần phải thấy được tính thống nhất biện chứng giữa hai mặt nội tại và ngoại tại của một tín hiệu
Đỗ Hữu Châu đã tổng hợp các ý kiến trên và đưa ra việc xác định 4 nhân tố cần phải có với một tín hiệu: 1, phải có một hình thức cảm tính (cbh); 2, phải có một nội dung ý nghĩa (cđbh); 3, phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng của thông tin); 4, phải nằm trong một hệ thống nhất định
Bước vào thế giới nghệ thuật, các tín hiệu thông thường sẽ chuyển hoá thành THTM, mang những đặc thù nghệ thuật nhất định Hiểu một cách chung nhất, THTM
là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Đỗ Hữu Châu có
những kiến giải cụ thể hơn về THTM ngôn ngữ: THTM là phương tiện sơ cấp (primaire) của văn học Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - THTM, cú pháp - THTM TH ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức - cbh của THTM Quan
niệm khả chấp hơn về THTM được nêu trong luận án tiến sĩ của Phạm Thị Kim Anh
như sau: THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, những cảm xúc thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương; các yếu tố của chất liệu màu sắc với hội hoạ; âm thanh, nhịp điệu với âm nhạc ) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ
Trang 26Trong hệ thống từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan
Viên xuất hiện rất nhiều THTM đã được hai nhà thơ lựa chọn và sáng tạo để thể hiện ý
đồ nghệ thuật của mình Điển hình là những THTM có giá trị như: THTM cò, cánh chim, bay, hót … trong thơ Chế Lan Viên, THTM én, mùa xuân, bầu trời… trong thơ
Tố Hữu Những THTM này sẽ được chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu ở các chương sau
1.3.2 Một số đặc tính cơ bản của THTM
1.3.2.1.Đặc tính biểu hiện (tính thông tin - miêu tả)
Chức năng quan trọng của nghệ thuật là phản ánh hiện thực gắn liền với thuộc tính thông tin, biểu hiện Nếu không có thuộc tính này thì tín hiệu sẽ không có giá trị Cassirer nhấn mạnh hình thức trong THTM là “hình thức có ý nghĩa”, nó dường như
“chỉ dừng lại ở bề mặt của hiện tượng tự nhiên” nhưng kì thực “có thể bao hàm, hơn nữa, có thể thâm nhập vào toàn bộ lĩnh vực kinh nghiệm của con người” Nó “làm cho chúng ta nhìn thấy được sự vận động sâu sắc và đa dạng nhất của linh hồn con người”
Sự biểu hiện hiện thực của THTM nói chung đều dựa trên khả năng miêu tả, thay thế, “dẫn nhập” các sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào tác phẩm, vào phương tiện sử dụng Trong văn học, đó là những từ ngữ, những kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người Trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc lại vận động, thay đổi không ngừng.Bởi vậy, lượng thông tin biểu hiện trong THTM cũng không phải nhất
thành bất biến Những THTM chim, chim non, cánh chim, tiếng chim…trong thơ Tố
Hữu phần nhiều gợi lên tâm tưởng của một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi say mê nhiệt tình cách mạng nhưng cũng những THTM đó, trong thơ Chế Lan Viên lại là sự cộng hưởng
đa chiều của nhiều tầng suy luận, nhiều cung bậc cảm xúc, có khi chất chứa tâm sự yêu nước, khi tha thiết tình yêu, tình nghĩa đời thường, đặc biệt là để chuyển tải những triết luận về sáng tạo nghệ thuật…
Trang 27trong” của bản năng gốc, Langer cho rằng “nghệ thuật là hình thức điển hình của kí hiệu biểu tượng, kí hiệu tình cảm phi logic” Những kí hiệu này “làm cho chúng ta nhận thức được hiện thực của những tâm trạng và tình cảm chủ quan” Do vậy, trong THTM, cảm xúc vốn là cái chủ quan của chủ thể sáng tạo đã được khách quan hoá thành một thành phần quan trọng của cơ cấu ngữ nghĩa THTM Cái cảm xúc ấy có khả năng khơi gợi sự đồng cảm cao độ ở người tiếp nhận, bởi chỉ có THTM mới là “hình thức có thể đem bản chất tình cảm nhân loại biểu hiện ra một cách rõ ràng” Thành phần nghĩa biểu cảm cảm xúc này là kết quả của sự hoà quyện đồng điệu giữa tình cảm chủ thể cá nhân tác giả với tình cảm khách thể mang tính nhân loại đã được hình thức hoá, nghệ thuật hoá Nhờ thế, nhân loại mới lí giải và cảm thụ được THTM, THTM mới hoàn tất được chu trình sinh tồn của mình Nhấn mạnh đặc trưng biểu cảm này, Langer đưa ra mệnh đề nổi tiếng: “Nghệ thuật là sự sáng tạo hình thức kí hiệu
tình cảm nhân loại” [45] Én là một THTM điển hình trong thơ Tố Hữu và cũng là một
THTM rất giàu yếu tố cảm xúc Tố Hữu đã lấy những xúc cảm chung của con người trước cánh én xuân của đất trời để truyền được nhiều nhất ý nghĩa thẩm mĩ
của chim én trong thơ ông – cánh én của khát khao, hi vọng và ước mơ lí tưởng
cộng sản cháy bỏng của con người suốt một đời không bao giờ thôi yêu bầu trời của
tự do, của đất nước
1.3.2.3 Tính biểu trưng
Đây là đặc tính của THTM xét trong mối quan hệ hai mặt cbh - cđbh, đó là mối
quan hệ “có lí do” liên quan đến năng lực “biểu trưng hoá”, đến khả năng của THTM
là nó vừa có tính chất biểu thị, chỉ ra, nói lên một cái gì (reference), vừa có tính chất
hàm nghĩa (implicit) - sự thêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn Cđbh của nó có ít nhất hai
thành phần nghĩa liên thông nhau: bề nổi được bộc lộ, bề chìm luôn tiềm ẩn gắn với những dự cảm, những vô thức cá nhân, vô thức tập thể như quan niệm của C.G.Jung
Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa
có tính chất ước lệ mà người ta “gán” cho nó trong một hoàn cảnh nào đó Nghĩa đó
là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi” Tính chất ước lệ này chỉ ra những lí
do về mặt lịch sử xã hội trong việc sử dụng các biểu trưng, chỉ ra việc lựa chọn chất
liệu - cbh nào làm biểu trưng đều có lí do Biểu trưng, một mặt, có tính hình tượng cụ
Trang 28thể, cbh nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực Mặt khác, là ý nghĩa
xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận
Cũng do tính biểu trưng, hiệu lực, giá trị của THTM phụ thuộc vào cách tri nhận, cách giải thích theo một thiên hướng nào đấy, một “mật ước” nào đấy của một cộng đồng mà có khi là trái ngược với quan niệm của một cộng đồng khác Chẳng hạn,
biểu trưng con rồng trong hội hoạ Trung Cổ và Phục Hưng tượng trưng cho cái ác và
hận thù, nhưng đối với người Trung Hoa, người Việt Nam, nó lại là biểu tượng của
hoàng đế với vương quyền tối thượng, là biểu tượng của sự cao quý, thiêng liêng.Cò
trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên được gửi gắm nhiều ý nghĩa biểu trưng Trong thơ Tố Hữu, đó là biểu trưng về quê hương, làng xóm bình yên, về ước mơ bay bổng lãng mạn, về linh hồn bất tử của những người con đã ngã xuống vì quê hương Ở thơ
Chế Lan Viên, cò lại mang những giá trị biểu trưng khác, đó là thân phận nô lệ của
người dân Việt trong quá khứ khổ đau, là những tìm tòi, sáng tạo mà người nghệ sĩ đạt được sau những phấn đấu nhọc nhằn…
1.3.2.4 Tính truyền thống và tính cách tân
Truyền thống là những thông tin -ngữ nghĩa của THTM đã được “kí mã sẵn”
trong tâm lí nghệ thuật dân tộc Có những thông tin còn bắt nguồn từ cổ mẫu (archetype) của vô thức nhân loại Theo Jung, cổ mẫu hay mẫu gốc “là một hình tượng được lặp đi lặp lại trong quá trình lịch sử ở khắp nơi mà tưởng tượng sáng tạo có mặt Nó là kết quả của
vô vàn cảm xúc cùng một kiểu được định hình từ kinh nghiệm điển hình của nhiều triệu thế hệ”[37].Tính truyền thống như vậy thể hiện ở những ý tưởng điển hình thường xuất hiện trở đi trở lại” biểu thị những quan hệ, quan niệm truyền thống, cả sức sống mãnh liệt mang tính tượng trưng, ước lệ.”
Tính cách tân của THTM thể hiện ở sự đổi mới, sáng tạo khi sử dụng THTM Song cách tân phải quan hệ biện chứng hữu cơ với truyền thống Chính trong tương quan với truyền thống, những nét mới mẻ độc đáo ở mỗi THTM mới được bộc lộ Cách tân có thể là việc sáng tạo một THTM trước đây chưa có Nhưng chủ yếu vẫn là
sự cải tạo, đổi mới các THTM có sẵn
Trong hệ thống từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên, cánh cò trắng là THTM giàu ý nghĩa Dựa trên ý nghĩa thẩm mĩ quen thuộc về
Trang 29cò, Gia Hiền, Nhà báo VN Express.net đã viết bài thơ “Những cánh cò màu xanh” trong bối cảnh mới của đất nước Trong bài thơ THTM con cò màu xanh chính là một
cách tân nghệ thuậtlàm dày thêm ý nghĩa thẩm mĩ của THTM con cò trong thơ ca nói
chung
1.3.2.5 Tính hệ thống
Khi phân tích các đặc tính trên của THTM, chúng tôi ít nhiều đề cập đến tính hệ
thống- đặc tính quan trọng nhất Là THTM nghĩa là nó phải thuộc về một hệ thống,
chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống Tính hệ thống của THTM thể hiện trên cả hai bình diện cấu trúc và chức năng Đó không chỉ là “một chỉnh thể” theo quan điểm cấu trúc luận của Saussure mà còn là một đơn vị hành chức theo quan điểm
của ngữ dụng học Chỉ hiểu được một THTM khi đặt nó vào hệ thống - môi sinh của
nó Hệ thống quy định chiều hướng tạo nghĩa cũng như chiều hướng luận nghĩa của THTM Theo đó, mọi cấp độ chuyển hoá tinh tế, phức tạp nhất giữa nội dung và hình thức trong THTM mới được làm sáng tỏ
Hệ thống của THTM trước hết là sản phẩm, là hình tượng nghệ thuật được nó góp phần cấu thành Các mối quan hệ hệ thống tạo ra giá trị của nó bao gồm: các quan
hệ nội tại giữa tín hiệu với những tín hiệu cùng xuất hiện trong tác phẩm thực hiện
những chức năng hướng nội và các quan hệ ngoại tại - giữa tín hiệu với những yếu tố
thuộc môi trường giao tiếp nghệ thuật, nhằm thực hiện các chức năng hướng ngoại Giá trị của THTM là tổng hòa ý nghĩa của các mối quan hệ nội- ngoại tại đó trong một đơn
vị cấu trúc - chức năng cụ thể
Về cấu trúc của THTM, cần phân biệt hai bình diện là trừu tượng và cụ thể Thuộc bình diện trừu tượng là những hằng thể của THTM cùng những mối quan hệ
của hằng thể làm nên cấu trúc bề sâu mang tính trừu tượng, cố định của nó Thuộc
bình diện cụ thể là những biến thể của THTM cùng những mối quan hệ giữa chúng
làm nên cấu trúc bề mặt cụ thể, hiện hữu của nó Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những biến thể này được phân thành 3 loại: biến thể từ vựng (BTTV) hay còn gọi là
biến thể tên gọi, ví dụ các BTTV cánh chim, chim non, đàn chim, vườn chim… của THTM trung tâm, điển hình chim; biến thể kết hợp (BTKH) ví dụ, chim bay mỏi cánh, chim lìa đàn, chim xa tổ, én chấp chới…; biến thể quan hệ (BTQH) ví dụ cánh chim-
Trang 30bầu trời, hải âu- ngư dân, cò- vạc- nhà thơ…Theo tác giả Phạm Thị Kim Anh, ngữ
nghĩa của một THTM nào đó chỉ được xác định dựa trên kết quả nghiên cứu tổng hợp
về các loại biến thể này Do vậy, nghiên cứu về THTM chính là nghiên cứu hệ thống biến thể của nó và nghiên cứu hệ thống THTM cũng chính là nghiên cứu hệ thống cấu trúc hình tượng mang tính cụ thể, hiện hữu của tác phẩm.[2,3]
Tính hệ thống của THTM không chỉ được biểu hiện qua mối quan hệ hằng thể -
biến thể của tín hiệu mà còn được thể hiện qua tính đẳng cấu của THTM
Đẳng cấu là sự giống nhau về quan hệ, về nội dung nhưng khác nhau về hình thức biểu hiện Còn có sự đẳng cấu giữa các cặp THTM Nghĩa của từng tín hiệu một
là khác nhau, quan hệ ý nghĩa giữa các tín hiệu trong từng cặp cũng khác nhau song nếu cùng đặt vào trong một hệ thống nào đó, chúng lại có quan hệ, ý nghĩa, cảm xúc giống nhau Điều này cho thấy rằng ở mỗi thời đại, mỗi cộng đồng nghệ thuật cụ thể
có những loại THTM, loại ý nghĩa thẩm mĩ nhất định được phổ biến ưa chuộng, được coi là chính thống
Các THTM điển hình trong thơ Tố Hữu và Chế Lan Viên như cò, én, hải âu, tu
hú, cánh, bay, mùa xuân, bầu trời… đều nằm trong sự thống nhất của hệ thống các THTM biểu thị phạm trù chim, trong đó THTM chim là điển hình Nhưng mỗi THTM
này không chỉ có tính hệ thống mà còn có tính đẳng cấu biểu thị những ý nghĩa có khi hoàn toàn khác nhau trong thơ của hai tác giả
Những vấn đề lí thuyết chung về trường nghĩa và tín hiệu thẩm mĩ trên đây, chủ yếu được chúng tôi kế thừa từ những công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Kim Anh Những tri thức này rất cần thiết để chúng tôi có cơ sở tiến hành nghiên cứu khảo
sát các từ ngữ thuộc phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế lan Viên
1.3.3 Sơ bộ về phương thức tạo nghĩa thẩm mĩ ẩn dụ
1.3.3.1 Khái niệm phương thức ẩn dụ
Ẩn dụ là quá trình chuyển đổi tên gọi dựa vào sự liên tưởng về tính tương đồng Nói cụ thể, đó là trường hợp một tên gọi vốn dùng cho A lại chỉ B, khi A và B giống
nhau về một mặt nào đó Ví dụ, mọc là từ dùng chỉ hoạt động cây cỏ nhô lên khỏi mặt
đất (cây mọc) chuyển sang chỉ một diễn tiến tương tự của răng, tóc, mụn, mặt trăng,
Trang 31mặt trời (răng/trăng/mặt trời mọc), nghĩa là đã biến đổi từ nghĩa gốc sang nghĩa
chuyển ẩn dụ Như thế, nhân hóa, tức là lấy những từ ngữ vốn biểu thị những đặc điểm
của người đem dùng cho những đối tượng không phải là người (ví dụ: rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/ tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng – Xuân Diệu), cũng là một loại ẩn dụ Trong thơ của Tố Hữu và Chế Lan Viên, chim là một ẩn dụ hay gặp nhất, mỗi loài chim như cò, én… là một ẩn dụ khác biệt, thậm chí những từ ngữ xa tâm hơn như mùa xuân, bầu trời… cũng là ẩn dụ Những ẩn dụ khác nhau nhưng có khi cùng
một ý nghĩa Tìm hiểu tập trung vào ẩn dụ trong thơ Tố Hữu và Chế Lan Viên sẽ hé mở nhiều tầng ý nghĩa sâu rộng
Ẩn dụ khác với tỉ dụ - phép so sánh logic ở hai điểm: 1 Sự so sánh ở ẩn dụ là hàm ẩn trong khi ở tỉ dụ là hiển ngôn; 2 Ẩn dụ là sự biến đổi nghĩa, còn tỉ dụ thì
không (ví dụ, đỏ như son là một tỉ dụ)
1.3.3.2 Một số phương thức ẩn dụ phổ biến
Tùy theo các sự vật x và y là các sự vật cụ thể hay trừa tượng mà có ẩn dụ cụ
thể (lưng, lưng bát, lưng thuyền, lưng núi…) và ẩn dụ cụ thể thành trìu tượng (đỏ, nhạc
đỏ, danh sách đỏ, lí lịch đỏ, vận đỏ…; sáng dạ, sáng lòng, tối kiến, tiền đồ đen tối, chảy máu vàng, sốc, cú sốc giao tiếp…)
- Dựa vào cơ chế ẩn dụ theo nét nghĩa chung, có các loại ẩn dụ: Hình thức (mắt xích, mắt na, con chạch qua đường…) cách thức (đạp tan tảng đá, đập tan luận điệu, bôi nhọ vào mặt, boi nhọ danh dự, đừng qua mắt nó, hâm nóng thức ăn- hâm nóng tình yêu, gập đôi tờ báo, gập đôi câu thơ bẻ đôi câu thơ…), tính chất (tư tưởng độc hại, vở hài sạch, nhạc đỏ, nhạc vàng, nợ xấu, hợp đồng ma, chạy-cưới tang, cưới chạy hưu…) chức năng (lí tưởng dẫn đường, cuốn sách mở ra nhiều ý, ước mơ xanh, cuộc cách mạng xanh, …) kết quả (tình sâu nghĩa nặng, ngọn lửa cách mạng, chiến tranh lạnh, buồn nẫu ruột, sợ đứng tim…), chuyển đổi cảm giác còn gọi là ẩn dự bổ sung (trông ngon mắt, trong bổ mắt, chối tai, giở giọng thối ra…) nhân hóa (dòng nước buồn thiu, rặng liễu khóc than…), vật hóa (đầy nhà vang tiếng ruồi xanh, con bé ấy dẻo mỏ lắm )
Điểm cần chú ý trong tiếng Việt, hầu hết tên gọi các cảm giác sinh lý đều được
dùng rộng rãi để gọi tên các cảm giác tâm lý (trí tuệ, tình cảm): Ngọt ngào, chua xót, cay đắng, man mác, êm ái, bức bối, ngột ngạt…
Trang 32Nắm được cơ chế ẩn dụ, cơ chế phát sinh các nét nghĩa là rất cần thiết để hiểu sâu sắc ý nghĩa của từ và các hàm ý văn hóa (các lẽ thường – topoi) Điều này đòi hỏi
sự nhạy bén, sắc sảo, vốn kinh nghiệm tri nhận cuộc sống của người phân tích
- Ngoài ra chúng ta cần phân biệt Ẩn dụ và hoán dụ từ vựng với Ẩn dụ và hoán
dụ tu từ.Ẩn dụ và hoán dụ từ vựng còn được gọi là ẩn dụ, hoán dụ ngôn ngữ Đó là
những sự biến đổi nghĩa đã quen dùng, đã có tính cố định trong hệ thống ngôn ngữ,
được tất cả mọi thành viên trong cộng đồng thống nhất sử dụng Ví dụ, quả tim, mặt nước, mặt trời, mặt trăng, chân trời, chân mây, chân tóc là những ẩn dụ ngôn ngữ (ẩn
dụ từ vựng) chất xám, bậc vai vế là những hoán dụ ngôn ngữ (hoán dụ từ vựng) vì đó
không phải là cách nói của cá nhân mà là những cách nói đã quen dùng của cả cộng đồng người Việt
Ẩn dụ và hoán dụ tu từ: Ẩn dụ và hoán dụ tu từ còn gọi là ẩn dụ, hoán dụ lâm
thời, ẩn dụ, hoán dụ lời nói Đó là những ẩn dụ, hoán dụ mới xuất hiện, chỉ là cách dùng của cá nhân, chưa được sử dụng rộng rãi phổ biến trong ngôn ngữ đời thường Những ẩn dụ, hoán dụ loại này có tính lâm thời, ngữ nghĩa của chúng lệ thuộc chặt chẽ
vào ngữ cảnh Ví dụ: Một đời đau suốt trăm năm/ Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao (Tố Hữu) Hình ảnh của Chim treo trên lửa cá nằm dưới dao là ẩn dụ tu từ về tình cảnh của chim, cá cũng là tình cảnh của người dân mất nước đầy phẫn uất, khốn cùng, đau đớn Một ví dụ khác: Cũng có khi thuyền bay hải âu, chim én (Chế Lan Viên), én – thuyền cũng là một ẩn dụ tu từ rất triêt lí nói về sức sống của mỗi tác phẩm khi được
người nghệ sĩ sản sinh ra Tác phẩm nghệ thuât là những con thuyền còn người làm thơ là người căng buồm, nổi gió cho thuyền Con thuyền từ đó sống cuộc đời riêng, có thể bị bão gió đánh chìm, cũng có thể đến được những đảo hồng đầy chim én… Ẩn dụ này muốn nói mối quan hệ giữa nhà thơ và tác phẩm không chỉ là mối quan hệ giữa người sáng tác và tác phẩm mà nó còn là mối quan hệ của giá trị nghệ thuật…
1.4 Tiểu kết chương 1:
Toàn bộ chương 1 trên đây là những vấn đề lí thuyết chung về nghĩa của từ, trường từ vựng- ngữ nghĩa, lí thuyết phân tích diễn ngôn, khái lược về tín hiệu thẩm
mĩ văn chương, phương thức tạo nghĩa thẩm mĩ ẩn dụ Để xác lập được trường nghĩa
biểu thị chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên trên các bình diện biểu vật,
Trang 33biểu niệm cần phải căn cứ vào những tiêu chí cơ bản để vận dụng vào phân lập một trường nghĩa Những vấn đề lí thuyết trên chính là cơ sở được lấy làm tiêu chí tiến hành phân lập Sau khi đã phân lập được trường nghĩa, chúng tôi tiến hành xem xét các từ thuộc trường nghĩa này được chuyển hóa ra sao để trở thành một hệ thống THTM Để giải quyết được các nhiệm vụ này, cần thiết phải vận dụng những lí thuyết về trường nghĩa liên tưởng, về THTM, về phân tích diễn ngôn, vận dụng nguyên tắc về sự chuyển hóa các cấp độ ngữ nghĩa trong hệ thống
và trong hoạt động hành chức của các đơn vị được xét
Chúng tôi đặc biệt chú trọng đến vai trò của từ trung tâm - điển hình, từ
chim, vì đó chính là nhân tố quy tụ các đơn vị làm thành một hệ thống biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên Đó là những nền tảng quan trọng để chúng tôi tiến hành tìm hiểu từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong tác phẩm
của hai nhà thơ
Trang 34CHƯƠNG 2 : KHẢO SÁT TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHẠM TRÙ CHIM TRONG
THƠ TỐ HỮU VÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN 2.1 Vài nét về nhà thơ Tố Hữu và nhà thơ Chế Lan Viên
2.1.1 Vài nét về nhà thơ Tố Hữu
Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, ông sinh ngày 4/10/1920, nguyên quán tại làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, mất ngày 9/12/2002 tại Hà Nội
Tố Hữu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, ngay từ năm lên sáu tuổi, Tố Hữu đã học và tập làm thơ Thơ ông dễ đọc, dễ hiểu, có vần điệu, mang hơi hướng dân gian và thể hiện khí phách hiên ngang, tinh thần bất khuất của dân tộc
Trước Cách mạng tháng Tám, ông đã tốt nghiệp bậc Thành trung và giác ngộ cách mạng trong thời kì Mặt trận Dân chủ Những sáng tác thơ đầu tiên của ông ra đời từ những năm 1937-1938 Tháng 4/1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt, giam giữ ở các nhà lao miền Trung và Tây Nguyên Tháng 3/1942, ông vượt ngục và tiếp tục hoạt động
cách mạng cho đến năm 1945 Sau Cách mạng, ông cho xuất bản tập thơ Từ ấy vào năm
1946 Năm 1954, ông cho ra đời tập thơ Việt Bắc và được giải Nhất giải thưởng văn học
Hội Văn nghệ Việt Nam cho tập thơ này Năm 1957, ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam Từ năm 1957-1986 ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Uỷ viên Ban
Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên huấn, Trưởng ban Khoa giáo… Quãng
thời gian này ông xuất bản tập thơ Gió lộng (1961), Ra trận (1972), Máu và hoa (1977)… Năm 1992 ông xuất bản tập thơ cuối cùng: Một tiếng đờn
Với những tác phẩm thơ giản dị đầy nhiệt huyết, phản ánh sinh động, tài tình những vấn đề lớn của công cuộc cách mạng, của quá trình kháng chiến kiến quốc, ông
thực sự là một nhà thơ lớn, “người lĩnh xướng”, “ngọn cờ đầu” trong thơ cách mạng
Việt Nam
2.1.2 Vài nét về nhà thơ Chế Lan Viên
Chế Lan Viên (1920 – 1989), tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê gốc ở xã Cam
Am, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Từ năm 1927, gia đình ông chuyển vào An Nhơn, Bình Định Sau khi tốt nghiệp Trung học, Chế Lan Viên đi dạy học ở trường tư, làm
Trang 35báo ở Sài Gòn và các tỉnh miền Trung Ông tham gia cách mạng Tháng Tám ở Quy Nhơn Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ và báo chí ở Liên khu IV và chiến trường Bình – Trị - Thiên Sau năm 1954, ông về Hà Nội tiếp tục hoạt động văn học, nhiều năm tham gia lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam Sau năm
1975, ông vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục hoạt động văn học
Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều chặng đường với những bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng và những tìm tòi đổi mới nghệ thuật của nhà thơ Từ thế giới
kinh dị, thần bí của Điêu tàn, sau Cách mạng, thơ Chế Lan Viên ngày càng bắt rễ sâu
vào đời sống rộng lớn của nhân dân và đất nước Trong những năm cao trào chống Mĩ cứu nước, thơ Chế Lan Viên nóng hổi tính thời sự, giàu chất sử thi, chất anh hùng ca
và chất chính luận, có vẻ đẹp trí tuệ độc đáo Từ sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên lại
trở về với đời sống thế sự và những trăn trở, chiêm nghiệm về “cái tôi” trong mối quan
hệ phong phú, phức tạp của đời sống Bộ ba tập “Di cảo thơ” với hàng nghìn tác phẩm
được sáng tác chủ yếu từ sau 1975, trong đó nhiều bài thơ có giá trị sâu sắc đã nâng
nhà thơ lên vị trí “cây đại thụ” của “rừng thơ Việt” Thơ Chế Lan Viên có phong cách
độc đáo: có vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tương quan đối lập, giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, đầy sáng tạo Cũng có lí khi nhiều nhà nghiên cứu tôn vinh ông là đại thi hào, là Nguyễn Du của thế kỉ XX Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996 (đợt 1)
Tác phẩm thơ chính: các tập thơ Điêu tàn (1937), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường, chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984) Sau khi ông mất, những Di cảo thơ của ông được sưu tầm, tuyển chọn và xuất bản: Di cảo thơ I in năm 1992, Di cảo thơ II in năm 1993 và được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1994, Di cảo thơ III xuất bản năm 1996 và nhiều bài thơ khác còn tiếp tục
được sưu tầm, tập hợp
Tìm hiểu những nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của hai nhà thơ lớn thời hiện đại, chúng ta đều thấy ở họ có những mẫu số chung: trong thời kì kháng chiến, thơ ca của họ là tiếng kèn xung trận kêu gọi, cổ vũ công cuộc đấu tranh, giải phóng dân tộc Trong thời bình, với tư duy đổi mới, với cái nhìn thế sự sâu sắc, nhạy
Trang 36cảm của người nghệ sĩ, họ đã nhìn nhận đánh giá thẳng thắn những gian khổ, mất mát,
hi sinh quá lớn của dân tộc hôm qua, càng thêm xót xa cho những giá trị đang bị đảo lộn trong cuộc sống phức tạp, xô bồ hôm nay Những nét đại quát này đều được thể hiện sâu sắc trong từng sáng tác, từng tín hiệu nghệ thuật thơ, kể cả những từ ngữ
thuộc phạm trù chim, vấn đề đang được nghiên cứu
2.2 Từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt
Trên cơ sở những vấn đề lí thuyết đã trình bày ở chương 1, chúng tôi tiến hành thống
kê các đơn vị biểu thị phạm trù chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Các bước được tiến
hành như sau:
Bước thứ nhất, chúng tôi thống kê các đơn vị biểu thị phạm trù chim trong hệ thống
từ vựng tiếng Việt (dựa theo tài liệu Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, xuất bản năm 2010) Vì từ chim là từ trung tâm của phạm trù từ ngữ này nên trước hết, chúng tôi dựa vào từ điển giải thích nghĩa của từ chim Sau đó, chúng tôi tiến hành thống kê các từ ngữ tiêu biểu nằm trong trường biểu vật của chim theo lí thuyết Điển mẫu
Bước tiếp theo, chúng tôi tiến hành phân loại, sắp xếp các từ ngữ trong trường
nghĩa chim vào các tiểu trường khác nhau Trước hết là các đơn vị điển hình rồi đến
các đơn vị kém điển hình Việc sắp xếp các đơn vị này dựa vào quan hệ hệ thống giữa các tiểu trường theo thứ tự xa dần với tiểu trường trung tâm Thứ nữa là dựa vào tần số xuất hiện của các đơn vị Những đơn vị có tần số xuất hiện cao được chúng tôi đưa lên trước, tiếp sau đó là các đơn vị có tần số xuất hiện ít hơn được sắp xếp theo thứ tự giảm dần Sau đây là kết quả cụ thể
Bảng 2.1: Bảng kết quả khảo sát từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong từ vựng
Tiểu trường 2 (TT2): Từ ngữ chỉ đặc điểm
sinh học bản thể của chim
Hót, Làm tổ…
Tiểu trường 3 (TT3): Từ ngữ chỉ hoàn cảnh
sinh tồn của chim
ruộng, chiến tranh, …
Trang 37Trên đây là bảng tổng hợp số liệu khảo sát từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong hệ thống từ
vựng tiếng Việt Trong bảng này, chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân lập bước đầu các từ ngữ
biểu thị phạm trù chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt vào 3 tiểu trường chính Đó là các tiểu
trường: từ ngữ chỉ tên gọi chim, từ ngữ chỉ đặc điểm sinh học bản thể của chim, từ ngữ chỉ hoàn cảnh sinh tồn của chim Trong đó, 2 tiểu trường từ ngữ chỉ tên gọi chim, từ ngữ chỉ đặc điểm sinh học bản thể của chim là 2 tiểu trường trung tâm, điển hình Những đơn vị trong 2 tiểu trường này
là cơ sở định tính quan trọng bước đầu để chúng tôi có căn cứ tiến hành khảo sát các từ ngữ biểu
thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan Viên Đương nhiên, thuộc về phạm trù chim
còn có nhiều tiểu trường, nhiều đơn vị khác nữa tùy thuộc tiêu chí phân lập, góc độ nghiên cứu chẳng hạn tiểu trường thức ăn của chim, tiểu trường mối quan hệ của chim với các giống loài động vật khác…có thể được xác lập dựa trên những căn cứ khoa học- sinh học Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã triệt để dựa vào lí thuyết ngữ nghĩa về tín hiệu trung tâm điển hình để nghiên cứu vấn đề cho nên với phạm trù này chúng tôi tạm thời xác định 3 tiểu trường như vậy để thuận lợi cho việc nghiên cứu
2.2.1 Từ ngữ chỉ tên gọi chim, giống loài chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt
Tiểu trường 1 tập hợp những từ ngữ chỉ tên gọi loài chim nói chung và tên gọi các giống loài chim cụ thể khác nhau Trước hết là các từ dùng để làm tên gọi loài chim nói chung một cách khái quát, giúp phân biệt chim với các loài động vật khác (báo,
chó sói, hươu, rắn…) như chim, con chim, chim chóc… Tiếp theo là các đơn vị chỉ tên gọi các giống loài chim cụ thể khác nhau, ví dụ én, hoạ mi, hải âu, chích chòe, vành khuyên, chim sẻ…Với những đơn vị điển hình nhất trong tất cả từ ngữ chỉ tên gọi loài
chim được Từ điển tiếng Việt thống kê, tiểu trường 1 có 43 đơn vị chiếm 0,1% trong
hệ thống từ vựng tiếng Việt Trong phạm trù chim, tiểu trường này là tiểu trường trung
tâm, điển hình mang tư cách đại diện cao nhất cho cả phạm trù Khi nói đến phạm trù
chim, mọi người đều liên tưởng ngay đến tiểu trường này
2.2.2 Từ ngữ chỉ đặc điểm sinh học bản thể của chim trong từ vựng tiếng Việt
Tiểu trường 2 này tập hợp những từ ngữ chỉ đặc điểm cơ bản về ngoại hình và hoạt
động chủ yếu của chim Từ ngữ chỉ đặc điểm ngoại hình của chim, ví dụ: cánh, mỏ, lông, mào, vuốt, đầu, đuôi… Từ ngữ chỉ đặc điểm hoạt động của chim, ví dụ: bay, lượn, chao, liệng, hót, kêu, cất cánh, làm tổ, gọi bầy… Tiểu trường này có 28 đơn vị
(đv) chiếm 0,06%
Trang 382.2.3 Từ ngữ chỉ hoàn cảnh sinh tồn của chim trong hệ thống từ vựng tiếng Việt
Tiểu trường 3 tập hợp những từ ngữ chỉ hoàn cảnh không gian, thời gian, hoạt động của con người tác động tới sinh tồn của các loài chim Từ ngữ chỉ hoàn cảnh không
gian sinh tồn của chim, ví dụ: núi, rừng, sông, biển, bến bãi, hải cảng, đồng ruộng, vườn tược, cây cối, hang hốc, lồng, tổ… Từ ngữ chỉ hoàn cảnh thời gian sinh tồn của chim, ví dụ: ngày, đêm, sáng, chiều, tối… Từ ngữ chỉ sự tác động của con người tới sinh tồn của các loài chim, ví dụ: bắn, giết, thịt, giam, nhốt… Tiểu trường 3 có 23 đv,
chiếm 0,05% Như vậy trong tổng số 41.300 mục từ trong Từ điển tiếng Việt của
Hoàng Phê, chúng tôi đã thống kê được 94 từ ngữ nằm trong 3 tiểu trường biểu thị
phạm trù chim, chiếm 0,2%
Khi đi vào hoạt động hành chức, với các kết hợp ngữ đoạn khác nhau, các từ ngữ
sẽ bộc lộ các nét nghĩa cụ thể thông qua các biến thể kết hợp Trong đó, các nét nghĩa của các đơn vị trong hệ thống này là những nét nghĩa chung mang tính khái quát, ổn định, là nền tảng chi phối toàn diện cách thức kết hợp ngữ đoạn của các từ ngữ biểu thị
phạm trù chim khi tham gia vào hoạt động hành chức Đây là cơ sở cốt yếu để chúng tôi tiến hành thống kê, phân lập các đv tương ứng biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố
Hữu và thơ Chế Lan Viên
2.3 Khảo sát từ ngữ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu và thơ Chế Lan
Viên
2.3.1 Khảo sát từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu
Dựa vào kết quả đã xác lập được về từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong hệ thống từ
vựng tiếng Việt ở mục 2.2, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê tần số xuất hiện
(TSXH) của các từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu Các từ ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu cũng được sắp xếp, phân lập theo cách sắp xếp, phân
lập như đã trình bày ở mục 2.2 Có những đv xuất hiện trong nhiều dòng thơ khác
nhau Chẳng hạn đv chim có các biến thể như con chim, bóng chim, cánh chim, tiếng chim, đàn chim, bầy chim, lũ chim, muôn chim, rừng chim, trời chim… xuất hiện 19 lần trong 19 dòng thơ thì được tính TSXH là 19 lần Ví dụ: Rất đậm hương và rộn tiếng chim [Từ ấy, 21], Ríu rít như đàn chim [Tình thương với chiến tranh, 51], Như cánh chim buồn nhớ gió mây [Nhớ đồng, 78], Hãy bay đi con chim kêu trước cửa
Trang 39[Bài ca mùa xuân 1961, 307]… Bên cạnh đó, còn có những trường hợp một dòng thơ
lại chứa đựng nhiều từ ngữ thuộc các tiểu trường nghĩa biểu thị phạm trù chim khác nhau, ví dụ: Khi con tu hú gọi bầy Dòng thơ này chứa hai cụm từ con tu hú và gọi bầy thuộc hai tiểu trường biểu thị phạm trù chim khác nhau Với những dòng thơ như thế
chúng tôi tính là hai đv ứng với hai lần xuất hiện Dựa trên kết quả khảo sát ngữ liệu trong phụ lục 2.2.1, tuân thủ nguyên tắc tiến hành như trên, chúng tôi thu được kết quả
- Nghĩa chính; - Nghĩa chuyển
1
20/118(28)
1.1 - 1/70
- Đây nắng tới với chim ca lảnh lót
- Quạ đen mà chiếm một trời được chăng?
- Sáng nghe chim rừng gáy bên nhà
- Mùa xuân đó con chim én mới
- Tôi đã tù sao bắt nó tù
3.2 - 32/51 3.3 - 19/22 Tổng
189/419
(100)
Trên đây là kết quả khảo sát, thống kê và phân loại những dòng thơ có chứa từ ngữ
biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu Dựa vào đặc trưng ngữ nghĩa, các từ ngữ này
được xác định về số đv, TSXH; chúng được phân bố vào 3 tiểu trường cấp 1, 7 tiểu trường cấp 2 tương ứng với sự phân chia các tiểu trường đã trình bày ở trên
Trang 40Theo tiêu chí thống kê, chúng tôi đã thu được 200 dòng thơ trong 72 bài thơ có sử dụng từ
ngữ biểu thị phạm trù chim trong thơ Tố Hữu trên tổng số 12.000 dòng thơ trong 284 bài thơ
của 7 tập thơ, chiếm tỉ lệ 1,6% Điều này cho thấy trong thơ Tố Hữu diện hoạt động của từ
ngữ biểu thị phạm trù chim không quá phức tạp, nhiều đv như một số phạm trù chỉ thực vật, hoạt động, trạng thái tâm lí…
Số từ ngữ biểu thị phạm trù chim được Tố Hữu sử dụng là 189 đv, với TSXH là 419 lần
Trong đó, số đv xuất hiện với nghĩa chính là 233 lần ứng với 56%, thường xuất hiện để làm bối cảnh cho sự thể hiện tâm trạng của con người ở những thời điểm khác nhau Số đv xuất hiện theo nghĩa chuyển là 186 lần, ứng với 44% thường thể hiện tâm trạng, cảm xúc, tính cách hay cuộc đời, thân phận con người, đất nước qua từng hoàn cảnh cụ thể
2.3.1.1 Khảo sát từ ngữ chỉ tên gọi chim, tên gọi các loài chim trong thơ Tố Hữu
Bảng 2.3: Bảng kết quả khảo sát từ ngữ chỉ tên gọi chim trong thơ Tố Hữu
TT1
Sđv/TSXH
(%TSXH)
- Nghĩa chính; -Nghĩa chuyển
- Tôi chỉ một con chim non bé nhỏ
- Khi con tu hú gọi bầy
- Đàn chim én báo mùa xuân tới
a Tên gọi loài chim nói chung
Theo khảo sát, tiểu trường 1.1 chỉ tên gọi loài chim nói chung, có 1 đv, chính là từ
trung tâm, điển hình chim xuất hiện 70 lần trong 68 dòng thơ chiếm 59% TSXH của các
đv trong tiểu trường 1 và có TSXH cao nhất trong các đơn vị của cả 3 tiểu trường Trong
70 lần xuất hiện, TSXH mang nghĩa chính là 45 lần Ví dụ, những cánh chim mang mùa
xuân đến cho con người “Đây nắng tới với chim ca lảnh lót” (Ý xuân, 50), chim báo mùa hót rung cành dâu tơ khi xuân sang “A! Con chim hót rung cành dâu tơ” (Tiếng hát sang xuân, 359), hay tiếng chim ca bừng lên buổi sáng bên lều Lê-nin “Đến khi rừng bừng