Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy SơnNgôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THỊ BÍCH HUỆ
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CAO DUY SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THỊ BÍCH HUỆ
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CAO DUY SƠN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CAO THỊ HẢO
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong
luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Dương Thị Bích Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Cao Thị Hảo - người thầy rất nghiêm túc, tận tình trong công việc đã truyền thụ cho em nhiều kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Xin chân thành cảm ơn nhà văn Cao Duy Sơn, Ban Giám hiệu, quý thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho tập thể lớp cao học K24 - Văn học Việt Nam, các cán bộ Phòng Đào tạo - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, chia sẻ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khóa học này
Thái Nguyên tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Dương Thị Bích Huệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA CAO DUY SƠN 8
1.1 Những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật 8
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 8
1.1.2 Những thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật 10
1.2 Hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn 14
1.2.1 Vài nét về cuộc đời và con người 14
1.2.2 Quan niệm sáng tác 17
1.2.3 Những vấn đề cơ bản trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn 21
Chương 2: NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT, NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI, NGÔN NGỮ ĐỘC THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CAO DUY SƠN 37
2.1 Ngôn ngữ trần thuật 37
2.1.1 Ngôn ngữ miêu tả đi sâu vào trạng thái cảm xúc của con người 37
2.1.2 Ngôn ngữ miêu tả dùng nhiều ví von so sánh 42
2.2 Ngôn ngữ đối thoại 50
2.2.1 Lời đối thoại ngắn gọn sinh động 51
Trang 62.2.2 Lời đối thoại dùng nhiều khẩu ngữ và đại từ nhân xưng riêng 55
2.3 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 61
2.3.1 Độc thoại nội tâm để diễn tả tâm lý nhân vật 61
2.3.2 Độc thoại nội tâm để bộc lộ tính cách nhân vật 68
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ TỪ NGỮ, CÂU VĂN TRONG TIỂU THUYẾT CAO DUY SƠN 73
3.1 Sử dụng từ ngữ mang chất liệu dân gian dân tộc Tày 73
3.1.1 Nhóm thành ngữ, tục ngữ thể hiện tâm tư tình cảm, phẩm chất tính cách con người miền núi 74
3.1.2 Nhóm thành ngữ, tục ngữ nói về lối sống, về những kinh nghiệm sống của người miền núi 76
3.2 Sử dụng câu văn dài, giàu hình ảnh so sánh 80
3.3 Sử dụng nhiều câu hỏi tu từ 86
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học dân tộc thiểu số là bộ phận quan trọng của văn học Việt Nam Nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số sẽ cho thấy sự phong phú, đa sắc màu của bức tranh văn học Việt Nam, nhất là ở thời kì hiện đại Nhiều nhà văn tiêu biểu của văn học dân tộc thiểu số có đóng góp cho văn học dân tộc như: Vi Hồng, Nông Viết Toại, Mã A Lềnh, Y Điêng… Họ đều dành hết tâm huyết của mình cho những tác phẩm viết về dân tộc và miền núi Tiếp nối truyền thống đó, một nhà văn rất thành công về đề tài này - một người xứng đáng được bạn đọc vinh danh “thương hiệu” nhà văn chuyên viết về dân tộc miền núi đó là nhà văn Cao Duy Sơn
1.2 Cao Duy Sơn không chỉ nổi tiếng với những tập truyện ngắn mà ông còn được bạn đọc biết đến với một số tiểu thuyết gây tiếng vang lớn và có sức
ám ảnh độc giả Những sáng tác của Cao Duy Sơn tập trung vào khai thác hiện thực và con người miền núi Cuộc sống và con người dân tộc Tày ở vùng đất Cao Bằng quê ông như một bức tranh thu nhỏ về hiện thực cuộc sống, con người
ở các vùng dân tộc thiểu số Qua đó nhà văn đã phản ánh thân phận con người, phản ánh được những vấn đề mang tính thời sự nhức nhối của đất nước và dân tộc thời kì đổi mới Mỗi tác phẩm của Cao Duy Sơn chính là một sự tìm tòi, khám phá, phát hiện mới, độc đáo về đời sống và con người nơi đây, giúp người đọc tiếp cận một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về vùng đất đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống này
1.3 Nếu như hiện thực cuộc sống và con người là đối tượng phản ánh của
văn học thì: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó
và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - nó là chất liệu của văn học” [28] Ngôn ngữ nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó là yếu tố vật
chất duy nhất trong tác phẩm văn học Nhưng trong thực tiễn văn học thế giới cũng như ở Việt Nam, có thể nhận thấy ngôn ngữ không chỉ là chất liệu nghệ thuật mà ngôn ngữ còn là sự phát ngôn thể hiện nhãn quan, tư tưởng của nhà văn Thông qua
Trang 8ngôn ngữ, người đọc sẽ khám phá, chiêm nghiệm đươc nhiều vấn đề Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ là phương thức tồn tại và biểu hiện nội dung mà nó còn thể hiện trực tiếp, rõ nét phong cách và tài năng của mỗi nhà văn Ngôn ngữ là biểu hiện của văn hóa, việc nghiên cứu ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn chính là chúng ta đang tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung và văn học dân tộc Tày nói riêng Đặc biệt tìm hiểu những đóng góp riêng của nhà văn trong việc sáng tạo ngôn ngữ ở thể loại tiểu thuyết
2 Lịch sử vấn đề
Sáng tác của Cao Duy Sơn đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện,
nhất là về tiểu thuyết Trong bài Văn học các dân tộc thiểu số trong đại gia đình dân tộc Việt - Riêng và chung trong đa dạng và thống nhất, Giáo sư Phong Lê
nhận định: “Cao Duy Sơn viết về vùng quê Cao Bằng của anh Dấu ấn con người
và vùng đất Cao Bằng thấy rất rõ; nhưng trong cấu trúc nhiều tầng nhiều lớp của cốt truyện và trong thế giới nhân vật rất đa hệ, gồm nhiều loại người - đặc biệt là một lớp quan chức tha hóa cấp cao, tôi thấy cứ như là một sự hiện hữu, sự thu nhỏ của đất nước trong một giai đoạn mới, vừa có mặt lạc quan trong phát triển, vừa tiềm ẩn rất nhiều âu lo và hiểm họa trong thế đạo, nhân tâm Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn là tiểu thuyết của cái thời hôm nay, thời chúng ta đang sống” [26] Tuy
nhiên, không chỉ có cốt truyện và nhân vật, một phương diện nghệ thuật khác tiêu biểu tạo nên phong cách Cao Duy Sơn được thể hiện rõ nét trong tiểu thuyết, đó
chính là ngôn ngữ nghệ thuật
Về ngôn ngữ nghệ thuật, một số nhà nghiên cứu đã quan tâm và chỉ ra những đóng góp nhất định Chúng ta có thể kể đến các bài viết của Lâm Tiến, Đào Thuỷ Nguyên, Đỗ Đức, Cao Thị Hảo, Lê Thị Bích Hồng, …
Trong bài viết Ngôn ngữ trong văn xuôi dân tộc thiểu số, Lâm Tiến đánh
giá:“Cao Duy Sơn biết điểm vào những trang viết những chi tiết, những câu chữ, những từ tiêu biểu gần gũi gắn bó với người Tày mà tiếng Việt không biểu hiện được” [64] Nhà nghiên cứu đã chỉ ra một đặc trưng cơ bản trong ngôn ngữ nghệ
Trang 9thuật của Cao Duy Sơn Đó là nhà văn đã sử dụng “những câu chữ, những từ tiêu biểu gần gũi gắn bó với người Tày” Và đây có lẽ cũng là nét riêng làm nên phong cách Cao Duy Sơn
Tác giả Đào Thủy Nguyên trong bài Cội nguồn văn hóa dân tộc trong truyện ngắn Cao Duy Sơn cũng cho rằng một trong những dấu hiệu của bản sắc văn hóa dân tộc trong truyện ngắn Cao Duy Sơn chính là ngôn ngữ nghệ thuật
Khi đọc tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối, tác giả Đỗ Đức nhận định:
“Văn trong tập này của Cao Duy Sơn giống tổ chim gáy ấy Nó không cầu kì thoáng đọc còn cảm thấy nó quềnh quàng vụng dại Nhưng truyện nào cũng có những câu
khiến người ta giật mình về sự sắc sảo trong quan sát cuộc sống và gọi nó ra bằng
chính ngôn ngữ của vùng mình” [6] Điều mà nhà nghiên cứu ấn tượng chính là thứ
ngôn ngữ của “vùng mình” chỉ riêng có của Cao Duy Sơn
Phải chăng đó là thứ ngôn ngữ mà nhà nghiên cứu Cao Thị Hảo đã từng đề
cập đến khi nghiên cứu Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn?
“Trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn, ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện khá độc đáo, mang màu sắc riêng và đậm chất Tày, thể hiện qua việc sử dụng lối
ví von, so sánh liên tưởng gần gũi với cách tư duy của người dân miền núi, nhiều thành ngữ, tục ngữ, lối nói phuối pác, phuối rọi của văn học dân gian Tày” [11]
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nét cơ bản nhất trong ngôn ngữ nghệ thuật Cao Duy Sơn, tuy nhiên những nhận định này vẫn mang tính chất chung hoặc ứng với nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn Những nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ tiểu thuyết của Cao Duy Sơn chưa được đề cập đến
Tuy những bài viết trên chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết Cao Duy Sơn, nhưng với chúng tôi đó đều là những gợi mở rất
quý báu và hữu ích, là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn
Ngoài các bài viết trên cũng có một số luận văn nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Cao Duy Sơn, chúng ta có thể kể đến các luận văn của Đặng Thuý An, La Thuý Vân, Huỳnh Thị Mỹ Phụng, Cao Thành Dũng
Trang 10Năm 2007, trong luận văn thạc sĩ Thi pháp nhân vật tiểu thuyết trong tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời của Cao Duy Sơn của tác giả Đặng
Thùy An (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) đã đề cập đến ngôn ngữ nhân vật đặc thù kiểu tư duy người miền núi thể hiện ở ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ
độc thoại Nhưng luận văn này chỉ dừng lại nghiên cứu ở hai tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời
Năm 2011, La Thúy Vân tác giả của luận văn thạc sĩ Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn Trong công trình nghiên cứu này, tác
giả cũng đề cập đến nghệ thuật ngôn từ nhưng chỉ chú ý tới việc sử dụng từ ngữ, câu văn, vận dụng lối so sánh, liên tưởng, cách nói ước lượng, giàu hình ảnh của Cao Duy Sơn trong những sáng tác của nhà văn nói chung mà chưa đi sâu vào thể
loại tiểu thuyết
Năm 2013, trong luận văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Cao Duy Sơn, tác giả Huỳnh Thị Mỹ Phụng nhận định: “Cao Duy Sơn có ý thức sâu sắc
trong việc tìm tòi và sáng tạo ngôn ngữ Ngôn ngữ của ông là sự kết tinh tài năng, tâm huyết của một tấm lòng say mê nghệ thuật, là sự thăng hoa của tâm hồn tinh tế
và nhạy cảm Vì thế những trang tiểu thuyết viết về miền núi của Cao Duy Sơn lấp lánh vẻ đẹp của ngôn từ” [41, tr 16] Trong luận văn, tác giả cũng tìm hiểu ngôn
ngữ tiểu thuyết Cao Duy Sơn ở khía cạnh ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn
ngữ nhân vật Tuy nhiên tác giả chỉ dừng lại nghiên cứu ở ba tiểu thuyết Người lang thang, Đàn trời và Chòm ba nhà
Năm 2016, Cao Thành Dũng với luận văn Tiểu thuyết “Đàn trời”của Cao Duy Sơn từ góc nhìn văn hoá cũng có đề cập tới ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn
Như vậy, vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện, hệ thống Trên cơ sở tổng hợp, tiếp thu ý kiến của các tác giả trên, chúng tôi cố gắng đưa
ra một cách nhìn bao quát, hệ thống để tìm hiểu cụ thể giá trị các tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của Cao Duy Sơn từ phương diện ngôn ngữ nghệ thuật Qua
Trang 11đó khẳng định tài năng phong cách nghệ thuật và vị trí của Cao Duy Sơn trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu toàn bộ 5 cuốn tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, cụ thể gồm các tiểu thuyết sau:
- Tiểu thuyết Người lang thang - NXB Hội nhà văn (giải thưởng Giải A
của Hội đồng văn học Dân tộc miền núi Hội nhà văn Việt Nam, 1993)
- Tiểu thuyết Đàn trời - NXB Văn hóa Dân tộc (giải thưởng Giải A của
Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2007)
- Tiểu thuyết Chòm ba nhà - NXB Lao Động, 2009
- Tiểu thuyết Cực lạc - NXB Hà Nội , 1994
- Tiểu thuyết Hoa mận đỏ - NXB Văn hóa Dân tộc, 1999
Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm khác cũng của người dân tộc thiểu số để so sánh, đối chiếu Chúng tôi cũng tham khảo một
số sách lý thuyết, lý luận văn học làm cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu của mình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn, chúng tôi nhằm mục đích làm rõ những đặc sắc về ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông Từ đó, góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi tập trung hoàn thành những nhiệm vụ sau đây:
Trang 12Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật và hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn
Đi sâu tìm hiểu các thành phần cơ bản trong ngôn ngữ nghệ thuật tiểu
thuyết Cao Duy Sơn
Phân tích và chỉ ra những đặc điểm về từ ngữ, câu văn trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây được xác định là phương pháp chủ đạo của đề tài Trên cơ sở phân tích các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, chúng tôi sẽ tổng hợp để chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn
5.2 Phương pháp khảo sát - thống kê: chúng tôi dùng phương pháp này để chỉ ra những yếu tố lặp lại và được nhấn mạnh trong ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để khu biệt những đặc điểm của tiểu thuyết Cao Duy Sơn với các nhà văn dân tộc thiểu số khác
5.4 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: vận dụng lí thuyết thi pháp học để nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết của Cao Duy Sơn
5.5 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: luận văn sử dụng phương pháp này để đi sâu phân tích nét riêng trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn
5.6 Phương pháp hệ thống: Phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn đạt đến cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong toàn bộ 5 cuốn tiểu thuyết của Cao Duy Sơn Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần
Trang 13làm sáng tỏ những nét đặc trưng về ngôn ngữ nghệ thuật Luận văn còn khẳng định những đóng góp của Cao Duy Sơn về mặt ngôn ngữ nghệ thuật trong thể loại tiểu thuyết nói riêng và trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung Đồng thời bổ sung tài liệu tham khảo về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại vốn chưa được nghiên cứu sâu, rộng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật và hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn
Chương 2: Các thành phần cơ bản trong ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết Cao Duy Sơn
Chương 3: Đặc điểm về từ ngữ, câu văn trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn
Trang 14
NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TẠO CỦA CAO DUY SƠN 1.1 Những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và tư duy chủ yếu của con người trong
xã hội, tồn tại ở hai dạng nói và viết, dùng để trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, bộc lộ cảm xúc của con người Có nhiều cách hiểu về ngôn ngữ Người ta
có thể sử dụng từ ngôn ngữ để chỉ một hệ thống kí hiệu bất kì dùng để diễn đạt, thông báo một nội dung nào đó Ví dụ: ngôn ngữ điện ảnh là toàn bộ những phương tiện nghệ thuật được các nhà làm phim sử dụng để phản ánh hiện thực; ngôn ngữ hội họa là toàn bộ những đường nét, màu sắc, hình khối mà họa sĩ sử dụng để phản ánh thế giới; ngôn ngữ của loài ong là toàn bộ những "vũ điệu" mà loài ong sử dụng để báo cho nhau về nơi chốn có hoa và lượng hoa Và với con
người, ngôn ngữ có thể hiểu là hệ thống kí hiệu bao gồm “hệ thống ngữ âm, những từ và quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng
dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau” [20, tr 6] Ví dụ: tiếng Nga, tiếng
Việt là hai ngôn ngữ có những hệ thống ngữ âm và quy tắc kết hợp từ khác nhau
Ngôn ngữ còn được hiểu gồm hai yếu tố tạo thành Ngôn là lời nói do các
cá nhân trong xã hội nói ra mà ta nghe được Lời nói được tạo ra bởi các âm, các thanh và chứa đựng nội dung thông tin, có thể gồm một hoặc nhiều câu nói Ở các xã hội đã phát triển, đã có chữ viết, lời nói có thể được ghi lại dưới dạng lời
viết Ngữ là phần trừu tượng tồn tại trong trí óc của một cộng đồng xã hội
thường là một tộc người Ðấy là một kho tàng được thực tế nói năng của những người cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại
Bên cạnh đó, người ta còn dùng khái niệm “ngôn ngữ” để chỉ đặc điểm khái quát trong việc sử dụng ngôn ngữ của một tác giả, một tầng lớp hay một lứa tuổi hoặc một phong cách ngôn ngữ cụ thể Ví dụ: ngôn ngữ Nguyễn Du, ngôn ngữ trẻ em, ngôn ngữ báo chí
Trang 15Loài người đã tiến hành giao tiếp bằng nhiều loại công cụ Nhưng những công cụ này dù có những ưu điểm mà ngôn ngữ không có nhưng lại có nhiều hạn chế và không thể quan trọng bằng ngôn ngữ Cử chỉ, nét mặt, dáng điệu là những phương tiện giao tiếp quan trọng Nhưng so với ngôn ngữ, chúng thật nghèo nàn và hạn chế Các ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, khiêu vũ đều là những công cụ giao tiếp rất quan trọng của con người Chúng có những khả năng to lớn và kì diệu nhưng vẫn bị hạn chế nhiều mặt so với ngôn ngữ Chúng không thể truyền đạt khái niệm và tư tưởng mà chỉ khơi gợi trên cơ sở những hình ảnh thính giác hay thị giác gây ra được ở người xem Những tư tưởng, tình cảm này thường thiếu tính chính xác, rõ ràng Ngôn ngữ là công cụ của tư duy và tư duy định hình nhờ ngôn ngữ, chỉ cần suy nghĩ về bất cứ cái gì là lập tức phải dùng đến ngôn ngữ Các nhà khoa học cũng suy nghĩ bằng cái gọi là
ngôn ngữ bên trong gồm các từ các câu Einstein đã từng nói “Không có nhà bác học nào chỉ suy nghĩ bằng công thức” (dẫn theo Ðái Xuân Ninh) Ngôn ngữ mới
chỉ là chất liệu vật chất của tác phẩm văn học chứ chưa phải là hình thức của chỉnh thể thẩm mĩ trọn vẹn Từ ngôn ngữ đến ngôn ngữ nghệ thuật là cả quá trình lao động sáng tạo của nhà văn
Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học các tác giả cho
rằng ngôn ngữ nghệ thuật là: “một hệ thống các phương thức, phương tiện tạo hình, biểu hiện hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật” [35, tr 186] Nhóm tác giả của cuốn sách còn
đồng nhất ngôn ngữ của sáng tác văn học với cấp độ ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật khác như ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ chèo, ngôn ngữ điện ảnh
Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật có điểm gần gũi với khái niệm lời văn nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật với tất cả tính thẩm mĩ của nó là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học Không có ngôn ngữ nghệ thuật thì không thể có tác phẩm văn học Trong tác phẩm văn học ngôn ngữ giúp nhà văn cụ thể hóa chủ đề, tư tưởng, cốt truyện, tính cách nhân vật Nguyễn
Tuân đã nhận định về mối quan hệ giữa ngôn từ và nghề văn như sau: “Nghề văn
Trang 16là nghề của chữ, chữ với tất cả mọi nghĩa mà mỗi chữ phải có được trong một câu, nhiều câu Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa mà sinh sự để sự sinh” [31] Bất
kì một tác phẩm văn học nào cũng đều được thể hiện bằng lời văn: có lời tác giả, lời nhân vật, lời trực tiếp, lời gián tiếp Lời văn là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học
Như vậy, có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật hay ngôn ngữ văn học là “Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học” Nó là kết quả của quá trình
sáng tạo nghệ thuật không ngừng của người cầm bút trên cơ sở ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hóa Ngôn ngữ được chọn lọc, gọt rũa, trau chuốt để không chỉ chứa đựng thông tin đơn thuần mà quan trọng hơn thể hiện một cách chính xác những quan điểm, đánh giá, những tư tưởng tình cảm hay chính là những thông điệp mà nhà văn hoặc nhân vật gửi gắm Đặc biệt ngôn ngữ đó phải đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ, những rung động tình cảm sâu sắc Ngôn ngữ nghệ thuật chứa đựng cả thế giới mà nhà văn sáng tạo: đề tài, chủ đề, kết cấu, cốt truyện, cảnh vật và con người, Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt chung của cộng đồng nhưng khi được các nhà văn, nhà thơ sử dụng thì ở mỗi người lại có khả năng thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng, không dễ bắt chước, pha trộn Sự khác nhau về ngôn ngữ của mỗi tác giả thể hiện ở cách dùng từ, đặt câu, sử dụng hình ảnh bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết Chính những biện pháp xử lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật riêng của từng nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật.Vì vậy, có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật cũng là một trong những yếu tố cơ bản góp phần tạo nên
phong cách của mỗi nhà văn, nhà thơ hay chính là phong cách tác giả
1.1.2 Những thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật
Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả cho rằng: “Lời thơ, lời
trần thuật, lời nhân vật, lời thoại trong kịch và các dạng của chúng đều là các
bộ phận tạo thành lời văn nghệ thuật” [39, tr 9] Vì vậy, các thành phần cơ
bản của ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại Ngoài ra chúng ta cũng có thể nhận thấy, đặc điểm về từ
Trang 17ngữ, câu văn cũng là một phương diện quan trọng tạo nên những đặc trưng riêng của ngôn ngữ nghệ thuật
* Ngôn ngữ trần thuật hay còn được gọi là ngôn ngữ người kể chuyện
hoặc ngôn ngữ của tác giả Kiểu ngôn ngữ này thường là lời miêu tả một cách gián tiếp của nhà văn Chức năng của loại ngôn ngữ này là trình bày toàn bộ thế giới hình tượng, kể cả các yếu tố nội dung, hình thức của lời nhân vật Tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khách quan, sự việc, con người, cảnh vật, đồ vật
Tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức cho người khác: “giúp cho các sự vật, hiện tượng như ngoại hình, tình trạng, môi trường, phong cảnh, sự kiện vốn không biết nói, được nói lên trong tác phẩm” [35, tr 330]
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Mỗi thể loại văn học có cách thức tổ chức và đặc trưng ngôn ngữ riêng, nếu kịch chủ yếu dùng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ tình chủ yếu sử dụng ngôn ngữ để bộc lộ cảm xúc thì ngôn ngữ cơ bản của văn
xuôi là ngôn ngữ trần thuật Phương Lựu tác giả của cuốn Lý luận Văn học nêu
rõ: “Trần thuật là hình thức trình bày bằng lời văn, các chi tiết, sự kiện, tình tiết
có quan hệ biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn theo một cách nhìn, cách cảm nhất định Trần thuật là sự thể hiện của hình tượng văn học truyền đạt nó tới người thưởng thức Bố cục của trần thuật là cách sắp xếp, tổ chức sự tương ứng giữa các phương tiện khác nhau của hình tượng với các tác phẩm khác nhau của văn bản” [27, tr 307]
Đề cập đến vai trò của ngôn ngữ trần thuật, nhóm tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định rõ: “Ngôn ngữ trần thuật chẳng những có vai trò
then chốt trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả” [39, tr 213]
Khi tìm hiểu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ta thấy phần lớn truyện ngắn của ông được trần thuật theo hướng khách quan hóa, người trần thuật hòa mình với nhân vật, trao lời trần thuật cho nhân vật Ngôn ngữ trần thuật đã giúp nhà văn tạo ra những tình huống khách quan
trong truyện ngắn Trong Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nhìn
Trang 18thẳng vào vấn đề đời sống sau 1975 Ông đã tạo ra tình huống truyện độc đáo đó là tình huống nhận thức mang ý nghĩa khám phá phát hiện về cuộc sống và nghệ thuật của Phùng Ở tình huống truyện này, Nguyễn Minh Châu đã để chủ thể dùng ngôn ngữ trần thuật phản ánh đời sống, đưa ra những vấn đề đầy nghịch lí: nghịch lí giữa cái đẹp của nghệ thuật với sự trần trụi, bi đát của cuộc sống hiện tại; nghịch lí tồn tại ngay trong bản thân nhân vật vợ chồng người hàng chài
Qua ngôn ngữ trần thuật của nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sự tỉnh táo khi đề cập đến những vấn đề bức thiết như nạn bạo hành, mù
chữ: “Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng
cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà” [72, tr 119] Có
thể thấy ngôn ngữ trần thuật giúp nhà văn phản ánh đời sống một cách khách
quan nhất Trong truyện ngắn Khách ở quê ra, ngôn ngữ trần thuật khách quan
giúp nhà văn diễn tả những khó khăn vất vả của những con người bước đầu đi
làm kinh tế mới: “Định ngắm kỹ và lâu nhất hai bàn tay của lão Chẳng còn là hình thù một cái bàn tay con người nữa! Hai bàn tay lão đầy những chỗ nổi u nổi cục, các ngón vặn vẹo và bọc một lớp da giống như một thứ vỏ cây, và cả bàn tay lão giống y như một tòa rễ cây vừa mới đào dưới đất lên Và Định như đang nhìn thấy một thứ đất đến kỳ cục: cứ lổng chổng đầy những đá Viên bé chỉ
là một hòn đá kỳ lưng, hòn to cũng ngang cái đầu” [72, tr 544]
Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
mang tính khách quan giúp nhà văn phát hiện, phân tích, lí giải sự việc, con người một cách sinh động, cụ thể và cũng là yếu tố quan trọng thể hiện phong cách nhà văn
* Ngôn ngữ đối thoại: Trong văn xuôi tự sự một trong những phương diện
để bộc lộ thái độ tính cách nhân vật là ngôn ngữ đối thoại: “Ngôn ngữ đối thoại
là lời trong cuộc giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện như là phản ứng
đáp lại lời của người khác” [2, tr 128] Ngôn ngữ đối thoại biểu hiện sự giao
Trang 19tiếp qua lại thường là giữa hai phía trong đó sự chủ động và sự thụ động được chuyển đổi luân phiên từ phía bên này sang phía bên kia - giữa những người tham gia giao tiếp, mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi phát ngôn có trước và
là phản xạ lại phát ngôn có trước ấy Đặc trưng của ngôn ngữ đối thoại là sự luân
phiên của các phát ngôn ngắn, của những người phát ngôn khác nhau
Đối thoại trong văn bản tự sự là hình thức quan trọng để thể hiện tâm lý,
tính cách nhân vật Trong đó: “Đối thoại là hình thức đối đáp, trò chuyện giữa hai người hoặc nhiều người Trong văn bản tự sự đối thoại được thể hiện bằng cách
gạch đầu dòng ở lời trao đáp và lời đáp (mỗi lượt lời là một gạch đầu dòng) [45,
tr 178] Theo Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, thì đối thoại còn
là: “Một phần của văn bản ngôn từ nghệ thuật, một thành tố mà chức năng là tái
tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật [1, tr 264] Đối thoại còn được giải
thích là: “một trong những dạng thức của lời nói trong đó có sự hiện diện của người nói và người nghe và mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp chuyện và xoay quanh một chủ đề của cuộc hội thoại [73, tr 93 - 94] Như vậy,
đối thoại là một trong những thành phần cơ bản quan trọng tạo nên lời nhân vật và lời văn nghệ thuật của tác phẩm văn học
* Ngôn ngữ độc thoại nội tâm: Nội tâm là toàn bộ đời sống bên trong của nhân vật Đó là những tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác; những phản ứng tâm lý của nhân vật trước hoàn cảnh, tình huống mà nhân vật chứng kiến hoặc từng trải qua Tất cả được thể hiện bằng ngôn ngữ độc thoại nội tâm Độc thoại nội tâm là tiếng nói bên trong tâm hồn nhân vật, những ý nghĩ thầm kín, lời nhủ
thầm của nhân vật Hay nói như nhóm tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, Độc thoại nội tâm là: “Lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể
hiện quá trình tâm lý nội tâm, mô phỏng hành động cảm xúc, suy nghĩ của con
người trong dòng chảy trực tiếp của nó” [8, tr 95]
Có tác giả khác lại cho rằng: “Độc thoại là lời của một người nào đó nói với chính mình hoặc nói với một ai đó trong tưởng tượng Trong văn bản tự sự khi người độc thoại nói thành lời thì phía trước câu nói có gạch đầu dòng, còn
Trang 20khi không thành lời thì không có gạch đầu dòng Trường hợp sau gọi là độc
thoại nội tâm” [45, tr 178] Độc thoại nội tâm là tiếng nói bên trong của nỗi niềm
trắc ẩn thường nảy sinh trong những tình huống cụ thể đó là khi nhân vật ở trong một tâm trạng đau khổ tuyệt vọng, bế tắc không còn lối thoát hoặc trước những biến cố, những sự kiện bất ngờ khiến nhân vật phải suy nghĩ Cũng có trường hợp độc thoại nội tâm xuất hiện khi nhân vật bị những “chấn động” tinh thần từ bên ngoài hoặc có trường hợp nhân vật tự giãi bày lòng mình như một sự giải tỏa tâm lý
Ngoài ra cách dùng từ, đặt câu cũng là biểu hiện của sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên sự vật, sự việc, con người Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ, có cẩu tạo ngữ pháp và ngữ điệu kết thúc, mang một
ý nghĩa tương đối trọn vẹn, giúp biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Biết cách sử dụng từ ngữ, câu văn để diễn tả sự vật, hiện tượng, con người cũng là
một đặc điểm tạo nên nét riêng ở mỗi nhà văn
Nhìn chung thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại Đây là những yếu tố rất quan trọng của ngôn ngữ nghệ thuật Nó bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lí giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và có tính sáng tạo của tác giả Đồng thời đây cũng là những biểu hiện quan trọng thể hiện phong cách sáng tác của nhà văn Ở những chương sau, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các thành phần của ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn trên các bình diện về ngôn ngữ và cách dùng từ, đặt câu để thấy những đặc sắc về ngôn ngữ của nhà văn
1.2 Hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn
1.2.1 Vài nét về cuộc đời và con người
* Cuộc đời
Cao Duy Sơn tên thật là Nguyễn Cao Sơn Ông sinh năm 1956 tại quê mẹ, thị trấn cổ Cô Sầu thuộc huyện Trùng Khánh, phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng Chữ Cao trong bút danh được lấy từ tên Cao Bằng để tỏ lòng tri ân vùng đất đã
Trang 21sinh ra và nuôi dưỡng ông trưởng thành Sinh ra trong gia đình cha người Kinh,
mẹ người Tày, Cao Duy Sơn được thừa hưởng tinh hoa của hai nền văn hóa Hơn nữa từ thuở ấu thơ nhà văn đã gắn bó máu thịt với quê hương Cao Bằng Đây cũng là mảnh đất sinh ra những người con ưu tú của văn học dân tộc thiểu
số như Bế Thành Long, Y Phương, Triều Ân, Đoàn Lư Cao Bằng còn được biết đến với nhiều thắng cảnh đẹp: Thác Bản Giốc, sông Quây Sơn, hang Pác Pó Nơi đây cũng hình thành và nuôi dưỡng nền văn hóa đậm đà bản sắc của người Tày - Nùng: Tiếng đàn tính, những điệu sli, lượn, điệu then mượt mà say đắm cùng những nét sinh hoạt văn hóa đã ăn sâu vào đời sống tâm hồn con người ở vùng đất sơn thủy hữu tình này
Từ năm 1984 khi còn làm phóng viên ở Đài phát thanh truyền hình Cao Bằng, được đi dự Hội trại sáng tác ở Tuyên Quang, Cao Duy Sơn đã có truyện
ngắn đầu tay Dưới chân núi Nục Vèn Từ đó trở đi đề tài miền núi được nhà văn
khai thác cần mẫn và đem lại cho ông nhiều thành công đáng kể Năm 1989, Cao Duy Sơn thi vào trường viết văn Nguyễn Du và tốt nghiệp với cuốn tiểu thuyết
Người lang thang Cuốn tiểu thuyết được đánh giá rất cao thể hiện rõ nét tài
năng của ngòi bút Cao Duy Sơn, đồng thời nó như một ngọn lửa âm ỉ tiếp tục nuôi dưỡng niềm đam mê văn chương trong ông
Tháng 5 năm 2003, Cao Duy Sơn chuyển công tác về Hà Nôi, làm ở Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Hiện nay ông là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Phó chủ Tịch Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Văn hóa các dân tộc
Trang 22là phải viết về những con người, những câu chuyện nơi đây Thực ra, văn chương của tôi là những câu chuyện xảy ra của chính tôi, của những người thân,
của làng mạc tôi, của cái tầng sâu văn hoá tiềm ẩn ở vùng đất này” [22]
Mặc dù hiện tại Cao Duy Sơn sống ở Hà Nội, nhưng trong kí ức đất và
người Cô Sầu luôn để lại trong ông những hoài niệm ấm áp Trên thực tế không gian trong sáng tác của Cao Duy Sơn trải dài trong nhiều tỉnh, vào tận Đà Lạt sang tận Trung Quốc, nhưng vẫn là bám theo những bước chân của người Cô Sầu, không coi Cô Sầu trở thành một phần máu thịt trong đời người và đời văn của mình thì sao Cao Duy Sơn lại phải nặng lòng đến vậy?
Cao Duy Sơn có tấm lòng chan chứa yêu thương đối với con người của quê hương mình Tấm lòng nhân hậu đó được nhà văn thể hiện trên những trang viết giàu cảm xúc Đó là sự cảm thương cho những kiếp người cơ cực, nghèo khổ, xót xa cho số phận những người phụ nữ trước bi kịch đau khổ của cuộc đời Nhà văn đặc biệt trân trọng những phẩm chất đáng quý của người miền núi: mộc mạc, nhân hậu, thủy chung và giàu nghị lực sống Con người Cao Duy Sơn yêu ghét rõ ràng Ông yêu mến và tự hào trước những con người làm giàu, làm đẹp hơn cho mảnh đất quê hương bao nhiêu thì lại càng khinh ghét bọn người bị lợi danh làm cho mờ mắt dẫn đến suy thoái về đạo đức nhân cách
Thủy chung thâm canh đề tài miền núi, không gian trong sáng tác của Cao Duy Sơn chỉ quây tròn trong cái lũng Cô Sầu nhỏ bé Cả năm cuốn tiểu thuyết của ông đều xây dựng không gian lũng Cô Sầu Nhưng điều tuyệt vời là “không
có truyện nào phải “độn” truyện nào” (Trung Trung Đỉnh) Nhà văn bộc bạch:
“Tôi viết như một sự giải phóng năng lượng của bản thân, khám phá chất người
Cô Sầu trong chính mình và khi viết thì nét văn hoá riêng của các dân tộc đồng hiện cùng câu chuyện, chứ không phải đi tìm sự cách tân A, B nào đó với hy
vọng đoạt giải.” [9] Không tham vọng tìm sự cách tân mà viết để khám phá chất
người Cô Sầu và nét văn hóa riêng của dân tộc cho nó “thoát thai từ dòng giống Tày để rồi mọc mầm, cắm rễ trên đất quê hương” [24] Vì lẽ đó, nên bao nét văn
hóa tươi đẹp của dân tộc Tày hiện lên trên những trang văn của ông qua các lễ
Trang 23hội, phong tục tập quán, lối ứng xử, nếp cảm, nếp nghĩ… của con người Có được điều ấy chính là nhờ tài năng và sự am hiểu vốn văn hóa đậm đặc về vùng
đất Cô Sầu của nhà văn và cả tâm nguyện muốn phấn đấu để: “đưa văn học dân tộc thiểu số bình đẳng với các dân tộc khác” [17]
* Các sáng tác tiêu biểu
Bằng quá trình lao động sáng tạo miệt mài, nghiêm túc, Cao Duy Sơn đã đóng góp cho nền văn xuôi đương đại Việt Nam một khối lượng tác phẩm khá lớn với 6 cuốn tiểu thuyết và 5 tập truyện ngắn:
Tiểu thuyết
Người lang thang, Nxb Hội nhà văn, 1992 (Giải A của Hội đồng văn học
dân tộc miền núi Hội nhà văn Việt nam; Giải nhì Hội hữu nghị Việt Nhật năm
1993) Cực lạc, Nxb Hà Nội, 1995 Hoa mận đỏ, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1999 Đàn trời, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2006 (Giải A của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2007) Chòm ba nhà, Nxb Lao Động, 2009 Biệt cánh chim trời, Nxb Quân đội nhân dân, 2015
Truyện ngắn
Những chuyện ở lũng Cô Sầu, Nxb Quân đội nhân dân, 1999 Những đám mây hình người, Nxb Văn hóa dân tộc, 2002 Hoa bay cuối trời, Nxb Thanh Niên, 2008 Ngôi nhà xưa bên suối, Nxb Văn hóa dân tộc, 2008 (Giải thưởng
Hội nhà văn Việt Nam năm 2008 và giải thưởng văn học ASEAN của Hoàng gia
Thái Lan năm 2009) Người chợ, Nxb Văn hóa dân tộc, 2010
Với những đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp văn học dân tộc thiểu số nói riêng, văn học nước nhà nói chung; tiếp nối Giải thưởng văn học Đông Nam
Á, Cao Duy Sơn đã có tên trong danh sách vinh danh Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2017
1.2.2 Quan niệm sáng tác
Quan niệm sáng tác được hiểu là chỗ đứng, điểm nhìn để nhà văn sáng tác
và được hiện thực hoá trong quá trình sáng tác, được phát biểu trực tiếp hay thể hiện gián tiếp qua các tác phẩm Nhà văn nào cũng có quan niệm sáng tác riêng
Trang 24nhưng để tạo thành một hệ thống có giá trị thì không phải ai cũng làm được Đọc những tác phẩm của Cao Duy Sơn, qua những lời phát biểu của ông trên báo, trên truyền hình đặc biệt được nghe ông nói chuyện trực tiếp về quan niệm sáng tác của mình, chúng tôi khái quát được một số quan điểm sáng tác chính sau đây:
* Viết văn phải có sự ám ảnh sâu sắc
Theo Cao Duy Sơn Chính sự ám ảnh là cái nôi nuôi dưỡng niềm đam mê: Khi anh ta chọn được một đề tài có cái gì đó đột nhiên nó khiến cho anh phải nghĩ, phải tìm hiểu, luôn bị ám ảnh và cuối cùng tìm ra một cách giải quyết những chuyện đó sao cho hợp lí Lúc nào trong đầu mình không nung nấu những
ám ảnh thì là chết Để hình thành nên một tác phẩm văn học, đứa con tinh thần quý giá của mình là cả một quá trình lao động lâu dài và nhà văn phải có sự kiên trì, suy nghĩ thấu đáo Nghề viết văn khác nhiều so với các loại hình lao động nghệ thuật khác là ngoài tình yêu nghề nghiệp, sự cần mẫn với công việc thì cần phải có điều quan trọng nhất đó là cảm xúc, sự rung động và theo Cao Duy Sơn:
“Viết văn nhất định phải có sự ám ảnh Không có sự ám ảnh sẽ không thể nào tạo ra được một tác phẩm vì mọi cái đều trở nên hời hợt Sự ám ảnh đó từ ngày này qua ngày khác, nó khiến anh không lúc nào nguôi nghĩ đến nó và phải tìm cách thể hiện theo một cách nào đó” [55] Ám ảnh về quê hương - vùng đất Cô
Sầu đó là lí do khiến Cao Duy Sơn kiên trì với đề tài miền núi Tập truyện ngắn
Ngôi nhà xưa bên suối là tập truyện nhà văn đã giành toàn tâm toàn ý trong suốt
bốn năn trời ròng rã và liên tục trong hai năm 2008, 2009 giành được cú đúp giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và giải thưởng ASEAN Nó bắt đầu từ một
câu chuyện có thật của ông: “Tôi từng có một ngôi nhà bên suối ở thị xã Cao Bằng, ngôi nhà đã gắn bó với tôi suốt cả một thời khốn khó Ngôi nhà có một ô cửa sổ nhỏ nhìn ra con suối quanh năm chảy róc rách, có cả vườn cây và con đường đá sỏi Chính khung cảnh hữu tình như một bức tranh thủy mặc của khu
nhà đã cho tôi xúc cảm để viết nên nhiều tác phẩm” [22] Trong Chòm ba nhà,
ngôi nhà của cậu bé San với “Mái ngói âm dương, tường xây đá hộc”, có ô cửa
Trang 25sổ mà ngày nào San cũng lên đó ngồi nhìn về phía chân trời xa ngắm “đoàn người ngựa, xiêm áo rực rỡ” đang khuất dần trong bầu trời tím rịm có lẽ cũng là
hình bóng ngôi nhà gắn bó với tuổi thơ ấu của Cao Duy Sơn
Không chấp nhận những cái gì quá ư dễ dãi hời hợt nông cạn, những tiểu thuyết, truyện ngắn của Cao Duy Sơn đều được viết ra trong một nỗi ám ảnh, đó
là nỗi ám ảnh về quê hương Cô Sầu Tình yêu với mảnh đất chôn rau cắt rốn đã cho ông những rung cảm sâu sắc đến độ thăng hoa để cho ra đời những tác phẩm tạo sức ám ảnh lớn với độc giả
Theo Cao Duy Sơn, những người viết văn dù tài năng lớn hay nhỏ trước hết phải sống thực, nghĩ thực Sự giả dối không biết đến sự “ám ảnh” - những ám ảnh khiến ta ăn không ngon ngủ không yên và đòi hỏi phải được giải tỏa bằng con chữ, bằng hình tượng nghệ thuật Sự ám ảnh này giữ vai trò quan trọng đối với chất lượng tác phẩm Nếu không có nó, tác phẩm sẽ không có giá trị
* Viết văn để trả nợ vùng đất quê hương
Cao Duy Sơn sinh ra và lớn lên ở thị trấn Cô Sầu (huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) - nơi in dấu tuổi thơ gắn bó với những kỉ niệm buồn vui, ân nghĩa trọn đời Vì vậy địa danh này cùng với số phận con người vùng cao xuất hiện dày đặc trong tác phẩm của ông Nhà văn nói rằng: “Tôi viết như một sự trả
nợ, trả nợ quê hương, trả nợ những người sinh ra mình, bè bạn, xóm giềng” [9]
Và“ông viết bằng những câu chuyện từ ký ức - một cách để trả nợ quê hương mà cũng là trả nợ cảm xúc của chính mình” [43] Khi Ngôi nhà xưa bên suối hoàn
thành Cao Duy Sơn đã mang tác phẩm của mình trở về gửi tặng bà con trong làng như một món quà tri ân của kẻ xa quê đối với những người đã giúp ông nuôi dưỡng bao mạch nguồn cảm xúc Hình ảnh quê nhà đã in sâu trong ký ức
mà có hết kiếp người ông cũng không thể nào quên được Nhà văn tâm sự: “Tôi nghĩ là không bao giờ tôi tách rời mình khỏi mảnh đất ấy được… Khi ý thức rõ rệt về đời sống của những người Tày quê tôi, tôi lại càng tin rằng, sứ mạng của
mình là phải viết về những con người, những câu chuyện nơi đây" [22]
Hiện tại Cao Duy Sơn sống và làm việc tại Hà Nội, mặc dù làm công tác
quản lí bộn bề với công việc nhưng hầu như tháng nào cũng phải ngược về Cô
Trang 26Sầu sống trong văn hóa và con người bản làng thì ông mới không “bứt rứt” và
tâm nguyện của nhà văn: “Chắc chắn, khi nào về hưu, tôi lại về ở hẳn nơi đây để tiếp tục khai thác những vỉa tầng thiên nhiên, con người vùng núi phía Bắc”
[22] Đó cũng là cách để nhà văn “trả nốt món nợ đang đè nặng trong lòng”
Chắc chắn những nỗ lực sáng tạo miệt mài của Cao Duy Sơn không hẳn vì nổi
tiếng mà vì trách nhiệm với dân tộc mình, cộng đồng mình
* Người cầm bút phải am hiểu vốn văn hóa dân tộc
Đối với người viết văn thì bao giờ cũng có quan niệm đầu tiên là phải viết cho nó thật hay đã, nếu viết không hay thì bạn đọc khó chấp nhận được Sau đó
là phải viết được những gì thực sự hiểu rất kĩ, rất sâu sắc về nó bởi văn học không chấp nhận sự hời hợt
Vốn là người mang trong mình hai dòng máu Kinh - Tày, lại sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Cô Sầu - vùng đất phong phú, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, Cao Duy Sơn có sự am hiểu sâu sắc, tường tận các hình thức sinh hoạt văn hóa và những phong tục tập quán của dân tộc Tày Những sáng tác của Cao Duy Sơn thực sự là kho tri thức về vùng đất này Theo ông, để viết được hay thì phải
“thuộc” nơi mình sống đã Vấn đề không phải là ai viết mà quan trọng phải hiểu,
phải thuộc vùng văn hóa: “Tìm tòi và sáng tạo phản ánh con người và đời sống
xã hội vào văn học là trách nhiệm của nhà văn Song nếu không thuộc nó thì đừng vội dấn thân” Ông khẳng định: “Muốn viết về đề tài miền núi thì phải bắt đầu từ sự hiểu biết, hay nói cách khác là “thuộc” văn hoá” [9]
Trong các sáng tác của Cao Duy Sơn, chúng tôi thấy rằng từ ngôn ngữ, hành động của nhân vật đều mang đậm tính cách, tâm hồn người miền núi Đó là
những con người dũng cảm, lạc quan, giàu sức sống Đọc Chòm ba nhà, tôi vẫn
ấn tượng với những đứa trẻ San, Lùng, Túng bị lạc trong rừng, đêm đến phải ở lại trong hang và đối mặt với thú dữ nhưng bọn trẻ đã bình tĩnh và nhanh trí tìm cách đối phó với con báo rừng và đốt lửa báo hiệu để mọi người đến ứng cứu kịp
thời Kinh nghiệm đi rừng Lùng đã nắm trong lòng bàn tay: “Đi vào rừng mà không mang theo dao là mất tay, không mang theo lửa thì mất ăn Không mang theo cả hai thứ đó thì coi như không còn đường đi, không còn là người miền núi
Trang 27nữa rồi” [54, tr 86] Một đặc điểm của người miền núi là khi đối mặt với những
khó khăn hoặc hình dung những điều không thuận lợi trước mắt họ thường
khuyên nhủ nhau bằng câu nói “Khắc đi khác đến” Câu nói như nuôi dưỡng
niềm tin tưởng, lạc quan của họ vào cuộc sống Vì vậy trong khi đối phó với con báo rừng, bảo vệ tính mạng cho mình và hai bạn San, Túng, Lùng không quên
trấn an bạn: “Đừng lo, bọn mình sẽ tìm được đường về”
Tâm hồn, tính cách con người miền núi còn thể hiện qua những lời tỏ tình
của các chàng trai, cô gái Tày Đây là lời tỏ tình của Ngấn với Diên: “Tôi sẽ đến dưới cầu thang, hát ba ngày cho sức khỏe người già, ba mùa trăng cho người tôi yêu, và suốt một kiếp cho người tôi yêu lấy về làm vợ” [48, tr 60] Cao Duy Sơn
rất am hiểu tập quán sinh hoạt của dân tộc mình, từ phong tục hát Then của
người Tày, ông đã đưa vào tiểu thuyết Người lang thang những lời thề, lời hát
thật đặc sắc, giúp thể hiện sinh động tâm tư, tình cảm của nhân vật
Cao Duy Sơn là nhà văn thuộc thế hệ 5x nhưng “Chứa đựng nhiều tiềm năng cho một phát triển có mặt là đột xuất để đạt một tầm cao tương xứng với thời đổi mới và hội nhập trong bối cảnh kỉ nguyên thông tin và cuộc toàn cầu hóa lần thứ ba” Cùng với Mai Liễu, Inrasara Phú Trạm, Cao Duy Sơn “đã khẳng định được cái mới trong sáng tạo và đang còn nhiều hứa hẹn” [26]
1.2.3 Những vấn đề cơ bản trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn
1.2.3.1 Phản ánh tâm hồn, cuộc sống người miền núi
* Con người sống gắn bó với thiên nhiên
Những không gian rộng như núi rừng, bầu trời là không gian quen thuộc trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn Núi rừng hiện lên với tất cả những tính chất tự nhiên của nó: hoang sơ, thơ mộng, hùng vĩ, mĩ lệ và cũng rất dữ dội, khắc nghiệt Điều đặc biệt là dù thế nào thì con người nơi đây luôn sống hòa hợp gắn bó với thiên nhiên Họ yêu quý tự hào về vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng quê hương San
trong Chòm ba nhà là người con của đất Cô Sầu - một khu phố cổ xung quanh là
núi rừng Nhưng San vẫn có cảm giác xúc động tự hào mỗi khi được phóng tầm
mắt, thả hồn vào không gian núi rừng xanh thẳm: “Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi
được nhìn thấy cảnh núi non hùng vĩ như thế Đâu đâu cũng đồi núi điệp trùng
Trang 28Sương như mây phủ kín những đỉnh non cao” [54, tr 32] Môi trường tự nhiên
ấy đã hình thành ở con người miền núi những tính cách chân phác, mộc mạc, một tâm hồn phóng khoáng
Hình ảnh thiên nhiên trong sáng tác của Cao Duy Sơn không phải lúc nào cũng hiền hoà, thơ mộng, mà thiên nhiên ở đây còn hiện lên với tất cả sự khắc nghiệt và dữ dội Đây là cảm giác choáng ngợp của Vương khi leo lên ngọn núi
Slam Quý Vì: “Có lẽ trong đời mình Vương chưa từng thấy ngọn đòi nào cao và
to như thế Gần hai tiếng hai người mới chỉ chinh phục được hai phần ba đỉnh cao Cả quả đồi không một loài cây mọc Càng lên cao gió càng mạnh” [53, tr
145] Thiên nhiên khắc nghiệt vừa là môi trường thử thách lòng can đảm, là thước đo nghị lực vừa là nơi ươm mầm nuôi dưỡng những ước mơ đẹp đẽ của
con người Vì thế khi leo lên đỉnh núi, Vương thích thú và hãnh diện: “Có sự
chinh phục nào mà không trả giá? Khi đã đứng trên nó như lúc này mới hiểu ra
ý nghĩa ấy, ý nghĩa của chiến thắng không gì hết ngoài bản thân, đó là điều đáng
kể nhất Sức mạnh, sự bền bỉ, ý chí, nghị lực được thử thách và giải thoát” [53,
tr 145 - 146] Với Thức ngọn Slam Quý Vì từ lâu đã ấp ủ trong anh những dự
định lớn lao tươi đẹp Thức muốn biến nơi hoang sơ này trở thành một vùng đất
tuyệt diệu nhất: “Bên cạnh những cánh rừng nguyên sinh kia sẽ là những rừng
chè đặc sản, những ngôi biệt thự sang trọng được phục chế đẹp như bước ra trong cổ tích” [53, tr 148]
Mặc dù hiện lên với tính chất khắc nghiệt dữ dội, thiên nhiên luôn là người bạn đồng hành gắn bó thủy chung với con người Con người miền núi yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên Thiên nhiên thức dậy trong tâm hồn
họ biết bao cảm xúc, ấm áp, thiêng liêng Khi trở lại quê nhà Phia Đeng được hít hơi thở của rừng, được ngắm nhìn thác nước Phja Boóc đổ xuống từ tầng trời,
Thức thấy yêu hơn mảnh đất này như tình yêu của con cái với cha mẹ: “không
một sắc màu, không một sự sáng tạo nào của con người có thể sánh nổi”, còn
với Vương anh có cảm giác thấy mình như đang “lạc vào cõi tiên” Như một
người nghệ sĩ, đứng trước cái đẹp Vương không chỉ biết thưởng thức, rung động
Trang 29mà còn biết chiêm nghiệm và rút ra được chân lí: “Cái đẹp làm cho con người ta
sống tốt hơn và chết cũng dịu êm hơn” [53, tr 147]
Thiên nhiên còn là nơi cứu rỗi giải thoát, gửi gắm niềm tin vận mệnh con người Sau bao nhiêu tai họa, mất mát đau thương, Thức và lão Mạc lại đến thác
Phja Bóc: “Thác Phja Boóc đổ xuống từ độ cao gần sáu mươi sải tay Triệu triệu
những bụi nước từ dòng thác như tấm lưới khổng lồ tung lên trời cao, rồi chùm xuống vạn vật cách nó cả vài trăm thước” [53, tr 487] Đó không phải là thác nước
bình thường mà là “Đàn trời”: “Gặp phải tai họa khổ đau dân PhiaĐeng đều đến
đó ơ hờ, tin rằng người sẽ thấu” [53, tr 485], có những long đong bất hạnh bám dai
như vắt đói, con người không thể cởi bỏ được cho nhau thì phải nhờ trời Có những lúc không biết nên giải quyết như thế nào? Trong lòng còn bị níu kéo bởi tình cảm người thân nơi quê nhà PhiaĐeng, công việc ở Bình Lãng còn dang dở, đồng
nghiệp đang chờ mình, Thức lại đến bên dòng PhjaBoóc lặng ngắm thác nước: “Ào
ào đổ xuống từ lưng chừng núi PhjaBoóc như tiếng trống rền vang đánh xuống từ tầng trời, khiến mặt đất rung lên dưới lớp lớp bụi nước phun trào từ dòng thác bạc” [53, tr 335] Anh nhìn dòng thác và có cảm giác thác nước như giúp anh gột
rửa tất cả, xua tan những suy nghĩ nông nổi nhất thời, cho anh thêm sức mạnh để đi
đến quyết định “ngày mai sẽ trở về cùng các bạn” [53, tr 337]
Không gian núi rừng là một phần không thể thiếu trong đời sống của người miền núi Nó là một phần máu thịt, là một phần tồn tại của con người nơi đây đã
ăn sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ Vì thế nó xuất hiện rất tự nhiên trong cả tiềm thức của con người Màu tím của bầu trời hòa lẫn sắc xanh của lá rừng chập chờn ẩn
hiện trong giấc mơ của Mạc khi anh đến thăm mộ An: “Rừng ngút ngàn lưng trời
tím biếc, đổ tràn ngập sương mù xuống thung sâu Những âm thanh của lá chen vai ào ào như một cơn mưa khan đang trút xuống từ tầng trời” [49, tr 148]
Hình ảnh những rừng cây, những đỉnh núi, vạt đồi phủ sương, những cây sau sau cổ thụ, những thác nước hùng vĩ đã trở thành nguồn cảm hứng mãnh liệt trong những trang viết của Cao Duy Sơn Vốn là con người của núi rừng kết hợp với khả năng quan sát tinh tế tỉ mỉ, miêu tả cụ thể và điều quan trọng hơn là tình
Trang 30cảm của nhà văn với đất rừng nơi đây nên thiên nhiên trong sáng tác của Cao Duy Sơn sống dậy với tất cả những nét đặc sắc nhất
* Con người đôn hậu, thủy chung và giàu nghị lực sống
Không gian núi rừng với tính chất phong phú đã hình thành, hun đúc cho con người miền núi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách đáng quý, đáng trân trọng Con người miền núi trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn dù cuộc sống của họ còn bộn bề khó khăn thiếu thốn, phải đối mặt với nhiều thử thách khắc nghiệt phía trước nhưng họ vẫn đằm thắm thủy chung, nhân hậu và đặc biệt rất kiên cường
dũng cảm Ngấn trong tiểu thuyết Người lang thang ngay từ khi chào đời đã
chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh Anh được mú Ban nuôi nấng, cưu mang bằng đủ thứ tạp nham nhặt nhạnh và xin được trong mỗi buổi chợ phiên Tuổi thơ của Ngấn trôi qua trong sự ghẻ lạnh của dân Cô Sầu Ngấn đã phải bỏ học giữa chừng và sống lang thang Nhưng tình thương của mú Ban, sự quan tâm của những con người nhân hậu như lão Noọng, lão Tẻn đã cho Ngấn một động lực sống, một bản lĩnh mạnh mẽ để khẳng định mình Vượt qua những mặc cảm về thân phận côi cút, mặc cho Phắn đã đến trước với Diên bằng cả hai mùa tung
còn, Ngấn yêu Diên với tình yêu chân thành say đắm nồng hậu chung thủy “lấy
dao rạch bụng cũng không tìm thấy một lời dối trá” Bao nhiêu đêm đến gần nhà
Diên mà Ngấn chưa được phép đứng dưới cầu thang cất tiếng lượn chúc sức khỏe người già Sự phản đối của cha mẹ Diên và sự cản trở của Phắn càng tăng
thêm lòng quyết tâm trong Ngấn “sống lấy người chết lấy xương” Khi không thể lấy được người mình yêu làm vợ, bỏ qua quá khứ đau buồn với những hận thù, đố kị tầm thường, Ngấn đã bao dung độ lượng nuôi nấng con gái của Diên và Phắn như con đẻ của mình Chàng trai của núi rừng miền Đông ấy cũng có sẵn bản lĩnh dũng cảm, gan dạ để đối diện với thử thách Bản lĩnh ấy được thể hiện trong cuộc săn hổ với lão Tẻn Hổ vốn là giống thú dữ, tinh khôn và đầy nghi hoặc So với lối săn bằng súng hoặc tên độc thì đánh hổ bằng cạm thường nguy hiểm hơn nhiều Muốn bẫy được con mồi còn sống, người đánh cạm phải chu đáo tỉ mỉ, tinh vi không cho phép phạm phải một xơ xuất nào dù là nhỏ nhất
Trang 31Kinh nghiệm bẫy hổ Ngấn đã học được của lão Tẻn Khi hổ đã mắc cạm chưa
phải đã nắm trọn phần thắng, cắn tay lấy máu nhỏ vào ngọn lửa: “Ngấn nhả hai hàm răng, máu từ cánh tay nhỏ lên ngọn lửa cháy xèo xèo Nỗi hoảng sợ trong người chợt lui dần Đánh thức và dựng dậy một con người hoàn toàn khác, con người với cặp mắt sắc lạnh nhìn con thú không chút nao núng Một sức mạnh kì
lạ như nâng Ngấn bay lên mặt đất Trong ánh lửa, bóng Ngấn xông lên, lùi lại dẻo dai như một thợ săn đích thực” [48, tr 181] Những động tác thoăn thoắt dứt
khoát, chính xác của Ngấn trong cuộc bẫy hổ cho thấy bản lĩnh gan dạ, dũng cảm
và khát vọng chinh phục thử thách của chàng trai núi rừng miền Đông
Đọc tiểu thuyết Đàn trời, chúng tôi thấy ấn tượng sâu đậm nhất là nhân
vật Triệu Niên Thức Thức được coi là mẫu hình của con người quả cảm, giàu nghị lực sống Quá nhiều những mất mát đau khổ, bất hạnh ập đến cuộc đời anh: cha mẹ chết vì làm cách mạng, bị lạc mất mú Sắn Pì giữa rừng sâu, tai nạn bất ngờ đã cướp đi người yêu của anh Bản thân anh nhiều lần xuýt mất mạng trong tay bọn lưu manh, nhà cháy, vợ chết, con thơ, liên tiếp những hiểm nguy xẩy đến khi anh đào vàng ở núi Ngườm Kim… Tốt nghiệp Đại học, Thức trở về Bình Lãng làm báo Với lương tâm nghề nghiệp, Thức nhận thấy mình phải có trách nhiệm vạch trần sự việc doanh nghiệp Lương Nhân trốn thuế, khai khống số lượng đào đắp thi công công trình 135 ở Bảo Sơn để chiếm đoạt tiền nhà nước Tất cả những thủ đoạn làm ăn phi pháp của chúng được che chắn bởi bàn tay của
vợ chồng Chủ tịch tỉnh Đinh Xuân Ấn Lũ người xấu xa luôn tìm cách trả thù hãm hại, bất chấp mọi hiểm nguy rình rập, đe dọa đến tính mạng, Thức vẫn dũng cảm đấu tranh bảo vệ công lí, lẽ phải Anh có cách ứng xử và thái độ sống đúng
đắn tích cực Phải vượt lên để sống đúng nghĩa là con người, chân lí đó đã tiếp
thêm cho anh sức mạnh vượt qua và chiến thắng mọi cái xấu, cái ác Sau cơn mưa trời lại sáng, cuộc sống bình yên lại trở về trên mảnh đất Bình Lãng, hạnh phúc đã đến với Thức Ngôi nhà dưới chân núi Tó lại tràn ngập tiếng cười
Mộc mạc, chất phác, giàu tình yêu thương là những phẩm chất đáng quý của nhiều nhân vật trong các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn Dù già - trẻ, trai - gái
Trang 32đều có nét chung là xuất thân nghèo khó, cơ cực vất vả nhưng bù lại họ rất giàu lòng yêu thương, trọng nghĩa, trọng tình Đó là chất “keo” kết dính những con người vốn không cùng ruột già huyết thống lại gần nhau, nương tựa vào nhau để sống, vượt qua những khó khăn thử thách khắc nghiệt của cuộc đời Lão Phu
trong Hoa mận đỏ là một con người như thế Tám mươi tuổi, lão Phu giờ đã già,
sức lực đã vơi cạn nhưng sự quan tâm, tình yêu thương mà lão dành cho hai đứa trẻ côi cút Vạng, Vần thì không hề suy suyển, lão đã chăm sóc Vạng, Vần như hai cháu ngoại: khi thì dành dụm ít mạch ba góc cho chúng, khi thì bảo chúng cách nướng cá thế nào cho ngon, có khi chỉ là kể cho chúng nghe chuyện của
mình: “kiếm được thứ gì lão cũng chia cho chúng, kết bạn với chúng lão thấy lòng mình cũng được khuây khỏa đỡ trống vắng hơn Giờ lão chỉ có một mình… ngày không gặp mặt một lần là thấy nhớ” [52, tr 78] Và nỗi day dứt lớn nhất
trong cuộc đời lão là không kịp ngăn cản quyết định lấy Chẩng của Mảy Lìn Sau này bất chấp mọi hiểm nguy lão Phu đến tận Pác Gà cứu hai anh em Vạng, Vần và giải thoát cho Mảy Lìn thoát khỏi địa ngục trần gian của Chẩng
Và còn rất nhiều những nhân vật mang cốt cách vẻ đẹp con người miền núi như: lão Tẻn, lão Noọng , Na Ban (Người lang thang); lão Mạc, Sắn Pì, xẩm
Ky (Đàn trời); lão Khần, mụ Nhẹo (Cực lạc) - những con người không chỉ dành tình yêu thương cho người khác mà họ còn rất chung thủy với vùng đất đã nuôi
dưỡng họ Họ như những cây rừng cổ thụ, một “cuốn từ điển sống” của vùng đất
này, những con người nối giữa quá khứ và hiện tại Những phẩm chất đáng quý của họ như một lẽ tự nhiên sẽ tiếp tục lan truyền đến các thế hệ sau
* Con người với những số phận đầy bi kịch
Một vấn đề chính được phản ánh trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn là số phận của những con người miền núi Nhà văn đặt nhân vật của mình vào những
bi kịch để khẳng định phẩm chất tốt đẹp của họ Bi kịch là khi con người phải sống trong những khổ đau mất mát thậm chí cả sự dằn vặt bản thân Họ ý thức được điều đó nhưng không thể thoát ra được Nhân vật bi kịch trong sáng tác của Cao Duy Sơn phần lớn là người phụ nữ như: Diệu (Đàn trời), Diên (Người lang
Trang 33thang), Mảy Lìn (Hoa mận đỏ), An (Cực lạc) Tất cả họ đều là những người phụ
nữ đẹp nết, đẹp người nhưng chỉ vì một chút lầm lỡ trong tình yêu hôn nhân nên cuộc đời họ rất đau khổ, bất hạnh
Diệu vốn là một cô nữ sinh trung học hồn nhiên tươi trẻ Diệu gặp Vương trong một chiều tan học Họ yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên, tình yêu đó được nuôi dưỡng trong suốt những năm Diệu học Đại học ở Hà Nội nhưng kết cục của tình yêu ấy lại không đẹp Diệu lấy Tuệ và cuộc hôn nhân này nhanh chóng trở lên vô vị bởi Diệu đã quá chán nản thất vọng trước thói ích kỉ, lối sống xa đọa của chồng Những kí ức đẹp đẽ với Vương lại sống dậy, nàng thèm được ngồi sau Vương trên chiếc xe đạp trong cơm mưa mùa hạ, được cùng Vương ngồi bên
bờ sông Dâng nghe tiếng sáo của xẩm Ky Có những lúc gặp Vương, Diệu khát khao được ôm anh, được tận hưởng nụ hôn nồng ấm như ngày đầu Diệu luôn sống trong nỗi tiếc nhớ day dứt những kí ức ngọt ngào của một thời xa vắng mà không thể nào thay đổi được hoàn cảnh, không sao biến những kí ức đẹp đẽ ấy trở thành hiện thực Cuộc hôn nhân không hạnh phúc là cái giá phải trả cho quyết định sai lầm của Diệu
Diên trong Người lang thang được ví như cánh hoa gạo:“là bông Kim
anh bị vây quanh những thân gai “mắc càng” sắc nhọn” [48, tr 63] Yêu Ngấn
nhưng trái tim yếu đuối của nàng lại không thể vượt qua sự sắp đặt của cha mẹ nên đành phải lấy Phắn - một trai bản xấu xa Lời nói của Diên với Ngấn trong cuộc hẹn lén lút vội vàng: “Em như con chim bị bắt nhốt vào lồng, tiếng hót thì buồn, bầu trời thì mất Lộc mệnh thày táo đã lấy gửi cho bàn thờ họ nhà trai, họ
đã gộp hai làm một Pa mé không thể nuốt lời hứa được nữa Tình anh em mang theo đến chết” [48, tr 171]. Mỗi lời nói chứa đầy những đau khổ uất ức của người con gái yêu và được yêu nhưng lại không thể sống với tình yêu của mình Cuộc sống của Diên sau hôn nhân là những chuỗi ngày tồi tệ ngột ngạt, bế tắc khiến cô luôn cảm thấy cô đơn xa lạ ngay trong chính căn nhà của mình Cuối
cùng cô bỏ lại tất cả: “nắm tay con gái chạy vụt ra khỏi nhà Phía sau là quá khứ khổ đau, là giả dối, là tình yêu đã mất” [48, tr 350]
Trang 34Mảy Lìn trong Hoa mận đỏ: “mới mười bảy tuổi, là con gái độc nhất
trong họ Choóng, cái thời má hồng môi thắm đó Mảy Lìn đẹp nhất phố Cô Sầu” [52, tr 27] Mảy Lìn yêu Chẩng từ đêm hội pháo hoa Pác Gà, tình yêu của họ:
“như nắng gió thần tiên giữa ngày xuân đầu năm, sao nặng tình thương nhớ đến cồn cào gan ruột” [52, tr 29] Một tình yêu vụng dại chưa kịp hò hẹn thề
nguyền thì Mảy Lìn phải lấy Tài Pẩu Trong giây phút say đắm yếu mềm Mảy Lìn đã trao cái quý giá nhất của đời người con gái cho Chẩng để cuối cùng chính người cô yêu thương lại đẩy cô vào bi kịch Tình yêu với Chẩng đã nguội lạnh,
Mảy Lìn giờ như người câm lặng hóa đá: “Từ lâu lắm thị không còn nhớ mình
đã khóc thành tiếng lần cuối cùng vào lúc nào! Giờ thì thị chỉ nín bặt, âm thầm
chịu đựng” [52, tr 18]
Đặt nhân vật vào bi kịch để bọc lộ tâm lí tính cách và số phận của nhân vật Đó là cách thường thấy trong các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn Chính cuộc đời những con người này làm nên một Cao Bằng đằm thắm nhiều yêu thương tình nghĩa và cũng phản ánh được một hiện thực của con người nơi đây là những
số phận nhiều éo le, bất hạnh, thiệt thòi mà nguyên nhân một phần là do họ tự trói buộc mình vào những quan niệm đạo đức cổ hủ
Xuất phát từ quan niệm “viết văn phải có sự ám ảnh” Từ “ám ảnh” ở đây
có nghĩa là những hình ảnh về quê hương đất nước, con người gắn với những nét văn hóa truyền thống nơi Cao Duy Sơn sinh ra và lớn lên đã ăn sâu vào tâm thức nhà văn như là một sự “ám ảnh” Có lẽ vì thế mà những nhân vật được nhà văn xây dựng đều rất chân thực và thể hiện được nét riêng của con người nơi đây
Ông nói “Với tôi, dù viết về đương đại hay quá khứ cũng phải hồn hậu, dung dị, không lên gân… bởi cuộc sống của người Cô Sầu chúng tôi là thế.” [16]
1.2.3.2 Phát huy nét bản sắc văn hóa dân tộc Tày
Bất cứ nhà văn nào khi sáng tác cũng đều muốn quảng bá những giá trị văn hóa tinh thần giàu bản sắc độc đáo của quê hương Các loại hình nghệ thuật là môi trường lí tưởng để người nghệ sĩ có thể giới thiệu đến bạn đọc nét văn hóa của dân tộc mình Nếu như hội họa, điêu khắc thể hiện bằng đường nét, sắc màu;
Trang 35kiến trúc là hình khối thì văn học là ngôn từ Những tác phẩm văn học được coi như một “bảo tàng bằng ngôn ngữ” lưu trữ nhiều giá trị trong đó có giá trị văn hóa Văn hóa là cội nguồn dân tộc, có ai sinh ra và lớn lên lại không được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa truyền thống của dân tộc mình Cao Duy Sơn là nhà văn sinh ra và lớn lên ở thị trấn Cô Sầu - vùng đất đậm đà bản sắc văn hóa Tày - Nùng Ông am hiểu tường tận và trân trong, tự hào về những nét văn hóa của
“người đồng mình”, luôn có ý thức sâu sắc trong việc giữ gìn bảo tồn và phát
huy những giá trị ấy Những tác phẩm của ông là: “sự khám phá, giải mã những
vỉa tầng văn hóa nguyên bản, hồn nhiên của dân tộc” [9]. Đến với sáng tác Của Cao Duy Sơn, người đọc thấy vô vàn những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Tày được hiện lên sắc nét dưới ngòi bút tài hoa của người nghệ sĩ ngôn
từ Nó không chỉ đơn thuần là những sinh hoạt xã hội mà còn mang giá trị nhân văn cao đẹp
Trước hết là hình thức sinh hoạt chợ phiên của người Tày (Cao Bằng)
Hiện nay nhiều vùng quê còn tồn tại hình thức này, nhưng chợ vùng cao khác nhiều so với chợ của người Kinh, nếu như chợ người Kinh thường họp vào các ngày chẵn 2,4,6 hoặc ngày lẻ 1,3,5 và có thể cả ngày chẵn và ngày lẻ 1,3,6,8 tùy theo từng địa phương, khoảng cách thời gian giữa phiên chợ trước và phiên chợ sau gần hơn Người đi chợ chủ yếu để trao đổi mua bán hàng hóa Chợ phiên vùng cao người đi chợ không chỉ có nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa mà còn
là dịp để họ được gặp gỡ giao lưu bạn bè và để biết được thông tin về nhau:
“Năm ngày một phiên chợ huyện cũng được một ngày vui Một ngày miệng được nói nhiều hơn thường ngày Người làng đi chợ chỉ là để đi chơi, tìm gặp bạn, là nơi thân tộc gặp gỡ thông tin chuyện hiếu, hỷ, lễ đầy tháng trẻ hay vào nhà
mới.” [54, tr 12] Bằng cách quan sát rất tỉ mỉ và miêu tả chi tiết, Cao Duy Sơn
đã mang đến cho người đọc những hình ảnh khá sống động và đầy đủ về cảnh sinh hoạt chợ phiên của người nghèo vùng cao Nó không tiêu điều xơ xác như
cảnh chợ ở phố huyện Cẩm Giàng trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam: “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu Người về hết và tiếng ồn ào cùng mất Trên đất chỉ còn rác
Trang 36rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía ” [47] Cảnh chợ tàn này gợi cuộc sống
nghèo nàn, nhịp điệu sống quẩn quanh buồn tẻ của người dân phố huyện Chợ của người Tày tuy có đạm bạc thiếu thốn nhưng không kém phần nhộn nhịp mang lại cảm giác con người với con người thật gần gũi, ấm áp, thân thương
Chợ phiên là dịp để mọi người thăm hỏi chuyện trò kết tình bằng hữu và cũng là không gian lý tưởng để trai gái tìm được bạn tình Nếu như người Kinh
có miếng trầu, chén nước để mở đầu câu chuyện thì người vùng cao chén rượu mời nhau trong buổi gặp gỡ làm quen không thể thiếu Các loại rượu được bày bán thường là rượu trắng, rượu ngâm dễ cây, rượu ngô được nấu từ men lá:
“Chợ Cô Sầu lớn vào loại nhất khu vực miền Đông Cứ năm ngày một phiên người từ các xã, các huyện cả tỉnh lỵ nườm nượp kéo nhau đổ về Ba cái đình chợ dựng bằng gỗ nghiến cao ngất không đủ chỗ cho hàng quán bày bán đủ loại hàng hóa Nhiều hơn cả vẫn là hàng ăn uống, và nhất là rượu, rượu đựng trong
vò, trong bầu, trong bình thủy tinh, từ rượu thuốc, tắc kè, rượu tiết trăn, tiết sơn
dương đến rượu trắng bày khắp hai bên lối đi” [52, tr 108] Ở vùng cao hầu như
ai cũng biết uống rượu Rượu được những người phụ nữ mang ra chợ bán Họ uống và thử rượu bằng bát Những bát rượu sóng sánh cay nồng là những ân tình mà họ dành cho nhau
Ngoài chợ phiên một phong tục đẹp đẽ đã ăn sâu vào tâm thức của người
Tày là tục hát sli lượn (sli có nghĩa là thơ, sli lượn là hát thơ) Đây là thể loại
dân ca phổ biến có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Tày Lời sli lượn có vần điệu, có liên tưởng ví von so sánh thông qua những hình ảnh gần gũi quen thuộc của người dân tộc nhằm bọc lộ tâm tư tình cảm của con người Những trai thanh gái nụ yêu nhau họ thường mượn điệu sli lượn để trao gửi tấm lòng tình cảm của mình thay cho lời tỏ tình gửi duyên, trao duyên
Trong Người lang thang, sau buổi gặp mặt đầu tiên bên bờ suối Ngấn đã bị hút
hồn bởi vẻ đẹp mộc mạc tinh khôi như hoa Kim Anh của cô sơn nữ tên Diên Ngấn yêu Diên say đắm, đã nhiều đêm chàng đứng dưới chân cầu thang nhà Diên cất lên điệu hát sli lượn say đắm lòng người:
Trang 37“Noọng ơi, noọng à…
Nhà anh khó, thân anh nghèo
Anh chỉ có câu, “Hà lều”, làm hoa làm nụ
Không chê khó, không khinh nghèo
Em lấy vui làm môi, lấy hoa làm lời
Cho anh nghe câu đắng, câu ngọt…” [48, tr 55]
Như một hình thức giới thiệu những phong tục tập quán đẹp của “người vùng mình”, Cao Duy Sơn không chỉ đơn thuần trích dẫn lời lượn sli mà còn đi
sâu miêu tả tỉ mỉ chi tiết cách hát với một niềm hãnh diện tự hào: “Tiếng lượn
then là sợi “khau thương” “khau tài” trói lời nguyện ước trăm năm Muốn lấy được lời hát của bạn gái mình … trai Tày phải cầm khăn tay trắng phất qua đầu
ba lần, cùng với một tiếng hú cất lên thống thiết làm hiệu… nếu không từ chối, người con gái cũng sẽ giơ khăn tay đáp lại hai lần, nhận lời đối hát Khi ấy người con trai mới được phép cất tiếng lượn Thuận lòng, hợp ý, người con gái
sẽ cất lời lượn mời bạn trai theo mình về bản, đến dưới cầu thang cất tiếng lượn chúc sức khỏe người già, người trẻ Nếu cha mẹ người con gái ưng thuận, sẽ đặt một ngọn đèn ngoài sàn, mời người con trai lên sàn sân hát bản Hát bản có khi kéo dài hai ba đêm Nếu gia đình nhà gái ưng thuận, sẽ mời người con trai một bát rượu đầy tỏ lòng chấp nhận cầu hôn” [48, tr 49]
Mùa xuân về trên khắp bản làng, khắp các triền đồi hoa đào, hoa mận, hoa ban khoe sắc cùng với các phiên chợ tình Người con trai Tày sẽ mang tiếng khèn, điệu hát để đi tìm người yêu Những đêm xuân hò hẹn bên vách, trong rừng của trai non gái nụ là những câu hát sli lượn vang khắp thung sâu Cao Duy Sơn đã am hiểu tường tận lối hát sli lượn của người Tày quê mình Nhà văn như muốn gửi gắm tâm huyết của mình qua từng câu chữ Mỗi trang văn của ông người đọc được khám phá những nét văn hóa độc đáo và thú vị của dân tộc Tày
Bên cạnh việc miêu tả hát sli lượn, Cao Duy Sơn còn muốn giới thiệu đến
độc giả một nét đặc trưng nữa trong văn hóa dân tộc Tày là hát Then Nhạc cụ không thể thiếu trong lời hát then là đàn tính hay còn gọi là Tính tẩu Then tính
Trang 38chính là “đặc sản văn hóa dân gian” vùng núi phía Bắc Một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo đậm đà bản sắc của người bản địa Hát then và cây đàn tính diệu kỳ
ấy bắt nguồn từ cuộc sống lao động tập thể cộng đồng người Tày cổ, tiêu biểu có
bài: Sơ sơ ngòi mà tướng lạ nhân/Bách vật dú chang đông sơn hào/Pin bân phựt tua tâừ cụng xong/Tua eng là tham sloong nhi nhec/Tua cải là tham pét ư hư (tạm dịch: Toán đi săn người quen kẻ lạ/Bách thú trong sơn dã thiếu chi/Cung tên bắn con nào chẳng được/Con nhỏ khiêng hai đi vui vẻ/Con to khiêng tám kẻ nhọc nhằn) [57] Vậy là, hát then, đàn tính hẳn có từ khi tổ tiên loài người hình
thành và có nhu cầu văn hóa, lao động tập thể Các làn điệu then thường được
"trình làng" trong sinh hoạt đời sống người Tày, trong dịp hát cúng lễ, vào nhà mới, chúc thọ, đám cưới, tảo mộ, tang lễ, lễ cấp sắc còn gọi là lẩu pựt (vỉt) hay hội then So với các thể loại dân ca khác, then tính có sức sống mãnh liệt, trường tồn và được nhân dân các dân tộc Cao Bằng quý trọng, gìn giữ nâng niu, coi đó là nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt cộng đồng
Người xưa quan niệm có một vị thần “Say” - vị thần linh thiêng của người
Tày là cách gọi cho những người làm then “Then là âm trượt của chữ Slin
nguyên gốc, có nghĩa là “Tiên” Hát then chính là Tiên hát” [49, tr 57] Then
phản ánh thế giới tâm linh mang giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số vùng
cao nhất là dân tộc Tày Lão Khần trong Cực lạc đã giới thiệu với Pồn về bài hát
“Thề yêu” - điệu then cổ nhất miền Đông và chỉ được phép cất lên trong lễ cưới:
“Khi hát người hát phải sử dụng điêu luyện cây đàn tính, bởi cung đàn cao hơn
giọng hát ba bậc” [49, tr 57] Những giai điệu mượt mà của lời “Thề yêu” được
cất lên từ giọng điệu trầm ấm tha thiết tựa như dòng suối của lão Khần:
“Ta lấy được nhau lên rừng hái lá
Thả xuống mương thành cá thành tôm
Ta lấy được nhau sớm tối chiều hôm
Vãi trấu thành đàn gà, lợn, vịt…
Ta lấy được nhau nhổ núi đá làm cột
Xé áo trời dựng mái nhà xanh…” [49, tr 58 - 59]
Trang 39Lời hát diễn tả những cung bậc tha thiết của tình yêu đôi lứa mà mãnh liệt nhất là nỗi khao khát ước nguyện được gắn bó và xây đắp tình yêu hạnh phúc
Nó được cất lên thật tự nhiên từ con tim mộc mạc chân thành nhưng vô cùng nồng nàn say đắm, trong sáng thiêng liêng của chàng trai cô gái Tày
Cùng với hát sli lượn, hát then cũng là một loại hình văn hóa dân gian có sức sống khá mạnh mẽ lâu bền trong cộng đồng các dân tộc Tày - Nùng Các thế
hệ con người nơi đây đã không ngừng sáng tạo, gìn giữ và truyền lại cho con
cháu Then như một hoạt động “tốt nhất cho việc bảo lưu và nuôi dưỡng các hình thức văn hóa nghệ thuật cổ truyền của dân tộc Tày” [74] Hiểu sâu sắc điều
đó nên mỗi tiểu thuyết của Cao Duy Sơn như là một sự khám phá đầy thú vị
“những vỉa tầng văn hóa” của dân tộc mình Bằng cách này, nhà văn đã tái hiện được cụ thể phong phú các hình thức sinh hoạt văn hóa đặc biệt là hát lượn, hát then của dân tộc Tày Chúng ta càng thêm yêu quý cảm phục, trân trọng nhà văn và mỗi người đều ý thức được rằng càng biết nhiều, hiểu nhiều thì càng cần phải giữ gìn bảo tồn và phát huy để những giá trị văn hóa đó mãi trường tồn trong đời sống cộng đồng các dân tộc
Đọc tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, chúng tôi thật sự ấn tượng với một loại hình sân khấu dân gian được ông nhắc đến nhiều trong các tác phẩm và được
người dân vùng cao rất ưa thích đó là Tuồng cổ Những tích tuồng cổ năm nào
cũng được diễn đi diễn lại vài ba bận vào những ngày lễ hội, như Tết Nguyên đán; chợ xuân, chợ của trai gái tìm nhau trong câu sli lượn; hội lồng tồng; hội Nàng Hai mừng gạo mới Một trong những tích tuồng cổ mà người dân Cô Sầu
xem mãi không chán mắt ấy là “Cẩu chủa cheng vưa” (Chín chúa tranh vua)
Sân khấu được dựng ngay trong đình chợ bằng mấy chiếc thùng rách, vài chục tấm ván làm sàn, phông màn, diềm sóng, cánh gà tàng tàng phơ phếch được vá
víu chằng đụp nhưng: “Khán giả thật đông Kể ngồi người đứng ken kít bên
nhau nhưng tuyệt nhiên không một tiếng nói chuyện Mọi ánh mắt đều như bị hút
lên sân khấu” [49, tr 75] Mọi đặc sắc của văn hóa dân tộc gần như đều hội tụ
và thể hiện trên sân khấu nhỏ bé này, đâu đó có tiếng lượn then của người Tày,
Trang 40tiếng Hà Lều của người Nùng Người dân đến đây xem cũng là để gìn giữ một
nền văn minh rất đáng tự hào: “Bởi họ, cái đám dân Cô Sầu đã có công nuôi giữ
một nền sân khấu cổ xưa nhất, một thời vua cha họ, vương quốc Thục Phán đã đưa vào cung đình như một thứ báu vật tinh thần-đó là-Dá Hai” [49, tr 74]
Mượn câu chuyện dân gian, Cao Duy Sơn muốn giới thiệu và khẳng định sức sống lâu bền của các giá trị văn hóa truyền thống bằng một niềm tin tưởng tự hào
và tình yêu sâu sắc: “Trải qua bao thế kỉ họ vẫn không quên truyền lại cho nhau
bằng miệng Mặc bao phen binh đao chìm nổi, mặc cho bao đời bị giằng giật dày xéo, mặt đất bị biến dạng, … nhưng lời hát còn nguyên đó Chẳng một văn bản để lại, chỉ là lời truyền lời, người truyền người, bền bỉ, dẻo dai Vượt qua năm tháng ,“Chín chúa tranh vua” vẫn không chết, cho dù tất cả đã hóa thành
thiên cổ” [49, tr 74] Một điều đáng nể là diễn viên của các trích đoạn Tuồng cổ trên không ai khác là những người lao động bình thường làm đủ thứ nghề cơ cực vất vả như: thợ đục đá, xe ngựa, thợ nề, kể cả những gã dùng đủ chiêu trò gian lận để kiếm cớ sinh nhai như: gã chuyên nấu cao trâu thành cao hổ cốt, lão đồ tể cân điêu, kẻ vá săm gian xảo… Nhưng tất cả họ khi đã lên sân khấu thì quên đi thân phận và nghề nghiệp, bao nỗi lo toan nhọc nhằn để hóa thân xuất sắc vào
nhân vật khiến người xem phải: “chăm chú nhìn lên sân khấu Những cái mồm
nhất loạt đến há ra, như hớp lấy từng lời “dá hai” của các chúa đang diễu đi, diễu lại oai vệ trên sàn gỗ Những khuôn mặt ấy, mọi ưu tư vất vả dường như đã
tan biến” [48, tr 116] Các loại hình sân khấu dân gian như Chèo, Cải lương và
đặc biệt là Tuồng, ngày càng trở nên xa lạ với độc giả trẻ tuổi Đưa các tích tuồng cổ vào trong các sáng tác của mình, Cao Duy Sơn như muốn khôi phục và phát huy những giá trị văn hóa đáng quý của dân tộc mình
Một tập tục khác nữa được Cao Duy Sơn giới thiệu trong tiểu thuyết của
mình đó là tục Tảo mộ còn gọi là tiết thanh minh là một tục lệ có từ lâu đời
Người Tày vùng Đông Bắc Cao Bằng là một trong số không nhiều dân tộc hiện nay còn gìn giữ được tục lệ này
Những ngày đầu tiên của tiết thanh minh được gọi là Tết thanh minh Cũng có một số làng quê không phụ thuộc vào lịch mà thường lấy ba ngày đầu