Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm tìm ra những khó khăn và những rào cản mà phụ nữ nhập cư Việt Nam phải đối mặt trong việc đào tạo song ngữ trong gia đình; tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn mà mẹ Việt Nam gặp phải từ góc độ ngôn ngữ hay có nguyên nhân từ ngôn ngữ. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1LEE DONG KOAN
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC SONG NGỮ
Ở GIA ĐÌNH HÀN-VIỆT TẠI HÀN QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2020
Trang 2LEE DONG KOAN
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC SONG NGỮ
Ở GIA ĐÌNH HÀN-VIỆT TẠI HÀN QUỐC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8 22 90 20
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
GS TS NGUYỄN VĂN KHANG
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Ngoài phần trích dẫn đã nêu cụ thể trong từng chương, mục, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn xác thực và chưa từng được công bố bởi bất cứ tác giả nào
Tác giả luận văn
Lee Dong Koan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14
1.1 Một số vấn đề về đào tạo song ngữ 20
1.2 Giới thiệu gia đình đa văn hóa ở Hàn Quốc hiện nay 24
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO SONG NGỮ CHO CÁC GIA ĐÌNH ĐA VĂN HÓA HÀN-VIỆT TẠI HÀN QUỐC(QUA PHỎNG VẤN) 31
2.1 Cách thức thu thập tư liệu về thực trạng đào tạo song ngữ đối với các gia đình đa văn hóa Hàn-Việt 31
2.2 Những thách thức, khó khăn của đào tạo song ngữ ở gia đình đa văn hóa Hàn-Việt 32
2.3 Nhũng dấu hiệu tích cực đối với đào tạo song ngữ trong tương lại ở các gia đình đa văn hóa Hàn-Việt 42
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC ĐÀO TẠO SONG NGỮ Ở CÁC GIA ĐÌNH ĐA VĂN HÓA TẠI HÀN QUỐC 49
3.1.Về thời gian đào tạo tiếng Việt 49
3.2 Về chương trình và nội dung đào tạo 50
3.3 Về chất lượng giáo viên 51
3.4 Về chính sách 52
KẾT LUẬN 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Suốt chiều dài lịch sử phát triển hàng nghìn năm, Hàn quốc là một quốc gia khá thuần nhất, hôn nhân thường khép kín, đặc biệt là chưa có nhiều kinh nghiệm sống chung với các dân tộc khác Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, sự hội nhập, giao lưu kinh tế cũng như toàn cầu hóa làm cho số lượng người lao động nước ngoài, người nhập cư theo diện kết hôn đã làm thay đổi cục diện bức tranh về sắc tộc của Hàn Quốc
Bắt đầu từ sau những năm 1990, cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế và sự giao lưu hội nhập quốc tế, Hàn quốc đã bắt đầu đón nhận người nước ngoài đến với cộng đồng của mình làm việc Cùng với thời gian số lượng người nước ngoài ở Hàn quốc ngày càng tăng, đặc biệt là phụ nữ nhập cư theo diện kết hôn và con cái của các gia đình đa văn hóa tăng rất mạnh đồng thời tiếp tục gia tăng hơn trong thời gian gần đây Có thể nói, Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia đa văn hóa đích thực, với các thành viên xuất thân từ nhiều nền văn hóa khác nhau Điều này tạo nên sự phong phú và đa dạng về văn hóa và sắc tộc Tuy nhiên, điều này cũng đưa Hàn Quốc phải đương đầu với rất nhiều khó khăn Bởi một xã hội đa văn hóa thì sẽ không thể tránh khỏi những xung đột, mâu thuẫn về văn hóa ứng xử, về ngôn ngữ, về thói quen sinh hoạt của những cư dân cấu thành nên nó Sẽ có nhiều vấn đề phức tạp xuất hiện như chưa từng xảy ra trước đó trong xã hội truyền thống
Trong bối cảnh các gia đình đa văn hóa ngày càng tăng nhanh, đường biên giới giữa các thành viên trong gia đình đa văn hóa ngày càng bị xóa nhòa Hàn Quốc đang tận dụng tốt tính đa dạng này trên cả
Trang 6nội dung và tinh thần để xây dựng một cường quốc đa văn hóa, góp phần khẳng định thương hiệu quốc gia trên phạm vi toàn cầu Chính vì thế mà chính phủ Hàn quốc đã thay đổi hàng loạt các chính sách, pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hướng đến một xã hội
đa văn hóa cùng sinh sống hòa bình Và một trong những chính sách mà chính phủ Hàn Quốc ưu tiên phát triển trước tiên đó là chính sách phát triển ngôn ngữ cho các thành viên trong gia đình đa văn hóa, tập trung nhất vào đối tượng là trẻ em Bao gồm cả tiếng Hàn quốc và tiếng mẹ
đẻ, nhằm giúp họ nhanh chóng hòa nhập được với cuộc sống ở nơi đây Tuy nhiên, những chính sách phát triển ngôn ngữ này của Chính phủ cũng gặp không ít khó khăn bởi rất nhiều nguyên nhân Và Hàn quốc cũng đang từng bước để phá vỡ những rào cản đó
Chính sách đào tạo ngôn ngữ của Hàn Quốc cũng liên tục được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình có thực tế Trong thời gian gần đây chính phủ đã ban hành thêm một số chính sách đào tạo song ngữ dành cho các thanh thiếu niên của các gia đình đa văn hóa có khả năng nói cả tiếng Hàn và tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn như tổ chức các kỳ cuộc thi song ngữ Điều đó nhằm khuyến khích cho thế hệ trẻ của các gia đình này tích cực học ngôn ngữ để giúp họ được phát triển hoàn thiện hơn, khi được tương tác với cả bố và mẹ
Theo số liệu thống kê của Bộ Hành chính nội vụ Hàn Quốc, người nhập cư theo diện kết hôn ở Hàn Quốc người Trung Quốc chiếm
tỉ lệ lớn nhất Với hơn 20% của tổng số các gia đình đa văn hóa Sau đó
là người nhập cư từ Việt Nam với khoảng 16% Ngoài ra còn có bộ phận thiểu số đến từ Philippines, Đông Âu, Tây Âu… Đây chính là lý
do tôi chọn đề tài “Nghiên cứu về giáo dục song ngữ của các gia đình
đa văn hóa Hàn - Việt tại Hàn Quốc” Với mong muốn thông qua nỗ
Trang 7lực tìm hiểu và nghiên cứu của mình để có thể lý giải được những khó khăn cũng như rào cản của người phụ nữ Việt Nam trong quá trình học tiếng Hàn quốc cũng như dạy con em mình tiếng mẹ đẻ Đặc biệt là sự tham gia của người di cư Việt Nam trong quá trình đào tạo song ngữ như thế nào Để từ đó chúng tôi muốn đề xuất những kiến nghị, giải pháp mới cho phù hợp với chính sách đào tạo song ngữ của Hàn Quốc hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Nghiên cứu tại Hàn Quốc
Nghiên cứu về đào tạo song ngữ trong các gia đình đa văn hóa ở Hàn Quốc khá ít Các nghiên cứu về thực tế đào tạo song ngữ cho trẻ
em của các gia đình đa văn hóa chủ yếu tập trung vào việc xác định các rào cản đối với đào tạo song ngữ của trẻ em trong gia đình di dân kết hôn1, điều này đã được thực hiện để xác minh tính hiệu quả của sự hỗ trợ của các tổ chức quốc gia và nâng cao nhận thức về sự cần thiết và tầm quan trọng của hỗ trợ đào tạo song ngữ và nhấn mạnh rằng cần hỗ trợ chính sách
Lee Chang-Deok(2010) trình bày cơ sở lý luận về hỗ trợ đào tạo song ngữ ở Hàn Quốc, xem xét khái niệm và lịch sử của đào tạo song ngữ, gợi ý đào tạo song ngữ bao gồm học sinh phổ thông, giáo viên song ngữ và giáo viên đào tạo đa văn hóa Đặc biệt, nó chỉ ra môi trường đào tạo song ngữ yếu kém trong trường học.2
Trang 8Won In-Sook(2012)3 và Jang Myeong-Lim(2012)4 đã lưu ý tầm quan trọng của đào tạo song ngữ ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ở chỗ đó là thời gian ngôn ngữ được hình thành như một công cụ giao tiếp đầu tiên sau khi sinh trong các gia đình đa văn hóa Các chương trình đào tạo song ngữ bằng tiếng Hàn và tiếng Việt đã được tìm thấy có tác động tích cực đến sự tự tin của người mẹ, lòng tự trọng của trẻ sơ sinh
và mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Điều này dẫn đến việc xác định tầm quan trọng của đào tạo song ngữ cho trẻ em của các gia đình
đa văn hóa
Ngoài ra, nghiên cứu về trải nghiệm song ngữ của các gia đình
đa văn hóa trong các chương trình hỗ trợ sử dụng truyện cổ tích truyền thống đã làm tăng sự quan tâm của con cái đối với ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ mẹ đẻ nói tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày.5 Nghiên cứu cho thấy rằng giao tiếp cảm xúc với trẻ em được cung cấp và trẻ em có
cơ hội học văn hóa và ngôn ngữ của đất nước mẹ cho thấy cần có sự
hỗ trợ tích cực cho việc đào tạo song ngữ của trẻ em từ các gia đình đa văn hóa.6
Khi nói chuyện với trẻ em thông qua ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng, những người nhập cư kết hôn có thể làm sâu sắc cuộc trò chuyện của họ
và mở rộng sự đồng cảm của họ, và thanh niên đa văn hóa học ngôn
3 Won In-Sook(2012), “Ảnh hưởng của các chương trình song ngữ của trẻ em trong các gia đình đa văn hóa đối với lòng tự trọng và mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái”Giáo dục Mầm non, Nghiên cứu về Quản trị chăm sóc trẻ em, Tập 16, Số 1: 87-105
4 Jang Myeong-Lim, Jang Hye-Jin, Lee Se-Won(2012), “Ứng dụng thử nghiệm và giám sát các chương trình song ngữ dành cho những cha mẹ của các gia đình và trẻ sơ sinh đa văn hóa(Bản báo cáo nghiên cứu,
02/01/2011), Seoul:, Sở nghiên cứu chính sách chăm sóc trẻ em, Viện phát triển đào tạo Hàn Quốc
5 Lee Seung-Sook, Kwak Seung-Ju(2013), “Khám phá kinh nghiệm song ngữ của trẻ sơ sinh trong các gia đình đa văn hóa: Tập trung vào sự hỗ trợ phát triển ngôn ngữ bản địa”, tuyển tập luận văn Giáo dục Mầm non, Tập 17(4), 249-378
6 Cho Seung-Seok, Kim Hee-Soon(2013), “Nghiên cứu về đào tạo song ngữ của trẻ em được các bà mẹ đa văn hóa trải nghiệm”, Tạp chí của Hiệp hội công nghệ giữa Công nghiệp và Học tập Hàn Quốc, Tập 14(11), 5549~5558
Trang 9ngữ mẹ đẻ của họ để tăng sự hiểu biết và niềm tự hào về đất nước mẹ của họ Nó cũng có thể thay đổi các mối quan hệ gia đình chưa được liên lạc.7
Nghiên cứu của Hwang Jin-Young(2012) đã so sánh các trường hợp Hàn Quốc và nước ngoài trong đào tạo song ngữ và chính sách đào tạo, và kiểm tra nhận thức chung về đào tạo đa văn hóa của những người nhập cư hôn nhân Hàn Quốc Theo khảo sát, những người nhập
cư kết hôn đã chọn đào tạo văn hóa song ngữ cho người Hàn Quốc cũng như đào tạo nhận thức đa văn hóa cho người Hàn Quốc cũng như đào tạo ngôn ngữ Hàn Quốc là chính sách đào tạo cấp bách nhất.8
Cho Young-Dal Cho (2007) nhấn mạnh sự cần thiết của giáo viên
và trường học để nâng cao nhận thức chung về đào tạo song ngữ.9 Bộ Gia đình và Phụ nữ Hàn Quốc phân tích hiện trạng đào tạo tại các trường học và các trung tâm hỗ trợ gia đình đa văn hóa và đưa ra các đề xuất để cải thiện đào tạo song ngữ.10
Các nghiên cứu và báo cáo ở trên có ý nghĩa trong đó họ kiểm tra đào tạo song ngữ của trẻ em từ các gia đình đa văn hóa và đưa ra các câu hỏi cụ thể dựa trên chúng Nó cho thấy rằng sự quan tâm nghiêm túc trong đào tạo song ngữ cho các gia đình đa văn hóa đang gia tăng
Tuy nhiên, đối với các đề xuất chính sách, trước tiên phải hiểu rõ
về lĩnh vực thực tế hiện tại Nhưng đó không phải là phỏng vấn bằng
Trang 10tiếng Hàn hay dạy song ngữ, mà là hướng hỗ trợ những gì cần thiết để học ngôn ngữ của một bà mẹ nước ngoài để tăng cường hiệu quả của chính sách đồng hóa ở Hàn Quốc
2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trước và trong thập niên 70 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ học chủ yếu nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ, về các trạng thái song ngữ các dân tộc với tiếng Việt theo hướng xã hội học ngôn ngữ Năm 1983, Phan Ngọc và Phạm Đức Dương cho công bố cuốn “tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á” gồm 2 phần: 1) Lý luận đại cương về tiếp xúc ngôn ngữ và việc tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á 2) Ba thời kỳ tiếp xúc của tiếng Việt: với các ngôn ngữ Đông Nam Á để hình thành tiếng Việt; với các ngôn ngữ Hán và
Ấn để hình thành ngôn ngữ quốc gia Đại Việt; với các ngôn ngữ Pháp
và châu Âu để hiện đại hóa tiếng Việt.11 Đây là công trình quan trọng
mở đầu cho việc nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam Từ năm
1995 trở lại đây, xuất hiện một số công trình nghiên cứu những vấn đề song ngữ và đa ngữ ở Việt Nam với các nhà nghiên cứu có tên tuổi trong giới ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Văn Khang1213; về lịch
sử tộc người thông qua các hiện tượng song ngữ của Nguyễn Văn Lợi14;
13 Nguyễn Văn Khang(2007), “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”, Nxb Khoa học Xã họi, Ha Nội
14 Nguyễn Văn Lợi(1999), “Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, Dân tộc học”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3/1999
Trang 11nên vấn đề song ngữ và đa ngữ ở tầm vĩ mô của Nguyễn Văn Lợi15 và
Lý Toàn Thắng.16
Bên cạnh những công trình chủ yếu đề cập tới vấn đề lý thuyết
có liên quan nhiều tới chính sách ngôn ngữ kể trên, đã xuất hiện một số bài viết về thực trạng song ngữ Anh-Việt, Pháp-Việt, song ngữ Hmông-Việt của một số nhà nghiên cứu
Cho đến nay, những nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ và trạng thái song ngữ Anh, Pháp, Trung, Nga – Việt còn tản mạn và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống
2.3 Đào tạo song ngữ trong các gia đình đa văn hóa Hàn-Việt tại Hàn Quốc
Để cung cấp đào tạo song ngữ cho các gia đình đa văn hóa của học sinh trường tiểu học và trường trung học, Bộ đào tạo Hàn Quốc đã phát triển một chương trình bồi dưỡng giáo viên song ngữ ở Seoul và Gyeonggi-do và đưa họ vào các trường tiểu học và trường trung học cho phụ nữ nhập cư có bằng cử nhân từ năm 2009.17 Phụ nữ nhập cư đã kết hôn được chỉ định đến trường làm người dạy song ngữ bằng cách hoàn thành các chương trình giảng dạy, chuyên ngành và bài tập, kinh nghiệm văn hóa, song ngữ và tư vấn.18 Hệ thống giáo viên song ngữ đã được mở rộng trên toàn quốc kể từ năm 2013 Giáo viên song ngữ dạy học sinh gia đình đa văn hóa trong các gia đình đa văn hóa, đào tạo quốc tế và ngoại ngữ, cũng như học sinh song ngữ trong các trường
Trang 12học.19 Chương trình đào tạo người dạy song ngữ, được Bộ Đào tạo hỗ trợ, nhằm mục đích đào tạo ngôn ngữ và văn hóa của phụ huynh bằng cách đào tạo các gia đình đa văn hóa như những người hướng dẫn song ngữ thông qua một số sở đào tạo Từ năm 2010, nó đã được mở rộng đến các trường mẫu giáo Khi xem xét tỷ lệ các quốc gia từ các gia đình
đa văn hóa trong khu vực tài phán, bảy ngôn ngữ đã được chọn, chủ yếu
là chương trình đào tạo tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Việt và tiếng Nga Kể từ đó, sở đào tạo thành phố Kwang-Ju(2014)20 và sở đào tạo thành phố Seoul(2015)21 đã thúc đẩy cải thiện hiệu quả đào tạo đa văn hóa của trường, và chuyển sang đào tạo liên văn hóa và hoạt động thí điểm của các lớp học song ngữ Sở đào tạo thành phố Kwang-Ju đã xem xét các vấn đề trong chương trình giảng dạy đa văn hóa của các trường học địa phương và chỉ ra rằng đào tạo song ngữ hầu như không có đào tạo hệ thống do thiếu cơ sở hạ tầng đào tạo Trong nỗ lực cải thiện điểm này, năm 2018, bộ gia đình và phụ nữ Hàn Quốc cung cấp thông tin về cuộc sống ở Hàn Quốc và đào tạo trẻ em, được phát triển bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trên trang web Da-nu-ri Nó cung cấp một cơ sở
dữ liệu để khuyến khích sự tham gia và tham gia vào các lĩnh vực khác nhau của xã hội đòi hỏi song ngữ Thật đáng khích lệ khi thấy nhận thức ngày càng tăng về tầm quan trọng của đào tạo song ngữ đối với con cái đa văn hóa và tăng hỗ trợ chính sách Tuy nhiên, nó vẫn được tìm thấy trong lĩnh vực thực tế rằng các vấn đề khác nhau vẫn không thể được xác định bằng cách điều tra đơn giản
19 Kim Hyun-Ju(2011), “Nghiên cứu trường hợp cụ thể trong đào tạo của người dạy song ngữ tại trường tiểu học”, Luận văn thạc sĩ, Viện cao học giáo dục, Đại học Giáo dục Quốc gia Seoul
20 Sở giáo dục thành phố Kwang-Ju tại Hàn Quốc, 2014
21 Sở giáo dục thành phố Seoul tại Hàn Quốc, 2015
Trang 13Đầu tiên, điều quan trọng là phải nhận ra rằng có một thái độ hỗ trợ phân biệt đối xử tùy thuộc vào quốc gia mà song ngữ là của quốc gia nào Thái độ của gia đình bên người Hàn đối với tiếng mẹ đẻ của những người nhập cư hôn nhân nữ đã rất kỳ thị Vợ chồng và các thành viên gia đình Hàn Quốc ủng hộ việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của những người nhập cư từ hôn nhân từ các quốc gia nói ngôn ngữ lớn như tiếng Anh và tiếng Nhật, nhưng không được hỗ trợ bởi tiếng mẹ đẻ của các quốc gia nói tiếng thiểu số
Ngoài ra, không đủ để nói rằng chương trình đang được thực hiện trong lĩnh vực trường học có một nền đào tạo kép thích hợp Không chỉ có rất ít giờ hoạt động ngoại khóa, mà số lượng trường còn
ít và gặp khó khăn trong việc tiếp nhận và cung cấp giáo viên Ví dụ, đào tạo song ngữ tại các trường học, trung tâm hỗ trợ gia đình đa văn hóa và NGO có thể mất 1-2 tiếng một tuần Ở mức độ này, hiệu quả của việc học song ngữ là không đủ cho mục đích tham gia vào đào tạo song ngữ
Đó cũng là một tình huống mâu thuẫn trong lĩnh vực giảng dạy song ngữ Ví dụ, người Hàn Quốc là nhân viên hỗ trợ cho người hướng dẫn Có những vấn đề như giới thiệu các chuyên gia hành chính, những người thiếu hiểu biết văn hóa đáng kể về các quốc gia khác, điều này phải được đặt ra trước các chuyên gia đào tạo về đào tạo song ngữ Tiếp thu một ngôn ngữ cũng bao gồm sự hiểu biết về văn hóa, vì vậy đầu vào của các chuyên gia cho sự hiểu biết văn hóa nên được xem xét Tuy nhiên, rất khó để thu hút người dạy chuyên nghiệp trên toàn quốc do ngân sách không đủ Do đó, những gì bạn có thể học như một người hướng dẫn chỉ là một phần thông tin về đào tạo ngôn ngữ chung, chẳng hạn như làm thế nào để tập trung và quan tâm đến trẻ em trong lớp hoặc
Trang 14phân phối thời gian khoa học Mặt khác, các tổ chức phi chính phủ, không phải trường học, mời sinh viên nước ngoài từ nhiều quốc gia khác nhau dưới danh nghĩa đào tạo hiểu văn hóa, và thực hiện các bài học rời rạc và đôi khi thay thế nội dung của đào tạo song ngữ Trẻ em trải nghiệm những cảnh mâu thuẫn trong đó chúng phải đối mặt với các tình huống trong đó học sinh nước ngoài không thể hiểu nội dung của lớp học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là tìm ra những khó khăn
và những rào cản mà phụ nữ nhập cư Việt Nam phải đối mặt trong việc đào tạo song ngữ trong gia đình; tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn
mà mẹ Việt Nam gặp phải từ góc độ ngôn ngữ hay có nguyên nhân từ ngôn ngữ Luận văn cũng tìm hiểu về chương trình đào tạo song ngữ cho đối tượng là gia đình đa văn hóa Từ đó, luận văn góp phần vào vấn
đề đào tạo song ngữ ở Hàn Quốc cho các đối tượng nhập cư nói chung, người Việt Nam nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết
những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu lý thuyết đào tạo song ngữ
- Khảo sát đào tạo song ngữ trong các gia đình đa văn hóa để tìm ra những khó khăn và thuận lợi của mẹ Việt Nam trong quá trình tham gia đào tạo ngôn ngữ cho con em mình Tìm hiểu những yếu tố chi phối
Trang 15đến việc học tiếng Hàn Quốc của người của bố hoặc mẹ và dạy tiếng Việt đối với con cái
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các thành viên trong các gia đình đa văn hóa Việt-Hàn tại Hàn Quốc Chính là phụ nữ Việt nam đã kết hôn với người Hàn Quốc tại các lớp học văn hóa hoặc lớp tiếng Hàn ở các trung tâm đa văn hóa của Hàn Quốc, tại một số thành phố lớn như Seoul, Kwang-Ju, Dae-Jeon, An-San và Po-Hang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chủ yếu tiến hành phỏng vấn và khảo sát những người phụ nữ Việt Nam nhập cư theo diện kết hôn, hiện đang sống và làm việc tại Hàn Quốc từ 5 năm trở lên Họ đều đã có con đang trong độ tuổi tập nói hoặc đã đi học tiểu học
4.3 Tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu của luận văn được lấy trong các cuốn sách của một số tác giả người Hàn Quốc và Việt nam Bên cạnh đó còn có một số bài viết, luận văn, luận án của các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề đào tạo song ngữ nói chung và của Hàn-Việt nói riêng Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo các bài viết trên trang báo điện tử của Hàn quốc và Việt Nam được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép
Trang 165 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này chúng tôi sẽ chủ yếu áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp, thông qua các cuộc gặp trực tiếp với những người phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với người Hàn Bên cạnh
đó còn có phỏng vấn bổ sung đã được thực hiện thông qua các tin nhắn SNS trên mạng internet chẳng hạn như face-book, Kakao-talk và Zalo
- Phương pháp thống kê, phân tích: Phương pháp này giúp chúng tôi có thể tìm hiểu được những khó khăn và thách thức cũng như những thuận lợi trong việc đào tạo song ngữ đối với gia đình đa văn hóa Việt-Hàn Tìm ra những yếu tố chi phối và ảnh hưởng nhiều nhất, quyết định tới việc thành công trong việc đào tạo song ngữ trong các gia đình này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 17đẩy cho chương trình đào tạo song ngữ trong các gia đình đa văn hóa được hoàn thiện hơn, hiệu quả hơn
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phu lục, được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí thuyết của luận văn
Chương 2 Thực trạng đào tạo song ngữ cho các gia đình đa văn hóa Hàn-Việt tại Hàn Quốc (Qua Phỏng Vấn)
Chương 3 Kiến nghị về định hướng và các giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo song ngữ trong các gia đình đa văn hóa Hàn-Việt
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm và một số vấn đề về song ngữ
1.1.1 Khái niệm song ngữ
Song ngữ(Bilingual) được hiểu là việc sử dụng song song hai ngôn ngữ Người sử dụng song ngữ tức là người có thể sử dụng hai ngôn ngữ song song trong cuộc sống hàng ngày bao gồm: nghe, nói, đọc, viết và hơn thế nữa là có thể cảm nhận bằng cả hai ngôn ngữ đó Phần lớn, những người sử dụng song ngữ thường có kiến thức ngôn ngữ
và năng lực ngôn ngữ thứ nhất – hay còn được gọi là tiếng mẹ đẻ hơn ngôn ngữ thứ hai Tuy nhiên, cũng có phần không nhỏ, có thể sử dụng
cả hai thứ tiếng song song bằng nhau; điều này xảy ra với những người không có tiếng mẹ đẻ(SWONAL – Speaker Without A Native Language) Những người không có tiếng mẹ đẻ là những cá nhân bị thay đổi ngôn ngữ liên tục khi còn bé do quá trình đi chuyển hoặc do sự kết hôn giữa các dân tộc khác nhau tạo nên
1.1.2 Hiện tượng song ngữ
Hiện tượng song ngữ(Bilingualism) là hiện tượng một người, một khu vực hay một dân tộc sử dụng song song hai ngôn ngữ cùng một lúc Như vậy, có thể thấy rằng hiện tượng song ngữ có thể chia thành hiện tượng song ngữ cá thể và hiện tượng song ngữ xã hội
Hiện tượng song ngữ và chế độ song ngữ là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Hiện tượng song ngữ là hiện tượng cộng đồng ngôn ngữ hoặc một bộ phận thành viên cùng sử dụng hai ngôn ngữ, còn chế
độ song ngữ là quy định về việc sử dụng ngôn ngữ; nói cách khác, chế
Trang 19độ song ngữ chính là chính sách về đào tạo song ngữ tại một khu vực, lãnh thổ hay quốc gia
Hiện tượng song ngữ xuất hiện do các lý do khác nhau như: vấn
đề đào tạo song ngữ, sự cộng cư giữa các dân tộc, mối quan hệ giữa các ngôn ngữ về loại hình, cội nguồn, Như vậy, hiện tượng song ngữ là
hệ quả tất yếu dưới tác động của hàng loạt các nhân tố kể trên Trong
đó nổi lên một số nguyên nhân chính như:
Nguyên nhân đầu tiên kể đến là sự cộng cư của những người nói các ngôn ngữ khác nhau Những người dùng ngôn ngữ khác nhau nhưng lại cùng chung sống với nhau trên cùng một lãnh thổ Hiện tượng cộng
cư do nhiều lý do nhưng lý do quan trọng nhất là xuất phát từ tình trạng
di dân từ vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác Lịch sử cho thấy, hiện tượng di dân do nguyên nhân về kinh tế, chiến tranh hay chính trị Chẳng hạn, trong suốt thế kỷ XX đều có sự di dân của người Việt ra nước ngoài, tại nước ngoài dù muốn hay không người Việt cũng sống trong môi trường song ngữ tiếng Việt- tiếng của nước sở tại
Việt Nam có đến 54 dân tộc thiểu số cùng chung sống với nhau, không biệt lập mà xen kẽ trải dài từ Bắc đến Nam Theo số liệu điều tra năm 2009, ở các tỉnh miền núi phía Bắc có tới 20 trong số 107 các huyện có từ 10 dân tộc trở lên cùng sinh sống Đa số các xã có từ 3 - 4 dân tộc cùng cư trú Số xã có duy nhất một dân tộc cư trú chỉ chiếm khoảng 2,7% Chính đặc điểm này đã khiến cho trạng thái song ngữ ở Việt Nam trở nên rất đa dạng
Nguyên nhân thứ hai chính là sự thay đổi về chính trị trong các quốc gia đa dân tộc cũng tạo nên trạng thái song ngữ Ví dụ: Liên Xô (cũ) trước đây là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, tiếng Nga được
Trang 20coi là ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc Tại các nước Cộng hòa, bên cạnh tiếng Nga là ngôn ngữ quốc gia, các ngôn ngữ dân tộc vẫn được sử dụng trong giao tiếp Chính sách này đã tạo nên một trạng thái song ngữ bằng sự phân bố chức năng giữa tiếng Nga và tiếng dân tộc khá đa dạng Tuy nhiên từ tháng 8/1991, sau khi Liên Xô bị tan rã, tình hình song ngữ đã phát triển theo chiều hướng rất phức tạp do các nước Cộng hòa vùng Ban Tích tách ra thành quốc gia độc lập và theo
đó, vị thế của các ngôn ngữ vốn là ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã thay đổi, lại “trở thành ngôn ngữ quốc gia độc lập”, còn tiếng Nga trở thành ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở các nước Cộng hòa này
Nguyên nhân thứ ba chính là do chính sách song ngữ trong các cộng đồng dân tộc Như đã biết, đào tạo song ngữ là để tạo nên trạng thái song ngữ cá nhân Tuy nhiên, một số cá nhân không thể nào làm nên xã hội song ngữ Chính vì thế, đào tạo song ngữ cộng đồng đang đẩy nhanh để tạo ra sự phát triển song ngữ xã hội Hiện tượng này có thể nhận thấy ở chính sách đào tạo ngoại ngữ của một số quốc gia.22 Ví
dụ, việc dạy tiếng Anh, Nga, Pháp, Hán, trong các trường phổ thông
và đại học ở Việt Nam đã tạo nên một trạng thái song ngữ tiếng Việt - tiếng nước ngoài Hiện tượng song ngữ xã hội nhờ đào tạo có thể thấy
rõ ở các vùng dân tộc thiểu số Do nhu cầu giao tiếp và nhu cầu của cuộc sống, người dân tộc thiểu số đều có quyền lợi và nghĩa vụ học ngôn ngữ giao tiếp chung - tiếng Việt Vì thế, hiện tượng song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số xuất hiện
22 Hoàng Quốc (2015), “Đào tạo ngôn ngữ trong trường phổ thông vùng dân tộc Khmer (An Giang)”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5 tr 29
Trang 211.1.3 Một số vấn đề về song ngữ
Khi nói về song ngữ, người ta chỉ tập trung vào các cá nhân song ngữ với mục đích là làm sao để một người nào đó có thể học và sử dụng một ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ Về sau, dưới sự phát triển của khoa học ngôn ngữ, sự ra đời của chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội, khái niệm song ngữ được mở rộng và đặt ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất, thuật ngữ đa ngữ (multilingualism) xuất hiện khi xu hướng người biết không chỉ hai ngôn ngữ ngày càng tăng Dù vậy, theo thói quen, người ta sử dụng thuật ngữ song ngữ hoặc thuật ngữ đa ngữ cho cùng hiện tượng vừa nêu Như vậy, sử dụng song ngữ cũng chính là
sử dụng đa ngữ (chứ không phải theo nghĩa đen “song” là “hai”) và khi
sử dụng đa ngữ cũng chính là song ngữ (bilingualism)
Thứ hai, song ngữ không chỉ tồn tại riêng lẻ ở một cá nhân Chính vì thế, khi nói đến song ngữ là nhằm đến song ngữ trong một cộng đồng Ở đó, các cá nhân song ngữ sử dụng những ngôn ngữ mà họ biết để trao đổi thông tin, giao tiếp với nhau, các ngôn ngữ trong cộng đồng có thể tương tác với nhau, tạo nên hiện tượng song ngữ xã hội Bởi thế, song ngữ xã hội có thể hiểu “là hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ của người song ngữ trong xã hội song ngữ”23 Tức là hai hay trên hai ngôn ngữ cùng hành chức trong một cộng đồng người Cộng đồng song ngữ có thể là một nhóm người, một quốc gia, một khu vực hoặc thậm chí là cả thế giới
Thứ ba, yếu tố quan trọng nhất liên quan đến song ngữ xã hội là nhất định phải có người song ngữ Có thể hiểu người song ngữ là người
có khả năng sử dụng luân phiên hai hoặc trên hai ngôn ngữ, “là nắm
23 Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội tr.38
Trang 22một cách có hiệu quả hai hoặc trên hai ngôn ngữ”24 Theo Fishman,J.A (1996), song ngữ là phản ánh sự biết cách nói năng trong giao tiếp nhờ vào phương tiện của hơn một ngôn ngữ Như vậy, thế nào là “biết” - năng lực song ngữ của người song ngữ? Hiện tại, có hai quan niệm như sau:
Nếu năng lực sử dụng ngôn ngữ của người song ngữ thành thạo đến mức họ có thể sử dụng hai ngôn ngữ thuần thục như nhau, nghĩa là
họ có thể tư duy mà không cần phải qua khâu phiên dịch, kiểu người song ngữ này gọi là người song ngữ hoàn toàn hay người song ngữ đầy
đủ Tuy nhiên, trên thực tế, những người thuộc loại song ngữ hoàn toàn rất hiếm bởi việc nắm vững hoàn toàn hai ngôn ngữ như nhau là rất ít gặp Kể cả người đơn ngữ (ngôn ngữ thứ nhất đồng thời là tiếng mẹ đẻ) cũng chưa chắc nắm vững hoàn hảo toàn bộ vốn từ với mọi phong cách giao tiếp Theo Gai Xingzhi (1997), chỉ có những trẻ em sinh ra ở môi trường song ngữ thì mới có hi vọng là người song ngữ hoàn toàn Vì vậy, có thể coi đây là song ngữ lí tưởng và những song ngữ thuộc loại này là song ngữ lí tưởng
Ngoài kiểu người song ngữ hoàn toàn thì bên cạnh đó còn có kiểu người song ngữ không hoàn toàn hay người song ngữ bộ phận Họ
là những người ngoài biết tiếng mẹ đẻ có thể biết thêm ngôn ngữ khác ở mức độ đủ để trao đổi với một lĩnh vực nào đó mà họ quan tâm Ví dụ, người nghiên cứu ngôn ngữ có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp xung quanh nội dung chuyên môn về ngôn ngữ mà họ nghiên cứu Đây là kiểu song ngữ phổ biến ở các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ trên thế
24 Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội tr.24
Trang 23giới Với cách hiểu này, việc nghiên cứu song ngữ cũng như những vấn
đề liên quan đến song ngữ được mở rộng hơn, đặt ra nhiều vấn đề hơn
Thứ tư, khi nói đến hiện tượng song ngữ, là nói đến một ngôn ngữ gọi là “ngôn ngữ thứ nhất” và nói đến ngôn ngữ thứ nhất, người ta
sẽ nghĩ ngay đó là tiếng mẹ đẻ (mother tongue) Vậy, thế nào là tiếng
mẹ đẻ? Hiểu đơn giản, tiếng mẹ đẻ là thứ tiếng của cha mẹ mình, của dân tộc mình Tuy nhiên, trên thực tế lại không đơn giản như vậy Ví
dụ, một đôi vợ chồng người Việt sinh con ở Trung Quốc và đứa trẻ đó ngay từ khi sinh đã học nói tiếng Trung Quốc, lớn lên chỉ biết sử dụng tiếng Trung Quốc để giao tiếp mà không hề biết tiếng Việt thì tiếng mẹ
đẻ của nó là tiếng Việt hay tiếng Trung Quốc? Một ví dụ khác, một người đàn ông Trung Quốc kết hôn với người phụ nữ là người dân tộc Khmer ở Việt Nam và đứa trẻ sinh ra chỉ biết nói tiếng Việt (không biết nói tiếng mẹ đẻ của cha mẹ là tiếng Trung Quốc và tiếng Khmer) Sau
đó, cả gia đình chuyển sang sống ở Anh và dần quên hẳn tiếng Việt Vậy, tiếng mẹ đẻ của đứa trẻ này là tiếng Trung Quốc, tiếng Khmer, tiếng Việt hay tiếng Anh? Các ví dụ trên cho ta thấy tính phức tạp của khái niệm tiếng mẹ đẻ Chính vì thế, hiện nay có những quan niệm khác nhau về tiếng mẹ đẻ
- “Tiếng mẹ đẻ” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng thì bất kì thứ tiếng nào mà không có truyền thống chữ viết thì đều được coi máy móc là phương ngữ của một ngôn ngữ địa phương và đứa trẻ nói thứ ngôn ngữ địa phương nhóm nhỏ chă
có chữ viết đó lập tức sẽ được coi là tiếng mẹ đẻ của nó (cho dù đứa trẻ
ấy không biết nhiều lắm về ngôn ngữ này)
Trang 24Theo nghĩa hẹp, tiếng mẹ đẻ là tiếng nói dùng chung trong gia đình (bất kỳ trình độ phát triển của thứ tiếng nói ấy như thế nào) Đây
là cách nhìn nhận tiếng mẹ đẻ từ tình hình ngôn ngữ ở Ấn Độ - một quốc gia có tới 200 ngôn ngữ được xếp loại (còn thực tế có khoảng 1.652 ngôn ngữ và phương ngữ) Ấn Độ là quốc gia có lập trường đa nguyên về đào tạo song ngữ, vì thế cần phải có một khái niệm mang tính tác nghiệp về tiếng mẹ đẻ
1.2 Khái niệm và một số vấn đề về đào tạo song ngữ
Song ngữ là một hiện tượng của hai hay nhiều hơn hai ngôn ngữ
ở một người hay một tập thể người sinh sống trên một địa bàn có đặc điểm riêng về mặt xã hội văn hóa.25
1.2.1 Khái niệm về đào tạo song ngữ
Thuật ngữ đào tạo song ngữ bắt đầu xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ 20 như một phương pháp đào tạo cho các sinh viên không phải là người bản ngữ và được sử dụng như một ngôn ngữ thứ hai bên cạnh tiếng mẹ đẻ Ở Việt Nam, Nguyễn Quốc Hùng trong chia sẻ về dạy và học tiếng Anh cũng nêu rõ quan điểm về đào tạo song ngữ:
“Nhiều trường học dạy tất cả các môn bằng tiếng Việt và thêm vài môn tiếng Anh và họ gọi đó là song ngữ Như thế là không đúng Song ngữ nghĩa là tiếng Anh và tiếng Việt phải bổ trợ cho nhau phát triển về mặt ngôn ngữ Một số môn dạy bằng tiếng Anh, một số dạy bằng tiếng Việt,
và một số bằng cả hai thứ tiếng” Nếu theo như quan điểm của Nguyễn Quốc Hùng, việc đào tạo song ngữ không chỉ là tập trung vào ngôn ngữ thứ hai mà đồng thời vẫn phải trau dồi tiếng mẹ để để hai thứ tiếng này
bổ trợ cho nhau
25 Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.12
Trang 25Chuyên gia đào tạo song ngữ người Canada W.F Mackey và M Siguan người Tây Ban Nha đã đưa ra định nghĩa về đào tạo song ngữ như sau: “Đào tạo song ngữ là chỉ hệ thống đào tạo lấy hai ngôn ngữ làm phương tiện giảng dạy, trong đó một ngôn ngữ thứ nhất của học sinh”26, đồng thời cũng đưa ra các phạm vi giới hạn cho định nghĩa này
- Nếu chỉ sử dụng một ngôn ngữ mà ngôn ngữ này không phải là ngôn ngữ thứ nhất của học sinh, điều này không thể coi là đào tạo song ngữ
- Hệ thống trường học không được chính nhà nước tại quốc gia
đó coi là hệ thống song ngữ, nhưng trên thực tế học sinh phải tiếp nhận song ngữ để trờ thành người thạo ngoại ngữ thì vẫn được công nhận là
hệ thống đào tạo song ngữ
- Trong giáo trình đào tạo của hệ thống đào tạo song ngữ, có cả chương trình giảng dạy ngôn ngữ khác thì cũng không thể coi là đào tạo song ngữ
Xã hội không ngừng phát triển, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, người song ngữ, hiện tượng song ngữ xuất hiện ngày càng nhiều Đây chính là xu thế tất yếu của xã hội trong quá trình hội nhập và phát triển và là vấn đề được đặt ra đối với mọi quốc gia khi đưa ra các chính sách ngôn ngữ để đảm bảo sự hài hòa xã hội và bắt kịp với thời đại mới
1.2.2 Một số vấn đề về đào tạo song ngữ
1.2.2.1 Các mô hình đào tạo song ngữ
26 W.F Mackey và M Siguan, “Đại cương về đào tạo song ngữ”, Tây Ban Nha – Canada tr.3
Trang 26Có nhiều mô hình đào tạo song ngữ trên thế giới, tùy vào mục đích và mức độ sử dụng ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai để có thể áp dụng vào tình hình thực tế của mỗi quốc gia của mỗi dân tộc Theo Baker C (2008) có 4 mô hình đào tạo song ngữ phổ biến trên thế như sau:
Mô hình đào tạo song ngữ chuyển tiếp (Transition bilingual education model) là mô hình sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ giảng dạy ban đầu để trẻ không bỏ lại các môn học khác khi học tiếng phổ thông Mục đích của mô hình này giúp trẻ chuyển tiếp sang lớp học chỉ dùng tiếng phổ thông của học sinh đa số
Mô hình đào tạo song ngữ hai chiều (Dual bilingual education model) là mô hình giúp trẻ nói tiếng phổ thông là ngôn ngữ thứ hai hay tiếng mẹ đẻ để trở thành người có năng lực sử dụng tốt hai ngôn ngữ Mục đích chính của mô hình này giúp trẻ trở thành những cá nhân song ngữ văn hóa
Chương trình ngôn ngữ đôi (Dual Language Program) là mô hình đào tạo song ngữ mà học sinh có thể được học theo hai cách khác nhau: Thứ nhất các môn có nội dung học bằng ngôn ngữ thứ hai đòi hỏi giáo viên song ngữ hiểu được những câu hỏi mà học sinh hỏi bằng ngôn ngữ thứ nhất nhưng phải trả lời bằng ngôn ngữ thứ hai Thứ hai các giờ học tiếng đối với ngôn ngữ thứ nhất giúp các em nâng cao kỹ năng viết và các kỹ năng tư duy bậc cao bằng tiếng mẹ đẻ sau đó các kỹ năng này sẽ được chuyển sang tiếng phổ thông Mục đích của mô hình này là thông qua kỹ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ làm cầu nối giúp trẻ chuyển sang kỹ năng sử dụng ngôn ngữ thứ hai
Trang 27Mô hình đào tạo song ngữ phát triển (Developmental Bilingual Education) là mô hình giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ của trẻ trong thời gian khá dài, bên cạnh đó giảng kèm theo bằng tiếng phổ thông nhằm mục đích phát triển năng lực song ngữ ở cả hai thứ tiếng
1.2.2.2 “Đào tạo song ngữ” và “Nhà trường song ngữ”
Trong nhà trường nước Anh, chỉ cần trong trường có một nửa môn học bằng tiếng Anh thì gọi là nhà trường song ngữ Ở Canada, những trường học cho trẻ em nói tiếng Pháp mà toàn bộ môn học dùng tiếng Anh để giảng thì gọi là trường song ngũ Ở Liên Xô trước đay, ngoài tiếng Nga ra, toàn bộ môn học dùng tiếng Anh để dạy thì gọi là trường song ngữ Còn ở Mĩ, trường coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trong dạy học thì gọi là trường song ngũ, ví dụ, trường giáo hội hoặc trường dân tộc cuối tuần
Tình hình song ngữ khác nhau hoàn toàn về loại hình đều được quy mù mờ là trường song ngữ Khái niệm nay còn thực sự mơ hồ: có thực sự dùng song ngữ hay không? Rõ ràng hai khái niệm “đào tạo song ngữ” và “nhà trường song ngữ” cần phải xem xét cẩn thận
Loại hình đào tạo đa ngữ loại hình đơn giản mà hoàn chỉnh Sự phân bố các ngôn ngữ trong cả quá trính học, bao gồm thời gian và không gian(gia đình, nhà trường, địa phương và nhà nước) Có các mô hình lên lớp như sau ngôn ngữ dạy học(đơn ngữ hoặc song ngữ): duy trì; chuyển di(văn hóa du nhập vả chủ nghĩa thống nhất dân tộc); quá độ(tiệm tiến và đột biến) Mỗi phương thức đều tồn tại trong đó hai mối quan hệ: mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và mối quan hệ giữa nhà trường và mỗi trường xã họi(địa phương hoặc cả nuốc) Năm loại quan hệ gia đình-môi trường và 9 loại quan hệ nhà trường-môi trường
Trang 28cùng với mô thức lên lớp đã bao trùm các loại hình về lí luận Nó cung cấp một khung chung
Điều này liên quan đến tiêu chuẩn về đào tạo song ngữ
Xuất phát từ sự phân bố ngôn ngữ để xem xét, bao gồm; 1) hành
vì song ngữ gia đình; 2) môn học trong nhà trường; 3) cộng đồng trong một nước hay trong vùng miền lân cận; 4) địa vị tự thân của ngôn ngữ Nói cách khác, đào tạo song ngữ là hiện tượng của bốn mặt này
1.3 Giới thiệu gia đình đa văn hóa ở Hàn Quốc hiện nay
Hàn Quốc là một đất nước chỉ có một dân tộc thuần nhất trong suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử dựng nước Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự phát triển xã hội và sự hội nhập giao lưu kinh tế với thế giới đã làm cho số lượng người lao động nước ngoài, người nhập cư theo diện kết hôn ngày càng tăng Các gia đình hôn nhân quốc tế đã liên tục được mở rộng và thay đổi đến mức chóng mặt Các gia đình đa văn hóa tại Hàn quốc không còn xa lạ Hiện nay, số lượng người nước ngoài
ở lại Hàn Quốc sinh sống và làm việc trong một thời gian dài là khoảng 1,46 triệu vào năm 2015 và 1,53 triệu vào năm 2016 và xu hướng ngày càng tăng hơn nữa Theo khảo sát gia đình đa văn hóa toàn quốc Hàn Quốc năm 2015, số lượng gia đình đa văn hóa ước tính là 278,036 hộ gia đình, đã tăng 4,3% so với năm 2012.27
Theo Bộ Đào tạo Hàn Quốc(2015), trẻ em mẫu giáo của các gia đình đa văn hóa là 120,000, chiếm 60% tổng số con cái của các gia đình
đa văn hóa Số lượng học sinh đa văn hóa đi học tiểu học trong tương lai sẽ tiếp tục tăng Trong khi dân số học phổ thông ở Hàn Quốc đang
27 Tài liệu của Cục thống kê quốc gia Hàn Quốc “Hiện trạng cư dân người nước ngoài tại chính quyền địa phương.” 2017, 11
Trang 29giảm 2-3% mỗi năm, số lượng sinh viên trong gia đình đa văn hóa đang tăng 20% mỗi năm Vào cuối những năm 2000, số lượng con cái của các gia đình đa văn hóa đã tăng lên nhanh chóng do hôn nhân quốc tế
Số lượng con cái của các gia đình đa văn hóa là 44,258 trong năm 2007,
đã tăng hơn bốn lần lên tới 207,693 trong năm 2015, và dự kiến sẽ tăng liên tục Hầu hết con cái trong các gia đình đa văn hóa bắt đầu cuộc sống chung với con cái trong gia đình người Hàn ở trường mẫu giáo hoặc trường học Số lượng học sinh từ các gia đình đa văn hóa vào mẫu giáo hoặc trường học nhanh chóng tăng lên 109,387 học sinh vào năm
2017, tăng lên 10,3% so với năm trước và chiếm 1,9% tổng số học sinh.28
Do sự mở rộng của các gia đình đa văn hóa, con cái trong các gia đình đa văn hóa không còn được coi là người lạ hay tầng lớp đặc biệt trong xã hội Hàn Quốc Do đó, đào tạo dành cho con cái trong đa văn hóa không còn là vấn đề đặc biệt và ngoại lệ Tầm quan trọng của việc
mở rộng của các gia đình đa văn hóa cần được tìm thấy không chỉ ở số lượng gia tăng trong nước, mà còn ở sự gia tăng các tác động tích cực
và tiêu cực của các khía cạnh văn hóa xã hội đa dạng Điều này cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho Chính phủ Hàn Quốc trong việc xây dựng và hoạch định chính sách về đào tạo trong các gia đình đa văn hóa
để họ có cuộc sống bình đẳng và hướng đến sự phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ ở Hàn Quốc trong tương lai
Theo thống kê trong vòng 5 năm từ 2012 đến 2016 có 128,640 người kết hôn quốc tế và số vụ ly hôn là 50,853 Số người kết hôn vào năm 2016 là 20,591 và năm 2017 là 20,835 người Nhưng đồng thời với
số lượng kết hôn ấy thì số vụ ly hôn khá nhiều Cuộc khảo sát được
28 Thống kê của Bộ Giáo dục Hàn Quốc, 2017
Trang 30thực hiện khoảng 7,700 số vụ trong năm 2016 và 7,100 số vụ trong năm
2017.29 Mặc dù họ không ly hôn, nhưng hầu hết những người nhập cư kết hôn phải đối mặt với nhiều xung đột đa dạng trong điều kiện khi sống và nuôi con cái ở Hàn Quốc mà không thích nghi với ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc Đặc biệt họ thiếu khả năng nói tiếng Hàn, gây ra các vấn đề như vấn đề giao tiếp với vợ (chồng), con cái và các thành viên trong gia đình, đặc biệt là những xung đột do sự khác biệt văn hóa
Có thể nói ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng gây ra xung đột và cũng làm sâu sắc thêm xung độtgiữa hai nền văn hóa
Do nhận thấy tầm quan trọng của đào tạo ngôn ngữ mà Chính phủ Hàn Quốc ngay lập tức xây dựng các chương trình đào tạo để hỗ trợ dạy tiếng Hàn Quốc dành cho người di cư kết hôn Các trung tâm đa văn hóa ở mỗi khu vực vận hành các chương trình đa dạng chẳng hạn như ngôn ngữ Hàn Quốc và văn hóa Hàn Quốc Sự hỗ trợ này nhằm tạo điều kiện cho các mẹ là người Việt Nam tại Hàn quốc nắm được những kiến thức cơ bản về văn hóa, pháp luật và phong tục tập quán ở Hàn quốc để từ đó dần thích nghi và xây dựng cuộc sống lâu dài ở nơi đây Tuy nhiên, trên thực tế không dễ để sử dụng một ngôn ngữ nước ngoài như ngôn ngữ mẹ đẻ mà được học sau khi trưởng thành Hơn nữa những người nhập cư hôn nhân sẽ dễ dàng truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc của
họ hơn khi họ nói chuyện với con cái bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, vì vậy họ có thể nói chuyện lâu hơn và mở rộng sự đồng cảm của họ Khi những con cái trong các gia đình đa văn hóa học ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng, sự hiểu biết và sự quan tâm của chúng đối với đất nước của mẹ
29 Tài liệu của Cục thống kê quốc gia Hàn Quốc,“Thống kê hôn nhân và ly hôn vào năm 2017.” 2018, 3
Trang 31chúng được thể hiện trong sự tôn trọng và niềm tự hào của chúng đối với người mẹ và cả đất nước của mẹ nữa.30
Giao tiếp với con cái bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ có thể truyền đạt cảm giác an toàn và tự tin cho con con cái Tuy nhiên khi nuôi dạy con cái tại Hàn Quốc, có nhiều người nhập cư mà họ quyết định không
sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ Do đó, con cái của các gia đình đa văn hóa sẽ trưởng thành trong một môi trường mà cha mẹ di cư sẽ sử dụng song ngữ, cho dù họ pha trộn ngôn ngữ mẹ đẻ và tiếng Hàn hoặc cố gắng không sử dụng nó vào mục đích khác trong cuộc sống
Nhận thấy tình trạng này ở Hàn Quốc, trung tâm hỗ trợ gia đình
đa văn hóa, các tập đoàn và tổ chức phi chính phủ gần đây đã giới thiệu các chương trình hỗ trợ đào tạo song ngữ trong các gia đình đa văn hóa
Bộ tư pháp và bộ gia đình và phụ nữ Hàn Quốc cung cấp chính sách cho con cái từ các gia đình đa văn hóa sống ở Hàn Quốc để nhận được đào tạo song ngữ liên quan đến ngôn ngữ mẹ đẻ của họ và được chính quyền địa phương bắt buộc thực hiện
Các trường cũng cung cấp các môn học đa văn hóa để giúp con cái trong các gia đình đa văn hóa tìm hiểu về văn hóa và ngôn ngữ của đất nước của cha mẹ chúng Tuy nhiên vẫn chưa đủ để nói rằng có một nền đào tạo song ngữ phù hợp Cho đến nay, đào tạo song ngữ ở Hàn Quốc có thể được coi là đào tạo song ngữ cho người bản ngữ Hàn Quốc Hơn nữa, chỉ có một vài trường cung cấp đào tạo song ngữ và họ đang gặp khó khăn trong việc cung cấp giáo viên và tài liệu giảng dạy
Trang 32Cũng không có nghiên cứu chuyên nghiệp về điều này Để tìm và đề xuất những cách mà con cái của các gia đình đa văn hóa có thể học và
sử dụng song ngữ một cách tự nhiên, trước tiên cần phân tích xem liệu song ngữ có thực sự được dạy trong lĩnh vực này hay không Nói cách khác, cần hiểu trước về thực tế của đào tạo song ngữ trong gia đình và môi trường xung quanh
Thông qua chương trình đào tạo song ngữ, chính phủ Hàn quốc cũng nhấn mạnh để những người mẹ(người chồng) hiểu rằng họ chính
là những nhân viên quan trọng nhất trong việc đào tạo song ngữ ở những gia đình đa văn hóa Họ là người quyết định chính đến sự thành công của chương trình đào tạo và là người truyền cảm hứng và niềm tự hào về quê hương Việt Nam cũng như tình yêu với tiếng Việt
Trang 33Tiểu kết chương 1
Trong đào tạo song ngữ, Việt Nam có thể nói là đi trước Hàn Quốc Trước hết, Việt Nam là một quốc gia đa văn hóa, và vì ngôn ngữ khác nhau, nền tảng cơ bản cho đào tạo song ngữ được thiết lập tốt Ngoài ra còn có rất nhiều dữ liệu về động lực, mục đích và bí quyết giảng dạy ngôn ngữ hiệu quả giữa tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số
Hàn Quốc có một khái niệm mạnh mẽ về một quốc gia duy nhất
và một ngôn ngữ duy nhất cho đến những năm 2000, vì vậy không lâu sau đó, khái niệm đa văn hóa được đưa ra Do đó, khái niệm đào tạo đa văn hóa chưa phổ biến Trước đây, đào tạo cho người lao động nhập cư
và phụ nữ nhập cư đã được thực hiện chủ yếu ở Gyeonggi-do và nhiều thành phố lớn nơi người di cư kết hôn có nhiều lao động nhập cư nước ngoài Điều này không gì khác ngoài đào tạo đa văn hóa cho người lao động nhập cư và phụ nữ nhập cư để hiểu văn hóa Hàn Quốc
Tuy nhiên, trong vòng 10 năm qua, con cái của phụ nữ di cư lớn lên trở thành học sinh cấp hai và sinh viên đại học, mở rộng phạm vi đào tạo cho con cái của các gia đình đa văn hóa Do đó, đào tạo cho người nhập cư và đào tạo về đào tạo song ngữ cho trẻ em và bản sắc của các gia đình đa văn hóa đã được cung cấp Và khi tư duy của người Hàn mở ra, đào tạo đa văn hóa ở Hàn Quốc đang chuyển từ đào tạo cho người di cư sang đơn phương hiểu văn hóa Hàn Quốc, sang đào tạo cho người Hàn Quốc để hiểu văn hóa và ngôn ngữ của họ Để tạo điều kiện cho điều này, các cơ quan chính phủ đang tích cực điều hành nhiều chương trình đào tạo cho các gia đình đa văn hóa
Trước đây, đào tạo đa văn hóa tập trung quanh Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản Tuy nhiên, khi số lượng lao động nhập cư và người