1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Lý thuyết Quy hoạch Đô thi

351 2,9K 29

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 351
Dung lượng 20,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung

Trang 1

TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUI HOẠCH

TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUI HOẠCH

TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUI HOẠCH

TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUI HOẠCH

Trang 2

THAM GIA BIÊN SOẠN:

Chủ nhiệm: KTS KHƯƠNG VĂN MƯỜI

TS.KTS NGUYỄN THANH HÀ Tham gia: Ths KTS LƯU HOÀNG NGỌC LAN Ths KTS LÊ ANH ĐỨC

Ths KTS ĐOÀN NGỌC HIỆP

Ths KTS HỒ ĐÀO TRÍ HỮU

Ths KTS PHẠM ANH TUẤN

Ths KTS MÃ VĂN PHÚC

Ths KTS NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC Ths KTS NGUYỄN CẨM DƯƠNG LY Ths KTS TRẦN PHƯƠNG HẢO KTS NGUYỄN NGỌC HƯƠNG

KTS TRƯƠNG THÁI HOÀI AN

KTS TRƯƠNG SONG TRƯƠNG KTS QUÁCH THANH NAM

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

PHẦN MỘT 10

TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 10

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 10

1.1 ĐÔ THỊ VÀ ĐIỂM DÂN CƯ ĐÔ THỊ 10

1.1.1 Đô thị và Điểm dân cư đô thị 10

1.1.2 Một số khái niệm về qui mô đô thị trên thế giới 14

1.1.3.Phân loại và phân cấp quản lý đô thị 18

1.1.4 Đô thị học 21

1.2 CÔNG TÁC QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 22

1.2.1 Khái niệm công tác quy hoạch đô thị 22

1.2.2 Đối tượng và mục tiêu của công tác quy hoạch đô thị 22

1.2.3 Nội dung, nhiệm vụ của quy hoạch đô thị 23

1.2.4 Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị 23

1.2.5 Một số phương pháp về quy họach đô thị đang được sử dụng trên thế giới 25

PHẦN HAI 30

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ - ĐÔ THỊ HÓA 30

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ 30

2.1 LƯỢC KHẢO VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THẾ GIỚI: 30

2.1.1.Thời kì cổ đại: 30

2.1.2 Đô thị thời trung đại 35

2.1.3 Đô thị thời cận đại 36

2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VIỆT NAM 37

2.2.1 Tình hình phát triển các điểm dân cư đô thị đến thế kỉ thứ XVIII 37

2.2.2 Đô thị dưới thời nhà Nguyễn 40

CHƯƠNG 3: ĐÔ THỊ HÓA VÀ HỆ QUẢ CỦA ĐÔ THỊ HÓA 43

3.1 KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ THỊ HÓA 43

3.1.1 Đô thị hóa là gì? 43

3.1.2 Ba giai đoạn của đô thị hóa 44

3.1.3.Đặc điểm của quá trình đô thị hóa 45

Trang 4

3.1.4.Các tác động của đô thị hóa 45

3.2 ĐÔ THỊ HOÁ THÀNH PHỐ CỰC LỚN 50

3.2.1 Thế nào là đô thị cực lớn (mega cities) 50

3.2.2 Aûnh hưởng của đô thị hoá đối với các đô thị cực lớn 50

3.2.3 Một số đô thị tiêu biểu 50

3.3 HỆ QUẢ ĐÔ THỊ HÓA 52

3.3.1 Sự gia tăng dân số và lãnh thổ đô thị- Sự bùng nổ đô thị 52

3.3.2 Sự gia tăng dân số và lãnh thổ đô thị, sự hình thành mật độ cư trú không đồng đều trong lãnh thổ đô thị 55

3.3.3 Sự dịch cư và dao động con lắc 55

3.3.4 Hình thái đô thị- sự phân mảnh đô thị 55

3.3.5 Hình thành và phát triển các loại hình cư trú cũng như các loại hình phân bố dân cư mới 56

3.4 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI VIỆT NAM 56

PHẦN BA 57

CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 57

HIỆN ĐẠI VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA 57

QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 57

CHƯƠNG 4: CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI 57

4.1 BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 57

4.2 LÝ LUẬN CỦA CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC KHÔNG TƯỞNG 57

4.2.1 Tác giả Robert Owen 57

4.2.2 Tác giả Francois Marie Charles Fourier 58

4.2.3 Tác giả William Morris 58

4.3 LÝ LUẬN VỀ THÀNH PHỐ VƯỜN CỦA EBENEZER HOWARD (1896) VÀ THÀNH PHỐ VỆ TINH CỦA RAYMOND UNWINN (1922) 58

4.4 LÝ LUẬN VỀ THÀNH PHỐ TUYẾN 60

4.5 TRƯỜNG PHÁI”ĐÔ THỊ ĐỘNG” CỦA CÁC NHÀ ĐÔ THỊ HỌC XÔ VIẾT 61 4.5.1 Bối cảnh và quan điểm 61

4.5.2 Lý luận về thành phố “Tên lửa”- L.Ladopski 61

4.5.3 Lý luận về thành phố dải – N.Miliutin 62

4.6 LÝ LUẬN VỀ THÀNH PHỐ CÔNG NGHIỆP 62

4.7 CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI 63

Trang 5

4.7.1 Quan điểm QHĐT của trào lưu kiến trúc hiện đại-Le Corbusier (1887-1965)

63

4.7.2 Lý luận Thành phố hoang dã của Frank Lloyd Wright (1935) 64

4.8 LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ THEO ĐƠN VỊ 65

4.9 LÝ LUẬN VỀ”CẤU TRÚC TẦNG BẬC VÀ PHI TẦNG BẬC”TRONG QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 66

4.9.1 Lý luận về thành phố Harlow - F Gibber 66

4.9.2 W Christaller và lý thuyết vị trí điểm trung tâm 68

4.10 XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI 74

4.10.1 Xu thế phát triển QHĐT tại các nước phát triển Châu Aâu và Bắc Mỹ 74

4.10.2 Tại các nước khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc 91

4.10.3 Các dự án đô thị “siêu kỹ thuật”(thập niên 60-70) 95

4.10.4 Mô hình đô thị 98

PHẦN BỐN 101

QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 101

CHƯƠNG 5: ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU 101

5.1 ĐỐI TƯỢNG CỦA QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 101

5.2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 101

5.2.1 Mục tiêu 101

5.2.2 Nhiệm vụ 102

CHƯƠNG 6: NỘI DUNG QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 103

6.1 CÁC LUẬN CỨ KINH TẾ XÃ HỘI 103

6.1.1 Đánh giá các yếu tố tự nhiên, nguồn lực phát triển và thực trạng kinh tế xã hội của đô thị 103

6.1.2 Định hướng quy hoạch kinh tế xã hội của đô thị trong từng thời kỳ 103

6.2 XÂY DỰNG CÁC TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ 104

6.2.1 Tính chất đô thị 104

6.2.2 Dân số đô thị 105

6.2.3 Đất đai đô thị 109

6.2.4 Cơ sở kinh tế – kĩ thuật đô thị 112

6.2.5 Các thành phần đất đai trong quy hoạch xây dựng đô thị 112

6.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ 114

6.3.1 Những nguyên tắc cơ bản của sơ đồ định hướng phát triển không gian đô thị 115

6.3.2 Cơ cấu chức năng đất đai phát triển đô thị 118

Trang 6

6.3.3 Bố cục không gian kiến trúc đô thị 126

6.4 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH CẢI TẠO VÀ XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT 130

6.5 PHÂN ĐỢT XÂY DỰNG VÀ QUY HOẠCH ĐỢT ĐẦU 131

6.6.ĐIỀU LỆ QUẢN LÝ XÂY DỰNG THEO QUY HOẠCH 132

PHẦN NĂM 134

QUY HOẠCH CHI TIẾT XÂY DỰNG 134

CÁC KHU CHỨC NĂNG ĐÔ THỊ 134

CHƯƠNG 7: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU Ở TRONG ĐÔ THỊ 134

7.1 KHÁI NIỆM VỀ KHU Ở ĐÔ THỊ 134

7.1.1 Khu ở trong đô thị 134

7.1.2 Ranh phục vụ và ranh hành chính 135

7.2 VỊ TRÍ VÀ CHỨC NĂNG CỦA KHU Ở TRONG ĐÔ THỊ 135

7.2.1 Vị trí của khu ở trong đất dân dụng đô thị 135

7.2.2 Chức năng của khu ở trong đô thị 136

7.2.3 Các thành phần đất đai khu ở đô thị 136

7.3 ĐƠN VỊ Ở ĐÔ THỊ 138

7.3.1 Khái niệm Đơn vị ở 138

7.3.2 Một số chỉ tiêu trong đơn vị ở 142

7.3.3 Tổ chức nhà ở trong đơn vị ở 146

7.3.4 Tổ chức hệ thống dịch vụ công cộng trong đơn vị ở 162

7.3.5 Tổ chức giao thông trong đơn vị ở 165

7.3.6 Tổ chức cây xanh- TDTT trong đơn vị ở 173

CHƯƠNG 8: QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG VÀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ 177

8.1 THIẾT KẾ QUY HOẠCH HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 177

8.1.1.Khái niệm về giao thông đô thị – phân loại 177

8.1.2.Vai trò của giao thông đối với giải pháp quy hoạch đô thị 178

8.1.3.Các công trình cơ bản trong mạng lưới giao thông đô thị 189

8.2.QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ 203

8.2.1.Khái niệm về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị 203

8.2.2.Thành phần của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị 203

8.2.3.Phân loại hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị 204

8.2.4.Công tác kỹ thuật hạ tầng đô thị 205

8.2.5.Vai trò của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đối với đô thị 205

Trang 7

8.2.6.Khái quát về quy hoạch xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị 206

CHƯƠNG 9: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU TRUNG TÂM ĐÔ THỊ VÀ HỆ THỐNG TRUNG TÂM DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ 210

9.1 KHÁI QUÁT VỀ KHU TRUNG TÂM VÀ HỆ THỐNG TRUNG TÂM DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ 210

9.1.1 Khái quát 210

9.1.2 Định nghĩa hệ thống trung tâm dịch vụ công cộng 241

9.1.3 Sự phân cấp của hệ thống trung tâm dịch vụ công cộng 241

9.2 CÁC LOẠI HÌNH CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC 242

9.2.1 Nguyên tắc phân loại và phân nhóm chức năng 242

9.2.2 Nguyên tắc bố cục không gian hệ thống TTPVCCĐT 244

9.2.3 Dự báo qui mô hệ thống TTPVCCĐT 246

9.3 QUI HOẠCH CHI TIẾT CÁC KHU CHỨC NĂNG TTPVCCĐT 247

9.3.1 Khu hành chính 247

9.3.2 Khu giáo dục 248

9.3.3 Khu y tế và bảo vệ sức khỏe 249

9.3.4 Khu thương mại-dịch vụ 249

9.3.5 Khu văn hóa 250

9.3.6 Khu cây xanh-TDTT 250

CHƯƠNG 10: QUY HOẠCH KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHO TÀNG ĐÔ THỊ 251

10.1 QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP 251

10.1.1 Vai trò công nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển đô thị 251

10.1.2 Các loại hình khu công nghiệp 252

10.1.3 Nguyên tắc quy hoạch khu công nghiệp 255

10.1.4.Các hình thức bố trí khu công nghiệp 257

10.2 QUY HOẠCH KHU KHO TÀNG 258

10.2.1 Các loại hình kho tàng 258

10.2.2 Yêu cầu thiết kế khu kho tàng 259

CHƯƠNG 11: QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 260

11.1 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 260

11.2 NHỮNG QUY ĐỊNH TRONG QUY HOẠCH HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 261

11.3 QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 262

11.3.1 Quy hoạch hệ thống cây xanh trong mặt bằng tổng thể đô thị 262

11.3.2 Các kiểu bố trí cây xanh trong hệ thống cây xanh đôâ thị 263

11.4 CÁC LỌAI HÌNH QUY HOẠCH CÂY XANH TRONG HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 264

Trang 8

11.4.1 Cây xanh công cộng 264

11.4.2 Cây xanh hạn chế 265

11.4.3 Cây xanh chuyên dụng 265

11.5 QUY HOẠCH CHỈNH TRANG HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ HIỆN HỮU 265

11.5.1 Quy hoạch chỉnh trang hệ thống cây xanh trên mặt bằng tổng thể đô thị 266 11.5.2 Quy hoạch chỉnh trang cây xanh trong các khu vực chức năng 266

CHƯƠNG 12: THIẾT KẾ QUY HOẠCH CHI TIẾT ĐÔ THỊ 268

12.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN LẬP QUY CHI TIẾT 268

12.1.1.Đối tượng 268

12.1.2.Thời gian 268

12.2 NHIỆM VỤ CỦA QUY HOẠCH CHI TIẾT 268

12.2.1.Xác định các yếu tố ảnh hưởng quy hoạch khu đất 268

12.2.2.Tổng hợp các số liệu hiện trạng 272

12.2.3.Phân tích đánh giá về khu đất và xác định nhiệm vụ quy hoạch 272

12.3 NỘI DUNG QUY HOẠCH CHI TIẾT XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 275

12.3.1.Phân tích đánh giá hiện trạng 275

12.3.2.Xác định tính chất chức năng và các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật (chủ yếu là về sử dụng đất, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật của khu vực thiết kế, nội dung cải tạo và xây dựng mới) 275

12.3.3.Quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất, xác định chỉ tiêu cho từng khu đất (về diện tích, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, tầng cao công trình, vị trí, quy mô các công trình ngầm) 275

12.3.4.Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị 275

12.3.5.Dự kiến những hạng mục ưu tiên phát triển và nguồn lực thực hiện 275

12.3.6.Thiết kế đô thị 275

12.3.7.Đánh giá tác động môi trường và đề xuất biện pháp để giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường trong đồ án quy họach xây dựng chi tiết đô thị 276

12.4 CÁC NGUYÊN TẮC BỐ CỤC QUY HOẠCH KIẾN TRÚC 276

12.4.1.Sơ đồ cơ cấu quy hoạch 276

12.4.2.Quy hoạch sử dụng đất 276

12.4.3.Quy hoạch kiến trúc và cảnh quan đô thị 277

12.4.4.Quy hoạch hệ thống hạ tầng đô thị 278

CHƯƠNG 13: QUY HOẠCH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 284

13.1 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CẢI TẠO ĐÔ THỊ TRONG VIỆC XÂY DỰNG CÁC THÀNH PHỐ 284

Trang 9

13.2 MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG QUY HỌACH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 284

13.2.1 Khuynh hướng « phá bỏ công trình cũ – xây dựng công trình mới » 284

13.2.2 Khuynh hướng làm mới trên cơ sở công trình cũ 284

13.3 NGUYÊN TẮC VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC QUY HỌACH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 285

13.4 NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC QUY HOẠCH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 285

13.4.1 Quy hoạch cải tạo đô thị 285

13.4.2.Quy hoạch cải tạo các khu chức năng đô thị 286

PHẦN SÁU 289

HỒ SƠ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 289

CHƯƠNG 14: TRÌNH TỰ HỒ SƠ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 289

14.1 LẬP NHIỆM VỤ QUY HỌACH XÂY DỰNG VÙNG 289

14.1.1 Lí do và sự cần thiết lập quy hoạch 289

14.1.2 Các căn cứ lập quy hoạch 289

14.1.3 Các nội dung nghiên cứu quy hoạch 290

14.1.4 Hồ sơ sản phẩm và dự toán kinh phí 290

14.1.5 Tổ chức thực hiện 291

14.2 LẬP NHIỆM VỤ QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 291

14.2.1 Lý do và sự cần thiết lập quy hoạch 291

14.2.2 Các căn cứ lập quy hoạch 291

14.2.3 Nội dung nghiên cứu quy hoạch 292

14.2.4 Hồ sơ sản phẩm và dự toán kinh phí 292

14.2.5 Tổ chức thực hiện 292

14.3 LẬP NHIỆM VỤ QUY HOẠCH CHI TIẾT XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 292

14.3.1 Lý do và sự cần thiết lập quy hoạch 293

14.3.2 Các căn cứ lập quy hoạch 293

14.3.3 Các nội dung nghiên cứu quy hoạch 293

14.3.4 Hồ sơ sản phẩm và dự toán kinh phí 293

14.3.5 Tổ chức thực hiện 294

14.4 TRÌNH TỰ LẬP ĐỒ ÁN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 294

14.4.1 Lập đồ án quy hoạch xây dựng vùng 294

14.4.2 Lập đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị 301

14.4.3 Lập đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị 309

PHẦN BẢY 319

Trang 10

CHƯƠNG 15: THIẾT KẾ ĐÔ THỊ 319

15.1 Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA TKĐT 319

15.2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ VỊ TRÍ CỦA TKĐT 320

15.2.1 Khái niệm về TKĐT ( Urban Design) 320

15.2.2 Đối tượng và mục tiêu của TKĐT 321

15.2.3 Vị trí của TKĐT 321

15.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ SỞ TRONG TKĐT 325

15.3.1.Hình thức 325

15.3.2.Hình ảnh đô thị 325

15.3.3.Cấu trúc đô thị 326

15.4.CƠ SỞ LÍ LUẬN 326

15.4.1 Lý luận hình ảnh đô thị 329

15.5 NỘI DUNG VÀ TRÌNH TỰ TKĐT 335

15.5.1.Nội dung thiết kế đô thị 335

15.5.2.Trình tự thiết kế đô thị 335

15.5.3.Các bản vẽ yêu cầu 340

Trang 11

PHẦN MỘT

TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ

1.1 ĐÔ THỊ VÀ ĐIỂM DÂN CƯ ĐÔ THỊ

1.1.1 Đô thị và Điểm dân cư đô thị

Thực thể đô thị và khái niệm đô thị đã xuất hiện từ trong lịch sử xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu hình thành nếp sinh hoạt, khác biệt với nếp sinh hoạt đồng quê (urban life-rural life) Loài người đã từng biết các thị quốc, các đô thị cổ đại như Troy, Roma, Constantinople(Istanbul)…

Những đô thị chỉ xuất hiện sau một quá trình chuyển động tiền đô thị với những điều kiện như sự định cư, sự xuất hiện kỹ thuật tiến bộ, công nghiệp phát triển đáng kể và việc tăng dân số Dần dần, trạng thái định cư biến đổi về chất, từ cộng đồng tập trung ở địa phương, cô lập, tự cung tự cấp và với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trở thành một hình thái tập trung dân cư mang sắc thái khác hẳn, đó là sắc thái của đô thị Đô thị ra đời khi hình thức sản xuất không phải nông nghiệp, tách khỏi nông nghiệp, không còn nằm trong khung cảnh nông thôn

Theo Terry Mc Gee, một chuyên gia người Canada, nổi tiếng về đô thị học thì: Thành phố là nơi tích lũy của cải và truyền thống, và là nguồn phát triển chính những khuôn mẫu văn hóa - là trung tâm của văn minh Nó là trung tâm thần kinh của quốc gia và là

đối tượng tấn công chính của kẻ xâm lược Trong The America Encyclopeadia, đô thị được

trình bày với một quan niệm như sau: “… thành phố (city) chỉ là một tập hợp dân cư có một qui mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sông nông thôn ở miền thôn dã Theo nghĩa đó, thành phố là một hiện tượng chung của xã hội văn minh” Như vậy thành phố phải là nơi có điều kiện tốt nhất để tổ chức xây dựng một xã hội văn minh, cũng có nghĩa nó phải là đầu tàu của sự phát triển của vùng,

của quốc gia và thậm chí của khu vực Điều này cũng được trình bày trong Encyclopaedia

of the Social Sciences như sau:“Trong tất cả các thời đại và các khu vực, từ Ai Cập cổ đại

đến nước Mỹ hiện đại, sự phát triển cao nhất của trí lực, sáng kiến và thành tựu là ở trong các cộng đồng đô thị Chừng nào mà con người còn ở trong giai đoạn chăn nuôi và nông nghiệp thì vẫn còn có ít chất kích thích để phân chia chức năng kinh tế; toàn bộ năng lực của con người bị thu hút vào công việc lo cung cấp lương thực, nhưng với thành phố thì có sự phân công lao động và những khả năng tạo ra thặng dư kinh tế Điều này đãø đưa đến sự tiến bộ về của cải, thời gian rảnh rỗi, giáo dục trí óc và sự phát triển của nghệ thuật và khoa học”

Vậy “Đô thị là sản phẩm của văn minh nhân loại phát triển đến một trình độ nhất định, là hình thức quần cư phức tạp xuất hiện trong quá trình đô thị hóa, nó phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội”

Trang 12

Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp

H1.1: Sự hợp quần và định cư của những

cộng đồng dân cư thời XH thị tộc tạo tiền đề

cho việc phát triển đô thị thời kỳ XH chiếm

hữu nô lệ

H1.2: Đô thị Hy Lạp cổ đại Đô thị Milet với cầu trúc ô vuông

Trang 13

Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi tập trung giao lưu các bộ phận của sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung…

Quy mô điểm dân cư đô thị được xác định dựa vào đặc điểm kinh tế của từng nước và

tỉ lệ phần trăm dân cư nông nghiệp của một đô thị Ở Việt Nam theo Thông Tư Liên Tịch số 02/2002 – TTLT -BXD –TCCBCP ngày 08/3/2002 của Bộ Xây Dựng quy định:

Đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ hai điều kiện:

Về cấp quản lý

Đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

Về trình độ phát triển

Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện;

Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị;

Quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2 (đối với các miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa và hải đảo có thấp hơn, nhưng phải đảm bảo tối thiểu bằng 70%)

Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành được căn cứ vào vị trí của đô thị trong vùng lãnh thổ nhất định Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm nội thành hay nội thị và ngoại ô hay ngoại thị Các đơn vị hành chính của nội thị bao gồm quận và phường, ngoại

ô gồm huyện và xã

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp chỉ tính trong phạm vi nội thị Lao động phi nông nghiệp, lao động công nghiệp và thủ công nghiệp, lao động xây dựng cơ bản, lao động giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng ngân hàng, lao động thương nghiệp và dịch vụ công cộng, lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và những lao động khác ngoài lao động trực tiếp về nông nghiệp

Cơ sở hạ tầng đô thị là yếu tố phản ánh mức độ phát triển và tiện nghi sinh hoạt của người dân đô thị theo lối sống đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật (Hệ thống giao thông, điện, nước, năng lượng thông tin, vệ sinh môi trường…) và hạ tầng xã hội (nhà ở, các công trình dịch vụ công cộng, văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, cây xanh giải trí,…) Cơ sở hạ tầng được xác định dựa trên chỉ tiêu đạt được của từng đô thị ở mức tối thiểu (Mật độ giao thông, chỉ tiêu cấp nước, điện, tỉ lệ tầng cao xây dựng,…)

Trang 15

1.1.2 Một số khái niệm về qui mô đô thị trên thế giới

1.1.2.1.Đại đô thị (metropolis)

Trong cuốn “Bách khoa toàn thư Grand Bretagne” tập 8 có định nghĩa như sau:”Đại đô thị cũng gọi là khu vực đô thị, được hợp thành bởi thành phố chủ yếu (hạt nhân) và quần thể thành phố phụ cận Thành phố chủ yếu phát huy ảnh hưởng chủ đạo về kinh tế, xã hội” Cụm từ này bắt nguồn từ ø “Thành mẹ-Polis” trong tiếng Hy Lạp Tại Nhật Bản, tập hợp đô thị Tokyo – Yokohama, tại Anh, Luân Đôn được coi là những đại đô thị như thế Về số lượng dân cư của đại đô thị (metropolis), các nước cũng có những quy định khác nhau, những thành phố có trên 1 triệu dân Trung Quốc gọi là thành phố đặc biệt lớn, tiếng Anh gọi là thành phố triệu dân (million city) Còn trong “Báo cáo về khu vực tập trung dân cư trên toàn cầu”, Trung Tâm Về Vấn Đề Tập Trung Dân Cư Thế Giới của Liên hợp quốc đã gọi những thành phố có trên 4 triệu dân là thành phố siêu hạng (super city) Năm 1960, toàn thế giới có 19 thành phố có từ 4 triệu dân trở lên, năm 2000 tăng lên đến 66 thành phố loại này, dự đoán năm 2025 là 135 thành phố Bản báo cáo nói trên gọi những thành phố có trên 8 triệu dân là thành phố cực lớn (mega city)

Gần đây, các thành phố lớn có xu hướng bành trướng nhanh chóng ra vùng xung quanh, vì vậy rất nhiều nước đã xuất hiện những khu vực tập trung hàng loạt thành phố

Vì vậy, có hai thuật ngữ: một là khu vực tập trung đô thị (urban agglomeration), hai là khu đại đô thị (megalopolis)

Trung Tâm Về Vấn Đề Tập Trung Dân Cư Thế Giới Của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm Khu tập trung đô thị là khu vực cư trú mà ở đó dân cư sống tập trung với mật độ dày đặc, cách định nghĩa đó hơi khác với ranh giới hành chính của một thành phố Tại một địa phương có tiến trình đô thị hóa cao, một khu vực tập trung đô thị thường bao gồm từ một thành phố trở lên, và như vậy, số dân của khu vực này cũng thường nhiều hơn nhiều so với số dân của thành phố hạt nhân Ví dụ theo thống kê số dân thành phố của Mỹ thập kỷ 80, thời kỳ này Mỹ chỉ có 6 thành phố có 1 triệu dân Nhưng theo thống kê về khu tập trung đô thị của Mỹ thì Mỹ có 35 thành phố 1 triệu dân Rõ ràng là con số sau phản ánh đầy đủ hơn thực trạng phát triển đô thị của Mỹ

Khu đại đô thị (Megalopolis) là một khái niệm do nhà địa lý người Pháp tên là J Gottmann nêu ra Khu đại đô thị là một khu vực có nhiều đô thị, trong đó có nhiều đô thị trung tâm, số dân là 25 triệu người, mật độ bình quân trên 1km2 ít nhất là 250 người Vì vậy, khu đại đô thị là một không gian đô thị hóa có qui mô rộng lớn nhất mà con người đã xây dựng nên Khu đại đô thị Megalopolis điển hình ở Mỹ là vành đai từ thành phố Boston đến thành phố Washington dọc ven Đại Tây Dương; ở Nhật Bản là vành đai ven Thái Bình Dương, trong đó có các thành phố lớn làm hạt nhân là Tokyo, Osaka, Nagoya;

ở Anh là khu đại đô thị England với trục chính là thành phố Luân Đôn và Liverpool; khu đại đô thị miền tây bắc châu Âu và khu đại đô thị ven bờ 5 hồ lớn ở Mỹ

Một xu thế đang nổi lên tại các nước Đông Nam Á là sự xuất hiện Vùng đại đô thị mở rộng mà Mc Gee gọi là Extended Metropolitan Regions (EMRs), là hệ thống quần cư bằng cách đô thị hóa rải ra trên toàn vùng rộng lớn, là một sự pha trộn, đan xen chặt chẽ giữa các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp được bố trí bên nhau, trên một mặt bằng kinh tế và xã hội duy nhất

Trang 16

Ba nhân tố quan trọng cho việc xuất hiện Vùng Đại đô thị mở rộng:

- Việc đưa các khu công nghiệp quan trọng về vùng nông thôn, thu hút nguồn lao động nông thôn thành lao động công nghiệp

- Xu hướng phi tập trung hóa các hoạt động đô thị như nhà ở, khu vui chơi, khu du lịch đã kết nối các hạt nhân đô thị với các vùng chung quanh

- Các phương tiện và hoạt động giao thông được cải tạo mạnh mẽ, nối kết được các vùng chung quanh với hạt nhân đô thị, tạo hành lang phát triển nối liền các trung tâm đô thị khác nhau

Đó là xu hướng đô thị hóa trên cơ sở vùng, thay vì lôi kéo dân cư nông thôn vào đô thị, thì lại sử dụng dân cư nông thôn tại chỗ, đồng thời lôi kéo thêm một số dân cư từ các địa bàn nông thôn khác Đó là xu hướng “ly nông nhưng bất ly hương” đang được thảo luận rất nhiều hiện nay

Hình 1 6: Hiện trạng các Đô thị cực lớn trên thế giới năm 2002

[Nguồn: Liên Hiệp Quốc]

1.1.2.2.Thành phố thế giới (World City)

Theo tài liệu nước ngoài, nhà thơ nổi tiếng người Đức Geothe là người đầu tiên đưa ra khái niệm thành phố thế giới (tiếng Đức là Weltstadt) Năm 1787, Geothe gọi Roma là thành phố thế giới, về sau, ông lại gọi Paris là thành phố thế giới Geothe gọi 2 thành phố trên là thành phố thế giới vì 2 thành phố này đã có ảnh hưởng văn hóa đặc biệt đối với thế giới phương Tây Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quá trình nhất thể hóa kinh tế thế giới được đẩy nhanh, một số đại đô thị thế giới phát huy vai trò ngày càng quan trọng đối với kinh tế thế giới Peter Hall, một nhà nghiên cứu nêu lên một số đặc trưng của thành phố thế giới như sau:

Trang 17

- Thành phố thế giới thường là trung tâm chính trị Thành phố thế giới không chỉ là nơi đóng trụ sở của các cơ quan nhà nước và chính phủ, mà cả các cơ quan, tổ chức thế giới Thành phố thế giới thường còn là nơi đóng trụ sở của các cơ quan đại diện, của các tổ chức có tính chuyên ngành, các xí nghiệp công nghiệp

- Thành phố thế giới là trung tâm thương mại Các thành phố thế giới thường là những hải cảng quốc tế lớn, cảng hàng không quốc tế lớn; đồng thời là trung tâm tiền tệ và tài chính chủ yếu nhất của một quốc gia

- Thành phố thế giới là trung tâm tập hợp các nhân tài Tại đây có các trường học, cơ quan nghiên cứu khoa học, thư viện quốc gia, viện bảo tàng, bệnh viện lớn và các cơ quan văn hóa, giáo dục, y tế khác; đồng thời, còn có các cơ quan báo chí, phát thanh, xuất bản

- Thành phố thế giới là trung tâm tập trung dân cư đông đúc Thành phố thế giới hoặc khu tập trung đô thị có hàng triệu thậm chí hàng chục triệu dân

- Thành phố thế giới là trung tâm văn hóa nghệ thuật

- Thành phố thế giới phải là trung tâm chi phối kinh tế toàn cầu, cho nên nó phải có hai tiêu chuẩn sau:

Có mối quan hệ và liên kết với nền kinh tế thế giới ở một mức độ nhất định và dưới một hình thức nào đó, là địa bàn đặt trụ sở các công ty xuyên quốc gia, là cảng an toàn đầu tư của tư bản thặng dư quốc

tế, là nơi sản xuất hàng

hóa để đưa ra thị trường

quốc tế, là trung tâm của

hình thái ý thức hệ

Phạm vi mà thành phố đó

chi phối phải là toàn cầu

hay khu vực

Hình 1.7:Sơ đồ phát triển Paris và các vùng phụ cận (Ile-de-France) Hình 1.8: Thành phố LonDon-Anh 1.1.2.3.Thành phố toàn cầu (Global City)

Nước Nhật đã chính thức sử dụng thuật ngữ thành phố thế giới vào năm 1987 và cho rằng Tokyo với vòng cung Thái Bình Dương có chức năng thành phố thế giới

Trang 18

Thuật ngữ “Thành phố toàn cầu” (global city) có nội dung tương tự với thuật ngữ thành phố thế giới Toàn cầu hóa kinh tế thế giới là hiện tượng chỉ mới được chú ý từ khoảng một nửa thế kỷ nay Năm 1981, R.B Cohen, nhà kinh tế Mỹ viết bài: “Sự phân công lao động quốc tế mới, công ty xuyên quốc gia và hệ thống đẳng cấp của thành thị” Trong bài này Cohen đã dùng từ “thành phố toàn cầu” Cohen cho rằng thành phố toàn cầu xuất hiện như là trung tâm điều hòa và chi phối mới đối với sự phân công lao động quốc tế Điều này chứng tỏ hai khái niệm: thành phố toàn cầu và thành phố thế giới có cùng một nghĩa

Năm 1991, nhà kinh tế học Mỹ S.Sassen xuất bản “Global City: New York, London, Tokyo”, S.Sassen đặt 3 đại đô thị thế giới trên trong khung cảnh toàn cầu hóa kinh tế thế giới, như vậy khái niệm thành phố toàn cầu và thành phố thế giới là thống nhất với nhau

1.1.2.4.Đại đô thị quốc tế (International metropolis), thành phố quốc tế

(International city)

Trong những nghiên cứu về đại đô thị quốc

tế, cũng có trường hợp người ta sử dụng thuật

ngữ đại đô thị thế giới (International

metropolis) và thành phố quốc tế

(International city) Nhưng nếu so sánh với

thuật ngữ “Thành phố thế giới” thì nội dung

của các thuật ngữ đại đô thị quốc tế và thành

phố quốc tế không thật chặt chẽ Hai thuật

ngữ này thường có nghĩa là những thành phố

có những ảnh hưởng nhất định đối với đời

sống chính trị, kinh tế, văn hóa quốc tế; trong

khi đó, có khi chỉ có ý nghĩa là tính khu vực –

một khu vực của thế giới So sánh đại đô thị

quốc tế và thành phố quốc tế người ta thấy đại

đô thị có dân số tương đối đông

Hình 1.9: Tokyo và các thành phố vệ tinh

Ví dụ Genève của Thụy Sĩ chỉ có hơn 30 vạn dân, vì vậy chỉ có thể gọi đó là thành phố quốc tế, chứ không thể gọi là đại đô thị quốc tế

Nói chung, đại đô thị phải có từ 50 vạn người trở lên Xét về ý nghĩa này, đại đô thị quốc tế chỉ là thành phố quốc tế có số dân đông hơn Ví dụ New York, Tokyo, London là

3 thành phố có số người đông nhất (tính theo mật độ dài đường kính của khu tập trung dân cư đô thị) trong các nước phát triển Vì vậy, trên thực tế, đại đô thị quốc tế là loại thành phố có đẳng cấp cao trong hệ thống thành phố quốc tế

Trang 19

1.1.3.Phân loại và phân cấp quản lý đô thị

1.1.3.1.Phân loại đô thị

Phân loại đô thị nhằm mục đích phục vụ cho công tác quản lý hành chính cũng như để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo tính chất quy mô và vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia

a Các yếu tố ảnh hướng đến phân loại đô thị

Yếu tố 1: Chức năng của đô thị

Các chỉ tiêu thể hiện chức năng của một đô thị gồm:

Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước

Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như: đô thị – trung tâm cấp quốc gia; đô thị – trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị – trung tâm cấp tỉnh; đô thị – trung tâm cấp huyện và đô thị – trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện)

Ngoài ra, theo tính chất, một đô thị có thể là trung tâm tổng hợp hoặc trung tân chuyên ngành của một hệ thống đô thị Đô thị là trung tâm tổng hợp khi có chức năng tổng hợp về nhiều mặt như: hành chính – chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế (công nghiệp, dịch vụ, du lịch nghỉ mát), đào tạo, nghiên cứu, khoa học kỹ thuật, v.v… Đô thị là trung tâm chuyên ngành khi có một vài chức năng nào đó nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyết định tính chất của đô thị đó như: đô thị công nghiệp; đô thị nghỉ mát, du lịch; đô thị nghiên cứu khoa học, đào tạo; đô thị cảng; v.v… Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị vùng tỉnh, nhưng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị một vùng liên tỉnh hay của cả nước;

Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của đô thị:

Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của đô thị – trung tâm gồm:

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng/năm không kể thu ngân sách của Trung - Ương trên địa bàn và ngân sách cấp trên cấp)

- Thu nhập bình quân đầu người GNP/người/năm

- Cân đối thu chi ngân sách (chi thường xuyên)

- Mức tăng trưởng kinh tế trung bình năm (%)

- Mức tăng dân số trung bình hàng năm (%)

- Tỷ lệ các hộ nghèo (%)

Yếu tố 2: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động

Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, khoa học, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, y tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng,

Trang 20

quản lí nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp (lao động làm muối, đánh bắt cá được tính là lao động phi nông nghiệp)

Yếu tố 3: Cơ sở hạ tầng đô thị

- Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm:

- Cơ sở hạ tầng xã hội: nhà ở, các công trình dịch vụ thương mại, công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, công viên cây xanh và các công trình phục vụ công cộng khác

- Cơ sở hạ tầng hạ tầng kỹ thuật: giao thông, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, thông tin liên lạc, vệ sinh và môi trường đô thị

- Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là đồng bộ khi tất cả các loại công trình cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với mức qui định của Quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị

- Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là hoàn chỉnh khi tất cả các công trình cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 90% trở lên so với mức qui định của Quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị

Yếu tố 4: Quy mô dân số đô thị

Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên sáu tháng tại khu vực nội thành, nội thị xã và thị trấn

Yếu tố 5: Mật độ dân số

Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ảnh mức độ tập trung dân cư của đô thị được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị

b Phân loại đô thị

Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính Phủ, đô thị được phân loại như sau:

Đô thị loại đặc biệt

- Đô thị loại đặc biệt phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

- Thủ đô và đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước ;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên;

- Cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh;

- Quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên;

- Mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km2 trở lên

Trang 21

Đô thị loại I

Đô thị loại I phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên;

- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;

- Quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên;

- Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên

Đô thị loại II

Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực của cả nước;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên;

- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh;

- Quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên;

- Mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/km2 trở lên

Đô thị loại III

Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một số lãnh vực đối với vùng liên tỉnh

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên

- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh;

- Quy mô dân số từ 10 vạn người trở lên;

- Mật độ dân số bình quân từ 8.000 người/km2 trở lên

Đô thị loại IV

Đô thị loại IV phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 70% trở lên;

- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh;

Trang 22

- Quy mô dân số từ 5 vạn người trở lên;

- Mật độ dân số bình quân từ 6.000 người/km2 trở lên

Đô thị loại V

-Đô thị loại V phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một huyện hoặc một cụm xã;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 65% trở lên;

- Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ và hoàn chỉnh;

- Quy mô dân số từ 4.000 người trở lên;

- Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên

1.1.3.2.Phân cấp quản lý đô thị

- Phân cấp theo phân loại đô thị:

+ Các thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị đặc biệt hoặc loại 1

+ Các thành phố thuộc tỉnh phải là đô thị loại II hoặc đô thị loại III

+ Các thị xã thuộc tỉnh hoặc thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải là đô thị loại III hoặc đô thị loại IV

+ Các thị trấn thuộc huyện phải là đô thị loại IV hoặc đô thị loại V

- Phân cấp theo nhu cầu quản lý hành chính Nhà nước theo lãnh thổ

- Phân cấp theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển đô thị cả nước và quy hoạch chung xây dựng đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

1.1.4 Đô thị học

Đô thị học được hình thành từ thuật ngữ la-tinh URBS nghĩa là đô thị: là một khoa học và một nghệ thuật tổ chức chỉnh trang cấu trúc môi trường các hệ sinh thái phát triển của một đô thị tương đối độc lập hoặc nhóm đô thị (chuỗi, chùm, dải) trên một đơn vị lãnh thổ hoặc cả hệ thống đô thị trên một phạm vi một lãnh thổ liên vùng, một quốc gia hoặc liên quốc gia Đô thị học nghiên cứu đô thị với quan điểm: Đô thị như một không gian xã hội, đô thị về thực chất là một hiện tượng xã hội trong đó sự hình thành và phát triển của đô thị là do các dữ liệu kinh tế-địa lý quyết định và cấu trúc quy hoạch thì do các nhân tố xã hội chi phối “Môi trường thiên nhiên – Con người – Môi trường nhân tạo” được tạo lập Cấu trúc đô thị được coi như một hệ sinh thái hoàn chỉnh, một cơ thể sống có tính năng chuyển hóa vừa theo sinh học, vừa theo cơ học.”

Đô thị học mới xuất hiện trong vòng 20-30 năm gần nay mặc dù trước đó các nhà xã hội không tưởng đã từ lâu lưu ý đến khía cạnh xã hội của vấn đề đô thị và Le Corbusier là người đầu tiên vạch ra mối tương quan chặt chẽ giữa các yếu tố xã hội học đô thị và

Trang 23

không gian kiến trúc Đô thị học ngày càng được quan tâm và trở thành một bộ môn cơ sở của quy hoạch đô thị

Đô thị học có bốn chương trình nhiệm vụ chung[3]:

- Tạo các nguồn lực kích thích tăng trưởng và lập thế cân bằng động hài hòa giữa các hệ sinh thái – phát triển trong cả quá trình đô thị hóa

- Gìn giữ lâu bền, chống gây ô nhiễm và nâng cao không ngừng chất lượng an toàn môi trường sống đô thị, trong khuôn khổ những điều kiện hạn chế của tự nhiên

- Sáng tạo ra môi trường, kiến trúc cảnh quan đô thị đặc trưng lồng ghép hòa đồng với môi trường cảnh quan thiên nhiên

- Bảo tồn, tôn tạo các khu đô thị cổ, những di sản đậm đà bản sắc dân tộc, kế thừa, cải tạo, chỉnh trang, nâng cao giá trị sử dụng các khu cũ phù hợp với nhu cầu đương đại và những dự báo cho thời gian tiếp theo

1.2 CÔNG TÁC QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ

1.2.1 Khái niệm công tác quy hoạch đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị là một môn khoa học tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhân văn, địa lý, tự nhiên, kỹ thuật và nghệ thuật….nhằm xác định sự phát triển hợp lý của đô thị trong từng giai đoạn và việc định hướng phát triển lâu dài cho đô thị

1.2.2 Đối tượng và mục tiêu của công tác quy hoạch đô thị

Về mặt tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị Đối tượng của công tác quy hoạch xây dựng đô thị chính là đô thị Đó chính là tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị

H1.10: Quá trình hình thành đô thị và Công tác quy hoạch xây dựng đô thị dưới tác động của hệ thống lý luận đô thị

Trang 24

Quy hoạch xây dựng đô thị cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cụ thể hóa chiến lược phát triển đô thị quốc gia, đảm bảo quá trình đô thị hóa và sự phát triển các đô thị đạt hiệu quả cao về kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường

1.2.3 Nội dung, nhiệm vụ của quy hoạch đô thị

1.2.3.1.Tổ chức sản xuất

Quy hoạch đô thị đảm bảo phân bố hợp lý các khu vực sản xuất trong đô thị: Các khu vực sản xuất công nghiệp tập trung, các xí nghiệp công nghiệp, các cơ sở thủ công nghiệp và các loại hình sản xuất đặc trưng khác Quy hoạch đô thị cần giải quyết tốt các mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất của các khu công nghiệp với bên ngoài và các hoạt động khác của các khu chức năng trong đô thị

1.2.3.2.Tổ chức đời sống

Quy hoạch đô thị phải góp phần tổ chức tốt cuộc sống và mọi hoạt động hàng ngày của người dân đô thị, tổ chức hợp lý cơ cấu phân bố dân cư và sử dụng đất đai đô thị, tổ chức việc xây dựng các khu ở, khu trung tâm và dịch vụ công cộng, khu giải trí nghỉ ngơi, việc đi lại, giao tiếp của dân cư đô thị

Quy hoạch đô thị tạo môi trường sống trong sạch, an toàn, góp phần hiện đại hóa cuộc sống của người dân đô thị, phục vụ con người phát triển toàn diện

1.2.3.3.Tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường không gian đô thị

Quy hoạch đô thị phải xác định được hướng bố cục không gian kiến trúc, vị trí và hình khối kiến trúc các công trình chủ đạo, xác định tầng cao, màu sắc và một số chỉ tiêu cơ bản trong quy hoạch, nhằm cân đối việc sử dụng đất đai phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương, tập quán và truyền thống của đô thị… Nhằm tạo cho đô thị một hình thái đặc trưng và hình thái kiến trúc đẹp, hài hòa với thiên nhiên, môi trường và cảnh quan

1.2.4 Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị

Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị là cơ sở pháp lý để xây dựng và quản lý đô thị, tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm của đô thị và lập các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn của các ngành, các địa phương

Theo Nghị Định 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 Chính phủ, các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm quy hoạch vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị, quy hoạcch chi tiết và đồ án thiết kế đô thị (là một phần của đồ án quy hoạch chi tiết)

Sơ đồ quy hoạch xây dựng vùng

Sơ đồ quy hoạch xây dựng vùng xác lập sự phân bố các lực lượng sản xuất, hệ thống dân

cư đô thị và nông thôn trên phạm vi không gian lãnh thổ của một miền, một tỉnh hay một vùng của đô thị lớn

Trang 25

Quy hoạch chung xây dựng đô thị

Quy hoạch chung xây dựng đô thị xác định phương hướng cải tạo, xây dựng phát triển đô thị về tổ chức không gian và cơ cấu sử dụng đất đô thị, về cơ sở hạ tầng và mối quan hệ hữu cơ về các mặt bên trong và bên ngoài đô thị nhằm tạo lập môi trường và khung cảnh sống thích hợp cùng với các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác Đồ án Quy hoạch chung được nghiên cứu theo từng giai đoạn 15 – 20 năm cho dài hạn và 5 –

10 năm cho ngắn hạn

Quy hoạch chi tiết

Quy hoạch chi tiết cụ thể hóa ý đồ của quy hoạch chung xây dựng đô thị Đồ án quy hoạch chi tiết phân chia và quy định cụ thể cơ cấu sử dụng đất đai cho từng khu chức năng, xác định chỉ giới xây dựng, phân rõ chức năng cụ thể và tỉ trọng xây dựng cho từng loại đất theo một cơ cấu thống nhất Nghiên cứu bố cục các hạng mục công trình xây dựng trong từng lô đất nhằm nêu rõ ý đồ về bố cục không gian kiến trúc quy hoạch

Đồ án thiết kế đô thị

Khái niệm Thiết Kế Đô Thị đđược đề xướng vào những năm 50 thế kỷ trước, sau chiến tranh Thế Giới thứ 2 Tuy nhiên, trên thực tế, những nền móng đđầu tiên của Thiết Kế Đô Thị được xây dựng từ thời đầu thế kỷ 20 ở Mỹ và châu Âu (Anh) Phải chờ đđến khoảng năm 1960 - 1970 thì quan điểm Thiết Kế Đô Thị vềà phạm vi của nóù mới được nghiên cứu và thực hành một cách rộng rãi, trước tiên vẫn là ở Mỹ và lục địa châu Âu

Theo (Jon Lang, 2005), sở dĩ vai trò của Thiết Kế Đô Thị đđược nâng cao vào thời

điểm này ở phương Tây bởi hai lý do:

- Nâng cao chất lượng môi trường đô thị và tiêu chuẩn sinh hoạt trước sự phát triển ồ ạt khoa học kỹ thuật, kinh tế kèm theo quá trình đô thị hóa

- Tạo nên một sự liên kết chặt chẽ giữa các lãnh vực chuyên môn bao gồm: Quy Hoạch Đô Thị (Urban Planning), Kiến Trúc Công Trình (Architecture) Kiến Trúc Cảnh Quan (Landscape Architecture) và cả Kỹ Thuật Kết Cấu Hạ Tầng (Civil Engineering)

H1.11: Hệ thống lý luận và mô hình vận hành của Thiết kế đô thị

Trang 26

1.2.5 Một số phương pháp về quy họach đô thị đang được sử dụng trên thế giới

1.2.5.1.Phương pháp lập “kế hoạch truyền thống” kế hoạch hóa tập trung từ thời

Liên Xô cũ cho đến nay

Thực hiện theo cấp quản lý bao gồm quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Được xây dựng trên cơ sở các định hướng chiến lược phát triển chung của quốc gia kết hợp với điều kiện cụ thể của địa phương

Quy định thực hiện theo phương thức 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Thành phố (Sở Kế họach - Đầu tư) gởi các dự báo, các mục tiêu tập trung, nguồn vốn ngân sách và các nguồn huy động khác trong kỳ kế hoạch cho các quận, huyện và các sở, ngành liên quan đề xuất dự thảo kế hoạch gởi về thành phố

- Giai đoạn 2: Các cơ quan tổng hợp (Sở Kế hoạch - Đầu tư) điều chỉnh kế hoạch tổng hợp sau khi có các kế hoạch từ dưới lên và góp ý của các sở, ban, ngành đồng thời hướng dẫn cấp dưới điều chỉnh lại trình Ủûy ban nhân dân Thành phố phê duyệt để làm căn cứ

lập kế hoạch chính thức và tổ chức triển khai

Khi chuyển sang thị trường theo chế độ XHCN, phương pháp lập kế hoạch truyền thống có nhiều hạn chế:Các danh mục đầu tư chủ yếu tập trung danh mục của từng sở, ngành chuyển lên xin để xét duyệt, mang tính chất đơn ngành, theo cơ chế “xin – cho”.Kế hoạch và chương trình đầu tư thiếu tính liên kết với các chương trình của các cơ quan cấp thành phố, không mang tính đa ngành, không có sự tham gia của đại diện cộng đồng Điều này gây phân tán, lãng phí vốn, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình đầu tư phát triển đô thị Kế hoạch chưa bao quát được toàn bộ của nền kinh tế quốc dân trong mọi thành phần kinh tế đặc biệt là khu vực tư nhân, thường không có sự tham gia của đại diện các doanh nghiệp Các yếu tố xã hội và môi trường chưa được quan tâm đúng mức

vì vậy chất lượng và hiệu quả công tác kế hoạch hóa chưa cao.Việc phân bố ngân sách đầu tư cũng chưa hợp lý, tổng nhu cầu đầu tư thường vượt qua hạn mức ngân sách được phân bổ trong khi các quận, huyện, sở, ngành luôn dành phần đầu tư cho mình, dẫn đến tình trạng có sự “thỏa hiệp” thiếu căn cứ khoa học, đầu tư phân tán, thiếu đồng bộ dễ dẫn đến lãng phí nguồn lực

1.2.5.2.Phương pháp phối hợp: Quy họach chiến lược hợp nhất (Integrated Strategic

Planning) và kế hoạch đầu tư đa ngành (Multi Sectoral Investment Planning)

c Quy hoạch chiến lược hợp nhất:

“Quy hoạch chiến lược” (Strategic Planning) ra đời ở Hoa Kỳ trong thập niên 1960 với nhiệm vụ hướng dẫn các tập đoàn kinh tế, các công ty điều chỉnh tổ chức để cạnh tranh trong môi trường kinh doanh đang thay đổi mau chóng

Nó bị chi phối bởi các tập đoàn kinh tế và các công ty ở Mỹ và Châu Âu ngày càng gia tăng sự quan tâm làm thế nào để đối phó với sự cạnh tranh xuất phát từ Nhật Bản và Đông Á

Trong năm 1970, Quy hoạch chiến lược được các cấp chính quyền địa phương chấp nhận để cởi trói các ràng buộc đối với nền kinh tế quốc gia và để đáp ứng lại nhu cầu

Trang 27

Tuy nhiên, nhiều quy hoạch chiến lược tiếp tục được soạn thảo không có sự tham gia đầy đủ của các ban, ngành, ngoại trừ có sự tham khảo tư vấn của các ban, ngành nhưng cũng rất hạn chế Do vậy khi vận dụng phương pháp quy hoạch chiến lược vào quản lý và phát triển đô thị cần phối hợp và hợp nhất (quy hoạch kinh tế xã hội, quy hoạch không gian và quy họach quản lý môi trường) và hình thành “Quy hoạch chiến lược hợp nhất”

Quy hoạch chiến lược hợp nhất không thể thay thế các quy hoạch kinh tế xã hội, quy hoạch mặt bằng và quy hoạch quản lý môi trường, quy hoạch chiến lược hợp nhất bao trùm lên các loại quy hoạch nêu trên

Quy hoạch chiến lược hợp nhất là sự hợp tác về mặt tổ chức giữa Nhà nước, cộng đồng và tư nhân Điều đó là sức mạnh để huy động các nguồn lực và phối hợp hành động trên diện rộng, là công cụ quản lý của chính quyền đã thay đổi từ “lập quy hoạch thành phố” sang “ thành phố lập quy hoạch”

Quy hoạch chiến lược hợp nhất tìm ra các “mục tiêu quy hoạch” hội đủ các điều kiện phát triển bền vững

Trên cơ sở phân tích SWOT hiện trạng mạnh (strengths), yếu (weaknesses) của môi trường bên trong (internal environment) hướng tới các mục tiêu quy hoạch để tìm ra “các chiến lược phát triển” Đây là đầu ra của Quy hoạch chiến lược hợp nhất

Quy hoạch chiến lược hợp nhất có thể nói là giai đoạn chuyển từ quy hoạch sang kế hoạch, từ quy hoạch đến các dự án đầu tư (không để quy hoạch treo), hậu quy hoạch hay tiền quy hoạch

d Lập kế hoạch đầu tư đa ngành:

Kế hoạch đầu tư đa ngành là tiến trình phối hợp giữa các sở, ban, ngành để lập các dự án ưu tiên xây dựng cơ bản, nó giúp chuyển hóa các kế hoạch trung hạn và dài hạn thành kế hoạch đầu tư hàng năm

Đầu vào của kế hoạch đầu tư đa ngành là đầu ra của quy hoạch chiến lược hợp nhất là các chiến lược phát triển

Các chiến lược phát triển vạch ra cần chuyển thành các dự án để thực hiện các chiến lược đó, mỗi chiến lược có các dự án ứng với các chiến lược đề ra, tổng hợp dự án theo các chiến lược hình thành một danh sách dài (long list) các dự án, đó chính là kế hoạch trung hạn và dài hạn

Để kế hoạch mang tính hành động, thành phố cần xác định chiến lược nào trong số các chiến lược cần ưu tiên thực hiện, tương ứng với các chương trình và dự án đi kèm Có thể sử dụng phương pháp ma trận mục tiêu (Goal Achievement Method-GAM) định

Trang 28

lượng, kết hợp với phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (định tính) để xác định các danh mục ưu tiên cho thành phố hình thành một danh sách ngắn (short list) kế hoạch xây dựng

cơ bản hàng năm

1.2.5.3.Phương pháp “chiến lược phát triển thành phố” - City Development

Strategy-CDS

Phương pháp CDS do liên minh các thành phố (Cities Alliance-CA) và ngân hàng thế giới (WB) khởi xướng năm 2000 xem như là phát triển bền vững tập trung vào 04 chủ đề là “quản lý tốt, dễ sống và an toàn cho người nghèo, cân bằng tài chính và cạnh tranh tốt hoặc sản xuất được cải thiện” WB đang triển khai một phương pháp tiếp cận mới:

“phương pháp nhiều thành phần tham gia” (Partnership Approach) là nội dung xuyên suốt CDS CDS là một quá trình nỗ lực với sự tham gia cam kết từ cộng đồng của nhiều phía có vai trò nòng cốt (chính quyền địa phương, nhà kinh doanh, các nhóm cộng đồng dân cư v.v…) nhằm xác định những tồn tại và cơ hội của thành phố, các hoạt động ưu tiên, vạch ra cách tiếp cận hướng về tương lai và cùng nhau tham gia thực hiện các chiến lược họ đề ra một cách toàn diện

Kết quả của CDS là mối quan hệ sở hữu của “các bên tham gia” (Stakeholders) về quá trình phát triển kinh tế – xã hội và cương lĩnh chiến lược của thành phố, dựa vào đó đưa ra các quyết định phát triển, chương trình đầu tư và sự cam kết của các bên tham gia vào tiến trình này

Tiến trình CDS được chia làm 04 giai đoạn khác nhau, nhưng là các giai đoạn có mối quan hệ chặc chẽ và tăng cường cho nhau

Trang 29

1.2.5.4 Quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng

Phương pháp quy hoạch truyền thống, trong đó tiêu biểu là các quy hoạch tổng thể, hiện nay thường bị phê phán là mang tính cứng nhắc, áp đặt, không dân chủ và thiếu sự tham gia của cộng đồng Nó dựa trên một giả định về một vấn đề của một nhóm các chuyên gia quy hoạch, thu thập và phân tích các dữ liệu có liên quan đến vấn đề này, đề

ra các mục tiêu, nhiệm vụ, xác định các phương án và giải pháp khác nhau để giải quyết vấn đề đó, dự toán các chi phí, lợi ích, xác định các khó khăn, thuận lợi của mỗi phương án và chọn ra phương án tốt nhất

Từ quan điểm thực tiễn có thể có sự nhất trí rằng, bản quy hoạch tốt nhất phải thể hiện được sự mong muốn của người dân – một bản quy hoạch đáp ứng được những nhu cầu mà người dân cho là cần thiết đối với họ Cách tốt nhất để có được một bản quy hoạch như vậy là đảm bảo sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch Nếu chỉ có những nhà quy hoạch chuyên nghiệp tiến hành các khảo sát nghiên cứu và sử dụng kết quả nghiên cứu này để lập quy hoạch thì chưa đủ Trong nhiều trường hợp, để đảm bảo những gì mà người dân mong muốn được tích hợp vào trong quy hoạch, chỉ có một các duy nhất là đảm bảo cho họ được tham gia trực tiếp vào quá trình quy hoạch

Ở hầu hết các nước phát triển, Chính phủ thường không đủ khả năng cung cấp nhà ở và các dịch vụ đô thị cơ bản cho người nghèo vì thiếu các nguồn lực Vì vậy, một điều bình thường là những người dân sống trong một cộng đồng đóng góp các nguồn lực của họ cùng với Chính phủ hoặc cố gắng tự tổ chức việc cung cấp các dịch vụ cho mình Ở đây, sự tham gia của cộng đồng là một quá trình mà Chính phủ (chính quyền địa phương) và các cộng đồng dân cư cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ cho toàn cộng đồng

Vậy vai trò của nhà quy hoạch trong quá trình quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng là gì? Họ phải nghiên cứu các ý tưởng của cộng đồng, họ phải sẵn sàng đóng vai trò người hỗ trợ, người tuyên truyền và người cùng thực hiện các hoạt động của cộng đồng Nhà quy hoạch phải coi cộng đồng và người lãnh đạo của nó không chỉ là khách hàng mà phải là một đối tác hoàn chỉnh trong quá trình quy hoạch Đây là một yêu cầu hết sức mới mẻ so với các quan niệm về vai trò của nhà quy hoạch trong các cách làm quy hoạch trước đây, song nó lại là một định hướng cực kỳ quan trọng để đạt được mục tiêu của quy hoạch và đảm bảo lợi ích tối đa của cộng đồng

Trang 30

Hình 1.12: Trình tự phương pháp có sự tham gia của cộng đồng

Mô hình của Tp.Barcelona

Những lợi ích từ cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng là rất to lớn cho dù buổi đầu nó chưa dễ được nhận Vào buổi đầu, sự tham gia của cộng đồng có thể tốn một số chi phí về thời gian và sức lực bởi vì cần có nhiều người tham gia vào quá trình quy hoạch và ra quyết định Tuy nhiên, nếu xem xét trong một quá trình lâu dài hơn, sẽ có thể tiết kiệm được những chi phí thực tế và các thành viên của cộng đồng, do nhận rõ quyền “sở hữu” (làm chủ) các dự án, họ sẽ duy trì sự tham gia của mình để đạt đến sự thành công Bên cạnh những lợi ích kinh tế là những lợi ích chính trị – xã hội trong một

cơ cấu tham gia rất mở cho tất cả mọi người, các thành viên cộng đồng sẽ được coi trọng hơn và sẽ hợp tác chặt chẽ hơn với các quan chức chính quyền trong quá trình quy hoạch Lợi ích này thậm chí càng lớn hơn cả lợi ích kinh tế vì nó đem lại sự ổn định chính trị cho tòan bộ hệ thống quản lý hành chính Chấp thuận và thực hiện cách tiếp cận tham gia này là đề cao phương pháp quy hoạch từ dưới lên, khác với phương pháp từ trên xuống

vẫn được áp dụng trước

Trang 31

PHẦN HAI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ - ĐÔ THỊ HÓA CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

2.1 LƯỢC KHẢO VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THẾ GIỚI:

2.1.1.Thời kì cổ đại:

Bao gồm thời tiền sử được tính từ 30.000 năm đến 1000 năm trứơc Công nguyên (trước CN) và giai đoạn cổ đại phát triển được tính đến năm 500 sau Công nguyên Thời

kì cổ đại phát triển mạnh có thể tính từ 9000 năm trước Công nguyên.Quan điểm về xây dựng đô thị thời kì này và một số nhân vật nổi tiếng có tính chất quyết định đối với sự phát triển đô thị xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà (Ai Cập), vùng Tiểu Á, Trung Á, Ấn Độ và Trung Quốc Nhiều hình thức và quan niệm xây dựng đô thị đã hình thành

2.1.1.1.Quan điểm về định cư

Người cổ xưa đã có quan điểm xây dựng các điểm dân cư tập trung có quy mô không lớn lắm thường mỗi điểm dân cư là một bộ lạc Các điểm dân cư được xây dựng dọc ven sông, nguồn nước được coi là yếu tố cơ bản của sự tồn tại

Về kinh tế: Các cơ sở sản xuất nông nghiệp và thương mại được coi là động lực chính của sự phát triển

Về xã hội: Nền tảng của dân tộc và tôn giáo được lấy làm tôn chỉ cho các họat động trung tâm về chính trị

Về an ninh quốc phòng: Người cổ xưa luôn coi trọng, họ xây dựng các điểm dân cư tập trung ở những nơi dễ dàng quan sát kẻ địch tấn công

2.1.1.2 Cấu trúc đô thị

a Đô thị cổ Ai Cập

Người Ai Cập cổ đại sống tập trung dọc theo bờ sông Nin Tư tưởng của các vua chúa bấy giờ coi cuộc sống tương lai sau khi chết là giá trị, do đó họ tập trung xây dựng các khu lăng mộ: Kim tự tháp là điển hình cho một tư tưởng về uy quyền của nhà nước và vua chúa Các Faraon là những người chỉ đạo chính trong việc xây dựng kim tự tháp Faraon I, II, III là những người có công lớn trong việc tạo nên quần thể Kim tự tháp Ai Cập

Đô thị cổ đại Ai Cập ở hạ lưu sông Nin thường là hình chữ nhật, xây dựng vào khoảng

3500 năm trước CN Thành phố Kahun là một ví dụ:Thành phố có mật độ xây dựng cao,

cơ cấu thành phố phân rõ khu chủ nô và nô lệ Trung tâm là nơi tập trung những cung điện, dinh thự của các Pharaon, nơi làm việc của chính quyền, quân đội, nơi ở của các quý tộc, chủ nô, ngoài ra còn có những khu vực đền thờ các thần Khu ở cho người giàu là nhà ở có vườn với diện tích mỗi lô 600 m2 Nhà ở cho người nghèo là những khu ở thấp tầng, đặc biệt có hệ thống tưới nước cho cây, các đường phố đã được trồng cây, cây xanh được coi là một yếu tố quan trọng trong cấu trúc đô thị Một đặc điểm cần lưu ý

Trang 32

trong cấu trúc đô thị cổ Ai Cập là chịu sự ảnh hưởng về mặt tôn giáo.Thành phố được quy hoạch theo dạng đa tâm và thờ thần mặt trời

b Hi Lạp cổ đại

Hi Lạp là nơi tập trung nhiều kiến trúc quy hoạch cổ đại Nhiều nhân vật nổi tiếng cổ

Hi Lạp đã tạo nên cho quy hoạch và kiến trúc đô thị cổ Hi Lạp có những giá trị đặc biệt Thành phố bàn cờ của Hyppodamus (khoảng 500 năm trước CN tại Miletus) là điểm đặc trưng của quy hoạch Hi Lạp cổ đại Bố cục mặt bằng của thành phố được chia thành các lô phố theo hệ thống đường ô cờ với hai hướng chính Nam Bắc và Đông Tây; khoảng cách giữa các đường nói chung khoảng từ 30 m đến 50 m Thành phố Mile của Hyppodamus có kích thước các lô phố là 47,2 m x 25,4 m Tuyến đường chính Đông Tây rộng 7,5m đi qua trung tâm có thể đi xe, còn tuyến Bắc - nam rộng từ 3-4m có độ dốc lớn nên chủ yếu dành cho đi bộ Các thành phố đều có các trung tâm và quảng trường chính, được gọi là Acropolis và Agora

- Acropolis là khu vực trung tâm của thành phố, nơi tập trung các đền thờ mang tính tâm

linh và nhà ở của các quan tòa cao cấp

- Agora thực chất là một quảng trường ở trung tâm, nơi tập trung các sinh hoạt về thương

mại và hành chính của thành phố

Suốt trong mấy thế kỉ trước CN đô thị cổ Hi Lạp đã phát triển mạnh do đặc điểm chính trị cổ Hi Lạp có nhiều tiến bộ, luật lệ nghiêm ngặt nhưng ít khắcnghiệt Xã hội cổ

Hi Lạp đề cao tính dân chủ, quan tâm đến việc giáo dục con người và môi trường sống ở đô thị Quan điểm thành phố Nhà nước lí tưởng có quy mô 10.000 dân được chia thành 3 phần và 3 cấp theo hệ thống luật lệ

Hình 2.1: Mặt bằng thành phố Kahun Ghi chú: 1 Cung điện, 2,3 Nhà ở của chủ nô, 4 Nhà của nô lệ

Trang 33

Hình 2.2: Mặt bằng thành phố Priene-Hi Lạp

Hình 2.3: Mặt bằng Thành phố Mile

Trang 34

c La Mã cổ đại

Đế quốc La Mã được hình thành từ thế kỉ thứ III trước CN và hưng thịnh nhất vào khoảng thế kỉ thứ II và thế kỉ thứ I cho đến tận năm 30 trước CN

Quy hoạch và kiến trúc La Mã cổ đại đã tiếp thu được những thành tựu của nền văn hóa trước đó cũng như bị ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Hi lạp Rất nhiều công trình kiến trúc cũng như ý đồ quy hoạch thành phố được thực hiện nhờ vào sự thịnh vượng của đế chế La mã với sự cướp đoạt tài sản và nô lệ

Thành phố cổ La Mã phản ánh tính chất xã hội của chế độ cộng hòa đế quốc La Mã Trong thành phố có rất nhiều quảng trường và nhóm quảng trường cùng với hệ thống các công trình công cộng lớn như nhà hát, đấu trường, nhà tắm, mậu dịch, chợ, cung điện, nhà thờ, miếu tự và các đài kỉ niệm Nội dung và bố cục nhóm quảng trường cổ La Mã rất phức tạp, có trang trí kiến trúc lộng lẫy, công phu, phản ánh sự sinh hoạt giàu có và ý thức thẩm mĩ cao của giai cấp thống trị

Đặc điểm truyền thống của các đô thị cổ La Mã là tính chất phòng thủ Mặt bằng thành phố có dạng như các trại lính: Hình vuông, có tường lũy bảo vệ, có 4 cổng chính và

nối với các cổng chính là các trục đường chính Nam Bắc (Cardo) và Đông Tây

(Decumanius) Trung tâm thành phố đặt tại điểm giao nhau giữa hai trục đường Thành

phố phát triển thêm các khu vực dân cư ở phía ngoài theo các đường nhập thành Lối bố cục thành phố này chịu ảnh hưởng nhiều của cách bố cục thành phố cổ Hi lạp Timgat là một ví dụ

Hình 2.4: Mặt bằng thành phố TimGat

Việc tổ chức đô thị thường gắn liền với việc tổ chức phòng ngự về quân sự:

- Đô thị thường có tường thành bao quanh kiên cố

Trang 35

- Việc phân khu vực trung tâm được thể hiện rõ rệt từng khu chức năng sinh hoạt, các không gian chính ở trung tâm được tổ chức bao quanh bởi những công trình kiến trúc hoành tráng biểu thị quyền lực chính trị đương thời

- Các trục định hướng của đô thị không bị chi phối bởi các quan niệm tôn giáo, không bị ràng buộc theo địa hình

- Dân cư phát triển theo từng ô vuông theo hình bàn cờ bám theo các trục chính và trung tâm sinh hoạt công cộng của đô thị, mỗi ô phố có kích thước từ 70X70m đến 150 X150m Mật độ dân cư 250 – 500 người/ha, dân số từ 20.000 đến 100.000 người

d Nền văn minh Lưỡng Hà (Mezopotama) có từ 4300 năm trước CN

Babylon là thành phố lớn nhất lúc bấy giờ nằm trên bờ sông Euphrat Do vua Netmucazera II xây dựng vào khoảng 602-562 trước CN Thành phố được bao bọc bởi hệ thống kênh đào thông với sông Euphrat và tiếp đến là hệ thống thành cao có nhiều lớp gạch Trung tâm của thành phố là cung điện và nhà thờ(Ziggurat) xây theo kiểu kim tự tháp giật cấp cao đến 90m

Bên cạnh thành phố là vườn treo Babylon nổi tiếng, một trong bảy kì quan của thế giới Mặc dù không có bất cứ bằng chứng khoa học cụ thể nào về sự tồn tại, vườn treo Babylon mang theo mình rất nhiều các truyền thuyết, thơ ca và những lời ca ngợi như là một thiên đường giữa sa mạc Một trong những nhà thơ La Mã đã mô tả lại vườn treo Babylon như một hệ thống sân giật cấp cao với bờ tường dày 7,6 m trong chứa đất đủ chỗ cho cả các cây lớn.Vườn treo nằm sát bờ sông, có bến tàu, bồn phun nước và hệ thống nước tưới cây

Thời văn minh Lưỡng Hà đã tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều thành phố Vật liệu thành phố chính xây dựng lúc bấy giờ là gạch phơi khô từ phù sa của sông Euphrat

e Nền văn minh Trung Hoa

Ở Trung quốc vào thế kỉ thứ 3 trước CN, Mencius đã đề xuất hệ thống quy hoạch sử dụng đất theo bố cục 9 ô vuông Mỗi ô có một chức năng riêng, mỗi cạnh dài khoảng

Trang 36

- Quy mô đô thị lớn, dân cư được tổ chức thành từng đơn vị có quản lý bởi hệ thống hành chánh rõ rệt

- Cây xanh được quan tâm tổ chức thành quần thể đẹp phục vụ cho tầng lớp thống trị

f Các vùng khác

Ấn Độ cũng có những thành phố được hình thành từ 3000 năm trước CN Thành phố cũng được xây dựng theo kiểu phân lô

Nhiều nơi khác trên thế giới các điểm dân cư đô thị cũng có xuất hiện nhưng nói chung các đô thị này không để lại những tính chất điển hình

2.1.2 Đô thị thời trung đại

Đô thị thời trung đại xuất hiện chủ yếu vào đầu công nguyên thuộc chế độ phong kiến Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân đã dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại Chế độ chiếm hữu nô lệ dần đi vào con đường tan rã, xã hội phong kiến bắt đầu được hình thành, chủ yếu dựa vào nền kinh tế tiểu nông ở nông thôn Do sự tan rã của nền kinh tế chiếm hữu nô lệ, dân cư đã rời khỏi các đô thị đi về nông thôn để sản xuất, thành phố trong giai đoạn vài trăm năm cuối cùng của đế quốc La Mã đã mất hết quyền lực thống trị nông thôn Xã hội phong kiến trong giai đoạn đầu mang tính chất tự cung tự cấp dựa trên nền sản xuất nông nghiệp Chiến tranh liên miên, xã hội không ổn định đã kìm hãm sự phát triển của đô thị Quy mô của thành phố thời đó nhỏ, không vượt quá 5 đến 10000 người, hầu hết có các thành quách bao ngoài

Mãi đến thế kỉ thứ XII thủ công nghiệp xuất hiện mạnh đã kích thích sự phát triển các đô thị Việc trao đổi hàng hóa và giao lưu đường thủy giữa các vùng đã xuất hiện nhiều đô thị cảng và các đô thị nằm trên đầu mối giao thông Ngoài sự ảnh hưởng lịch sử của các thành phố La mã, bố cục của các thành phố phong kiến được thể hiện trong việc kết hợp với các điều kiện tự nhiên Các thành phố này thường được xây dựng ở những vị trí tương đối có lợi thế về vấn đề bảo vệ Các công trình nhà thờ và các dinh thự của vua chúa đã trở thành những công trình trọng tâm trong bố cục của đô thị

Nền văn hóa phục hưng ở thế kỉ thứ XV, XVI gắn liền với sự chuyển tiếp xã hội từ phong kiến sang tư bản, quy hoạch đô thị thời kì này đã phản ánh nhu cầu của xã hội mới và đã được phát triển mạnh ở Châu Âu Ở Ý bên cạnh các đồ án cải tạo, mở rộng thành phố thời phục hưng, các xu hướng nghiên cứu, các lí thuyết mới về quy hoạch đã được xuất hiện Nước Pháp là một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của thời kì phục hưng ở Châu Âu Hàng loạt những họat động xây dựng quy hoạch cải tạo thành phố Paris được tiến hành dưới triều đại Louis XIV, quảng trường Thắng Lợi, quảng trường Hòa Hợp Ở một số nước khác, việc xây dựng thành phố Petecbua ở Nga, thành phố London ở Anh hay Roma ở Ý… đã mở đầu cho một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển đô thị

Ở Châu Á, xã hội phong kiến tập trung kéo dài rất lâu và đã được thống nhất từ sau đời Tần Ở Trung Quốc thành phố là chỗ ở của các vua chúa phong kiến, là trung tâm chính trị văn hóa của giai cấp thống trị, có quy mô tương đối lớn, thường được xây dựng theo kiểu thành quách “Thành” chỉ bộ phận trung tâm xây dựng kiên cố bao quanh cung điện của vua quan và quý tộc “Quách” là tường thành bảo vệ bao quanh phía ngoài khu vực dân cư Trường An thời Tây Hán là thành phố trung tâm thương mại chính trị lớn

Trang 37

nhất Trung Quốc, quy mô thành phố lớn hơn 4 lần so với thành phố La Mã ở Châu Âu đương thời, có bố cục quy hoạch tập trung biểu hiện rõ tư tưởng phong kiến, đề cao giai cấp thống trị Cung thành và vườn cấm chiếm phần chủ yếu của thành phố, nhà ở của vua quan và các quý tộc chiếm hai khu ở phía Đông Hoàng thành còn bên ngoài phía Nam là khu ở của nhân dân

Nói chung các đô thị của thời kì trung đại phát triển chậm, bố cục thành phố lộn xộn, phát triển tự phát, thiếu quy hoạch và môi trường đô thị không hợp lí

2.1.3 Đô thị thời cận đại

Mãi đến giữa thế kỉ XVII cuộc cách mạng công nghiệp ra đời đã thúc đẩy sản xuất phát triển, các xí nghiệp công nghiệp phát triển mạnh, nhiều ngành công nghiệp lớn ra đời đã thu hút nhiều nhân lực vào sản xuất Các khu nhà ở mọc lên nhanh chóng bên cạnh các khu vực sản xuất Ở các nước công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Mĩ, Đức dân số đô thị tăng lên rất nhanh Từ những năm đầu của thế kỉ XIX, dân số đô thị ở Anh chiếm tới 32% Năm 1921 dân số đô thị ở Anh đã xấp xỉ 80% Ở Mĩ, dân số đô thị năm

1801 là 4% và cho đến năm 1921 con số này đã trên 51%

Sự hình thành và phát triển thành phố trong thời kì này chịu ảnh hưởng của những mâu thuẫn sức sản xuất và quan hệ sản xuất Tính tự phát của nền kinh tế thị trường trong sự phân bố sức sản xuất đã dẫn tới sự phát triển và phân bố thành phố không đều,

ví dụ: miền Đông Bắc nước Mĩ, khu công nghiệp Philadenphia và Chicago, chỉ chiếm 14% diện tích cả nước nhưng giá trị sản phẩm làm ra chiếm tới 75% tổng thu nhập quốc dân Các thành phố lớn có số dân tập trung cao đã xuất hiện như New York: 5 triệu người (1920) London gần 5 triệu người, Berlin trên 4 triệu người

Các vấn đề mâu thuẫn và bất hợp lí trong tổ chức không gian đô thị đã nảy sinh ra rất nhiều do sự phát triển ồ ạt của các đô thị trong thời kì này Vấn đề nhà ở không được giải quyết một cách đầy đủ, đặc biệt là các khu nhà ở dành cho người lao động thường thiếu tổ chức, chắp vá, hình thức nghèo nàn, điều kiện sống không đầy đủ, thiếu vệ sinh; các khu ở lại hay đặt cạnh xí nghiệp, nhà máy, điều kiện môi trường thấp Môi trường đô thị

ở nhiều nơi bị khủng hoảng nghiêm trọng Các khu công trình công nghiệp xây dựng tự phát, không theo quy hoạch, lại chiếm những khu đất tốt trong thành phố, nhiều công trình xây dựng sát bờ sông, thậm chí ngay sát khu trung tâm làm cho môi trường sống ở đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng.Việc đầu cơ đất đai đã làm cho giá đất xây dựng thành phố tăng vọt, mật độ xây dựng cao và các công trình kiến trúc đã phát triển theo chiều cao Nhiều thành phố thậm chí không có khu đất trống để trồng cây xanh Do sự khủng hoảng về xây dựng và sự mất cân đối trong thành phố ở các nước tư bản phát triển từ nửa thế kỉ thứ XIX, người ta đã tiến hành hàng loạt các công cuộc cải tạo các đô thị, đặc biệt là ở Pháp và Nga (Paris và Petecbua), với các lí do trên, từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế

kỉ XX, hàng loạt tư tưởng mới và quan điểm đã xuất hiện, mở đầu cho sự phát triển của ngành quy hoạch đô thị hiện đại

Trang 38

Hình 2.5:Mặt bằng thành Trường An-Trung Quốc

2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VIỆT NAM

2.2.1 Tình hình phát triển các điểm dân cư đô thị đến thế kỉ thứ XVIII

Trong lịch sử vàng bốn nghìn năm tồn tại, Việt Nam luôn luôn phải chống lại các cuộc ngoại xâm của phương Bắc và phương Tây, đã ba lần chịu ách đô hộ của phong kiến phương Bắc

Dấu vết đô thị đầu tiên ở nước ta là thành Cổ Loa hay còn được gọi là Loa thành của

An Dương Vương ở tả ngạn sông Hồng Loa thành là đô thị đầu tiên được xây dựng vào năm 25 trước CN, là trung tâm chính trị của nước Âu Lạc Chiều dài của ba tường thành chính dài trên 16 km có hào sâu bao bọc nối liền với sông Hoàng đã làm tăng khả năng phòng thủ của thành Ngoài các cung điện của vua và các trại lính, trong thành còn có nhà ở của dân thường Đây là điểm dân cư tập trung đông nhất lúc bấy giờ, dân số ước tính tới hàng ngàn người

(Địa điểm xây dựng: Đông Anh

cách Hà Nội 17 Km về phía

Trang 39

Trong thời kì Bắc thuộc một số thành thị khác nhau mang tính chất quân sự và thương mại như thành Luy Lâu, thành Long Biên, Từ Phố, Bạch Trưởng, Hậu Lộc cũng đã được hình thành Một trong những đô thị lớn nhất thời Bắc thuộc đến thế kỉ XIX là thành Tống Bình ( Hà Nội ngày nay) Sử chép rằng năm 865 tướng Cao Điền (Trung Quốc) đã mở rộng thành để chống quân khởi nghĩa Thành dài 1982,5 trượng (7930 m), cao 2,5 trượng (10 m), trên tường thành có 55 điểm canh Một vài đoạn thành còn sót lại cho đến ngày nay

Năm 1010 sau khi ổn định tình hình chính trị trong nước, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô về trung tâm Đại La (trong thành Tống Bình cũ) và đổi tên là Thăng Long Đây cũng là cái mốc khai sinh cho thành phố Hà Nội ngày nay Từ đó Thăng Long phát triển mạnh về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và đã trở thành một đô thị có vị trí quan trọng nhất trong cả nước

Thăng Long có hệ thống thành dài 25 km bao bọc xung quanh khu vực cung đình và các điểm dân cư, là những dấu hiệu đầu tiên của đô thị khá độc đáo Ngoài ra, nhiều công trình được xây dựng trong thành như các đền chùa, miếu mạo Đây là thời kì thịnh vượng nhất của nền phong kiến Việt Nam, rất nhiều đền chùa, bảo tháp được xây dựng vào thời kì này như: 950 ngôi chùa được xây dựng vào năm 1031 dưới sự đài thọ của nhà vua Chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) xây vào năm 1049 - chùa Diên Hựu đánh dấu một bước phát triển cao về nghệ thuật kiến trúc lúc bấy giờ và cho đến ngày nay nó vẫn là một biểu tượng trong trái tim Hà Nội Năm 1954 trước khi chạy thực dân Pháp đã đặt mìn phá hủy Ngay sau đó vào năm 1955 chùa đã được xây dựng lại

Hình 2.7: Mặt bằng thành Thăng Long

Trang 40

Một điều đáng chú ý trong quy hoạch phát triển đô thị lúc bấy giờ là việc xây dựng khu Văn Miếu năm 1070, được gọi là Quốc Tử Giám vào năm 1076 Là khu đại học đầu tiên ở Việt Nam, đây thật sự là chỗ chọn nhân tài của đất nước, hàng năm có hàng ngàn người đến xin học và dự thi Trên 82 bia Tiến sĩ bảng đá ghi lại các danh nhân, các nhà bác học đã chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước lúc bấy giờ về mặt văn hóa giáo dục và đã làm cho Việt Nam một thời rạng rỡ

Dưới thời phong kiến, ở nước ta nhiều loại đô thị khác cũng đã hình thành Đó là nơi đóng đô chính của các vua chúa phong kiến như thành Hoa Lư (kinh đô của nhà Đinh), thành Tây Đô (kinh đô của nhà Hồ), thành Phú Xuân (kinh đô của nhà Nguyễn), là những trung tâm chính trị quan trọng

Thành Tây Đô (thành nhà Hồ) được xây dựng rất kiên cố, phía ngoài được ghép đá trên một khu đất bằng phẳng ở Thanh Hóa có hình vuông, mỗi cạnh dài 500 m Cổng thành là ba vòm ghép đá rất đẹp có kĩ thuật rất công phu Có những phiến đá dài tới 7 mét, cao 1,5 mét, nặng tới 15 tấn ở cổng ra vào

Hình 2.8: Mặt bằng thành nhà Hồ

Sau chiến thắng quân Minh, Lê Lợi xây dựng lại đất nước Đô thị Việt nam dưới thời bấy giờ đã phát triển rất mạnh, đặc biệt Thăng Long là nơi đóng đô của triều Lê và từ đó (1430) Thăng Long có tên là Đông Kinh Thăng Long được tu sửa từ cung điện, đền đài đến Hoàng thành và La thành Diện tích Hoàng thành rộng hơn nhiều vào thế kỉ thứ XVI

so với đời Lý –Trần Theo bản đồ của Hồng Đức vẽ năm 1470, địa giới của Hoàng thành gồm Hoàng thành đời Lý – Trần cộng với phần mở rộng ở phía Đông ra tới tận bờ sông Hồng

Ở chính giữa hoàng thành là điện Kính Thiên: nơi vua hội họp với các đại thần, bên phải là điện Chí Thiệu, bên trái là điện Chí Kính, phía sau là điện Vạn Thọ, phía trước là điện thị triều nơi các quan vào chầu vua, từ đó nhìn ra phía ngoài là cửa Đoan Môn Cung điện của Hoàng thái Tử ở hướng Đông cung, phía trước đông cung là Thái miếu thành bố cục theo hệ trục vuông, lấy điện Kính Thiên làm chuẩn Các công trình chính

Ngày đăng: 04/06/2015, 08:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8] Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (1997), Qui hoạch các đô thị Việt Nam và những dự án phát triển đến sau 2000, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui hoạch các đô thị Việt Nam và những dự án phát triển đến sau 2000
Tác giả: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1997
[9] Bộ Thương Mại (1996), Thông tư hướng dẫn về tổ chức và quản lý chợ, số 15 TM/CSTTTN ngày 16 tháng 10 năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn về tổ chức và quản lý chợ
Tác giả: Bộ Thương Mại
Năm: 1996
[10] Bộ Xây Dựng (1994), Xã hội học trong qui hoạch xây dựng và quản lý Đô thị, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học trong qui hoạch xây dựng và quản lý Đô thị
Tác giả: Bộ Xây Dựng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1994
[11] Bộ Xây Dựng (1997), Qui chuẩn xây dựng Việt Nam tập I, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui chuẩn xây dựng Việt Nam tập I
Tác giả: Bộ Xây Dựng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1997
[13] Nguyễn Việt Châu (2000), Đổi mới tiêu chuẩn xây dựng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí kiến trúc Việt Nam, 00(3), tr.15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tiêu chuẩn xây dựng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Việt Châu
Năm: 2000
[14] Lâm Quang Cường, 40 năm qui hoạch thủ đô Hà Nội, Tạp chí Kiến trúc và Xã hội, tr. 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm qui hoạch thủ đô Hà Nội
[15] Đặng Đình Đào – Nguyễn Thu Linh (2001), Giáo trình Kinh tế Thương mại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Thương mại
Tác giả: Đặng Đình Đào – Nguyễn Thu Linh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
[16] Nguyễn Văn Đăng (2001), Chợ Đông Ba và tiến trình phát triển đô thị Huế thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tạp chí kiến trúc Việt Nam, 01(2), tr.35- 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Đông Ba và tiến trình phát triển đô thị Huế thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Văn Đăng
Nhà XB: tạp chí kiến trúc Việt Nam
Năm: 2001
[17] Francois Tainturier, Nhật Khanh dịch (1999), Kiến trúc và quy hoạch đô thị Sài gòn thời Pháp thuộc, Tạp chí kiến trúc Việt Nam, 99(3), tr 41-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc và quy hoạch đô thị Sài gòn thời Pháp thuộc
Tác giả: Francois Tainturier, Nhật Khanh dịch
Năm: 1999
[18] Nguyễn Thanh Hà (1998), Giao thông tiếp cận trung tâm thương nghiệp dịch vụ, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao thông tiếp cận trung tâm thương nghiệp dịch vụ
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Năm: 1998
[19] Lưu Đức Hải (2/1996), Những chính sách giao thông đô thị cần thiết nhằm hướng tới giao thông bền vững, Tạp chí kiến trúc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chính sách giao thông đô thị cần thiết nhằm hướng tới giao thông bền vững
[20] Lưu Trọng Hải (4(66)1997), Dự án qui hoạch khu thương mại Chợ Bến Thành, Tạp chí Kiến trúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án qui hoạch khu thương mại Chợ Bến Thành
[21] Lưu Trọng Hải (2001), Những luận điểm về kiến trúc qui hoạch và tổ chức không gian đô thị xây dựng tp.Hồ chí Minh văn minh-hiện đại văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về kiến trúc qui hoạch và tổ chức không gian đô thị xây dựng tp.Hồ chí Minh văn minh-hiện đại văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Lưu Trọng Hải
Năm: 2001
[22] Trần Hùng (1997), Paris đôi bờ sông Seine, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paris đôi bờ sông Seine
Tác giả: Trần Hùng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1997
[23] Nguyễn Thừa Hy (1999)û, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng, Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng, Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
[24] Nguyễn Mạnh Kiểm (1998), Điều chỉnh qui hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Xây dựng số Xuân Mậu dần, 98(1), tr 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh qui hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Mạnh Kiểm
Năm: 1998
[25] Huỳnh Đình Kết (1999), Chợ Đông Ba, Tạp chí Huế xưa & nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Đông Ba
Tác giả: Huỳnh Đình Kết
Năm: 1999
[27] Phan Thứ Lang (1991), Chợ Bến Thành xưa và nay, Tạp chí Kiến trúc và Đời sống, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Bến Thành xưa và nay
Tác giả: Phan Thứ Lang
Năm: 1991
[28] Jean-Marc Massonnat dịch theo tài liệu của Etablissement Public d’Aménagement de la La Défense (2001), Paris, Lịch sử khu la Défense ở Paris, Tạp chí Kiến trúc, 4(90)2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paris, Lịch sử khu la Défense ở Paris
Tác giả: Jean-Marc Massonnat dịch theo tài liệu của Etablissement Public d’Aménagement de la La Défense
Năm: 2001
[29] Lê Văn Năm (1999), Điều chỉnh qui hoạch chung Thành Phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, Tạp chí Xây dựng, 99 (2), tr.39-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh qui hoạch chung Thành Phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.12: Trình tự phương pháp có sự tham gia của cộng đồng - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 1.12 Trình tự phương pháp có sự tham gia của cộng đồng (Trang 30)
Hình 2.4: Mặt bằng thành phố TimGat - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 2.4 Mặt bằng thành phố TimGat (Trang 34)
Hình 4.7: Phương án  Voisin của Le Corbusier - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 4.7 Phương án Voisin của Le Corbusier (Trang 65)
Hình 4.15: Thành phố Hook và Thành phố Cumbernauld - Đô thị một trung tâm - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 4.15 Thành phố Hook và Thành phố Cumbernauld - Đô thị một trung tâm (Trang 76)
Hình 4.-22: Hình ảnh về trung tâm La Défense. - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 4. 22: Hình ảnh về trung tâm La Défense (Trang 80)
Hình 4-33: Các khu vực phát triển của các đô thị Mỹ. Đặc biệt là Chuỗi đô thị “Vành - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 4 33: Các khu vực phát triển của các đô thị Mỹ. Đặc biệt là Chuỗi đô thị “Vành (Trang 88)
Hình 6.3- Định hướng phát triển quy hoạch tổng thể Việt Nam đến năm 2020 - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 6.3 Định hướng phát triển quy hoạch tổng thể Việt Nam đến năm 2020 (Trang 117)
Hình 6.4- Định hướng quy hoạch không gian vùng TP. HCM  6.3.1.3. Phù hợp với tập quán sinh hoạt - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 6.4 Định hướng quy hoạch không gian vùng TP. HCM 6.3.1.3. Phù hợp với tập quán sinh hoạt (Trang 118)
Hình 6.9- Thành phố Canberra - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 6.9 Thành phố Canberra (Trang 123)
Hình 6.11- Bố cục không gian của một số thành phố lý tưởng thời phục hưng - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 6.11 Bố cục không gian của một số thành phố lý tưởng thời phục hưng (Trang 128)
Hình 6.12- Thành phố Newyork - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 6.12 Thành phố Newyork (Trang 129)
Hình 7.12- Một số cách bố trí nhà phân lô- so sánh cách tổ chức không gian xấu- tốt - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 7.12 Một số cách bố trí nhà phân lô- so sánh cách tổ chức không gian xấu- tốt (Trang 156)
Hình 7.32- Bãi đỗ xe công cộng trong đơn vị ở - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 7.32 Bãi đỗ xe công cộng trong đơn vị ở (Trang 170)
Hình 9.5- Mặt bằng khối và hệ thống đi bộ của trung tâm Cumbernauld. - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 9.5 Mặt bằng khối và hệ thống đi bộ của trung tâm Cumbernauld (Trang 216)
Hình 9.7- Một vài hình ảnh về trung tâm La Défense. - Lý thuyết Quy hoạch Đô thi
Hình 9.7 Một vài hình ảnh về trung tâm La Défense (Trang 218)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN