Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung
Trang 2THAM GIA BIÊN SOẠN:
Chủ nhiệm : KTS KHƯƠNG VĂN MƯỜI
TS.KTS.NGUYỄN THANH HÀ Tham gia: Ths KTS LƯU HOÀNG NGỌC LAN
Ths KTS LÊ ANH ĐỨC Ths KTS HỒ ĐÀO TRÍ HỮU Ths KTS PHẠM ANH TUẤN Ths KTS MÃ VĂN PHÚC Ths KTS NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC Ths KTS NGUYỄN CẨM DƯƠNG LY Ths KTS TRẦN PHƯƠNG HẢO KTS NGUYỄN NGỌC HƯƠNG KTS TRƯƠNG THÁI HOÀI AN KTS TRƯƠNG SONG TRƯƠNG KTS QUÁCH THANH NAM
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỘT 5
TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 5
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 5
1.1.ĐÔ THỊ VÀ ĐIỂM DÂN CƯ ĐÔ THỊ 5
1.2 CÔNG TÁC QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ. 14
PHẦN HAI 20
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐÔ THỊ HÓA 20
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ 20
2.1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THẾ GIỚI 20
2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VIỆT NAM 25
CHƯƠNG 3: ĐÔ THỊ HÓA VÀ HỆ QUẢ CỦA ĐÔ THỊ HÓA 34
3.1 KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ THỊ HÓA 34
3.2 ĐÔ THỊ HOÁ THÀNH PHỐ CỰC LỚN 40
3.3 HỆ QUẢ ĐÔ THỊ HÓA 44
3.4 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI VIỆT NAM 48
PHẦN BA 49
CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 49
CHƯƠNG 4: CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI 49
4.1 BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 49
4.2 LÝ LUẬN CỦA CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC KHÔNG TƯỞNG 49
4 3 LÝ LUẬN VỀ THÀNH PHỐ VƯỜN CỦA EBENEZER HOWARD (1896) VÀ THÀNH PHỐ VỆ TINH CỦA RAYMOND UNVINN (1922) 51
4 4 LÝ LUẬN VỀ THÀNH PHỐ TUYẾN 52
4.5 TRƯỜNG PHÁI”ĐÔ THỊ ĐỘNG”CỦA CÁC NHÀ ĐÔ THỊ HỌC XÔ VIẾT 53
4.6 LÝ LUẬN VỀ THÀNH PHỐ CÔNG NGHIỆP 54
4.7 CÁC LÝ LUẬN QUY HOẠCH ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI 55
4.8 LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ THEO ĐƠN VỊ 57
4 9 LÝ LUẬN VỀ”CẤU TRÚC TẦNG BẬC VÀ PHI TẦNG BẬC”TRONG QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 59
4 10 XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI 66
PHẦN BỐN 93
QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 93
CHƯƠNG 5: ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU 93
5.1 ĐỐI TƯỢNG CỦA QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 93
5.2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 93
CHƯƠNG 6: NỘI DUNG QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 95
6.1 CÁC LUẬN CỨ KINH TẾ XÃ HỘI 95
6.2 XÂY DỰNG CÁC TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ 96
6.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN ĐÔ TH 105
6.4 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH CẢI TẠO VÀ XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT .116
6.5 PHÂN ĐỢT XÂY DỰNG VÀ QUI HOẠCH ĐỢT ĐẦU 117
6.6.ĐIỀU LỆ QUẢN LÝ XÂY DỰNG THEO QUY HOẠCH 117
PHẦN NĂM 119
Trang 4QUY HOẠCH CHI TIẾT XÂY DỰNG 119
CÁC KHU CHỨC NĂNG ĐÔ THỊ 119
CHƯƠNG 7: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU Ở TRONG ĐÔ THỊ 119
7.1 KHÁI NIỆM VỀ KHU Ở ĐÔ THỊ 119
7.2 VỊ TRÍ VÀ CHỨC NĂNG CỦA KHU Ở TRONG ĐÔ THỊ 120
7.3 ĐƠN VỊ Ở ĐÔ THỊ 122
CHƯƠNG 8: QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG VÀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ 168
8.1 THIẾT KẾ QUY HOẠCH HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 168
8.2.QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ 201
CHƯƠNG 9: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU TRUNG TÂM ĐÔ THỊ VÀ HỆ THỐNG TRUNG TÂM DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ 211
9.1 KHÁI QUÁT VỀ KHU TRUNG TÂM VÀ HỆ THỐNG TRUNG TÂM DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ 211
9.3 QUI HOẠCH CHI TIẾT CÁC KHU CHỨC NĂNG TTPVCCĐT 247
CHƯƠNG 10: QUY HOẠCH KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHO TÀNG ĐÔ THỊ 251
10.1 QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP 251
10.2 QUY HOẠCH KHU KHO TÀNG 257
CHƯƠNG 11: QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 260
11.1.CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 260
11.2 NHỮNG QUY ĐỊNH TRONG QUY HOẠCH HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 263
11.3 CÁC HÌNH THỨC QUY HOẠCH HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 264
11.4 QUY HOẠCH CÔNG VIÊN VA CÁC HÌNH THỨC QUY HOẠCH CÂY XANH KHÁC TRONG ĐÔ THỊ 267
11.5 QUY HOẠCH CHỈNH TRANG HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 276
CHƯƠNG 12: THIẾT KẾ QUY HOẠCH CHI TIẾT ĐÔ THỊ 278
12.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN LẬP QUY HỌACH CHI TIẾT 278
12.2 NHIỆM VỤ CỦA QUY HỌACH CHI TIẾT 278
12.3 NỘI DUNG QUY HỌACH CHI TIẾT XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 285
12.4 CÁC NGUYÊN TẮC BỐ CỤC QUY HOẠCH KIẾN TRÚC 286
CHƯƠNG 13: QUY HOẠCH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 295
13.1 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CẢI TẠO ĐÔ THỊ TRONG VIỆC XÂY DỰNG CÁC THÀNH PHỐ 295
13.2 MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG QUY HỌACH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 295
13.3 NGUYÊN TẮC VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC QUY HỌACH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 296
13.4 NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC QUY HỌACH CẢI TẠO ĐÔ THỊ 296
PHẦN BỐN 299
HỒ SƠ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ CHƯƠNG 14: TRÌNH TỰ HỒ SƠ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 300
14.1 LẬP NHIỆM VỤ QUY HỌACH XÂY DỰNG VÙNG 300
14.2 LẬP NHIỆM VỤ QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 302
14.3 LẬP NHIỆM VỤ QUY HOẠCH CHI TIẾT XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 303
14.4 TRÌNH TỰ LẬP ĐỒ ÁN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 305
Trang 5PHẦN BẢY 330
CHƯƠNG 15: THIẾT KẾ ĐÔ THỊ 330
15.1 GIỚI THIỆU 330
15.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TKĐT 337
15.3.NỘI DUNG VÀ TRÌNH TỰ TKĐT 348
Trang 6PHẦN MỘT TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
1.1.ĐÔ THỊ VÀ ĐIỂM DÂN CƯ ĐÔ THỊ
1.1.1.Điểm dân cư đô thị
Loài người xuất hiện từ khoảng hơn 3 triệu năm, trong quá trình tiến hóa, lao động đã từng bước cải biến, hoàn thiện con người và tổ chức xã hội Thời kỳ đầu con người sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, lấy hang động làm nơi trú ẩn.Dần dần con người phát hiện ra lửa, hoàn thiện tiếng nói,không ngừng cải tiến công cụ lao động, nơi cư trú và hình thành tổ chức xã hội Con người từ chỗ phụ thuộc vào thiên nhiên, dần dần biết tận dụng và khai thác những yếu tố thiên nhiên dể tổ chức thành nơi cư trú cố định Nông nghiệp và chăn nuôi phát triển dẫn đến nhu cầu định cư, hình thức định cư đầu tiên là con người tập hợp những ngôi nhà đơn sơ gần nguồn nước, có hàng rào bảo vệ, xung quanh là khu vực canh tác, gọi là làng Khi sản xuất thủ công và trao đổi buôn bán phát triển tách khỏi và chi phối hoạt động sản xuất nông nghiệp thì hình thành các điểm dân cư đô thị Hình thức các điểm dân cư đô thị đầu
tiên của loài người hình thành khoảng
9000 năm trước Công Nguyên
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập
trung phần lớn những người dân phi nông
nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ,
có cơ sở hạ tầng thích hợp
Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm
tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành
của một vùng lãnh thỗ nào đó, có thể là
trung tâm của một quốc gia Điểm dân
cư đô thị là nơi tập chung hành chính của
địa phương và là nơi tập trung giao lưu
các bộ phận của sản xuất như đầu mối
giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất
công nghiệp tập trung…
Quy mô điểm dân cư đô thị được xác định dựa vào đặc điểm kinh tế của từng nước và
tỉ lệ phần trăm dân cư nông nghiệp của một đô thị Ở Việt Nam theo Thông Tư Liên Tịch số 02/ 2002 – TTLT -BXD –TCCBCP ngày 08/ 3/ 2002 của Bộ Xây Dựng quy định: Đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ hai điều kiện:
Về cấp quản lý:
-Đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
Trang 7Về trình độ phát triển:
Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ như: vùng lên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện;
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị;
Quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người / km2 (đối với các miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa và hải đảo có thấp hơn, nhưng phải đảm bảo tối thiểu bằng 70%)
Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành được căn cứ vào vị trí của đô thị trong vùng lãnh thổ nhất định Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm nội thành hay cội thị và ngoại ô hay ngoại thị Các đơn vị hành chính của nội thị bao gồm quận và phường, ngoại
ô gồm huyện và xã
Tỉ lệ lao động phi nông
nghiệp chỉ tính trong phạm vi
nội thị Lao động phi nông
nghiệp lao động công nghiệp và
thủ công nghiệp, lao động xây
dựng cơ bản, lao động giao
thông vận tải, bưu điện, tín
dụng ngân hàng, lao động
thương nghiệp và dịch vụ công
cộng, lao động trong các cơ
quan hành chính, văn hóa, xã
hội, giáo dục, y tế, nghiên cứu
khoa học và những lao động
khác ngoài lao động trực tiếp
về nông nghiệp
Cơ sở hạ tầng đô thị là yếu
tố phản ánh mức độ phát triển
và tiện nghi sinh hoạt của người
dân đô thị theo lối sống đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị gồm hạ
tầng kỹ thuật (Hệ thống giao
thông, điện, nước, năng lượng
thông tin, vệ sinh môi trường…) và hạ tầng xã hội (nhà ở, các công trình dịch vụ công cộng, văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, cây xanh giải trí,…) Cơ sở hạ tầng được xác định dựa trên chỉ tiêu đạt được của từng đô thị ở mức tối thiểu (Mật độ giao thông, chỉ tiêu cấp nứớc, điện, tỉ lệ tầng cao xây dựng,…)
Trang 8Mật độ dân cư là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị, nó được xác định trên cơ sở quy mô dân số nội thi trên diện tích đất đai nội thị
1.1.2.Một số khái niệm về qui mô đô thị trên thế giới
1.1.2.1Đại đô thị (metropolis)
Đại đô thị cũng gọi là khu vực đô thị, được hợp thành bởi thành phố chủ yếu (hạt nhân) và quần thể thành phố phụ cận Thành phố chủ yếu phát huy ảnh hưởng chủ đạo về kinh tế, xã hội”
Thành phố có trên 1 triệu dân Trung Quốc gọi là thành phố đặc biệt lớn (million city) Liên hợp quốc đã gọi những thành phố có trên 4 triệu dân là thành phố siêu hạng (super city)
Gần đây, các thành phố lớn có xu hướng bành trướng nhanh chóng ra vùng xung quanh, rất nhiều nước đã xuất hiện những khu vực tập trung hàng loạt thành phố Vì vậy, xuất hiện hai thuật ngữ: khu vực tập trung đô thị (urban agglomeration) và khu đại đô thị
(megalopolis)
1.1.2.2 Thành phố thế giới (World City)
Theo tài liệu nước ngoài, nhà thơ nổi tiếng người Đức Geothe là người đầu tiên đưa ra khái niệm thành phố thế giới (tiếng Đức là Weltstadt) Năm 1787, Geothe gọi Roma là thành phố thế giới, về sau, ông lại gọi Paris là thành phố thế giới Geothe gọi 2 thành phố trên là thành phố thế giới vì 2 thành phố này đã có ảnh hưởng văn hóa đặc biệt đối với thế giới phương Tây Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quá trình nhất thể hóa kinh tế thế giới được đẩy nhanh, một số đại đô thị thế giới phát huy vai trò ngày càng quan trọng đối với kinh tế thế giới Peter Hall, một nhà nghiên cứu nêu lên một số đặc trưng của thành phố thế giới như sau:
Trang 9Thành phố thế giới thường là trung tâm chính trị Thành phố thế giới không chỉ là nơi đóng trụ sở của các cơ quan nhà nước và chính phủ, mà cả các cơ quan, tổ chức thế giới Thành phố thế giới thường còn là nơi đóng trụ sở của các cơ quan đại diện, của các tổ chức có tính chuyên ngành, các xí nghiệp công nghiệp
Thành phố thế giới là trung tâm thương mại Các thành phố thế giới thường là những hải cảng quốc tế lớn, cảng hàng không quốc tế lớn; đồng thời là trung tâm tiền tệ và tài chính chủ yếu nhất của một quốc gia
Thành phố thế giới là trung tâm tập hợp các nhân tài Tại đây có các trường học, cơ quan nghiên cứu khoa học, thư viện quốc gia, viện bảo tàng, bệnh viện lớn và các cơ quan văn hóa, giáo dục, y tế khác; đồng thời, còn có các cơ quan báo chí, phát thanh, xuất bản
Thành phố thế giới là trung tâm tập trung dân cư đông đúc Thành phố thế giới hoặc khu tập trung đô thị có hàng triệu thậm chí hàng chục triệu dân
Thành phố thế giới là trung tâm văn hóa nghệ thuật
Thành phố thế giới phải là trung tâm chi phối kinh tế toàn cầu, cho nên nó phải có hai tiêu chuẩn sau:
Có mối quan hệ và liên kết với nền kinh tế thế giới ở một mức độ nhất định và dưới một hình thức nào đó, là địa bàn đặt trụ sở các công ty xuyên quốc gia, là cảng an tòan đầu tư của tư bản thặng dư quốc tế, là nơi sản xuất hàng hóa để đưa ra thị trường quốc tế, là trung tâm của hình thái ý
thức hệ
Phạm vi mà thành phố đó chi
phối phải là tòan cầu hay khu
vực
Nước Nhật đã chính thức sử
dụng thuật ngữ thành phố thế
giới vào năm 1987 và cho rằng
Tokyo với vòng cung Thái Bình
Dương có chức năng thành phố
thế giới
1.1.2.3 Thành phố toàn cầu (Global City)
Thuật ngữ “Thành phố toàn cầu” (global city) có nội dung tương tự với thuật ngữ thành phố thế giới Toàn cầu hóa kinh tế thế giới là hiện tượng chỉ mới được chú ý từ khoảng một nửa thế kỷ nay Năm 1981, R.B Cohen, nhà kinh tế Mỹ viết bài: “Sự phân công lao động quốc tế mới, công ty xuyên quốc gia và hệ thống đẳng cấp của thành thị” Trong bài này Cohen đã dùng từ “thành phố toàn cầu” Cohen cho rằng thành phố toàn cầu xuất hiện như là trung tâm điều hòa và chi phối mới đối với sự phân công lao động quốc tế Điều này chứng tỏ hai khái niệm: thành phố toàn cầu và thành phố thế giới có cùng một nghĩa
Trang 10H.1 Thành phố LonDon 1.1.2.4 Đại đô thị quốc tế (International metropolis), thành phố quốc tế
(International city)
Trong những nghiên cứu về đại đô thị quốc tế, cũng có trường hợp người ta sử dụng thuật ngữ đại đô thị thế giới (International metropolis) và thành phố quốc tế (International city) Nhưng nếu so sánh với thuật ngữ “Thành phố thế giới” thì nội dung của các thuật ngữ đại đô thị quốc tế và thành phố quốc tế không thật chặt chẽ Hai thuật ngữ này thường có nghĩa là những thành phố có những ảnh hưởng nhất định đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa quốc tế; trong khi đó, có khi chỉ có ý nghĩa là tính khu vực – một khu vực của thế giới So sánh đại đô thị quốc tế và thành phố quốc tế người ta thấy đại đô thị có dân số tương đối đông
Ví dụ Genève của Thụy Sĩ chỉ có hơn 30 vạn, vì vậy chỉ có thể gọi đó là thành phố quốc tế, chứ không thể gọi là đại đô thị quốc tế
Nói chung, đại đô thị phải có từ 50 vạn người trở lên Xét về ý nghĩa này, đại đô thị quốc tế chỉ là thành phố quốc tế có số dân đông hơn Ví dụ New York, Tokyo, London là
3 thành phố có số người đông nhất (tính theo mật độ dài đường kính của khu tập trung dân cư đô thị) trong các nước phát triển Vì vậy, trên thực tế, đại đô thị quốc tế là loại thành phố có đẳng cấp cao trong hệ thống thành phố quốc tế
1.1.3.Phân loại và phân cấp quản lý đô thị
1.1.3.1.Phân loại đô thị
Phân loại đô thị nhằm mục đích phục vụ cho công tác quản lý hành chính cũng như để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo tính chất quy mô và vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia
a Các yếu tố ảnh hướng đến phân loại đô thị:
Yếu tố 1: Chức năng của đô thị
Các chỉ tiêu thể hiện chức năng của một đô thị gồm:
Trang 11Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước
Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lí của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như: đô thị – trung tâm cấp quốc gia ; đô thị – trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị – trung tâm cấp tỉnh; đô thị – trung tâm cấp huyện và đô thị – trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện)
Ngoài ra, theo tính chất, một đô thị có thể là trung tâm tổng hợp hoặc trung tân chuyên ngành của một hệ thống đô thị Đô thị là trung tâm tổng hợp khi có chức năng tổng hợp về nhiều mặt như: hành chính – chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế (công nghiệp, dịch vụ, du lịch nghỉ mát), đào tạo, nghiên cứu, khoa học kỹ thuật, v.v… Đô thị là trung tâm chuyên ngành khi có một vài chức năng nào đó nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyết định tính chất của đô thị đó như: đô thị công nghiệp; đô thị nghỉ mát, du lịch; đô thị nghiên cứu khoa học, đào tạo; đô thị cảng; v.v… Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợpcủa một hệ thống đô thị vùng tỉnh, nhưng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị một vùng liên tỉnh hay của cả nước;
Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của đô thị:
Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của đô thị – trung tâm gồm:
Tổng thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng/năm không kể thu ngân sách của Trung ương trên địa bàn và ngân sách cấp trên cấp)
Thu nhập bình quân đầu người GNP/người/năm
Cân đối thu chi ngân sách (chi thường xuyên)
Mức tăng trưởng kinh tế trung bình năm (%)
Mức tăng dân số trung bình hàng năm (%)
Tỷ lệ các hộ nghèo (%)
Yếu tố 2: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao đông trong khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn thuôc các ngành kinh tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, khoa học, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, y tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lí nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp (lao động làm muối,đánh bắt cá được tính là lao động phi nông nghiệp)
Yếu tố 3: Cơ sở hạ tầng đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm:
Cơ sở hạ tầng xã hội: nhà ở, các công trình dịch vụ thong mại, công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, công viên cây xanh và các công trình phục vụ công cộng khác
Cơ sở hạ tầng hạ tầng kỹ thuật: giao thông, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, thông tin liên laic, vệ sinh và môi trường đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là đồng bộ khi tất cả các loại công trình Cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu
Trang 12Yếu tố 4: Quy mô dân số đô thị
Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên sáu tháng tại khu vực nội thành, nội thị xã và thị trấn
Yếu tố 5: Mật độ dân số
Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ảnh mức độ tập trung dân cư của đô thị được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị
b Phân loại đô thi
Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính Phủ, đô thị được phân loại như sau:
Đô thị loại đặc biệt
Đô thị loại đặc biệt phải đảm
bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Thủ đô và đô thị với chức năng
là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hoá, khoa học kỹ thuật, đào tạo,
du lịch, dịch vụ, đầu mối giao
thông, giao lưu trong nước và
quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế – xã hội của cả
nước ;
Tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp trong tổng số lao động từ
90% trở lên;
Cơ sở hạ tầng được xây dựng
về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh;
Quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên;
Mật độ dân số bình quân từ 15.000 người /km2 trở lên
Đô thị loại I
Đô thị loại I phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước;
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên;
Trang 13Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
Quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên;
Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người /km2 trở lên
Đô thị loại II
Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lãnh vực của cả nước;
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên;
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh; Quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên;
Mật độ dân số bình quân từ 10.000 người /km2 trở lên
Đô thị loại III
Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một số lãnh vực đối với vùng liên tỉnh;
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên;
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh; Quy mô dân số từ 10 vạn người trở lên;
Mật độ dân số bình quân từ 8.000 người /km2 trở lên
Đô thị loại IV
Đô thị loại IV phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh;
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 70% trở lên;
Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh; Quy mô dân số từ 5 vạn người trở lên;
Mật độ dân số bình quân từ 6.000 người /km2 trở lên
Đô thị loại V
Đô thị loại V phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
Trang 14Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một huyện hoặc một cụm xã;
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 65% trở lên;
Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ và hoàn chỉnh; Quy mô dân số từ 4.000 người trở lên;
Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người /km2 trở lên
1.1.3.2.Phân cấp quản lý đô thị
Phân cấp theo phân loại đô thi:
Các thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị đặc biệt hoặc loại 1
Các thành phố thuộc tỉnh phải là đô thị loại II hoặc đô thị loại II
Các thị xã thuộc tỉnh hoặc thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải là đô thị loại III hoặc đô thị loại IV
Các thị trấn thuộc huyện phải là đô thị loại IV hoặc đô thị loại V
Phân cấp theo nhu cầu quản lý hành chính Nhà nước theo lãnh thổ
Phân cấp theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển đô thị cả nước và quy hoạch chung xây dựng đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
1.1.3.Đô thị học
Đơ thị học được hình thành từ thuật ngữ la tinh URBS nghĩa là đô thị: là một khoa học và một nghệ thuật tổ chức chỉnh trang cấu trúc môi trường các hệ sinh thái phát triển của một đô thị tương đối độc lập hoặc nhóm đô thị (chuỗi, chùm, dải) trên một đơn vị lãnh thổ hoặc cả hệ thống đô thị trên một phạm vi một lãnh thổ liên vùng, một quốc gia hoặc liên quốc gia Đô thị học nghiên cứu đô thị với quan điểm: Đô thị như một không gian xã hội, đô thị về thực chất là một hiện tượng xã hội trong đó sự hình thành và phát triển của đô thị là do các dữ liệu kinh tế-địa lý quyết định và cấu trúc quy họach thì do các nhân tố
xã hội chi phối “Môi trường thiên nhiên – Con người – Môi trường nhân tạo” được tạo
lập Cấu trúc đô thị được coi như một hệ sinh thái hoàn chỉnh, một cơ thể sống có tính năng chuyển hóa vừa theo sinh học, vừa theo cơ học
Đô thị học mới xuất hiện trong vòng 20-30 năm gần nay mặc dù trước đó các nhà xã hội không tưởng đã từ lâu lưu ý đến khía cạnh xã hội của vấn đề đô thị và Le Corbusier là người đầu tiên vạch ra mối tương quan chặt chẽ giữa các yếu tố xã hội học đô thị và không gian kiến trúc Đô thị học ngày càng đuợc quan tâm và trở thành một bộ môn cơ sở của quy họach đô thị
Đô thị học có bốn chương trình nhiệm vụ chung:
-Tạo các nguồn lực kích thích tăng trưởng và lập thế cân bằng động hài hòa giữa các hệ sinh thái – phát triển trong cả quá trình đô thị hóa
Trang 151.2 CÔNG TÁC QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ
1.2.1 Khái niệm công tác quy họach đô thị
Quy hoạch xây dựng đô thị là một môn khoa học tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhân văn, địa lý, tự nhiên, kỹ thuậtt và nghệ thuật….nhằm xác định sự phát triển hợp lý của đô thị trong từng giai đoạn và việc định hướng phát triển lâu dài cho đô thị
1.2.2 Đối tượng và mục tiêu của công tác quy họach đô thị
Về mặt tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và mô trường đô thị Đối tượng của công tác quy họach xây dựng đô thị chính là đô thị Đó chính là tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và mô trường đô thị Quy hoạch xây dựng đô thị cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cụ thể hóa chiến lược phát triển đô thị quốc gia, đảm bảo quá trình đô thị hóa và sự phát triển các đô thị đạt hiệu quả cao về kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường
1.2.3 Nội dung, nhiệm vụ của quy hoạch đô thị
1.2.1.1.Tổ chức sản xuất
Quy hoạch đô thị đảm bảo phân bố hợp lý các khu vực sản xuất trong đô thị: Các khu vực sản xuất công nghiệp tập trung, các xí nghiệp công nghiệp, các cơ sở thủ công nghiệp và các lọai hình sản xuất đặc trưng khác.Quy hoạch đô thị cần giải quyết tốt các mối quan hệ giữa họat động sản xuất của các khu công nghiệp với bên ngòai và các họat động khác của các khu chức năng trong đô thị
1.2.1.2.Tổ chức đời sống
Quy họach đô thị phải góp phần tổ chức tốt cuộc sống và mọi hoạt động hàng ngày của người d6an đô thị, tổ chức hợp lý cơ cấu phân bố dân cư và sử dụng đất đai đô thị, tổ chức việc xây dựng các khu ớ, khu trung tâm và dịch vụ công cộng, khu giải trí nghỉ ngơi, việc di lại, giao tiếp của dân cư đô thị
Quy họach đô thị tạo môi trường sống trong sạch, an tòan, góp phần hiện đại hóa cuộc sống của người d6an đô thị, phụ vụ con người phát triển tòan diện
1.2.1.3.Tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường không gian đô thị
Quy hoạch đô thị phải xác định được hướng bố cục không gian kiến trúc, vị trí và hình khối kiến trúc các công trình chủ đạo, xác định tầng cao, màu sắc và một số chỉ tiêu cơ bản trong quy họach, nhằm can đối việc sử dụng đất đai phù hợp với điều kiện tự nhiên,
Trang 16điều kiện địa phương, tập quán và truyền thống của đô thị… Nhằm tạo cho đô thị moat hình thái đặc trưng và hình thái kiến trúc đẹp, hài hòa với thiên nhiên, môi trường và cảnh quan
1.2.2 Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị
Đồ án quy họach xây dựng đô thị là cơ sở pháp lý để xây dựng và quản lý đô thị, tiến hành công tác chuan bị đầu tư xây dựng cơ bản hàng name của đô thị và lập các kế họach ngắn hạn, dài hạn của các ngành, các địa phương
Theo Nghị Định 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 Chính phủ các đồ án quy họach xây dựng đô thị bao gồm quy hoạch vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị, quy họach chi tiết và đồ án thiết kế đô thị (là một phần của đồ án quy hoạch chi tiết)
Sơ đồ quy hoạch xây dựng vùng
Sơ đồ quy hoạch xây dựng vùng xác lập sự phân bố các lực lượng sản xuất, hệ thống dân cư đô thị và nông thôn trên phạm vi không gian lãnh thổ của một miền, một tỉnh hay một vùng của đô thị lớn
Quy hoạch chung xây dựng đô thị
Quy hoạch chung xây dựng đô thị xác định phương hướng cải tạo, xây dựng phát triển đô thị về tổ chức không gian và cơ cấu sử dụng đất đô thị, về cơ sở hạ tầng và mối quan hệ hữu cơ về các mặt bên trong và bean ngoài đô thị nhằm tạo lập môi trường và khung cảnh sống thích hợp cùng với các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác Đồ án Quy hoạch chung được nghiên cứu theo từng giai đoạn 15 – 20 năm cho dài hạn và 5 – 10 năm cho ngắn hạn
Quy hoạch chi tiết
Quy hoạch chi tiết cụ thể hóa ý đồ của quy hoạch chung xây dựng đô thị.Đồ án quy hoạch chi tiết phân chia và quy định cụ thể cơ cấu sử dụng đất đai cho từng khu chức năng, xác định chỉ giới xây dựng, phân rõ chức năng cụ thể và tỉ trọng xây dựng cho từng loại đất theo một cơ cấu thống nhất Nghiên cứu bố cục các hạng mục công trình xây dựng trong từng lô đất nhằm nêu rõ ý đồ về bố cục không gian kiến trúc quy hoạch
Đồ án thiết kế đô thị
Khái niệm Thiết Kế Đơ Thị được đề xướng vào những năm 50 thế kỷ trước, sau chiến tranh Thế Giới thứ 2 Tuy nhiên, trên thực tế, những nền mĩng đầu tiên của Thiết Kế Đơ Thị
đã được xây dựng từ thời đầu thế kỷ 20 ở Mỹ và châu Âu (Anh) Phải chờ đến khoảng năm
1960 - 1970 thì quan điểm Thiết Kế Đơ Thị và phạm vi của nĩ mới được nghiên cứu và thực hành một cách rộng rãi, trước tiên vẫn là ở Mỹ và lục địa châu Âu
Theo (Jon Lang, 2005), sở dĩ vai trị của Thiết Kế Đơ Thị được nâng cao vào thời điểm
này ở phương Tây là bởi hai lý do:
Nâng cao chất lượng mơi trường đơ thị và tiêu chuẩn sinh hoạt trước sự phát triển ồ ạt khoa học kỹ thuật, kinh tế kèm theo quá trình đơ thị hĩa
Tạo nên một sự liên kết chặt chẽ giữa các lãnh vực chuyên mơn bao gồm: Quy Hoạch Đơ Thị (Urban Planning), Kiến Trúc Cơng Trình (Architecture) Kiến Trúc Cảnh Quan (Landscape Architectute) và cả Kỹ Thuật Kết Cấu Hạ Tầng (Civil Engineering)
Trang 171.2.3.Một số phương pháp về quy họach đô thị đang được sử dụng trên thế giới
1.2.3.1.Phương pháp lập “kế hoạch truyền thống” kế hoạch hóa tập trung từ thời
Liên Xô cũ cho đến nay [1]
Thực hiện theo cấp quản lý bao gồm quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.Được xây dựng trên cơ sở các định hướng chiến lược phát triển chung của quốc gia kết hợp với điều kiện cụ thể của địa phương
Quy định thực hiện theo phương thức 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thành phố (Sở Kế họach - Đầu tư) gởi các dự báo, các mục tiêu tập
trung, nguồn vốn ngân sách và các nguồn huy động khác trong kỳ kế hoạch cho các quận, huyện và các sở, ngành liên quan đề xuất dự thảo kế hoạch gởi về thành phố
Giai đoạn 2: Các cơ quan tổng hợp (Sở Kế họach - Đầu tư) điều chỉnh kế hoạch tổng
hợp sau khi có các kế hoạch từ dưới lên và góp ý của các sở, ban, ngành đồng thời hướng dẫn cấp dưới điều chỉnh lại trình Uûy ban nhân dân Thành phố phê duyệt để làm căn cứ
lập kế hoạch chính thức và tổ chức triển khai
Khi chuyển sang thị trường theo chế độ XHCN, phương pháp lập kế hoạch truyền thống có nhiều hạn chế:Các danh mục đầu tư chủ yếu tập trung danh mục của từng sở, ngành chuyển lên xin để xét duyệt, mang tính chất đơn ngành, theo cơ chế “xin – cho”.Kế hoạch và chương trình đầu tư thiếu tính liên kết với các chương trình của các cơ quan cấp thành phố, không mang tính đa ngành, không có sự tham gia của đại diện cộng đồng Điều này gây phân tán, lãng phí vốn, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình đầu tư phát triển đô thị.Kế hoạch chưa bao quát được toàn bộ của nền kinh tế quốc dân trong mọi thành phần kinh tế đặc biệt là khu vực tư nhân, thường không có sự tham gia của đại diện các doanh nghiệp Các yếu tố xã hội và môi trường chưa được quan tâm đúng mức
vì vậy chất lượng và hiệu quả công tác kế hoạch hóa chưa cao.Việc phân bố ngân sách đầu tư cũng chưa hợp lý, tổng nhu cầu đầu tư thường vượt qua hạn mức ngân sách đuợc phân bổ trong khi các quận, huyện, sở, ngành luôn dành phần đầu tư cho mình, dẫn đến tình trạng có sự “thỏa hiệp” thiếu căn cứ khoa học, đầu tư phân tán, thiếu đồng bộ dễ dẫn đến lãng phí nguồn lực
1.2.3.2.Phương pháp phối hợp: Quy họach chiến lước hợp nhất (Integrated Strategic
Planning) và kế họach đầu tư đa ngành (Multi Sectoral Investment Planning) [2]
a) Quy họach chiến lược hớp nhất:
“Quy họach chiến lược” (Strategic Planning) ra đời ở Hoa Kỳ trong thập niên 1960 với nhiệm vụ hướng dẫn các tập đòan kinh tế, các công ty điều chỉnh tổ chức để cạnh tranh trong môi trường kinh doanh đang thay đổi mau chóng
Nó bị chi phối bởi các tậo đoàn kinh tế và các công ty ở Mỹ và Châu Aâungày càng gia tăng sự quan tâm làm thế nào để đối phó với sự cạnh tranh xuất phát từ Nhật Bản và Đông Á
Trong năm 1970, Quy họach chiến lược được các cấp chính quyền địa phương chấp nhận để cởi trói các ràng buộc đối với nền kinh tế quốc gia và để đáp ứng lại nhu cầu cần có sự hỗ trợ của chính quyền trong trong sự nổ lực cạnh tranh của công nghiệp sản xuất
Trang 18Trong thập niên 1980 quy họach chiến lược được cấp chính quyền trung ương, tỉnh, thành và địa phương đưa vào tiến trình phát triển đô thị để đảm bảo các quốc gia và các vùng có tính cạnh tranh hơn và sử dụng bền vững hơn các tài nguyên hạn hẹp ở các nước này
Tuy nhiên, nhiều quy họach chiến lược tiếp tục được sọan thảo không có sự tham gia đầy đủ của các ban, ngành, ngọai trừ có sự tham khảo tư vấn của các ban, ngành nhưng cũng rất hạn chế Do vậy khi vận dụng phương pháp quy họach chiến lược vào quản lý và phát triển đô thị cần phối hợp và hợp nhất (quy họach kinh tế xã hội, quy họach không gian và quy họach quản lý môi trường) và hình thành “Quy hoạch chiến lược hợp nhất”
Quy họach chiến lược hợp nhất không thể thay thế các quy hoạch kinh tế xã hội, quy họach mặt bằng và quy hoạch quản lý môi trường, quy họach chiến lược hợp nhất bao trùm lên các lọai quy hoạch nêu trên
Quy họach chiến lược hợp nhất là sự hớp tác về mặt tổ chức giữa Nhà nước, cộng đồng và tư nhân Điều đó là sức mạnh để huy động các nguồn lực và phối hợp hành động trên diện rộng, là công cụ quản lý của chính quyền đã thay đổi từ “lập quy hoạch thành phố” sang “ thành phố lập quy hoạch”
Quy họach chiến lược hợp nhất tìm ra các “mục tiêu quy hoạch” hội đủ các điều kiện phát triển bền vững
Trên cơ sở phân tích SWOT hiện trạng mạnh (strong), yếu (weaknesses) của môi trường bên trong (internal environment) hướng tới các mục tiêu quy họach để tìm ra “các chiến lược phát triển” đây là đầu ra của Quy họach chiến lược hợp nhất
Quy họach chiến lược hợp nhất có thể nói là giai đọan chuyển từ quy họach sang kế hoạch, từ quy hoạch đến các dự án đầu tư (không để quy họach treo), hậu quy hoạch hay tiền quy hoạch
b) Lập kế hoạch đầu tư đa ngành:
Kế hoạch đầu tư đa ngành là tiến trình phối hợp giữa các sở, ban, ngành để lập các dự án ưu tiên XDCB, nó giúp chuyển hóa các kế hoạch trung hạn và dài hạn thành kế hoạch đầu tư hàng năm
Đầu vào của kế hoạch đầu tư đa ngành là đầu ra của quy hoạch chiến lược hợp nhất là các chiến lược phát triển
Các chiến lược phát triển vạch ra cần chuyển thành các dự án để thực hiện các chiến lược đó, mỗi chiến lược có các dự án ứng với các chiến lược đề ra, tổng hợp dự án theo các chiến lược hình thành một danh sách dài (long list) các dự án, đó chính là kế hoạch trung hạn và dài hạn
Để kế hoạch mang tính hành động, thành phố cần xác định chiến lược nào trong số các chiến lược cần ưu tiên thực hiện, tương ứng với các chương trình và dự án đi kèm Có thể sử dụng phương pháp ma trận mục tiêu (Goal Achievement Method-GAM) định lượng, kết hợp với phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (định tính) để xác định các danh mục ưu tiên cho thành phố hình thành một danh sách ngắn (short list) kế họach xây dựng
cơ bản hàng năm
Trang 19“phương pháp nhiều thành phần tham gia” (Partnership Approach) là nội dung xuyên suốt CDS CDS là một quá trình nổ lực với sự tham gia cam kết từ cộng đồng của nhiều phía có vai trò nòng cốt (chính quyền địa phương, nhà kinh doanh, các nhóm cộng đồng dân cư v.v…) nhằm xác định những tồn tại và cơ hội của thành phố, các họat động ưu tiên, vạch ra cách tiếp cận hướng về tương lai và cùng nhau tham gia thực hiện các chiến lược họ đề ra một cách toàn diện
Kết quả của CDS là mối quan hệ sở hữu của “các bên tham gia” (Stakeholders) về quá trình phát triển kinh tế – xã hội và cương lĩnh chiến lược của thành phố, dựa vào đó đưa ra các quyết định phát triển, chương trình đầu tư và sự cam kết của các bên tham gia vào tiến trình này
Tiến trình CDS được chia làm 04 giai đoạn khác nhau, nhưng là các giai đoạn có mối quan hệ chặc chẽ và tăng cường cho nhau
Thực hiện, điều hành, phản hồi và điều chỉnh, quản lý các dự án theo kết quả đầu ra (Performance Management System – PMS)
1.2.3.4 Quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng.[4]
Trang 20Phương pháp quy hoạch truyền thống, trong đó tiêu biểu là các quy họach tổng thể, hiện nay thường bị phê phán là mang tính cứng nhắc, áp đặt, không dân chủ và thiếu sự tham gia của cộng đồng Nó dựa trên một giả định về một vấn đề của một nhóm các chuyên gia quy hoạch, thu thập và phân tích các dữ liệu có liên quan đến vấn đề này, đề
ra các mục tiêu, nhiệm vụ, xác định các phương án và giải pháp khác nhau để giải quyết vấn đề đó, dự tóan các chi phí, lợi ích, xác định các khó khăn, thuận lợi của mỗi phương án và chọn ra phương án tốt nhất
Từ quan điểm thực tiễn có thể có sự nhất trí rằng, bản quy hoạch tốt nhất phải thể hiện được sự mong muốn của người dân – một bản quy hoạch đáp ứng được những nhu cầu mà người dân cho là cần thiết đối với họ Cách tốt nhất để có được một bản quy hoạch như vậy là đảm bảo sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch Nếu chỉ có những nhà quy hoạch chuyên nghiệp tiến hành các khảo sát nghiên cứu và sử dụng kết quả nghiên cứu này để lập quy hoạch thì chưa đủ Trong nhiều trường hợp, để đảm bảo những gì mà người dân mong muốn được tích hợp vào trong quy hoạch, chỉ có một các duy nhất là đảm bảo cho họ được tham gia trực tiếp vào quá trình quy hoạch
Ơû hầu hết các nước phát triển, Chính phủ thường không đủ khả năng cung cấp nhà ở và các dịch vụ đô thị cơ bản cho người nghèo vì thiếu các nguồn lực Vì vậy, một điều bình thường là những người dân sống trong một cộng đồng đóng góp các nguồn lực của họ cùng với Chính phủ hoặc cố gằng tự tổ chức việc cung cấp các dịch vụ cho mình Ơû đây, sự tham gia của cộng đồng là một quá trình mà Chính phủ (chính quyền địa phương) và các cộng đồng dân cư cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các họat động để cung cấp các dịch vụ cho tòan cộng đồng
Vậy vai trò của nhà quy hoạch trong quá trình quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng là gì? Họ phải nghiên cứu các ý tưởng của cộng đồng, họ phải sẳn sàng đóng vai trò người hổ trợ, người tuyên truyền và người cùng thực hiện các họat động của cộng đồng Nhà quy hoạch phải coi cộng đồng và người lãnh đạo (đại diện) của nó không chỉ là khách hàng mà phải là một đối tác hòan chỉnh trong quá trình quy hoạch Đây là một yêu cầu hết sức mới mẻ so với các quan niệm về vai trò của nhà quy hoạch trong các cách làm quy hoạch trước đây, song nó lại là một định hướng cực kỳ quan trọng để đạt được mục tiêu của quy hoạch và đảm bảo lợi ích tối đa của cộng đồng
Những lợi ích từ cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng là rất to lớn cho dù buổi đầu nó chưa dễ được nhận Vào buổi đầu, sự tham gia của cộng đồng có thể tốn một số chi phí về thời gian và sức lực bởi vì cần có nhiều người tham gia vào quá trình quy hoạch và ra quyết định Tuy nhiên, nếu xem xét trong một quá trình lâu dài hơn, sẽ có thể tiết kiệm được những chi phí thực tế và các thành viên của cộng đồng, do nhận rõ quyền “sở hữu” (làm chủ) các dự án, họ sẽ duy trì sự tham gia của mình để đạt đến sự thành công Bên cạnh những lợi ích kinh tế là những lợi ích chính trị – xã hội trong một
cơ cấu tham gia rất mở cho tất cả mọi người, các thành viên cộng đồng sẽ được coi trọng hơn và sẽ hợp tác chặc chẽ hơn với các quan chức chính quyền trong quá trình quy hoạch Lợi ích này thậm chí càng lớn hơn cả lợi ích kinh tế vì nó đem lại sự ổn định chính trị cho tòan bộ hệ thống quản lý hành chính Chấp thuận và thực hiện cách tiếp cận tham gia này là đề cao phương pháp quy hoạch từ dưới lên, khác với phương pháp từ trên xuống vẫn được áp dụng trước đây
Trang 21PHẦN HAI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐÔ THỊ HÓA
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
2.1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THẾ GIỚI
2.1.1 Thời kỳ cổ đại
2.1.1.1 Sự hợp quần của xã hội loài người thời cổ đại
Các hình thái tổ chức quần cư ban đầu
Giai đoạn xã hội cộng sản nguyên thủy Loài người xuất hiện trên trái đất cách đây hơn 3 triệu năm Các nhà khảo cổ và nhân chủng học đã chứng minh con người đã lao động và từng bước hoàn thiện con người và tổ chức thành xã hội
Trong thời kỳ nầy trình độ sản xuất thấp kém, họ sống một cuộc sống di trú,hoàn toàn dựa vào tự nhiên Phương thức sản xuất lúc bấy giờ là: làm chung, ăn chung, xã hội không có giai cấp Trình độ tổ chức và phân công lao động thấp Dần dần con người phát hiện ra lửa, hoàn thiện ngôn ngử, cải tiến công cụ lao động, cải tiến tổ chức phân công lao động nơi cư trú và hình thức cai quản trong cộng đồng Yù thức tạo nên rào giậu để ngăn thú dữ đã tạo nên khái niệm đầu tiên về sự giới hạn một không gian cho một quần
cư thời kỳ văn minh đồ đá
Các yếu tố hình thành đô thị thời cổ đại
a.Yếu tố tự nhiên
b.Trình độ tổ chức xã hội
Triết lý tôn giáo
Chính trị
c Hình thái phương thức sản xuất
d.Phong cách sinh hoạt cộng đồng
2.1.1.2 Giới thiệu sơ lược một số đô thị
tiêu biểu
Đô thị nền văn minh Ai Cập cổ đại
Thành phố được xây dựng có mặt bằng hình chữ nhật Trung tâm là nơi tập trung những cung điện, dinh thự của các Pharaon, nơi làm việc của chính quyền, quân đội, nơi
ở của các quý tộc, chủ nô, ngoài ra còn có những khu vực đền thờ các thần Cách biệt với trung tâm thành phố là khu lăng mộ của các triều đại Paraon kế tiếp
LÀNG CAMERRUN CHÂU PHI
Trang 22Công trình: chủ yếu là các công trình lăng mộ – kim tự tháp và các đền thờ thần, xây dựng những công trình thủy lợi có quy mô lớn nhằm đối phó với úng lụt do dòng sông Nile
Đô thị nền văn minh Lưỡng hà
Đô thị là một pháo đài có tường thành
bằng đất và đất nung hoặc đất và gỗ bao
quanh hình tròn hoặc oval
Đô thị được hình thành dựa theo sự chỉ
đạo của các vì vua chúa và các nhà tiên tri
Hình dạng đô thị có hình oval hoặc tròn,
được bố trí:
Các công trình theo hướng ĐN - TB và
trục ngang TN - Đông
Cấu trúc các đường phố không rõ ràng
chủ yếu là đường nhỏ và hẻm cụt
Vị trí các công trình tôn giáo giữ vị trí
trung tâm và ngự trị trong khu vực riêng biệt
Các công trình trong đô thị có: đền thờ,
cung điện vua, tháp nhiều tầng
Đô thị nền văn minh Hy Lạp
Đường phố kiểu ô vuông (Hệ thống
Gridion)
Agora: Trung tâm chính trị, hành chính,
thương mại bao gồm: quảng trường, chợ, các
cửa hàng và sảnh hội họp (Exlechxyacteron)
sảnh hội đồng (Bouleuterion)
Acropole: sinh hoạt tinh thần tính ngưỡng
chiếm lĩnh địa thế cao Những Acropole nổi
tiếng nhất: Athène(Thời kỳ cổ diển) –
Pecgam (thời kỳ văn hoá Elen)
Đô thị nền văn minh La Mã
Việc tổ chức đô thị thường gắn liền với việc tổ chức
phòng ngự về quân sự:
Đô thị thường có tường thành bao quanh kiên cố
Việc phân khu vực trung tâm được thể hiện rõ rệt
từng khu chức năng sinh hoạt, các không gian chính ở
trung tâm được tổ chức bao quanh bởi những công trình
kiến trúc hoành tráng biểu thị quyền lực chính trị đương
thời
MẶT BẰNG THÀNH PHỐ KAHUN
MẶT BẰNG THÀNH PHỐ BABYLON VÙNG LƯỠNG HÀ MẶT BẰNG THÀNH PHỐ PRIENE HI
MẶT BẰNG TP TIMGAD ALGERIE
Trang 23Các trục định hướng của đô thị không bị chi phối bởi các quan niệm tôn giáo, không bị ràng buộc theo địa hìnhMỗi đô thị có 2 trục định hướng chính:
Trục Bắc Nam : trục Cardo
Trục Đông Tây : trục Decumanus
Dân cư phát triển theo từng ô vuông theo hình bàn cờ bám theo các trục chính và trung tâm sinh hoạt công cộng của đô thị, mỗi ô phố có kích thước từ 70X70m đến 150 mX150 Mật độ dân cư 250 – 500 ngươiha dân số từ 20.000 đến 100000 người
Đô thị nền văn minh Trung Hoa
Đô thị thường được bao bọc bỏi tường
thành cao xây gạch bên ngoài hào sâu
mang đặc trưng là thành lũy quân sự
Cấu trúc thường có 3 vòng tường thành
giới hạn từng khu vực cho 3 tầng lớp
trong xã hội phong kiến Trung quốc:
vua, chúa và hoàng tộc, quan lại và giới
sĩ phu, thứ dân và thành phần phục dịch
cho triều đại
Hình dạng đô thị: Vùng có địa hình
bằng phẳng (Hoa Bắc): mặt bằng tổ
chức theo hình vuông trục chính theo
hướng Nam- Bắc
Vùng có địa hình dốc hình dạng mặt
bằng được biến đổi thích nghi với địa
hình
Ví trí các đô thị mang tính chất chính
trị, quân sự thường được lựa chọn theo những nguyên tắc: địa thế hội đủ các yếu tố của thuật phong thủy
Trục chính hướng về chính Nam
Vị trí đảm bảo các yếu tố: trung tâm vùng kinh tế nông nghiệp, thuận tiện nguồn nước và giao thông thũy, đạt yêu cầu thế phòng ngự quân sự
Nghệ thuật xây dựng đô thị:
Trật tự theo nguyên tắc quy định của triết lý Nho giáo thể hiện mối tương quan trong xã hội phong kiến Trong đó, yếu tố chủ thế được tôn tạo ở vị trí tôn vinh vị trí độc nhất thể hiện quyền lực của thiên tử
Quy mô đô thị lớn, dân cư được tổ chức thành từng đơn vị có quản lý bởi hệ thống hành chánh rõ rệt
Hệ thống dịch vụ công cộng được quan tâm như một thành phần hữu cơ của đô thị
Cây xanh được quan tâm tổ chức thành quần thể đẹp phục vụ cho tầng lớp thống trị
2.1.2 Thời kỳ trung đại
MẶT BẰNG THÀNH TRƯỜNG AN TRUNG QUỐC
Trang 242.1.2.1 Những xu thế xây dựng đô thị ở Châu Âu giai đoạn trung thế kỷ
Thời Trung thế kỷ
Nét nổi bật của sự phát triển đô thị trong thời kỳ náy là: các đô thị lớn có lịch sử phát triển từ thời cổ đại, nhất là các đô thị thủ đô,dần dần được hồi sinh với sự tham gia tích cực của chính quyền phong kiến, của tôn giáo và của tầng lớp giàu có
Trong thành phố, các tổng thể kiến trúc độc lập có chức năng hành chính và tôn giáo được cải tạo hoặc xây dựng mới để trở thành hạt nhân trung tâm.Ngoài ra, thành phố còn được tổ chức theo phường hội thủ công chuyên môn hoá Ngoài cùng là vòng thành luỹ, hào nước bảo vệ Số lượng nhiều hay ít các phường nghề và vòng thành kế tiếp nhau phụ thuộc vào sự phát triển và độ lớn của đô thị
Đồng thời một loại đô thị là trung tâm kinh tế thương mại được hình thành và phát triển ở những vị trí thuận lợi(đường biển hoặc đường bộ) Các trung tâm kinh tế này có vai trò quan trọng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển trên nền tảnhợp nhất sản xuất thủ công dưới hình thức công trường thủ công và là tiền đề cho xã hội tư bản sơ khai hình thành ở gian đoạn sau
Thời kỳ phục hưng
2.1.2.2 Giới thiệu sơ lược một số đô thị tiêu biểu
Thành phố Carcassonne – Thành Montapzier
Thành Vienne
Thành phố Karlsruhe
2.1.2.3 Những đặc điểm chung của đô thị thời kỳ trung đại
2.1.3 Thời kỳ cận đại
2.1.3.1 Cuộc cách mạng công nghiệp và vấn đề đô thị
Cuộc cánh mạng khoa học kỹ thuật và sự biến đổi xã hội đô thị
Sự cải tiến công cụ trong sản xuất, phương tiện giao thương giữa các cộng đồng dân cư của nhiều nền văn minh khác nhau đã kích thích sự phát triển hàng hoá và thương mại tạo ra những tiền đề cho sự ra đời phương thức sản xuất mới ra đời: phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa
Sự ra đời của những cổ máy hơi nước, cùng những cách tân trong phương pháp luyện kim là những sự kiện quan trọng đối với loài người Nó đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình thay đổi hình thài mới của xã hội Xã hội tồn tại và phát triển với công cụ sản xuất mới không còn dựa hoàn toàn vào sức người, súc vật xã hội với con người hoạt động bên cạnh những cổ máy có sức mạnh gấp nhiều lần ngựa và người, Xã hội của nền công nghiệp sản xuất hàng hoá
Chánh sách cai trị độc đoán của nhà nước phong kiến hậu kỳ và quan niệm khắt khe, cấm đoán của các luật lệ nhà thờ của đạo Cơ đốc giáo đã kiềm hảm phát triển xã hội Tất cả những hiện tượng xã hội ấy đã tạo nên mầm móng cho luồng tư tưởng mới ra đời như:
STUS WELBY NORTHMORE PUGIN: (1812-1852)
Trang 25HN RUSKIN: (1819-1900)
LLIAM MORRIS:(1834-1896)
2.1.3.2 Những quan niệm tổ chức xã hội đô thị
Quan niệm của các nhà xã hội không tưởng về mô hình đô thị mới
Xã hội tư bản thời kỳ phôi thai ở Châu Aâu đã tạo ra bước đột biến về sản xuất, bên cạnh đó sự chuyển dịch lao động một cách ồ ạt vào trung tấm đô thị sự rối loạn cấu trúc và không gian trong lòng các đô thị lớn ở Anh ; Pháp, Đức Những xưỡng máy, xóm thợ mọc lên hổn độn Tình trạng thợ thuyền bị bóc lột thậm tệ sức lao động, bên cạnh cuộc sống tồi tàn, tăm tối nghèo đói bẩn thỉu ở đô thị đã là tai họa cho đô thị
Những hình ảnh ấy đã gây nên những ấn tượng sâu sắc và cũng là tiền đề cho các lý thuyết về đô thị lý tưởng của các nhà xã hội học đương thời
Mô hình Thành phố lý tưởng:
Thomas Moore (người Anh) đã đưa ra quan niệm xây dựng thành phố lý tưởng trong tác phẩm “không tưởng” (Utopia) Lý thuyết ấy đặt trên những nguyên tắc cơ bản sau: Xã hội công bằng tuyệt đối về hình thức sinh hoạt
Một trật tự, đồng nhất trong cấu trúc không đô thị
Cấu trúc thành phố lý tưởng của Moore:
Mặt bằng đô thị hình vuông với 4 ô phố và một chợ ở trung tâm
Qui mô dân số trong đô thị: 6.000 gia đình, mổi gia đình 6 - 16 ngườitrang phục, sinh hoạt đồng nhất nhau, chỉ có sự khác nhau để phân biệt với tính, và tình trạng độc thân hoặc có gia đình
Thành phố là tập hợp của 50 đô thị đồng nhất nhau về quy mô cấu trúc và kiểu cách sinh hoạt
Cấu trúc thành phố lý tưởng của Robert Owen: 1896 Owen đã đưa ra mô hình của đô
thị lý tưởng nửa đô thị nửa nông thôn với cấu trúc
Mặt bằng hình vuông tiếp 1200 người với diện tích 1000 - 1500 ha đất
Nhà ở được sắp xếp ghép thành 1 hình vuông tập trung vào một quảng trường trung tâm Ba phía của hình vuông là nhà ở hộ gia đình, 1/4 còn lại dành cho trẻ em dưới 3 tuổi
Bên trong các ô vuông là các công trình công cộng gồm có: Nhà ăn, nhà bếp, trường học, thư viện, y tá, và nhà khách
Nhận xét: - Owen đã có xuất về một cấu trúc hợp lý cho một đơn vị đô thị 1200 người (800 người hợp lý)
Các nhu cầu phục vụ bản cho 1200 người đã được đề nghị: cho một cuộc sống con người trong đô thị hoạt động trong các nhà máy là:
Chăm sóc trẻ
Việc học tập của đối tượng chưa tham gia lao động
Trang 26Các sinh haọt văn hóa mở mang kiến thức
Nhu cầu thương mại và giao tiếp với những người ngoài đô thị
Thành phố lý tưởng của Charles fourrier:
Tính chất hợp tác sản xuất của cộng đồng và tập thể hóa các nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng
Mô hình của fourrier gồm:
Mổi Phalanstere gồm 400 gia đình khoảng 1600 người
Sinh hoạt nấu ăn tập thể hóa với một bếp chung
Mỗi đô thị gồm 3 encemte (Vòng đường thành):
Vòng thứ nhất: Trung tâm đô thị
Vòng thứ hai: Vùng ngoại ô và các công xưởng, nhà máy
2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VIỆT NAM
2.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các đô thị cổ việt nam
Địa lý – tự nhiên - Văn hoá – lịch sử
Việt Nam trải dài trên bờ biển Đông Nam Châu Á Núi, rừng chiếm 3/4 diện tích phân bổ không đều (ở miền thượng du Bắc bộ & trung Trung bộ) Do hình thể kéo dài, Việt Nam chia 3 vùng khí hậu rõ rệt: đồng bằng, Trung du và vùng núi, mỗi miền có đặc thù khí hậu và kinh tế khác biệt
Các bộ tộc đầu tiên của người Lạc Việt đã định cư miền Trung du Bắc bộ cách đây hơn 4.000 năm
thế kỷ thứ III TCN Có sự hợp nhất các bộ lạc người Lạc Việt thành nước Văn Lang đứng đầu là vua Hùng kinh đô ở miền Lâm Thao,Phú-Thọ
Trên dãy đất hình chữ S cùng tồn tại 3 quốc gia chịu ành hưởng của 2 nền văn minh: Người Lạc Việt có nền văn hoá lâu đời là nền văn hoá Đông Sơn nổi tiếng từ 2.000 năm TCN thế kỷ thứ 2 TCN phong kiến Trung Quốc xâm lược đến thế-kỹ X SCN chịu ảnh hưởng luồng văn minh Phương Bắc của Trung-Hoa thông qua 1.000 năm đô hộ Người Champa và Phù Nam chịu ảnh hưởng nền văn minh Aán độ
Triết lý phương đông và những ảnh hưởng đến cấu trúc đô thị
Do ảnh hưởng hơn 1000 năm đô hộ từ phương Bắc do vậy không tránh khỏi sự xâm nhập văn hóa từ Trung Quốc:
Việc điều hành xã hội của nhà nước phong kiến Việt Nam theo những nguyên tắc của nho giáo Khổng giáo do Khổng tử sáng lập từ thế kỷ VI-V TCN vào đất Giao Chỉ cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ X Khổng giáo bắt đầu củng cố vĩ trí, xuất hiện tầng lớp sỉ phu làm nồng cốt cho sự phát triển nhà nước, tại trung tâm các đô thị và các điạ phương cho xây dựng các văn miếu và văn chỉ, trường học dạy học các con em giới quan lại
Trang 27Lão giáo: là triết thuyết của giai cấp thất sũng trong xã hội phong kiến Nội dung triết
thuyết thể hiện tư tưởng bi quan, yếm thế thối thoát trách nhiệm đối với thực tại Thuật và thuyết trường sinh bất tử,tu tiên, tường số bói toán, phong thủy, tử vi đi vào cuộc sống thường ngày: lể bái qủy thần, chọn ngày lành tháng tốt, bói toán
Tín ngưỡng ảnh hưởng của phật giáo
Đạo Phật: xuất xứ từ vương quôc Capilavastu, miền biên giới Nêpal từ thế kỷ VI trước
công nguyên Đạo Phật ra đời thể hiện sự phản ứng trước một xã hội độc đoán nhiều đẳng cắp của BàLaMôn Xuất phát từ triết thuyết “khuyến thiện, răn ác”, “cải tà quy chính”, “bình đẳng, nhân từ vị tha đã đi sâu trong lòng nhân dân Việt Nam và đi vào giai cấp cầm quyền thời Nhà Lý (thế kỷ X) đến đời đầu nhà Trần (đời nha Lý, Lý Thánh Tôn lập ra phái Thảo đường (thiền - tu tại gia), đến đời Trần Phật giáo chia nhiều môn phái như phái Trúc Lâm, Tam Tổ do Trần Nhân Tong khởi xướng
Aán giáo: truyền bá rộng ở vùng Đông Nam Á dđi vào Trung phần Việt Nam vào thế
kỷ II SCN trong vương quốc Chapa Người Champa tôn thờ các vị thần sơ khai của nền văn-minh Aán Độ đứng đầu là Indra (vị thần đứng đầu của các vị thần) Họ tôn thờ các thần Aán giáo bộ ba gồm: Siva, Brahma, Visnu và tiếp thu scác triết thuyết của phái đại thừa
a.Thời kỳ sơ khởi hình thành đô thị:
Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ từ 500 TCN tại vùng Việt Trì đã hình thành các trạm dịch của người Việt cổ ở giao lộ của Sông Đà, Sông Hồng, sông Lô đóng vai trò là trung tâm hình chính, kinh tế của nước Văn Lang Bên cạnh đó sự giao lưu văn hoá với nền văn minh Đông Á (Trung Quốc) và Nam Á (Aán Độ) cũng đã kích thích sự phát triển kinh tế với sự hình thành các “đô thị cảng” ở Đông Dương và Đông Nam Á, đồng bằng sông Hồng nơi giao hội của Sông Thương, Sông Cầu và Sông Lục Nam từ thế kỷ VII - III TCN đã hưng thịnh nhờ giao tiếp các cộng đồng nội điạ Châu Á và các miền ven biển Đông và các đảo nhỏ vùng Đông Nam Á
Thế kỷ II TCN-XSCN dưới thời nhà Hán (111.TCN) các đô thị cổ lớn như Luy Lâu (Thuận Thành - Hà Bắc),Tống Bình (Long Biên- Đại La - Hà Nội), Lạch Trường (Thanh Hoá) đã được hình thành các Trạm Dịch thu mua sừng tê, ngà voi, lông trả, đồi mồi, quả nhiệt đới bằng đường thủy về Trung Quốc,
b Thời kỳ phong kiến:
Khi nước Đại Việt giành lại chủ quyền các đô thị ban đầu được hình thành trên cơ sở các trung tâm chính trị và quân sự do vậy kinh thành có nhiệm vụ phòng thủ về quân sự và là nơi đôøn trú của các vua chúa Nó đóng vai trò chủ đạo của cả nước hoặc trung tâm của vùng dân cư
Nền giao thương trên sông,biển vẫn phát triển do vị trí điạ lý của Việt Nam (thế kỷ thứ 11-16) đã duy trì một số đô thị trạm dịch thương mại thuần túy như: Phố Hiến (Hải Hưng), Hội An, Gia Định, Oác Eo
c Thời kỳ phong kiến Pháp thuộc:
Chánh sách chia nhỏ để cai trị, phân tán qui mô dân số trong các đô thị tạo thành mạng lưới đô thị hành chính nhỏ “lỵ sở” kèm theo cơ sở đồn trú quân sự của Pháp rải đều trên các miền cuả đất nước với hệ thống hạ tầng trong đô thị nghèo nàn Sự phân
Trang 28cách ý thức hệ chính trị của hai vùng đô thị và nông thôn đã tạo nên sự phân biệt lối sống đô thị và nông thôn, kiểu sống đô thị tiếp cận văn hoá Tây Phương đã hình thành tầng lớp mới trong xã hội đô thị Việt Nam
Hình thức mới về phong cách xây dựng đô thị của người Pháp đã mang cung cách nền văn minh Hy-La vào xã hội phong kiến nông nghiệp nhỏ phương Đông tạo nền những đô thị mới có qui hoạch cho những ý đồ biến nơi dây thành thuộc địa lâu dài của nguời Pháp
Tổ chức xã hội và cấu trúc quần cư nông thôn và thành thị
Chánh sách trọng sĩ coi thường công thương nghiệp,(chính sách “dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt” bảo tồn nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp của nhà nước phong kiến đã làm hạn chế sự phát triển của các đô thị Đô thị phần lớn dưạ vào các trung tâm chính trị-hành chính, kết hợp với tổ chức đồn trú tạo nên hạt nhân “thành” Một bộ phận cung cấp dịch vụ cho thành phần trong “thành” tạo ra những điểm thương mại (chợ, phố chợ) hoặc các phường của các hiệp thợ thủ công (vưà sản xuất vừa bán hàng) tạo nên thành phần
“thị” được cấu trúc bên cạnh “thành”
Quan niệm Nho giáo ảnh hưởng trong một cấu trúc tổ chức quần cư của nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp trong khuôn phép của gia tộc, bản điạ đã hình thành nên đơn vị
ở theo hình thức làng bản cổ truyền tạo nên nếp nghĩ giới hạn không gian và sự giao tiếp với các cộng đồng bên ngoài làm chậm biến đổi hình thái sản xuất và mang cùng tính bảo thủ với xu thế của triều đình phong kiến Tính chất đặc thù ấy đã giới hạn qui mô đô thị cổ Việt Nam đồng thời tính chất đô thị luôn có mối quan hệ chặt chẻ với nông thôn Nếp sống trong đô thị bao giờ cũng mang âm hưởng của nông thôn làng bàn
Nguyến tắc tổ chức mặt bằng:
Có tường thành bao bọc chung quanh:
Vòng ngoài: kinh thành thị dân - nơi ở của thị dân và thợ thủ công
Hoàng thành: nơi ở của các quan lại
Vòng trong cùng: cấm thành - nơi làm việc của Vua và sinh hoạt của Hoàng tộc Các đô thị cổ Việt Nam thường có 3 kiểu bố cục cơ bản đó là:
Mật bằng bố cục theo tự nhiên dựa vào địa hình sông núi để xây dựng các tường thành thuận lợi cho việc phòng thủ như thành Cổ Loa, thành Hoa Lư
Mặt bằng bố cục theo hình vuông chữ nhật hoặc đa giác, đó là những đô thị được xây dựng từ thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 17 trong bối cảnh lịch sử nền độc lập tự chủ của đất nước khá bền vững
Mặt bằng được xây dựng phỏng theo kiểu Vauban của Pháp được hình thành vào thế kỷ thứ XVIII gồm có các đô thị như: Sài Gòn (1790), Huế (1805), Hà Nội (1804) Những khi du nhập vào nước ta kiểu Vauban này cũng được cải biên xây dựng theo hình 4 góc những chỗ tường thành lồi ra và lõm vào được tạo ra những vọng gác và ụ súng
Với 3 hình thức đó về quan niệm chọn vị trí xây dựng đô thị đều được các vua Việt Nam tuân thủ theo thuyết phong thủy:
Tiền án: Có núi cao chắn phía trước trục chính ở Hướng Nam
Trang 29Phía trước là một minh đường: sông, hồ nước lưu thông tốt
Hậu chẩm: khu núi đồi che chắn phía sau
Tả: thanh long
Hữu: Bạch hổ
Thuyết phong thũy được các vua, quan dưới các triều đại phong kiến Việt Nam và trong nhân dân quan tâm trong xây dựng nhà cửa, cung điện, lăng mộ nhằm mong muốn hậu vận được tốt đẹp
2.2.2 Các đô thị tiêu biểu
Thành Cổ Loa
Cổ Loa nằm cách Hà Nội 17 km là Kinh đô nước Aâu Lạc thời An-Dương-Vương, được xây dựng từ thé kỷ thứ III TCN là một đô thị cổ nhất Việt Nam.Với ý đồ tạo thế chiến lược phòng ngự về quân sự để bảo vệ một nhà nước non trẻ, nên vị trí được chọn lựa nằm trong một khu vực có địa thế cao, hiểm trở có nhánh sông Hoàng cửa sông chạy quanh phía Nam xen giữa các gò đống ngỗn ngang, hồ lớn, đầm lầy, ruộng trũng tạo thế chiến lược phòng thủ theo kiểu đánh du kích để đối phó thế lực hùng mạnh tấn công từ phương
xa đến
Thành đắp bằng đất và có bố cục theo kiểu 3 vòng thành: 2 vòng ngoài theo kiểu trôn ốc, vòng trong hình chữ nhật hướng Nam Vòng ngoài chu vi 8km, vòng giữa có chu vi dài 6,5km và vòng trong dài 1,6km thông ra ngoài bằng các cửa thành ngoài mở 4 cửa Đông, Nam, Bắc và Tây Nam Thành giữa mở 5 cửa: Nam, Bắc, Tây Bắc, Tây Nam và cửa cống phía Đông thông sang đầm cả Thành trong chỉ mở 1 cửa về phiá Nam Thành cao trung bình 12m, chân thành rộng 20m, mặt thành rộng 8-10m Quanh tường thành trong có đắp 18 ụ đất nhô ra phía ngoài gọi là quả hồi, bên ngoài mỗi vòng thành có hệ thống rộng 30m nối liền với hệ thống sông Tây Nam và đầm cả ở phía Tây Nam là căn cứ thủy quân
Kỹ thuật xây thành khá tiến bộ, ở chân thành và toàn bộ hai mặt thành trong được kè đá vũng chắc chống sụt lở và ở một số đoạn phiá trên lớp đá kè còn được rải những lớp gốm ở độ cao khác nhau để phòng mưa lũ
Rõ ràng Cổ Loa biểu thị một quan niệm của ông cha ta về đô thị lúc bấy giờ: nời đồn trú quân của lạnh chúa
phong kiến và tường
thành chống giặc ngoại
xâm Cổ Loa là một
công trình phòng ngự rất
kiên cố vừa kết hợp
được bộ binh với thủy
quân thể hiện tài năng
sáng tạo của người Việt
thời xưa
KINH ĐÔ NƯỚC
ÂU LẠC
Trang 30Phía Bắc là cánh đồng rộng lớn có sông Hoàng chảy qua làm thành một chiến hào án ngữ từ xa Đồng thời cũng là mạch giao thông đường thủy liên hệ thuận tiện với các miền trong nước
Bằng mười đoạn thành nhân tạo nối liền các dãy núi đá vôi lại với nhau tạo thành 2 vòng thành khép kín đứng cạnh nhau với diện tích tổng cộng khoảng 300 hécta Trong đó vòng ngoài, phía Đông chiếm 140 ha và vòng trong phía Tây có diện tích gần tương đương Mỗi vòng thành gồm có 5 đoạn tường nhân tạo đắp bằng đất nhân tạo hiện nay vẫn dễ dàng nhận thấy Đoạn thành Dền là đoạn dài nhất tới 500m và đoạn thành Bim là đoạn ngắn nhất chỉ có 65m Sự liên hệ giữa hai khu thành qua mộ vách núi gọi là “quèn vòng”
Nằm trên dãy đất lầy lội dễ lún nên kỹ thuận xây dựng rất được chú ý: móng tường sâu trải lót cây cành với đất đắp, có đoận đóng cọc Chân tường có kê đá tảng để đóng cọc Chân tường có kê đá tảng và đóng cọc gỗ lớn chồng chéo Thân tường phía trong có xây gạch dày 0,45m kích thước gạch 30x16x4cm
Trong thành phía Đông là các cung điện của Vua hiện nay có đền và lăng của vua Đinh và Lê là những kiến trúc đời sau này
Cái đặc sắc cùa Hoa Lư là ông cha ta đã dựa vào thế núi sông hiểm trở để xây dựng lấy đế đô của mình, trung tâm của nhà nước Đại cồ Việt độc lập tự chủ sau nghìn năm đô
MẶT BẰNG THÀNH CỔ LOA
Trang 31hộ phương Bắc
Thành Thăng Long
Thủ đô nước Đại Việt thế kỷ thứ XI, thực hiên theo chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ
Bố cục 3 vòng thành:
Kinh thành còn gọi là la-thành: chức năng phòng ngự, ngăn lụt Bên trong dân cư mua
bán, thợ thủ công,gia đình binh sĩ tổ chức thành 61 phường và một số chợ
Hoàng thành xây dựng bằng gạch, mở 4 cửa: Nam = Đại Hưng, Bắc = Diệu Đức,
Quảng Đức = Tây, Tây = Tường phù
MẶT BẰNG THÀNH HOA LƯ
Trang 32Cấm thành: hình chử nhật nằm lệch phía đông của khu Hoàng Thành, bên trong phân chia làm nhiều khu vực nhỏ khác nhau Cấm thành xây bằng gạch mở ra 2 cửa: cưả Nam
= Đoạn môn, Tây ở phiá Tây Bắc gọi là cửa hậu
Thăng Long được xây dựng thời Lý Thái Tổ, Triều Lê dổi tên là Đông Đô có tu sưả, mở rộng thành Đại la và Hoàng thành với bố cục hình L Năm 1831ø Đông đô không còn là Thủ đô biến thành thủ phủ của 11 trấn thành Bắc Hà 1831 vua Minh Mạng đổi tên Đông Đô thành Hà Nội Năm 1804 Gia Long cho xây dựng Hà Nội theo kiểu Vauban của Pháp có dạng hình vuông nhọn 4 góc và tường Zíc-zắc Thành cao 4 m dày 16 m, bên ngoài có hào sâu rộng 16 m chu vi 16 km mở ra bởi 5 cửa trên mỗi cưả đều có vọng gác
Thành Tây đô
MẶT BẰNG THÀNH THĂNG LONG
Trang 33Tây Đô kinh đô nước Đại Nghiêu do Hồ Qúy Ly lập năm 1397 Tây Đô được xây dựng trong một vịtrí hiểm trở phù hợp với tính năng phòng thủ quân sự: Bắc dựa vào núi Voi, Nam: núi đốn chắn lối, Tây: núi Hắc khuyển và dòng sông Bái chạy quanh bao bọc Thành xây dựng hình chữ nhật: 900 x 700 m, toàn bộ mặt ngoài ghép đá khối 2mx1x0,7 m ; chiều cao thành 6m, bề rộng mặt trên thành: 4m
Mặt chính của Thành quay vế hướng Nam, có 4 cổng xây bằng đá trên có xây dựng các vọng lâu
Bên trong thành được qui hoạch thành các khu vực khác nhau có đường đi lát đá, ngoại thành là làng phố của thị dân và thợ thủ công Với 7 năm trị vì nhà Hồ chư a đủ thời-gian củng cố, phát triển Tây đô trở thành đô-thị sầm uất
Kinh thành Huế
Quan niệm bố cục quy hoạch:
Chọn lựa vị trí theo thuyết phong thủy: phối hợp các yếu tố thiên nhiên điạ hình nhằm hướng tới sự tồn tại hưng thịnh lâu dài cho triều đại và quốc gia.ï 5 yếu tố:
Minh đường: mặt nước lưu
chuyển: sông Hương thể hiện sự
trường tồn vỉnh viển theo dòng thời
gian
Tiền án: núi cao chắn phiá trước
Tả thanh long: cồn dã viên
Hữu bạch hổ: cồn hến
Hậu chẩm.: vùng đồi núi cao
trùng điệp phiá sau
Trật tự tổ chức sắp xếp các công
trình theo quan niệmNho giáo: tập
trung vào một giềng mối thể hiện
thống nhất theo trục trung-tâm của
mặt bằng tổng thể
Vị trí bố cục các công trình bên
trong được xác định theo quan niệm
một trật tự của xã hội phong kiến
treo triết thuyết Nho giáo
Nguyên tắc định hình cho từng
cấu trúc bên trong của các bộ phận,
thành phần theo dịch học Sự phối
hợp về trật tự của các thành phần
theo luật âm-dương, ngũ hành
phối hợp để đạt cung mệnh tốt nhất
Trang 34KINH THÀNH HUẾ
Trang 35CHƯƠNG 3: ĐÔ THỊ HÓA VÀ HỆ QUẢ CỦA ĐÔ THỊ HÓA
3.1 KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ THỊ HÓA
3.1.1 Đô thị hóa là gì?
3.1.1.1Định nghĩa Đô thị hoá
Đô thị hoá (Urbanization) được định nghĩa là sự mở rộng của đô thị, là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống Khái niệm về đô thị hoá rất đa dạng, bởi vì đô thị chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển Các nhà khoa học xem xét và quan sát hiện tượng đô thị hóa từ nhiều góc độ khác nhau
Quá trình đô thị hoá là quá trình công nghiệp hóa đất nước Vì vậy cũng có người cho rằng đô thị hoá là người bạn đồng hành của công nghiệp hóa Quá trình đô thị hoá cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị
Có hai tỷ số biểu hiện sự đô thị hoá là mức độ đô thị hoá và tốc độ đô thị hóa Tốc độ đô thị hoá là tỷ lệ tăng dân số đô thị theo thời gian Mức độ đô thị hoá là tỷ lệ phần trăm giữa dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của 1 vùng hay khu vực hay của toàn vùng Tỉ lệ dân số đô thị được coi như thước đo đô thị hoá để so sánh mức độ đô thị hóa giữa các nước với nhau hay giữa các vùng khác nhau trong cùng một nước
Sự tăng trưởng dân số đã có ảnh hưởng rõ rệt lên sự phát triển đô thị Ngày trước một đô thị có tỷ lệ dân số cao sẽ có mức độ phát triển đô thị cao Tuy nhiên, điều này đã thay đổi theo mức độ và tốc độ phát triển kinh tế Vì vậy, tỉ lệ phần trăm dân số đô thị không phản ảnh đầy đủ mức độ đô thị hóa của nước đó Ngày nay, với nền kinh tế phát triển, đô thị và công nghiệp hóa đất nước đã ổn định ở các nước phát triển và phát triển cao Chất lượng đô thị hóa được phát triển theo chiều sâu Đó là việc nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế tối tiểu những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hóa nhằm hiện đại hóa cuộc sống và nâng cao chất lượng môi trường đô thị
3.1.1.2 Nhận thức về đô thị hóa (urbanization)
Tích cực: Đô thị hóa được tiến hành cùng với quá trình công nghiệp hóa.Vì vậy, đô thị hóa có ý nghĩa là sự phát triển của đô thị ngày càng lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao Quá trình “đô thị hóa nông thôn” là một mục tiêu chiến lược trong định hướng phát triển quốc gia nhằm thúc đẩy các khu vực phát triển, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và mức sống
Tiêu cực: tuy nhiên, quá trình đô thị hóa cũng đã để lại nhiều hệ quả cho môi trường đô thị Sự phát triển đô thị hóa quá mức vượt khỏi tầm kiểm sóat đã để lại những tác động không tốt cho đô thị Nói đến đô thị hóa, ở một khía cạnh nào đó, sẽ làm ta liên tưởng đến sự phá họai môi trường tự nhiên, tăng ô nhiễm, dân số đông đúc và dẫn theo các vấn đề về kinh tế xã hội khác
3.1.2.Ba giai đoạn của đô thị hóa
Trang 36Quá trình đô thị hoá diễn ra song song với động thái phát triển kinh tế xã hội Trình độ đô thị hoá phản ảnh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hoá và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội
3.1.2.1 Đô thị hóa tiền công nghiệp (pre-industrial urbanization)
Đô thị hóa theo đúng nghĩa của nó đã xuất hiện đầu tiên vào thời điểm khi sản xuất thủ công nghiệp chuyển thành dạng sơ khai của sản xuất hàng hóa và cùng với nó là sự dịch cư của những người thợ thủ công và thương nhân về các trung tâm đô thị
Đô thị hóa thời kì tiền công nghiệp phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp Các đô thị phân tán, quy mô nhỏ phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn giản Tính chất đô thị lúc bấy giờ chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Tác động chủ yếu của giai đọan này là cuộc Cách Mạng Kỹ Thuật (CMKT) I, được gọi là Cách mạng nông nghiệp với biểu tượng là cái cuốc (hay cái cày hoặc cái xa quay)
3.1.2.2 Đô thị hóa Thời kỳ công nghiệp (industrial urbanization)
Dưới tác động của cuộc CMKT II (cách mạng công nghiệp)với biểu tượng là chiếc máy hơi nước do ông J.WATT (Anh) phát minh năm 1780, đô thị phát triển mạnh do nhiều người chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp Sự tập trung sản xuất và dân cư đã làm xuất hiện nhiều đô thị mới và mở rộng các đô thị đã có, tạo nên các đô thị lớn và cực lớn, đây là giai đọan của đô thị hóa mở rộng
Cơ cấu đô thị trở nên phức tạp hơn, (vào nửa sau thế kỷ 20) các thành phố mang nhiều chức năng khác nhau như thủ đô, thành phố cảng… Đặc trưng của thời kỳ này là sự phát triển thiếu kiểm sóat của các thành phố
3.1.2.3 Đô thị hóa Thời kỳ hậu công nghiệp (post-industrial urbanization)
Nền văn minh giai đọan này được gọi là văn minh khoa học-kỹ thuật đã đưa quá trình đô thị hóa đi vào chiều sâu với đặc trưng là cuộc CMKT III với biểu tượng là chiếc máy
tính điện tử phát minh năm 1949, đã làm thay đổi cơ cấu sản xuất, phương thức sinh họat ở các đô thị Không gian đô thị có cơ cấu tổ chức phực tạp có quy mô lớn Hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo cụm, chùm và chuỗi
Sơ đồ chỉ ra mối quan hệ giữa CMKT với các nền văn minh và các thời kỳ đô thị hoá
3.1.3.Đặc điểm của quá trình đô thị hóa
Về mặt cấu trúc không gian đô thị, xuất hiện hai xu thế gần như đối lập, nhưng lại thống nhất của các quá trình kinh tế-xã hội, và phản ánh trong cấu trúc không gian, đó là
xu thế hướng tâm và ly tâm của quá trình đô thị hóa
Trang 373.1.3.1 Hướng tâm (centralization)
Đô thị hoá là quá trình tập trung dân cư vào đô thị Xu thế này diễn ra mạnh trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20 trong thời kỳ cực thịnh của nến văn minh công nghiệp Làn sóng người nhập cư vào sống và làm việc trong đô thị ngày càng đông Quy mô đô thị phát triển, mật độ dân số ngày càng tăng Đây là xu hướng phát triển đô thị theo kiểu truyền thống
3.1.3.2 Ly tâm (decentralization)
Ly tâm đang trở thành một xu hướng chung cho quá trình phân bố dân cư trong các đô thị lớn Khi mà nền khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, công nghệ thông tin liên lạc và phương tiện giao thông ngày càng hiện đại, xu hướng của người dân đô thị lại chuyển sang sống trong các khu vực ngoại ô lân cận, không tập trung vào các trung tâm đô thị như trước Xung quanh đô thị sẽ hình thành các đô thị nhỏ tập trung dân cư, tạo nên một mạng lưới đô thị.Vd: Los Angeles
Hình: Sự khu biệt hóa trong việc quản lý kinh doanh, dân cư và các họat động công nghiệp ở đô thị Tokyo
3.1.4.Các tác động của đô thị hóa
3.1.4.1 Tác động kinh tế
Sự thay đổi đáng chú ý nhất đồng hành cùng quá trình đô thị hoá là sự thay đổi nhanh chóng từ các hình thức dân cư nông nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp sang công nghiệp hiện đại và các hình thức kinh doanh khác, tạo nên các khu vực kinh doanh và hàng hoá được sản xuất theo dây chuyền Hàng hoá được gia tăng về số lượng và cả chất lượng Giá trị thặng dư không ngừng phát triển
Các đô thị lớn có vai trò cung cấp một lượng lớn lương thực và dịch vụ cho thị trường địa phương và các khu phụ cận, với chức năng vận chuyển và buôn sỉ cho các khu vực nhỏ hơn Ngoài ra, các đô thị lớn còn là trung tâm thương mại, tài chính, nơi cung cấp nguồn lao động có tay nghề, cũng như đóng vai trò là trung tâm hành chính cho vùng hoặc khu vực
Trang 38Khi các đô thị phát triển, còn ảnh hưởng đến sự gia tăng chất lượng và giá trị của các thành phần lao động trong thị trường Giá trị đất đai cũng tăng nhanh chóng để thúc đẩy sự phát triển trong tương lai Các giá trị vật chất và thuế cũng tăng đáng kể
3.1.4.2 Sự thay đổi về cơ cấu lao động
Một trong những hệ quả của quá trình đô thị hoá là sự thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế xã hội và lực lượng sản xuất, thể hiện qua sự biến đổi và chuyển giao lao động xã hội từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác
Jean Fourastier với Lý Thuyết 3 khu vực kinh tế, đã nghiên cứu thấu đáo vai trò của các khu vực kinh tế trong suốt quá trình đô thị hóa Dựa vào các tư liệu thống kê kinh tế
ở các nước phát triển ở Châu Aâu và châu Mỹ, nhà xã hội học người Pháp này đã phân tích và đưa ra khái niệm về sự biến đổi của 3 khu vực lao động trong các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội và quá trình đô thị hóa
Lao động khu vực 1 (sector 1)
Thành phần lao động sản xuất nông lâm ngư nghiệp Thành phần lao động này chiếm tỷ lệ cao ở thời kỳ tiền công nghiệp (hơn 80%) và giảm dần ở các giai đoạn sau, chiếm tỷ lệ thấp nhất trong 3 thành phần ở giai đoạn hậu công nghiệp
Lao động khu vực 2 (sector 2)
Bao gồm lực lượng lao động sản xuất công nghiệp, lúc đầu chỉ chiếm trên dưới 20% Thành phần lao động này phát triển rất nhanh ở giai đoạn công nghiệp hóa, chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn hậu công nghiệp và sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động công nghiệp bằng tự động hóavới tỷ lệ ổn định 15-20% trong tổng số lao động
Lao động khu vực III (sector 3)
Bao gồm các thành phần lao động và dịch vụ, theo Fourastier, thanh phần này từ chỗ chiếm tỷ lệ thấp nhất trong thời kỳ tiền công nghiệp đã bắt đầu tăng dần từ giữa giai đọan đô thịhóa công nghiệp và cuối cùng chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn văn minh khoa học kỹ thuật (hậu Công nghiệp)
Lý thuyết 3 thành phần lao động kinh tế của Fourastier có một ý nghĩa rất lớn trong quá trình đô thị hoá Muốn biết trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của 1 quốc gia,
ta chỉ cần xem tỷ lệ lao động của 3 khu vực đó Lý thuyết này cũng phù hợp với 3 thời kỳ của quá trình đô thị hóa ở hầu hết các nước trên thế giới
Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi liên tục của cấu trúc và tính chất lao động xã hội theo hướng từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ công nghiệp sang dịch vụ và khoa học-công nghệ, từ đơn giản đến phức tạp, từ hàm lượng trí tuệ nhỏ sang hàm lượng trí tuệ lớn, từ chân tay sang trí óc trên cơ sở của sự biến đổi công nghệ ngày càng nhanh và rộng khắp
Trang 393.1.4.3 Tác động về sinh thái và môi trường
Một vấn đề mà các đô thị lớn hiện nay đang phải đối mặt đó là sự gia tăng số lượng chất thải đô thị có từ quá trình sản xuất và mua bán hàng hoá Trong quá trình sản xuất hàng hoá, các chất có hại trong quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển …có thể gây ô nhiễm cho các khu dân cư lân cận và nguồn nước trong khu vực Mặc dù chính quyền
Trang 40Đồng thời, việc xây dựng các đô thị mới thường được hình thành ở các khu vực có nguồn nước; như các khu vực đã từng là rừng cây, đồng bằng hay các khu đất đầm lầy
Vì vậy quá trình đô thị hoá có thể làm thay đổi nguồn nước mặt, ảnh hưởng đến chất lượng nước chung cả khu vực
Sự phát triển các hình thức cư trú do quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự tương tác giữa các lãnh thổ dân cư với môi trường sống Kết quả của sự tương tác này là sự ô nhiễm ở hầu hết các thành tố của môi trường Môi trường bị ô nhiễm như là một hệ quả của quá trình sản xuất và sinh họat của người dân đô thị Việc chất lượng môi trường bị giảm sút
do quá trình đô thị hóa được phản ảnh qua tình trạng sức khỏe của người dân đô thị Vì vậy, cần phải đề xuất tổ chức các hình thức ơ hợp lý hơn, đưa ra những biện pháp giảm thiểu tác động môi trường Ngòai ra cần xác định sự ảnh hưởng của các họat động sống đến môi trừơng, đưa ra những giải pháp cải thiện điều kiện môi trường, phục hồi những yếu tố môi trường đã bị hư hạiđể tạo một môi trường đô thị tốt hơn
Đô thị hoá và hệ sinh thái đô thị:đô thị có quy mô dân số càng lớn thì quy mô mất cân bằng sinh thái càng lớn
3.1.4.4 Tác động sinh lý và lối sống đô thị
Trong lĩnh vực “xã hội đô thị”, ảnh hưởng của đô thị hoá lên đời sống tinh thần và lối sống của người dân đô thị có nhiều điều đáng chú ý Nội bật là sự khác biệt trong quan điểm sống và lối sống của người dân đô thị Nguyên nhân của hiện tượng này là sự tập trung dân cư cao trong cùng một khu vực với nhiều hình thức hoạt động đa dạng đã tạo cho người dân đô thị một sức ép về tâm lý với các biểu hiện như tách biệt với người khác,tự cho mình là trung tâm, đầu óc lý trí và luôn tính toán