Ngày nay quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã giúp cho tỉnh Thái Nguyên ngày càng một phát triển hơn, một mặt tạo sự phát triển kinh tế, công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người dân mặt khác đây cũng là nguy cơ làm giảm chất lượng môi trường. Hiện nay, ô nhiễm môi trường không còn là xa lạ với chúng ta và nó đã trở thành một vấn đề của toàn cầu. Nếu chúng ta không có biện pháp bảo vệ môi trường kịp thời để ngăn chặn phòng ngừa mức độ ô nhiễm môi trường thì sự suy thoái môi trường là điều không thể tránh khỏi. Một trong những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay ở nước ta đó là rác thải sinh hoạt, một thách thức lớn đang được xã hội quan tâm.
Trang 1xã hội quan tâm.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, dân số ngày càng gia tăngdẫn tới nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng theo, theo đólượng rác thải phát sinh cũng ngày càng nhiều và đặc biệt là rác thải
Trang 2sinh hoạt Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là nguyên nhân chính gây
ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ cộng đồng,con người cũng như làm mất cảnh quan đô thị…
Hiện nay tình trạng rác thải nói chung và rác thải sinh hoạtnói riêng tại thị trấn Đu - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyênchưa có đánh giá một cách đầy đủ dẫn đến việc thu gom và xử
lý cũng như quản lý rác thải gặp nhiều khó khăn và chưa phùhợp trong công tác bảo vệ môi trường
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ýcủa Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên
và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn
Quý Ly, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác thu gom và biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt tại Đu, Phú Lương, Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của đề tài là dựa trên thực trạng công tácthu gom và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu -
Trang 3huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên, để từ đó làm cơ sở khoahọc và thực tiễn để hướng dẫn cộng đồng khu dân cư có ý thức
và thói quen thu gom, phân loại rác tại nguồn nhằm giảm thiểu ônhiễm môi trường Đồng thời đề xuất một số giải pháp trongcông tác quản lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện quản lýmôi trường một cách khoa học và bền vững, góp phần nâng caochất lượng cuộc sống người dân
- Đề xuất một số biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt và
xử lý phù hợp với điều kiện của địa phương
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệmthực tế phục vụ cho công tác sau này
Trang 4- Vận dụng và phát huy được tất cả các kiến thức đã họctập và nghiên cứu.
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thugom, vận chuyển và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thịtrấn Đu
- Đề xuất một số biện pháp quản lý xử lý rác thải sinhhoạt
Trang 5
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về chất thải
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từsản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt độngkhác (Luật BVMT, 2005)
Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinhhoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thươngmại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, cáckhu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài ra còn phát sinh tronggiao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thôngđường bộ, đường thuỷ… (GS.TS Nguyễn Đình Hương, 2003)
2.1.1.2 Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quátrình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt
Trang 6động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải thông thường và chấtthải rắn nguy hại.
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ giađình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt.Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làngnghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác gọi là chấtthải rắn công nghiệp
Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặchợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,
dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguyhại khác (Nghị định 59 NĐ-CP)
Phần lớn chất thải ở thể rắn và ở khắp mọi nơi xung quanh
ta như gạch, đá, xi măng, vôi, vữa, giấy, sắt vụn, … Loại chấtthải này do các công trường, nhà máy, hộ gia đình thải ra rất lớn
Chất thải rắn gồm các chất hữu cơ như: thức ăn thừa, giấy,các tông, nhựa, vải, cao su, gỗ, xác động thực vật,… và các chất
vô cơ như: thuỷ tinh, nhôm, đất cát, phế liệu, kim loại khác…(GS.TS Nguyễn Đình Hương, 2003)
Trang 72.1.1.3 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến cáchoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khudân cư, các cơ quan, trường học, trung tâm dịch vụ, thương mại
Rác thải hữu cơ sinh hoạt là những chất thải từ nguyên liệuthực phẩm, thức ăn thừa, vỏ hoa quả, bánh kẹo, hoa lá trang trítrong nhà đã bị héo mà con người không dùng được nữa vứt
bỏ vào môi trường sống
Theo bản tin môi trường chuyên đề (2003) định nghĩa mộtcách khoa học thì đó là những thành phần tàn tích hữu cơ củacác chất hữu cơ phục vụ sinh hoạt sống của con người Chúngkhông được con người sử dụng nữa và vứt bỏ trở lại môi trườngsống gọi là rác thải hữu cơ sinh hoạt
2.1.1.4 Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn
2.1.1.4.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn
- Từ sinh hoạt: Phát sinh từ hộ gia đình, các biệt thự và cáccăn hộ chung cư Thành phần chủ yếu bao gồm: thực phẩm dưthừa, bao bì hàng hoá (bằng giấy, gỗ, carton, plastic, thiếc,nhôm, thuỷ tinh ), đồ dùng điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia
Trang 8dụng, bóng đèn, đồ nhựa ), chất thải độc hại như chất tẩy rửa,bột giặt, chất tẩy trắng, thuốc diệt côn trùng
- Từ khu thương mại: Thương mại (kho, quán ăn, chợ, vănphòng, khách sạn, nhà in, trạm xăng dầu, gara…): Giấy, cáctông, plastic, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại, các loại rácđặc biệt (dầu mỡ, lốp xe,…), các chất thải độc hại khác…
- Từ khu công sở: Cơ quan (trường học, bệnh viện, các cơquan hành chính,…) Thành phần bao gồm: Giấy, các tông,plastic, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại Ngoài ra rác thải y
tế phát sinh từ bệnh viện phát sinh từ hoạt động khám chữabệnh, điều trị bệnh vì vậy rác y tế trở thành phức tạp nó bao gồmcác loại bệnh phẩm, kim tiêm, trai lọ chứa thuốc
- Từ hoạt động giao thông: Phát sinh từ các hoạt động xâydựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải như:nâng cấp mở rộng đường phố, cao ốc, xây dựng di dời nhàcửa từ đó sinh ra các loại chất thải như đất, đá, bê tông, gạchngói, gỗ, sắt thép
- Từ hoạt động công nghiệp: xây dựng, chế tạo, công nghiệpnhẹ, công nghiệp nặng, lọc dầu, nhà máy hoá chất, nhà máy
Trang 9điện,…): Chất thải từ các quá trình công nghiệp, các chất thảikhông phải từ các quá trình công nghiệp như thức ăn thừa, tro
bã, chất thải xây dựng, các chất thải đặc biệt, các chất thải độchại…
- Từ hoạt động nông nghiệp: Phát sinh từ thu hoạch đồngruộng, vườn, nông trại… các loại chất thải nông nghiệp gồmrơm rạ, phân từ các gia súc gia cầm, thức ăn thừa
2.1.1.4.2 Phân loại chất thải rắn
+ Phân loại chất thải theo nguồn gốc phát sinh
- Chất thải sinh hoạt: Phát sinh hàng ngày ở đô thị, làngmạc, khu du lịch, nhà ga, trường học, công viên…
- Chất thải công nghiệp: Phát sinh trong quá trình sản xuấtcông nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, chế biến nông sản trước vàsau thu hoạch…
+ Phân loại theo trạng thái chất thải
- Chất thải trạng thái rắn: Bao gồm chất thải sinh hoạt, chấtthải nhà máy chế tạo máy, xây dựng (kim loại, da, hoá chất,nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng v v.)
Trang 10- Chất thải lỏng: Phân bùn bể phốt, nước thải từ nhà máylọc dầu, rượu bia, nước thải nhà máy sản xuất giấy và vệ sinhcông nghiệp…
Chất thải trạng thái khí: Bao gồm khí thải các động cơ đốttrong, máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhàmáy nhiệt điện, sản xuất vật liệu…
+ Phân loại theo tính chất nguy hại
- Vật phẩm nguy hại sinh ra tại các bệnh viện trong quátrình điều trị người bệnh (các loại vật phẩm gây bệnh thôngthường được xử lý ở chế độ nhiệt cao, từ 1150oC trở lên, cá biệt
có loại vi sinh vật gây bệnh bị tiêu diệt khi nhiệt xử lý lên tới
3000oC…)
- Kim loại nặng: Các chất thải sinh ra trong quá trình sảnxuất công nghiệp có thành phần As, Pb, Hg, Cd… là mầm mốnggây bệnh ung thư cho con người
Các chất phóng xạ, các phế thải có phóng xạ sinh ra qua quátrình xử lý giống cây trồng, bảo quản, khai khoáng nănglượng… (PGS Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)
2.1.1.5 Thành phần chất thải rắn
Trang 11- Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phứctạp của nhiều vật chất khác nhau Tuỳ theo cách phân loại, mỗimột loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định.Thành phần của chất thải rắn đô thị là bao quát hơn cả bao gồmcác chất thải từ nhiều nguồn gốc khác nhau như sinh hoạt, côngnghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố Thành phần chủ yếu của chất thải rắn như sau:
+ Hỗn hợp có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27%-62,22%)
+ Chứa nhiều đất, cát, gạch vỡ
+ Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900cal/kg)
2.1.1.6 Hoạt động thu gom, vận chuyển, quản lý, xử lý chất thải rắn
Theo điều 3 Nghị định/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 vềquản lý chất thải rắn
- Hoạt động thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp,đóng gói, và tạm thời lưu giữ chất thải rắn tại nhiều điểm thugom
Trang 12- Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chấtthải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, đến nơi xử lý, táichế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp.
- Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt độngquy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng bãi xử lý chất thải Lưugiữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằmngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường
- Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các biện pháp côngnghệ, kỹ thuật nhằm làm giảm, loại bỏ tiêu huỷ các thành phần
có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn, thu hồi, tái chế, tái
sử dụng lại các thành phần có ích
2.1.1.7 Quản lý rác thải sinh hoạt và xử lý rác thải sinh hoạt
Mô hình quản lý chất thải sinh hoạt tại Việt Nam từ trướcđến nay hầu hết mới chỉ tập trung cho khu vực đô thị
Trang 13Nguồn phát sinh và thành phần chất thải
Phân loại, lưu trữ, xử lý chất thải tại nguồn
Thu gom chất thải
Vận chuyển chất thải Phân loại, tái chế
Không thu gom được
Chôn lấp
Làm phân Compost Đốt
Trang 14Hình 2.1 Mô hình quản lý chất thải sinh hoạt
2.1.2 Cơ sở pháp lý
- Luật BVMT 2005
- Căn cứ nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007
về quản lý chất thải rắn
- Căn cứ thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19/05/2008
về việc hướng dẫn thực hiện nghị định số 174/1007/NĐ- CPngày 29/11/2007 của chính phủ về phí BVMT đối với chất thảirắn
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chínhphủ: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật Bảo vệ Môi trường
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chínhphủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ Môitrường
- Nghị định 21/2008/NĐ-CP ban hành ngày 28/02/2008của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính Phủ về việc quy
Trang 15định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệMôi trường.
- Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 củaChính phủ: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực Bảo vệ Môi trường
- Nghị định số 175/NĐ-CP ngày 18/10/1994 của Chínhphủ: Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường
- Chỉ thị số 199-TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chínhphủ về những biện pháp khẩn cấp để quản lý chất thải rắn ở khucông nghiệp và đô thị
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủtướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác quản lý CTR tại các
đô thị và khu công nghiệp
- Luật Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, 1991
- Thông tư số 1350/TT-KCM ngày 2/8/1995 của Bộ Khoahọc Công nghệ và Môi trường: Hướng dẫn thi hành Nghị định
số 02-CP ngày 5/1/1995 của Chính phủ về việc buôn bán cóđiều kiện các hoá chất độc, các chất phóng xạ, chất thải và bán
Trang 16sản phẩm kim loại và hoá chất nguy hại trong chất thải tại thịtrường trong nước.
- Thông tư số 4527-DTI ngày 8/1/1996 của Bộ Y tế:Những hướng dẫn về quản lý chất thải rắn của bệnh viện
- Quy chế quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế
- Thông tư số 2433/TT-KCM ngày 3/10/1996: Hướng dẫnthi hành Nghị định số 26/CP ngày 26/04/1996 về quy định xửphạt hành chính những vi phạm Luật Bảo vệ Môi trường
- Thông tư số 2891/KCM-TM ngày 19/12/1996 của BộKhoa học Công nghệ và Môi trường về quy định tạm thời việcnhập phế liệu
- Quyết định 23/2006/ QĐ-BTNMT về việc ban hành danhmục chất thải nguy hại
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT: Hướng dẫn điềukiện hành nghề và lập thủ tục hồ sơ, đăng ký, cấp phép hànhnghề, mã số quản lý chất thải nguy hại
- Chỉ thị số 36-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương vềviệc tăng cường BVMT trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiệnđại hoá đất nước
Trang 17- Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theoQuyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủtướng Chính phủ.
- TCVN 6696 - 2000 Chất thải rắn - Bãi chôn lấp hợp vệsinh - yêu cầu chung về Bảo vệ Môi trường
- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXDhướng dẫn các quy định về BVMT đối với việc lựa chọn địađiểm xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn
- Quyết định số 13/2007/QĐ-BXD ngày 23/4/2007 của Bộxây dựng về ban hành” Định mức dự toán thu gom, vận chuyển
và xử lý chôn lấp rác thải đô thị”
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải trên thế giới
Trong vài thập kỷ vừa qua, do sự phát triển của khoa học
kỹ thuật dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, do sự bùng
nổ tăng nhanh dân số, vấn đề chất thải gây ô nhiễm môi trường
Trang 18sống đã trở thành vấn đề lớn của hầu hết các nước trên thế giới.(PGS TS Hoàng Kim Cơ và cs, 1999).
Hiện nay, chất thải rắn đang là một trong những nguyênnhân gây ô nhiễm môi trường Chính sự mất vệ sinh, đặc biệt làmùi hôi thối, góp phần làm ô nhiễm không khí và là nguyênnhân gây ô nhiễm nước mặt cũng như nước ngầm, gây nguy hạiđến sức khoẻ cộng đồng
Theo Nguyễn Thị Anh Hoa (2006) mức độ đô thị hoá caothì lượng chất thải tăng lên theo đầu người, ví dụ ở một số quốcgia hiện nay:
- Canada: 1,7 kg/người/ngày
- Australia: 1,6 kg/người/ngày
- Thụy Sĩ: 1,3 kg/người/ngày
- Thụy Điển: 1,3 kg/người/ngày
- Trung Quốc: 1,3 kg/người/ngày
Nếu tính bình quân một người mỗi ngày đưa vào môitrường xung quanh 0,5 kg chất thải thì mỗi ngày trên thế giới 6
tỷ người sẽ thải ra khoảng 3 triệu tấn và mỗi năm sẽ có khoảng 1
tỷ tấn rác thải
Trang 19Tuỳ theo điều kiện sống, số rác thải bình quân theo đầungười ở mỗi nước có khác nhau Ví dụ, Cộng hoà Liên bangNga là 300 kg/người/năm như vậy mỗi năm ở CHLB Nga cókhoảng 50 triệu tấn rác, Matxcơva mỗi năm thải ra khoảng 3triệu tấn rác thải sinh hoạt Ở Pháp điều kiện sống khác hơn,lượng rác thải bình quân 1 tấn/người/năm và mỗi năm nướcPháp có khoảng 35 triệu tấn rác thải Ở đây chúng ta mới đề cậpđến lượng rác thải ra trong quá trình sinh hoạt bình thường củacon người, chứ chưa nói đến lượng chất thải rắn trong quá trìnhsản xuất của các nhà máy chế biến đồ hộp, các loại nông hải sản,các nhà máy bia, bánh kẹo, hoá chất…
Với sự gia tăng của chất thải rắn thì việc phân loại, thugom xử lý chúng là điều đầu tiên mà bất cứ một xã hội nào cũngphải quan tâm tới Cũng giống như ở Việt Nam, ở các nướcnghèo và các nước đang phát triển thì việc đầu tư vào việc thugom đạt hiệu suất chưa cao, chỉ đạt 60 - 70%, thậm chí có nơicòn thấp hơn Còn ở các nước phát triển thì việc thu gom đạthiệu suất cao, một số quốc gia hầu như lượng chất thải rắn phátthải được thu gom toàn bộ như ở Mỹ, Thụy Điển,… Quản lý
Trang 20chất thải đô thị là điều quan trọng đầu tiên và có thể xem xétmức độ quan trọng của nó chẳng hạn như ở Hy Lạp dành 50%ngân sách để thu gom và xử lý chúng Ở các nước phát triểnviệc phân loại rác thải được tiến hành ngay ở các hộ gia đình,các khu chung cư và các nơi công cộng theo đặc điểm lý hoá vàkích thước của chúng Ví dụ như túi đựng riêng thực phẩm, túiđựng riêng cho giấy báo, túi đựng riêng cho nilon, túi đựng thuỷtinh,… Ở các nước phát triển kích thước cũng như chất liệu,màu sắc của thùng rác được chuẩn hoá Thùng đựng rác gia đìnhthường có kích thước nhỏ từ 10 - 20 lít Hiện nay, các gia đình
sử dụng thùng nhựa bên trong có bao plastic và có nắp đậychống ruồi nhặng và bốc mùi hôi thối Các túi plastic đượcchuẩn hoá và bán ở các siêu thị rất thuận tiện, thống nhất trongviệc thu gom và phân loại rác Ví dụ túi màu đen để đựng rácthực phẩm, túi màu trắng để đựng kim loại, thuỷ tinh,…
Với lượng chất thải hàng ngày lớn như vậy, việc xử lý chấtthải sinh hoạt đã trở thành một ngành công nghiệp thu hút nhiềucông ty lớn mà phạm vi hoạt động của các công ty này có tầm cỡ
đa quốc gia Vấn đề này vừa mang ý nghĩa vệ sinh, vừa mang ý
Trang 21nghĩa kinh tế: “Kinh nghiệm ở một số nước cho thấy có trên 90%chai và trên 90% cần được đưa vào sử dụng trung bình từ 15 - 20lần và trong quá trình xử lý rác người ta có thể tái chế ra các loạinhiên liệu rắn và than cốc” Ví dụ: ở Mỹ có công ty WasteManagement Inc đã chiếm lĩnh thị trường Trung Cận Đông, công
ty Browning - Feris Inc có cơ sở hoạt động ở rất nhiều nước trênthế giới Ở Anh có công ty Attwood PLC, Biffa (BETPLC); ởPháp có công ty Cielyonaise des Eaxux,Ciegeneral des Eaux; ởĐức hiện nay có 500 công ty và rút xuống còn 20 - 30 công ty xử
lý rác Các công ty này hàng năm có những thu nhập tới hàngtrăm triệu đô la Mỹ
Từ chất thải công nghiệp có thể tạo ra được cồn etilic, cácloại vật liệu xây dựng “Ở Thụy Sĩ, từ chất thải sinh hoạt và chấtthải công nghiệp giấy người ta đã làm ra ván ép phục vụ xâydựng Ở Mỹ đã nghiên cứu và ứng dụng các thiết bị mới phânloại rác và chất thải công nghiệp Hàng năm trong 134 triệu tấnrác thải của nước này chứa tới 11,3 triệu tấn sắt, 680 ngàn tấnnhôm, 430 ngàn tấn các loại khác, trên 60 triệu tấn giấy và 13triệu tấn thuỷ tinh Khối lượng rác này đốt thu được lượng nhiệt
Trang 22tương ứng với đốt 20 triệu tấn dầu mỏ (PGS TS Nguyễn XuânNguyên, 2004).
Như vậy, việc sử dụng lại chất thải rắn sinh hoạt là mộtvấn đề thuộc chiến lược công nghệ sạch tạo điều kiện cho pháttriển bền vững Vấn đề này mang ý nghĩa không chỉ vì lợi íchlàm sạch bảo vệ môi trường mà còn mang ý nghĩa về mặt kinh tếrất đáng được lưu tâm và đầu tư cho việc thu gom, phân loại và
xử lý đạt hiệu quả cao hơn
2.2.1.2 Tình hình xử lý rác thải trên thế giới
- Xã hội càng phát triển thì rác thải càng nhiều và việc xử
lý rác càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Xử lý rác thải làmột vấn đề tổng hợp cả về kỹ thuật lẫn kinh tế Vì vậy, việcnghiên cứu và áp dụng các biện pháp kỹ thuật công nghệ xử lýchất thải rắn sinh hoạt đang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầucủa nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước côngnghiệp phát triển
- Hiện nay, nhiều nước đã nghiên cứu ra nhiều biện pháptái sử dụng lại chất thải rắn Kinh nghiệm ở một số nước chothấy có trên 90% chai và trên 90% cần được đưa vào sử dụng
Trang 23trung bình từ 15 - 20 lần và trong qua trình xử lý rác người ta cóthể tái chế ra các loại nhiên liệu rắn và than cốc.
- Tuỳ theo điều kiện thực tế mỗi nước mà phương pháp vàtrình độ công nghệ xử lý chất thải cũng khác nhau:
+ Ở Mỹ: Hàng năm có 15% chất thải rắn được tái chế,khoảng 16% được thiêu đốt, 67% còn lại được chôn lấp ở 2900bãi rác Mỹ đang thực hiện phương pháp xử lý chất thải rắnthành năng lượng (113 nhà máy đang thực hiện) Với phươngpháp này có thể giảm 70-90% tổng lượng chất thải rắn và thuhồi nhiệt lượng chuyển thành điện năng
+ Ở Thụy Điển: Thực hiện chiến lược giảm thiểu lượngchất thải rắn và tăng cường thu hồi phế liệu cho tái chế (chiếm25% tổng số chất thải rắn phát sinh năm 1997), áp dụng côngnghệ tiên tiến để phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chấtthải rắn (phương pháp hút chân không tự động để thu gom chấtthải rắn) Thụy Điển hiện có 282 bãi chôn lấp với tổng số 4,75triệu tấn chất thải được chôn lấp Thụy Điển là một trong sốnhững nước thực hiện phân loại rác tại nguồn có hiệu quả với sự
Trang 24tham gia tích cực của người dân, đồng thời xử lý chất thải rắn cóhiệu quả.
+ Ở Singapore: Chất thải rắn được thu gom bằng túi nilonđặc biệt và được phân loại tại nguồn Đến năm 2011 cả nước có
5 nhà máy đốt rác với công suất 9.000 tấn/ngày (khoảng 97%,còn 3% chôn lấp đặc biệt ở biển) Năm 2004, ở Singapore đãxây dựng nhà máy đốt rác thứ 6 Trong quá trình tiêu huỷ chấtthải rắn, nhiệt được thu hồi để chạy máy phát điện
+ Ở Nhật Bản: Hiện nay Nhật Bản đang sử dụng phươngpháp thiêu đốt chất thải rắn với việc thu hồi năng lượng là chủyếu (chiếm 72% tổng lượng chất thải với 1919 xí nghiệp đốt ráchoạt động) Công suất của các xí nghiệp lớn nhất lên tới 1980tấn/ngày đêm
+ Ở Đức: Rất chú trọng đến biện pháp tái sinh chất thảirắn, lượng chất thải rắn chôn lấp có xu hướng giảm dần (70%năm 1990 chỉ còn lại 46% ở những năm cuối thế kỷ 20) nguyênnhân chính là do chính phủ quy định công nghệ chôn lấp phảitiên tiến, bãi chôn lấp chỉ tiếp nhận rác đã qua thiêu huỷ hoặc xử
lý sơ bộ
Trang 25- Trong khi đó ở các nước đang phát triển còn phải đối mặtvới nhiều khó khăn về xử lý chất thải Chủ yếu là thiếu kinh phí,thiếu kinh nghiệm, thường chỉ chôn lấp chưa đạt tiêu chuẩn.Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực của các chính quyền đô thị và sự quantâm của nhà nước.
Trang 26Bảng 2.1: Các phương pháp xử lý CTR đô thị ở một số nước
Đơn vị: %
TT Tên nước
Các phương pháp xử lý (%)
Chônlấp
Chế biếnphânCompost
phươngphápkhác
Khôngthunănglượng
Thuhồinănglượng
16 táichế
2.2.2 Hiện trạng quản lý rác thải ở Việt Nam
Trang 272.2.2.1 Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải Việt
Nam
Khoảng hơn chục năm trước đây vấn đề xử lý rác ở nước
ta chưa trở nên bức xúc
Rác thải thường được đem san lấp ở hồ, ao, nhưng dân số
ở các thành phố ngày một tăng, lượng rác thải ngày càng nhiều.Các hệ thống ao, hồ, sông, ngòi thoát nước do bị đổ rác san lấpnhiều nên gây úng lụt trong thành phố Các bãi chôn lấp phế thảicủa Hà Nội đều chưa đạt tiêu chuẩn của các bãi chôn lấp hợp vệsinh (bãi rác Vạn Phúc, Thủ Lệ, Vạn Điểm, Mễ Trì…) (PGS
TS Hoàng Kim Cơ, 1999)
Theo Báo cáo diễn biến môi trường ở Việt Nam (2004),hàng năm, Việt Nam có trên 15 triệu tấn chất thải rắn được phátsinh trong cả nước và theo dự báo thì tổng lượng chất thải rắnphát sinh vẫn tiếp tục tăng nhanh chóng trong thập kỷ tới đây.Phần lớn lượng rác thải này không được tiêu huỷ an toàn, đó làmột mối nguy cơ đe doạ sức khoẻ cộng đồng và môi trường
Hiện trạng về chất thải rắn ở đô thị Việt Nam (bao gồmchất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải y tế) giống
Trang 28như tình trạng chất thải rắn ở đô thị của các nước phát triểntrong thời kỳ đầu công nghiệp hoá Nghĩa là tốc độ tăng trưởngkinh tế cao, tốc độ đô thị hoá nhanh tỷ lệ thuận với lượng chấtthải phát sinh từ các hộ gia đình, các cơ sở công nghiệp - thươngmại và các bệnh viện
Theo Th.S Phùng Văn Vui (2004), hiện nay trên phạm vitoàn quốc lượng chất thải sản sinh hàng ngày ước tính 49.314tấn/ngày, trong đó chất thải công nghiệp 26.887 tấn/ngày (chiếm55,5%), chất thải sinh hoạt 21.828 tấn/ngày (chiếm 44,3%), chấtthải y tế 609 tấn/ngày (chiếm 1,2%) Ở TP Hồ Chí Minh mỗingày thải ra 4000 tấn rác sinh hoạt, Hà Nội mỗi ngày thải rakhoảng 2500m3 rác/ngày So với các nước trong khu vực và trênthế giới, tổng lượng CTR của Việt Nam nói trên là không lớn.Vấn đề đáng quan tâm ở đây là lượng chất thải này, nhất là CTRsinh hoạt và CTR y tế ở hầu hết các địa phương và thành phốchưa được xử lý hợp vệ sinh trước khi thải ra môi trường.Tương lai những năm tới lượng rác thải sẽ lớn hơn nhiều trongkhi đó tại Hà Nội có 1 xí nghiệp chế biến rác thải chỉ có thể xử
lý được 1/10 lượng rác thải hàng ngày hiện nay Các xí nghiệp
Trang 29xử lý rác tại Vũng Tàu, Bà Rịa, TP Hồ Chí Minh, Biên Hoàcũng chưa phát huy được tác dụng
Hiện tại chất thải rắn sinh hoạt chiếm một tỷ lệ lớn trongtổng lượng chất thải phát sinh, đặc biệt ở các đô thị nó lại đứngđầu, chiếm tỷ trọng lớn nhất Xu hướng hiện nay chất thải rắnsinh hoạt phát sinh gia tăng từ 10 - 16% trong đó lượng chất thảirắn phát sinh trung bình theo đầu người ở các đô thị nhỏ vàokhoảng 0,6 - 0,65 kg/người/ngày đêm, tại các đô thị lớn thìlượng phát sinh còn lớn hơn nhiều, vào khoảng 0,9 - 1,2kg/người/ngày đêm
Trang 30Bảng 2.2: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam
năm 2008
STT Loại đô
thị
Lượng CTRSH bình quân trên đầu
người (kg/người/ngày)
(Nguồn Tổng cục môi trường 2008)
Rác thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ, khi chưa phânhuỷ tự nhiên bốc mùi xú uế gây ô nhiễm môi trường sống Cácbãi tập trung rác không những là những nơi gây ô nhiễm mà còn
là các ổ dịch bệnh, nơi ruồi, muỗi và các vi sinh vật gây bệnhđồng thời chúng phát triển với tốc độ nhanh chóng, chính điềunày đã ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ người dân
Hiện trạng chất thải rắn công nghiệp cũng đang là vấn đềnhức nhối trong thời điểm phát triển đất nước hiện nay Chiếmtrên 50% tổng lượng chất thải rắn phát sinh hàng năm mà hầu
Trang 31như đều không được xử lý an toàn chúng đang là một nguy cơ
đe doạ cuộc sống cộng đồng Hiện nay, khoảng 80% trong số2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ cáctrung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam Trong đó,50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ởthành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, 30% còn lại phátsinh ở vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Thêm vào
đó, gần 1500 làng nghề tập trung chủ yếu ở các vùng nông thônmiền Bắc mỗi năm phát sinh cỡ 774.000 tấn chất thải côngnghiệp
Trong các loại chất thải, chất thải nguy hại (chất thải côngnghiệp nguy hại và chất thải y tế) là mối hiểm hoạ đặc biệt.Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở côngnghiệp (với 130.000 tấn/năm) và các bệnh viện (21.000tấn/năm) Theo thống kê, lượng chất thải công nghiệp nguy hạiphát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75%tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước Trongkhi đó, lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ
Trang 32Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hoá chiếm 27% tổng lượng chất thải
y tế của cả nước
Hiệu quả thu gom chất thải rắn ở nước ta còn thấp mộtphần cũng do hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống thu gomhoàn thiện Mặt khác, chất thải rắn sau khi được thu gom sửdụng vào hoạt động tái chế, tái sử dụng còn thấp mới chỉ gópphần làm giảm 10 - 12%, lượng phát sinh còn lại là mang đichôn lấp hoặc đốt (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2006) Từtrước đến nay, phần lớn chất thải của Việt Nam không được tiêuhuỷ một cách an toàn Hình thức tiêu huỷ chất thải phổ biến vẫn
là đổ ở bãi rác lộ thiên và trong số này có 49 bãi rác bị xếp vào
số những địa chỉ gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất, có khả nănggây ra những rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người.Trong số 91 điểm tiêu huỷ chất thải trong cả nước, chỉ có 17điểm hợp vệ sinh mà chủ yếu được xây dựng bằng nguồn vốnODA Các bãi chôn lấp được vận hành không đúng kỹ thuật vàbãi rác lộ thiên đã gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cưquanh vùng như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nướcngầm, gây ô nhiễm không khí, là ổ phát sinh ruồi, muỗi, chuột,
Trang 33bọ,… đã làm tăng tỷ lệ người mắc bệnh về da, hoặc đường tiêuhoá, hô hấp.
Bảng 2.3 Thành phần rác thải sinh hoạt ở Hà Nội, Hải
Hải Dương (%)
Tp.Hồ Chí Minh (%)
Đồng Nai
Trang 34triệt để lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày, giữ gìn môitrường đô thị và khu công nghiệp, góp phần bảo vệ sức khoẻcộng đồng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;ngày 3/4/1997 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 199/TTg về các biện pháp cấp bách trong quản lý chất thải rắn tạinhững khu đô thị và công nghiệp Tại chỉ thị này, Thủ tướng đãyêu cầu các Bộ, Ngành và các địa phương quán triệt sâu sắc, việcthải bỏ chất thải bừa bãi và không hợp vệ sinh ở các đô thị và cáckhu công nghiệp là nguồn gốc chính gây ô nhiễm môi trường,làm nảy sinh các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, ảnhhưởng đến sức khoẻ và cuộc sống cộng đồng và còn ảnh hưởnglâu dài tới những thế hệ mai sau Mỗi ngành, mỗi địa phươngphải kiểm điểm trách nhiệm của mình, đề ra các chương trình vàcác biện pháp thiết thực, chỉ đạo sát sao công tác quản lý chấtthải rắn, giữ gìn vệ sinh môi trường trong sạch Ngày 16/7/1999,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 155/1999QĐ-TTg về quy chế quản lý chất thải nguy hại Quy chế quản lý chấtthải nguy hại được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trongnước và nước ngoài có các hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam liên
Trang 35quan tới các việc phát sinh, thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưugiữ, xử lý và tiêu huỷ chất thải nguy hại, trừ trường hợp điều ướcquốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kếthoặc tham gia có quy định khác.
Để đạt được một hiệu quả tối ưu trong công tác Bảo vệMôi trường cần có sự thống nhất từ các cấp, các địa phương.Đồng nhất trong công tác quản lý, các văn bản pháp quy cũngnhư đầu tư kinh phí cho công tác quản lý chất thải rắn phải đầy
đủ, đáp ứng yêu cầu thiết yếu cho công tác BVMT
ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP Hồ ChíMinh
+ Chế biến phân vi sinh: Phương pháp làm phân Compost có ưuđiểm làm giảm lượng rác thải hữu cơ cần chôn lấp, cung cấp
Trang 36phân bón phục vụ nông nghiệp, xây dựng các công trình mới.Thành phần của rác thải xây dựng chủ yếu là: đất, gạch, sắt,thép, bê tông… Khối lượng chất thải xây dựng ngày một tăng donhu cầu cải tạo, xây dựng các công trình ngày một nhiều Một sốnhà máy chế biến như Cầu Diễn (Hà Nội) có công suất 50.000tấn/năm, nhà máy xử lý rác thải Nam Định 250 tấn/ngày, côngnghệ Dano- Đan Mạch tại Hóc Môn- TP HCM công suất 240tấn/ngày
Trang 37+ Thiêu đốt: Được áp dụng để xử lý rác thải bệnh viện Cácbệnh viện Lao, Viện 108 mới xây dựng lò đốt chất thải Tại HàNội có lò đốt chất thải bệnh viện công suất 3,2 tấn/ngày đặt tạiTây Mỗ Tại TP Hồ Chí Minh có lò đốt chất thải bệnh việncông suất 7,5 tấn/ngày Phương pháp đốt chất thải còn đượcdùng để xử lý chất thải công nghiệp như lò đốt chất thải giày datại Hải Phòng, lò đốt cao su 2,5 tấn/ngày tại Đồng Nai Việc đốtchất thải công nghiệp này đều không đạt tiêu chuẩn môi trường.+ Các công nghệ khác: - Bộ quốc phòng và công ty TNHHXuân Kiên nghiên cứu chế tạo lò đốt CTR y tế với công suấtnhỏ.
- Công ty cổ phần PTCN môi trường xanh nghiên cứu thửnghiệm mô hình xử lý CTR theo công nghệ Seraphin tại nhàmáy xử lý CTR Đông Vinh (TP Nghệ An) và nhà máy xử lý rácthải sinh hoạt tại Sơn Tây
2.2.3 Tình hình quản lý rác thải tại Thái Nguyên
- Thị xã Sông Công: Thành lập ban quản lý đô thị với gần
30 công nhân, 10 xe thu gom rác Mỗi ngày thu được 21 tấn rác
Trang 38- Huyện Đồng Hỷ: Thành lập hợp tác xã môi trường củaChùa Hang Theo phòng Tài nguyên và Môi trường huyện thìrác sau khi thu gom sẽ mang đi đổ ở bãi rác Đá Mài.
- Huyện Võ Nhai: Thành lập hợp tác xã vệ sinh môi trườngthị trấn Đình Cả từ năm 2003 với 4 xe đẩy rác và bãi chôn lấpriêng
- Huyện Phú Bình: Đã có đội thu gom rác, quy hoạch khuvực xử lý rác tập trung và đang tiến hành xây dựng bãi chôn lấphợp vệ sinh
- Huyện Đại Từ: Đã có đội ngũ thu gom rác, đã có bãirác xử lý rác thải Tuy nhiên bãi xử lý rác này chưa có quyhoạch tổng thể, chỉ phơi khô rồi đốt
- Tại TP.Thái Nguyên: Những năm trước đây, làm nhiệm
vụ vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố chỉ có một đơn vị
là công ty quản lý đô thị làm công tác thu gom và vận chuyểnrác thải từ các điểm tập kết và vận chuyển vào bãi rác của thànhphố Trong các năm từ 1999 đến năm 2001 với số lượng côngnhân trực tiếp làm nhiệm vụ là 72 người, hàng ngày công tyquản lý đô thị quét rác duy trì trên diện tích khoảng 269.000m2
Trang 39(chiếm 41% diện tích cần quét) và thu gom, xử lý khoảng 27 tấnrác thải sinh hoạt đáp ứng được 40% nhu cầu người dân.
Để khắc phục tình trạng trên, năm 2001 chính quyền thànhphố đã tổ chức thăm quan học tập các đô thị bạn và chính thứcđưa vào áp dụng mô hình xã hội hoá thu gom rác thải sinh hoạtbằng việc mỗi phường, xã thành lập một đội vệ sinh môitrường Kinh phí để trả cho công tác thu gom rác sử dụng từnguồn phí vệ sinh môi trường thu của các hộ dân
Bước đầu khi thành lập thành phố đã đầu tư những trangthiết bị như dụng cụ lao động, xe đẩy chứa rác và các trang thiết
bị khác để các đội vệ sinh này hoạt động Kinh phí thu từ các hộgia đình theo mức phí vệ sinh do UBND tỉnh quy định và do đội
vệ sinh môi trường phường, xã thu Trước đây khoản thu phínày do công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, thường chỉ thuđược 50% Nhiều người dân hoàn toàn chưa có thói quen đóngphí VSMT Từ khi giao cho đội vệ sinh môi trường phường, xãthì kinh phí này được thu khá triệt để đạt trên 90%, việc làm này
đã góp phần tiết kiệm cho ngân sách nhà nước, giảm từ 7-9tỷ/năm
Trang 40Cho đến nay đã có 22/28 đội vệ sinh phường, xã đượcthành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả Cách thức quản lýđội vệ sinh môi trường như sau: mỗi đội chia thành 2- 4 tổ, mỗi
tổ có 1 tổ trưởng và 5-7 công nhân Hiện nay phần lớn cácphường, xã giao trách nhiệm thu phí vệ sinh môi trường cho tổtrưởng dân phố, đồng thời trong các cuộc bình bầu phố văn hoá
đã đưa tiêu chí việc tham gia đóng đầy đủ phí môi trường là mộttiêu chí bắt buộc Việc hình thành các đội vệ sinh đã tạo việclàm và thu nhập cho gần 400 lao động, phần lớn là người dânthuộc các hộ nghèo không có việc làm ổn định qua đó làm ổnđịnh xã hội
Cho đến nay thành phố Thái Nguyên đã có 20 nhà để xerác được xây dựng và đi vào hoạt động đảm bảo tính hữu ích và
vệ sinh môi trường
Cùng với sự theo dõi, giám sát và chỉ đạo của thành phốkết hợp với việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nênhiện nay tình hình vệ sinh môi trường dần đi vào ổn định Công
ty TNHH một thành viên môi trường và công trình đô thị và cácđội vệ sinh phường, xã đã duy trì thực hiện các quy định về giờ