1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại thành phố cao bằng tỉnh cao bằng

61 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 367,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Hoàng Đức Trường Tên đề tài: Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Thà

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hoàng Đức Trường

Tên đề tài:

Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất

một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Thành

phố Cao Bằng - Tỉnh Cao Bằng

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Trần Thị Phả

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

Ủy ban nhân dân

Trang 3

Xuất phát từ yêu cầu về đào tạo và thực tiễn, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Em

được giới thiệu về thực tập tốt nghiệp tại Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Cao

Bằng về đề tài: “Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Thành phố Cao Bằng - Tỉnh Cao Bằng”

Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô giáo khoa Môi trường Đặc

biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo T.s Trần Thị Phả - Giảng

viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn cho em đề em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp của chi cục bảo về môi trường tỉnh Cảo Bằng, gia đình và các bạn… đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá tình thực hiện

đề tài

Vì thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên báo cáo thực tập tốt nghiệp không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong được

sự đóng góp ý kiến quá báu của thầy, cô giáo và các bạn để đề tài em được

hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Cao Bằng, ngày 15 tháng 8 năm 2014

Sinh Viên Hoàng Đức Trường

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.2.3 Ý nghĩa 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Cơ sở pháp lý 3

2.1.2 Cơ sở lý luận 4

2.1.3 Cơ Sở thực tiễn 4

2.2 Tổng quan về nước trên thế giới và tại Việt Nam 5

2.2.1 Tài nguyên nước trên thế giới 5

2.2.2 Tài nguyên nước tại việt nam 6

2.3 Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 16

2.3.1 Tổng quan về tài nguyên nước tỉnh Cao Bằng 16

2.3.2 Thực trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 17

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 19

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 19

3.1.3 Địa điểm và thời gian tiến hành 19

3.1.4 Địa điểm: 19

3.1.5 Thời gian tiến hành: 19

Trang 5

3.2 Nội dung nghiên cứu 19

3.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại thành phố Cao Bằng 19

3.2.2 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng 19

3.3 Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt thành phố Cao Bằng 19 3.4 Phương pháp nghiên cứu 20

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 20

3.4.2 Phương pháp lấy mẫu (theo TCVN) 02/2009/BYT 20

3.4.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 20

3.4.4 Phương pháp so sánh, đánh giá 20

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Cao Bằng 21

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 21

4.1.2 Địa hình 22

4.1.3 Đặc điểm, khí hậu, thuỷ văn 22

4.2 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng 27

4.2.1 Tình hình cung cấp nước sinh hoạt tại Thành phố Cao Bằng 27

4.2.2 Các loại hình cung cấp nước sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng 28

4.3 Hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng 31

4.3.1 Hiện trạng chất lượng Nước giếng 32

4.3.2 Hiện trạng chất lượng nước máy 35

4.3.3 Hiện trạng chất lượng nước suối 37

4.3.4 Một số giải pháp cung cấp nước sạch tại thành phố Cao Bằng 42

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Kiến nghị 52

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Sự phân bố nước trên Trái Đất 6Bảng 4.1 Các con sông chảy qua Thành phố Cao Bằng 25Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt theo loại hình nước giếng của

thành phố Cao Bằng 29Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt theo loại hình nước suối tự

nhiên của thành phố Cao Bằng 30Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt theo loại hình nước máy của

Thành Phố Cao Bằng 31Bảng 4.5: Bảng Kết quả phân tích mẫu nước giếng tại xã Chu Trinh –

Thành phố Cao Bằng 32Bảng 4.6: Bảng kết quả phân tích mẫu nước lấy tại nhà máy nước Phường

Sông Bằng 35Bảng 4.7: Bảng Kết quả đo phân tích mẫu nước suối tại Xã vĩnh Quang Thành

phố Cao Bằng 38

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU

Trang

Biểu đồ 4.1: Diễn biến nồng độ Cu, NO-3, Pb, Zn 33

Biểu đồ 4.2: Diễn biến nồng độ Coliform ……… 33

Biểu đồ 4.3: Diễn biến nồng độ Cu, NO-3, Pb, Zn 36

Biểu đồ 4.4: Diễn biến nồng độ Cliform ……… 36

Biểu đồ 4.5: Diễn biến nồng độ As, Fe, NO-3, Pb 39

Biểu đồ 4.6: Diễn biến nồng độ Coliform ……… 39

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn của Đảng và Nhà nước đề ra thì một trong những yếu tố có tính then chốt là vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn Trong đó, vấn đề cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân là một trong những yếu tố tiền đề quan trọng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn

Nước sinh hoạt là một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống con người, từ lâu trong đấu tranh sinh tồn và phát triển, người dân nông thôn Việt Nam nói chung và người dân Cao Bằng nói riêng đã khai thác các nguồn nước và hình thức cấp nước thô sơ để phục vụ cuộc sống và tầm quan trọng của nước sinh hoạt đối với sức khỏe con người, nên việc khai thác cũng như sử dụng các nguồn nước phục vụ nhu cấu ăn uống, sinh hoạt, duy trì và phát triển cuộc sống còn hạn chế

Hiện nay, cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các tổ chức kinh tế xã hội trong nước, nước ta đang từng bước giải quyết vấn đề nước sạch cho người dân Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa triệt để, nhu cầu được hưởng nước sạch vấn còn là điều mơ ước của người dân, đặc biệt là đối với người dân ở khu vực vùng sâu, vùng xa, khu vực miền núi

Với đặc thù là tỉnh miền núi, Thành phố Cao Bằng đang gặp phải những vẫn đề khó khăn trong việc cung cấp nước sạch sinh hoạt Người dân tại thành phố Cao Bằng sử dụng nguồn nước chủ yếu từ suối tự nhiên, giếng khơi, nước máy Tuy nhiên trong những năm gần đây, do ý thức của người dân và công tác quản lý còn kém, do vậy nguồn nước tại địa bàn thành phố bị suy giảm cả

về số lượng và chất lượng không đảm bảo cho sinh hoạt Chất lượng nước bị suy giảm đến mức có một số nguồn như nước sông không thể sử dụng để làm nước sinh hoạt do bị ô nhiễm

Trang 9

Đứng trước thực tế trên và do nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa bàn thành phố, việc tìm ra một số giải pháp để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt đạt tiêu chuẩn trở nên cấp thiết

Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Tài

Nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo T.S Trần Thị Phả

giảng viên khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Thành phố Cao Bằng - Tỉnh Cao Bằng”

1.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại Thành Phố Cao Bằng

- Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt Thành phố Cao Bằng

- Đề ra một số giải pháp cung cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân địa phương

1.2.2 Yêu cầu

- Phản ánh đúng chất lượng nước sinh hoạt của Thành phố Cao Bằng

- Đảm bảo số liệu, tài liệu đầy đủ, chính xác và khách quan

- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị phù hợp, mang tính khả thi đối với thực tế điều kiện kinh tế xã hội địa phương

1.2.3 Ý nghĩa

- Củng cố lý thuyết, kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập

- Đánh giá vấn đề thực tế về hiện trạng môi trường nước sinh hoạt, công tác cung cấp nước sinh hoạt của Thành phố Cao Bằng

- Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm

đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở pháp lý

- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006

- Luật số 08/2008/QH10 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về tài nguyên nước

- Nghị định số 149/2004/NĐ – CP của Chính phủ ngày 27 tháng 07 năm

2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước

- Nghị định 34/2005/NĐ – CP ngày 17 tháng 02 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

- Thông tư số 02/2005/TT – BTNMT ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thực hiện Nghị đinh 149/2004/NĐ –

CP ngày 27 tháng 07 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước

- Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Chính

phủ “ban hành quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin

về tài nguyên nước”

- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 của Chính phủ “Quy

định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào

nguồn nước”

- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 “Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/08 năm 2006 của Chính phủ về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường nước

Trang 11

2.1.2 Cơ sở lý luận

Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo

Nước ngầm là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất

Nước sinh hoạt là nước có thể dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người

* Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước

Sự ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo:

- Nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật, VSV có hại

- Nguồn gốc nhân tạo: chất thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp vùng dân cư, GTVT, thuốc diệt cỏ, phân bón nông nghiệp vào môi rường nước Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi ô nhiễm

- Giảm độ pH của nước ngọt

- Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, So42- trong nước ngầm

- Tăng hàm lượng các KLN (Pb, Hg, Cd, As, Cu, Zn) và các anion PO43-,

- Tăng hàm lượng các hợp chất hữu cơ (khó bị phân hủy sinh học)

- Giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước tự nhiên do các quá trình oxy hóa 2.1.3 Cơ Sở thực tiễn

Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của các cộng đồng dân cư như: khu vực đô thị, trung tâm thương mại, khu vực vui chơi giải trí, cơ quan công sở,… Các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh hoạt là BOD5, COD, Nitơ và Phốt pho Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt đó là các loại mầm bệnh được lây truyền bởi các vi sinh vật có trong phân

Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt gây ra là:

- Các chất hữu cơ;

Trang 12

- Các chất dinh dưỡng của ni-tơ (N), phốt-pho (P);

- Các chất rắn lơ lửng;

- Các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh: Salmonella, tụ cầu, liên cầu, virus,

nguyên sinh bào và giun sán, đường tiêu hóa, bại liệt, các loại kí sinh trùng, amip, nấm…

- Các loại hóa chất độc hại từ chế phẩm, thậm chí cả chất phóng xạ

2.2 Tổng quan về nước trên thế giới và tại Việt Nam

2.2.1 Tài nguyên nước trên thế giới

Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau : trên mặt đất, trong biển và đại dương, dưới đất và trong không khí dưới các dạng: lỏng (nước song suối, ao hồ, biển), khí (hơi nước), và rắn (băng, tuyêt)

Lượng nước trong thủy quyển theo UNESCO công bố là 1386.106km3 Trong đó nước ngọt là 35.106 km3 chiếm 2,5%, nước mặn là 1351.106 km3 chiếm 97,5% tổng lượng nước trong thủy quyển

Trong thành phần nước ngọt thì dạng rắn chiếm 24,3.106km3 (69,4%), dạng lỏng là 10,7.106km3 (30,6%) Trong thành phần nước lỏng 10,7.106km3 (100%) thì nước ngầm chiếm đại bộ phận 10,5.106km3 (98,3%); khí quyển 0,020.106km3(0,19%) và sinh quyển 0,011.106km3 (0,10%)

Sự phân bố của lượng nước trên Trái Đất không đều tại các đại dương, biển và các lục địa:

Trang 13

Bảng 2.1: Sự phân bố nước trên Trái Đất

Lưu vực nội

địa

Tổng diện tích của đất

Dòng chảy

mm

Dòng chảy

mm

Dòng chảy

mm

Dòng chảy

Băng đảo Canada và các

( Nguồn: Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam 2005, 2007 –Nguyễn Thanh Sơn )

Dựa vào bảng trên ta thấy nước trên Trái Đất đổ vào 2 đại dương chủ yếu là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, phần còn lại đi vào các vùng không tiếp giáp với đại dương và với biển Nguồn nước ở Bắc Mỹ và Nam

Mỹ lớn nhất trên Trái Đất này

2.2.2 Tài nguyên nước tại việt nam

2.2.2.1 Tình hình sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam

Tài nguyên nước của Việt Nam rất phong phú, chất lượng khá tốt đảm bảo đủ cho nhu cầu sử dụng hiện nay, ngoại trừ ở một số đô thị lớn và khu

Trang 14

công nghiệp tập trung, nước bị nhiễm bẩn, có nơi bị nhiễm bẩn nặng như ở

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Hơn nữa lượng nước lại phân bố không

đồng đều theo thời gian và không gian Tuỳ theo vùng, mùa cạn ít nước (20 -

30% lượng nước hàng năm) trong đó 3 tháng cạn ổn định chỉ chiếm 5 - 10% lượng nước hàng năm, trong khi có đến 70% nhu cầu nước lại vào mùa cạn

Vì vậy hiện nay trong mùa cạn, có nơi, có thời đoạn, ngay những sông lớn cũng không đủ nước cho nhu cầu sử dụng (Bộ TN & MT, 2005) [3]

Tài nguyên nước ở nước ta được sử dụng chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt và thuỷ điện, còn các nhu cầu khác sử dụng chưa nhiều

* Tài nguyên nước sử dụng cho nông nghiệp

Bao gồm việc tưới cho hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, cho chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản Hiện nay cả nước có khoảng 80 hệ thống thuỷ nông lớn, vừa và nhỏ; 700 hồ đập lớn và vừa, 1000 cống tưới tiêu và 2000 trạm bơm loại lớn Các công trình thuỷ lợi chủ yếu khai thác tài nguyên nước mặt

Để đảm bảo ổn định và tăng sản lượng lương thực bình quân đầu người,

cùng với việc tăng diện tích đất canh tác, diện tích gieo trồng, thâm canh, tăng

vụ, tăng năng suất thì thuỷ lợi cũng là biện pháp quan trọng đầu tiên dự tính

đến năm 2020 diện tích đất trồng lúa nước ta sẽ đạt 6,2 triệu ha (tăng 14% so

với năm 2000), nhu cầu nước tương ứng sẽ tăng là 72% (khoảng 370 tỷ m3) Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nhu cầu nước uống cho vật nuôi, nước vệ sinh chuồng trại là rất lớn Dự kiến đến năm 2020 nhu cầu sử dụng n-íc cho chăn nuôi cũng sẽ tăng khoảng 4 đến 5 lần so với năm 2000

Thuỷ sản nước ngọt là một nguồn lợi lớn của nước ta Hiện nay cả nước

có trên 500 nghìn ha nước mặt, hồ chứa sử dụng cho chăn nuôi thuỷ sản Lượng nước sử dụng cho việc nuôi thả, thau rửa ao hồ mỗi năm dự tính

Trang 15

khoảng 40.000m3 trên 1 ha Tiềm năng phát triển thuỷ sản nước ngọt của nước ta là rất lớn, hiện nay mới chỉ sử dụng hết khoảng 50% Dự tính diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2020 sẽ tăng lên gấp 3 lần so với năm 2000 Ngoài tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước ngầm cũng đã được khai thác để tưới cho diện tích đất nông nghiệp, cho chăn nuôi ở nhiều vùng Đặc biệt cho việc tưới cao su, cà phê vào mùa khô ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

* Tài nguyên nước sử dụng sản xuất điện

Nước ta có tiềm năng thuỷ điện dồi dào, với hơn 2000 sông suối lớn, nhỏ phân bố trên khắp lãnh thổ Tổng tiềm năng lý thuyết nguồn thuỷ điện nước ta khoảng 308 tỷ Kwh Trữ năng kỹ thuật thuỷ điện trên toàn lãnh thổ Việt Nam

là 72 tỷ Kwh với công suất từ 10 MW trở lên, có khoảng 360 vị trí lắp đặt máy, tổng công suất 17.500 MW Ngoài ra chưa kể đến tiềm năng thuỷ điện nhỏ Hiện nay sản lượng điện do thuỷ điện phát hàng năm khoảng 23,8 Kwh chiếm 51% tổng sản lượng điện phát ra của cả nước Hiện nay nhà nước ta có những nhà máy thuỷ điện lớn và vừa: Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Đa Nhim, Thác Mơ, Vĩnh Sơn, Yaly, Đa Mi, Đại Ninh và Sông Hinh… với tổng công suất 18,62 Kwh cấp vào lưới điện quốc gia Ngoài ra còn có 13 công trình

đang lập báo cáo khả thi để đưa vào xây dựng trong những năm sắp tới với

công suất là 6.229 MW và tổng lượng điện phát là 27,6 tỷ Kwh; 6 công trình

đề xuất nghiên cứu với công suất là 1.258 MW và tổng lượng điện phát là

5,54 tỷ Kwh; các trạm thuỷ điện nhỏ với công suất là 1.000 MW và tổng

lượng điện phát là 2 tỷ Kwh

* Tài nguyên nước sử dụng cung cấp cho sản xuất công nghiệp và dân cư

Sử dụng nước cho sinh hoạt được xem xét ở 2 khu vực là thành thị và nông thôn Nước ta có khoảng hơn 600 đô thị các loại và gần 100 khu công

Trang 16

nghiệp tập trung với dân số khoảng 19 triệu 900 nghìn người, chiếm 25% dân

số cả nước (2013) Tỷ lệ dân số thành thị được sử dụng nước sạch còn thấp mới chỉ đạt 75% Năm 2012, tổng lưu lượng cấp nước của 190 nhà máy là 2,6 triệu m3/ ngày, trong đó nước ngầm khoảng 30% Định hướng cấp nước đô thị của Bộ Xây dựng dự kiến đến năm 2020 là 8,8 triệu m3/ ngày, đến năm 2020

là 15,94 triệu m3/ ngày Hiện nay, tiêu chuẩn định lượng nước cấp cho dân số

đô thị còn thấp (từ 40 - 50 lít/ người/ ngày), lượng nước máy bị thất thoát còn

lớn (30 - 40%) do hệ thống hạ tầng cấp nước xây dựng từ lâu, chắp vá, xuống cấp nghiêm trọng và quản lý kém

Ở khu vực nông thôn, nơi có khoảng 75% dân số cả nước sinh sống

Trong số đó mới chỉ có 44% dân số được sử dụng nước sạch cho sinh hoạt, số còn lại phải sử dụng nguồn nước ao, hồ, sông, suối… không đảm bảo vệ sinh Mặt khác, do sự phân bố không đồng đều giữa các mùa trong năm, giữa các vùng địa lý nên tình trạng khan hiếm nước cục bộ vẫn xảy ra ở các thành phố lớn, các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên vào các tháng mùa khô

Trong tình hình phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ như hiện nay, nhu cầu

sử dụng nước sạch là rất lớn, ước tính vào năm 2020 lượng nước dùng sẽ gấp

đôi năm 2000 Hiện nay lượng nước dụng chiếm trên 7% tổng lượng nước

mặt Theo khả năng và điều kiện tồn tại tài nguyên nước, tình hình quản lý, khai thác và sử dụng như hiện nay, tương lai sẽ có nhiều vùng bị thiếu nước nghiêm trọng, có nhiều thành phố đông dân, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là những nơi sản xuất nông nghiệp tập trung, dân cư

đông đúc Đó chưa kể đến các vùng thường xuyên thiếu nước trong mùa cạn,

do ít mưa và mùa khô kéo dài, khắc nghiệt như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên… Mặt khác, với xu thế ấm dần lên của trái đất, khí hậu thế giới biến

đổi kéo theo những dị thường tác động đến tài nguyên nước, làm cho việc

Trang 17

quản lí, khai thác tài nguyên nước trở lên phức tạp hơn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) [3]

2.2.2.2 Hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt ở Việt Nam

Chất lượng nước sinh hoạt đang là một vấn đề nổi cộm ở Việt Nam Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt kể cả ở đô thị và nhiều vùng nông thôn đã lên mức báo động Hầu hết lượng nước thải sinh hoạt hiện nay thải trực tiếp xuống cống rãnh, ao hồ, đầm không qua xử lý Đặc biệt là nước thải của các bệnh viện, cơ sở y tế, các khu chăn nuôi là những nguồn gây ô nhiễm rất nghiêm trọng Chất lượng nước ở mức báo động do bị ảnh hưởng của nước thải

từ các nhà máy công nghiệp, làng nghề, khai thác khoáng sản, nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu làm cho nước các sông hồ bị tạo thành muối và ô nhiễm Nước ô nhiễm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp, từ đó ảnh hưởng

trực tiếp đến sức khoẻ con người và khả năng cạnh tranh thương mại

Qua kết quả kiểm nghiệm 185 nguồn nước trên địa bàn 16 xã trong cả nước đã thực hiện năm 2013 cho thấy: tỉ lệ nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh chỉ đạt 1,1%; tỉ lệ đạt các chỉ tiêu về hóa lý là 58,47% (các tiêu chuẩn thông thường gặp: pH: 27%; Fe: 8,19%; nitrat: 8,19%; Cl: 4,91%) Chỉ tiêu vi sinh vật chỉ đạt 1,1% (trong đó 25,95% ô nhiễm vi sinh vật ở mức độ nhẹ và trung bình; 72,95% ô nhiễm ở mức độ cao

Mức độ ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép

đến vài nghìn lần Khảo sát các yếu tố liên quan cho thấy: có 25,1% nguồn

nước xây dựng gần nhà tiêu; 65,9% gần chuồng gia súc, hồ nước thải Ngoài

ra còn có các yếu tố gây ô nhiễm như: dụng cụ lấy nước không đảm bảo, bơm hỏng tại các điểm tiếp xúc, nền giếng hỏng… chiếm tỷ lệ khá cao Đối chiếu số liệu thống kê (77,11% nguồn nước hợp vệ sinh) với đánh giá của trung tâm Y tế

dự phòng sẽ thấy độ vênh khá lớn giữa loại nước hợp vệ sinh và loại nước đủ tiêu chuẩn nước sạch (Trần Yêm và cs, 1998) [10]

Trang 18

* Nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt tại nông thôn chủ yếu là do:

+ Hố xí không hợp vệ sinh

+ Chuồng trại chăn nuôi gia đình

+ Chất thải do hoạt động nông nghiệp: nạn sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật bừa bãi trong sản xuất nông nghiệp

+ Chất thải từ sinh hoạt gia đình: Chất thải sinh hoạt của con người ngày càng tăng lên mạnh mẽ Hai loại chất thải đáng lo ngại nhất là phân người và rác Chúng chứa nhiều vi trùng gây bệnh nguy hiểm cho con người Trung bình 1 người thải ra 0,3 kg phân và 0,5 kg rác trong ngày Như vậy mỗi ngày, mỗi địa phương thải ra hàng trăm, hàng ngàn tấn phân rác

Đặc biệt mối đe dọa ô nhiễm lớn nhất cho nguồn nước sinh hoạt chính

là ô nhiễm asen Ô nhiễm asen trong nguồn nước ngầm được phát hiện ở vùng châu thổ sông Hồng đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân Ở Việt Nam vào đầu những năm 1990, vấn đề ô nhiễm asen

được biết đến qua các nghiên cứu của Viện Địa chất và Liên đoàn Địa chất

về đặc điểm địa chất thuỷ văn và đặc điểm phân bố asen trong tự nhiên, các

dị thường asen Theo nghiên cứu khảo sát phân tích nước bề mặt và các nguồn nước đổ ra sông Mã ở khu vực Đông - Nam bản Phúng, hàm lượng asen trong các mẫu nước đều vượt quá 0,05mg/l Kết hợp với điều tra của trường Đại học Y Hà Nội cho thấy, sự ô nhiễm này có ảnh hưởng tới sức khỏe dân cư sống ở khu vực đó

Từ năm 1995 đến 2000, nhiều công trình nghiên cứu điều tra về nguồn gốc asen có trong nước ngầm, mức độ ô nhiễm, chu trình vận chuyển… Đã tìm thấy nồng độ asen trong các mẫu nước ở khu vực thượng lưu sông Mã, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam, Nam

Định, Thanh Hoá… đều vượt tiêu chuẩn cho phép đối với nước sinh hoạt của

Quốc tế và của Việt Nam

Trang 19

Trước tình hình đó, trong hơn 2 năm (2011 - 2013), Chính phủ Việt Nam và UNICEF đã khảo sát về nồng độ asen trong nước của 71.000 giếng khoan thuộc 17 tỉnh đồng bằng miền Bắc, Trung, Nam Kết quả phân tích cho thấy, nguồn nước giếng khoan của các tỉnh vùng lưu vực sông Hồng:

Hà Nam, Nam Định, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương và các tỉnh An Giang,

Đồng Tháp thuộc lưu vực sông Mê Kông đều bị nhiễm asen rất cao Tỷ lệ

các giếng có nồng độ asen từ 0,1 mg/l đến 0,5 mg/l (cao hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và Tổ chức y tế Thế giới 10 - 50 lần) của các xã dao

động từ 59,6 - 80% Từ kết quả phân tích đó, Bộ Y tế tiến hành điều tra, đánh giá sơ bộ về ảnh hưởng độc hại của asen tới sức khoẻ cộng đồng dân

cư và phát hiện 13 trường hợp bị bệnh nhiễm độc asen mãn tính ở giai đoạn sớm và các biểu hiện ngoài da như: dày sừng, "nhú sừng", biến đổi sắc tố (tăng, giảm hoặc kết hợp 2 dạng) có những nét đặc trưng của biến đổi ngoài

do asen và hàm lượng asen có trong nước tiểu và tóc rất cao Có thể thấy tình trạng ô nhiễm asen trong nguồn nước của các giếng khoan tại các xã là rất nghiêm trọng Tỷ lệ các giếng có nồng độ asen cao > 0,1 mg/l (gấp 10 lần tiêu chuẩn cho phép) ở hầu hết các xã chiếm tỷ lệ từ 70 - 96% Mặc dù người dân Việt Nam thường sử dụng nước giếng khoan khi qua bể lọc sắt, song hiệu quả loại bỏ asen của nhiều bể do dân tự xây lắp chất lượng chưa cao, nên tỷ lệ các bể có khả năng loại bỏ asen tới giới hạn cho phép chỉ là 41,1% Ngoài ra, nhiều hộ gia đình dùng nước giếng khoan trực tiếp không qua bể lọc (Bộ TN & MT, 2013) [3]

Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn sinh hoạt hầu hết là do hoạt động sản xuất

và sinh hoạt của con người tạo nên, như: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải nông nghiệp thường kèm theo chất thải rắn, chất thải hữu cơ, thuốc trừ sâu, phân bón… Ngoài ra, nguồn nước còn bị ô nhiễm do cấu tạo địa chất, xâm nhập mặn các vùng ven biển, nước sông, kênh, ô nhiễm phèn

Trang 20

2.2.2.3 Một số vùng ô nhiễm tài nguyên nước bị ô nhiễm ở Việt Nam và giải pháp khác phục

Hiện nay ở Việt Nam, Các cấp, cấc ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vẫn đề rất đáng lo ngại

Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng năm

cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp

là rất nặng Ví dụ: Ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD), nhu cầu ôxy hóa học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép

Hàm lường nước thải của của các ngành này có chứa H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt quá 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư

Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn

Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được

xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi

Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khỏe người dân

Trang 21

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vẫn đề môi trường còn chưa cao…Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt

động quản lý, bảo vệ môi trường nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ

quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác,

sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các lãnh thổ lớn chưa có quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu lụt tài chinh, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường

* Giải pháp khắc phục ô nhiễm nước ở Việt Nam

Thời gian qua chúng ta quá lỏng lẻo với các quy định về bảo vệ sự ô nhiễm của môi trường nói chung và các dòng sông nói riêng

- Tuyên truyền vận động nâng cao ý thức cộng đồng, giáo dục môi trường

về ý thức của mỗi người dân không xả rác bừa bãi, xả đúng nơi quy định

- Ngăn chặn tất cả các nguồn xả từ nhà máy, phân xưởng, khu công nghiệp,

- Nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư phải qua khu xử lý trước khi xả

Trang 22

- Lập các hệ thông mương sinh thái trong từng thành phố, từng hộ gia

đình làm vườn sinh thái để giữ nước,

- Nghiêm trị các loại tội phạm môi trường và kiểm soát chặt chẽ ý thức thực hiện môi trường

- Nên có quy hoạch các loại cỏ và cây hoa thủy sinh khác để tạo cảnh quan

và hấp thụ các kim loại nặng, dinh dưỡng, tạp chất, để làm sạch nước sông

2.2.2.4 Một số bệnh thường mắc phải do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm ở Việt Nam

Hơn một phần ba dân số Việt Nam đang nhiễm các bệnh có liên quan

đến việc sử dụng nguồn nước không an toàn và các điều kiện vệ sinh không đảm bảo Không được tiếp cận đầy đủ nước và vệ sinh còn gây ra những vấn

đề nghiêm trọng cho sức khoẻ của trẻ em (44% trẻ em nhiễm bệnh giun sán

và 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) Với sự tăng, phát triển của các ngành công nghiệp tại các địa phương, các nguồn nước sẽ bị ô nhiễm nếu

không tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật về bảo vệ môi trường

Theo các tài liệu khoa học trên thế giới, có hơn 300 loại bệnh lây truyền qua nước Có 2 nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sức khoẻ liên quan đến nước, đó là do vi sinh vật có khả năng truyền bệnh sang người và do các chất hoá học, chất phóng xạ gây ra

Vi sinh vật truyền qua nước gây nên hầu hết các bệnh ở đường tiêu hoá

Vi khuẩn gây bệnh như tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy… Virus gây bệnh như bại liệt, viêm gan… Kí sinh trùng gây bệnh lỵ, amip, giun, sán… Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể con người trực tiếp qua đường nước uống hoặc nước dùng chế biến thực phẩm Những bệnh này có thể gây thành dịch lớn làm cho số người tử vong cao, rất nguy hại cho cộng đồng nếu không

có biện pháp phòng chống tốt

Trang 23

Bên cạnh các nguồn nguyên nhân và một số bệnh thường mắc phải trên, thì nước nhiễm asen cũng là một nguyên nhân đặc biệt nguy hiểm, nó gây ra các bệnh có độ độc tính cao Nếu bị ngộ độc cấp tính bởi asen sẽ có biểu hiện: khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, mạch đập yếu, mặt nhợt nhạt rồi thâm tím, bí tiểu và tử vong nhanh Nếu bị nhiễm độc asen ở mức độ thấp, mỗi ngày một ít với liều lượng dù nhỏ nhưng trong thời gian dài sẽ gây: mệt mỏi, buồn nôn và nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm, da sạm, rụng tóc, sút cân, giảm trí nhớ, mạch máu bị tổn thương, rối loạn nhịp tim, đau mắt, đau tai, viêm dạ dày và ruột, làm kiệt sức, ung thư…

Người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hoá da, gây sạm và mất sắc tố, bệnh Bowen (biểu hiện đầu tiên là một phần cơ thể đỏ ửng, sau đó bị chảy và lở loét) Tình trạng nhiễm độc asen lâu ngày còn có thể gây ung thư (gan, phổi, bàng quang và thận) hoặc viêm răng, khớp gây bệnh tim mạch, cao huyết áp Ảnh hưởng độc hại đáng lo ngại nhất của asen tới sức khoẻ là khả năng gây đột biến gen, ung thư, thiếu máu, các bệnh tim mạch (cao huyết

áp, rối loạn tuần hoàn máu, viêm tắc mạch ngoại vi, bệnh mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim và não), các bệnh ngoài da (biến đổi sắc tố, sạm da, sừng hoá, ung thư da…), tiểu đường, bệnh gan và các vấn đề liên quan tới hệ tiêu hoá, các rối loạn ở hệ thần kinh, ngứa hoặc mất cảm giác ở các chi và khó nghe Sau 15 - 20 năm kể từ khi phát hiện, người nhiễm độc thạch tín sẽ chuyển sang ung thư và chết (Bộ TN & MT, 2013) [3]

2.3 Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

2.3.1 Tổng quan về tài nguyên nước tỉnh Cao Bằng

Do đặc thù Cao Bằng là một tỉnh vùng cao, địa hình phức tạp và bị phân cắt mạnh, theo đó tài nguyên nước mặt cũng phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở một số lưu vực sông lớn như sông Bằng Giang, sông

Trang 24

Gâm, sông Quây Sơn… Một số vùng trong tỉnh còn thường xuyên phải đối mặt với tình trạng thiếu nước

Cao Bằng là vùng thượng nguồn của một số sông thuộc hai hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Tả Giang ( Trung Quốc) Trên địa bàn tỉnh co khoảng gần 1.200 con sông suối có chiều dài từ 2km trở lên với tổng chiều dài 3.175km, mật độ sông suối khoảng 0,47km/km2 Các sông lớn trên địa bàn tỉnh là: sông Bằng Giang, sông Gâm, sông Quây Sơn Đặc điểm của sông suối

là có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, nhất là sông suối thuộc hệ thống sông Quây Sơn và sông Gâm Lưu lượng dòng chảy phân bố ko đều trong năm, tập trung vào mùa lũ (chiếm 60 – 80%) Các hồ hình thành chủ yếu do cấu trúc

địa hình bị chia cắt, trên địa bàn tỉnh có 1 hồ tự nhiên (hồ Thăng Hen) và một

số hồ nhân tạo

2.3.2 Thực trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Chế độ thủy văn các sông ở Cao Bằng phụ thuộc chủ yếu vò chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực Chế độ thủy văn trên các sông thay

đổi theo hai mùa rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ trên các sông ở Cao Bằng

tương đối đồng nhất về thời gian, thường từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 Lượng nước trên các sông suối thường chiếm 65 – 80% lượng nước cả năm Mùa cạn trên các sông bắt đầu từ tháng 10, có năm vào tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, có năm kết thúc vào tháng 6, 7 năm sau

Chất lượng nước tại các sông suối, ao hồ trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây đã và đang bị suy giảm, đặc biệt là các đoạn sông chảy qua địa bàn thị xã và các khu vực có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản

Trong giai đoạn 2012 – 2013, để tận thu và làm giàu quặng các doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống tuyển xoắn, tuyển trọng lực có sử dụng lượng nước lớn gấp nhiều lần so với giai đoạn trước, trong khi đó công nghệ xử lý chưa phù hợp và gây ô nhiễm môi trường tại nhiều khu vực

Trang 25

Các hoạt động khai thác vàng sa khoáng, cát sỏi tại các lòng sông suối không đúng theo quy định đã làm thay đổi dòng chảy ở một số đoạn sông suối, tại các khu vực khai thác trái phép các đoạn sông suối bị ô nhiễm nặng Tổng lượng nước thải đô thị toàn tỉnh hiện nay ước tính khoảng 8.932

m3/ngày giai đoạn 2005 – 2010, hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý

đạt tiêu chuẩn, tình trạng vứt rác thải, vật liệu xây dựng, xác động vật chết

xuống sông đã và đang gây ô nhiễm và mất mỹ quan các dòng sông

Tổng lượng nước thải công nghiệp toàn tỉnh vào những tháng sản xuất cao điểm vào khoảng 702.985 m3/tháng (nguồn thống kê từ các cơ sở nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp) Hầu hết lượng nước thải tuyển rửa quặng từ các mỏ được xử lý bằng phương pháp lắng sau đó tuần hoàn tái sử dụng

Toàn bộ các bãi chôn lấp rác thải tại 13 huyện thị hiện nay vận hành không đúng quy trình chôn lấp, không có hệ thống xử lý nước rỉ rác hoặc hệ thống xử lý nước rỉ rác đã bị hư hỏng Nước rỉ rác, nước mưa chảy tràn qua bãi rác ngấm ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường

Trang 26

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng chính của đề tài là chất lượng nước sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng - tỉnh Cao Bằng

Nghiên cứu tại thành phố Cao Bằng - tỉnh Cao Bằng

3.1.5 Thời gian tiến hành:

Từ ngày 05/05/2014 đến 05/08/2014

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại thành phố Cao Bằng

* Điều kiện tự nhiên

* Điều kiện kinh tế - xã hội

- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

- Cơ cấu dân số và lao động

3.2.2 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại thành phố Cao Bằng

3.3 Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt thành phố Cao Bằng

* Nước giếng

* Nước suối

* Nước máy

Trang 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu

- Thu thập các số liệu, tài liệu về các loại hình tổ chức cung cấp nước sinh hoạt

- Thu thập các số liệu ở các văn bản, báo chí của tỉnh và trên internet

- Tham khảo các tài liệu, giáo trình, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn báo cáo khoa học… có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài bằng cách thu thập số liệu từ các cơ quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục bảo vệ môi trường và các cơ quan có liên quan

Đây là phương pháp thu thập số liệu truyền thống, nhanh và có hiệu quả Chúng ta có thể thu thập được nhiều kiến thức từ phương pháp này, các tài liệu thu thập được giúp chúng ta khái quát các vấn đề cần nghiên cứu 3.4.2 Phương pháp lấy mẫu (theo QCVN 02/2009/BYT)

Thu thập một số mẫu nước điển hình và thuê phân tích một số chỉ tiêu lý, hóa, sinh chủ yếu

3.4.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý thống kê trên máy tính bằng phần mềm Word và phần mềm Excel

3.4.4 Phương pháp so sánh, đánh giá

- So sánh các kết quả phân tích được với tiêu chuẩn môi trường nước mặt của Việt Nam QCVN 02/2009/BYT

Trang 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Cao Bằng

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Cao Bằng nằm giữa huyện Hòa An thuộc vùng núi phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 286 km theo đường quốc lộ 3, cách thị xã Lạng Sơn 120

km theo quốc lộ 4A, ở độ cao trung bình 187 m

- Có vị trí Địa lý:

+ Vĩ độ Bắc 22039 - 22042

+ Kinh độ Đông 106011 - 106018

- Ranh giới quy hoạch theo địa giới hành chính có giới hạn:

- Phía Bắc giáp các xã Ngũ Lão và Bế Triều huyện Hòa An

- Phía Nam giáp xã Hồng Nam huyện Hòa An và giáp xã Kim Đồng huyện Thạch An

- Phía Đồng giáp các xã Quang Trung, Hà Trì huyện Hòa An

- Phía Tây giáp các xã Lê Chung, Bạch Đằng huyện Hòa An

Từ năm 1954 đến nay, thành phố Cao Bằng luôn có sự thay đổi, mở rộng về địa giới hành chính: năm 2002 sáp nhập thêm xã Đề Thám của huyện Hòa An thì thành phố Cao Bằng có 8 đơn vị hành chính (6 phường và 5 xã) tổng diện tích tự nhiên khoảng 5.608 ha, dân số 55.600 người Đến 01/01/2010 thành phố được mở rộng với 11 đơn vị hành chính Khu vực nội thị gồm 6 phường: Hợp Giang, Sông Hiến, Tân Giang, Sông Bằng, Ngọc Xuân, Đề Thám và khu vực ngoại vi gồm 5 xã là Duyệt Trung, Hòa Chung, Chu Trinh, Hưng Đạo,Vĩnh Quang với tổng diện tích là 10.762,81 ha với dân

số 67.411 người Hiện nay thành phố Cao Bằng đã được công nhận là đô thị loại III theo quyết định số 926/QĐ-BXD ngày 18/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng

Trang 29

4.1.2 Địa hình

Địa hình thành phố tương đối bằng phẳng so với các huyện khác trong

tỉnh Có mấy khu đồi cao độ dốc lớn (Như khu Khau Dắm của phường Ngọc Xuân, Đồi Sam Sẩu của phường Sông Hiến, v.v Thành phố Cao Bằng nằm ở hợp lưu của Sông Hiến và Sông Bằng nên chia cắt thành phố ra làm nhiều khu riêng biệt lập

Phần nội thị (phường Hợp Giang) nằm trên bán đảo hình mu rùa tạo nên bởi Sông Bằng và Sông Hiến

- Độ cao trung bình so với mực nước biển là: 187 m

- Độ cao lớn nhất so với mực nước biển là: 250 m

- Độ cao thấp nhất so với mực nước biển là: 180,5 m

Phần lãnh thổ của địa bàn thành phố Cao Bằng có địa hình tương đối phức tạp, chia cắt mạnh với 3 dạng địa hình chính:

- Vùng đồng bằng: Nằm dọc theo Sông Bằng, sông Hiến và các thung lũng ven các khe núi đổ về 2 sông

- Vùng đồi núi thấp: Bao quanh thị xã bởi 3 phía Tây, Nam, Đông

- Vùng đồi núi cao: Tập trung ở phía Đông, có địa hình đồi núi bị chia

cắt mạnh, độ dốc lớn, chiếm ¾ diện tích tự nhiên của thành phố

4.1.3 Đặc điểm, khí hậu, thuỷ văn

4.1.3.1 Đặc điểm khí hậu:

Do nằm sát Chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu nên khí hậu thành phố mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa nóng ẩm mưa nhiều ( từ tháng 5 đến tháng 10 ), mùa khô lạnh

và hanh ( từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Tuy nhiên do sự chi phối của địa hình và do ảnh hưởng độ cao nên mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục

địa miền núi cao, mùa hè mát mẻ, mùa Đông lạnh hơn so với các tỉnh đồng

bằng bắc bộ

Trang 30

Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 21,60C Trong đó cao tuyệt đối là 40,50C (tháng 6) , thấp tuyệt đối 3,20C (tháng 12) Số giờ nắng trung bình trong năm đạt 1.568,9 giờ Tổng tích ôn trong năm đạt khá: 7.000 - 7.5000C Biên độ dao động nhiệt độ ngày đêm là 8,40C

Về chế độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình là 81%, độ ẩm cao nhất 86%, độ ẩm thấp nhất 36%

Về chế độ mưa: lượng mưa trung bình năm là 1.020,3mm, cao nhất vào tháng 5: 120,9mm, thấp nhất vào tháng 12: 70,4mm Vào mùa khô lượng bốc hơi thường lớn hơn lượng mưa gây ra khô hạn cục bộ ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt và sản xuất của người dân

Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 thường tập trung với cường độ lớn (chiếm tới trên 70% lượng mưa cả năm), cùng với địa hình tương đối dốc , chia cắt mạnh gây ra xói mòn, sạt lở đất đai nghiêm trọng Lượng mưa trung bình năm là 1442,7 mm tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7, 8

Về lượng bốc hơi: lượng bốc hơi trung bình năm là 1.020,3 mm Trong các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), lượng bốc hơi thường lớn hơn lượng mưa; chỉ số ẩm ướt trong các tháng này thường dưới 0,5 nên gây ra tình trạng khô hạn nghiêm trọng

Về hướng gió chủ đạo: Đông Nam và Nam là hai hướng chủ đạo, tốc độ gió mạnh nhất có khi lên tới 40 m/s

Với đặc điểm khí hậu ở thành phố Cao Bằng như trên, cho phép có thể gieo trồng nhiều vụ cây ngắn ngày trong năm, song mưa lớn thường tập trung trong các tháng mùa mưa thường gây lũ, lở đất trong mùa khô, hệ số

ẩm ướt thấp thường gây khô hạn nếu một khi không giải quyết được lượng

nước tưới bổ sung

Ngày đăng: 11/04/2018, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm