1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thuế giá trị gia tăng

68 690 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 106,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thuế GTGT có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu,khuyến khích đầu tư và từ đó, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Đối vớiđầu tư, xuất khẩu và tăng trưởng: Với cơ c

Trang 1

Đề tài Tìm hiểu thuế giá trị

gia tăng

Trang 2

7. Bùi Thanh Mai (nhóm trưởng) CQ532436

8. Nguyễn Thị Tuyết Mai CQ532463

9. Nguyễn Tuấn TàiCQ533337

10. Nguyễn Thị Linh ThuậnCQ533737

11. Trần Thị Hải Vân CQ534464

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

1.Nội dung

A.Giới thiệu chung về thuế GTGT Nguyễn Văn Dũng

Nguyễn Tuấn TàiNguyễn Thị Linh ThuậnB.Một số bất cập trong quá trình triển khai thuế

GTGT

Tăng Thị HuyềnBùi Thanh Mai

Vũ Diệu HuếC.Một số hình thức gian lận thuế GTGT Lê Văn Kiểm

Vũ Thùy LinhTrần Thị Hải Vân

Nguyễn Thị Tuyết Mai

MỤC LỤC

Trang

Trang 3

A. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

I KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Ðây là một loại

thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hànghoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuốicùng là giai đoạn tiêu dùng Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanhthu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước

Thuế gía trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và dongười tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ

2 Vai trò của thuế GTGT

Vì thuế GTGT có diện điều chỉnh rộng (đối với mọi hàng hoá, dịch vụdùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt nam), hơn nữa khắc phụcđược những nhược điểm của thuế doanh thu trong cơ chế thị trường đó làkhông thu thuế trùng lắp vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh nên

có tác dụng:

Trang 4

- Đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định và kịp thời cho NSNN, từ đó gópphần tăng cường tài chính quốc gia, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế -

xã hội, xoá đói, giảm nghèo và củng cố an ninh, quốc phòng

- Thuế GTGT có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu,khuyến khích đầu tư và từ đó, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Đối vớiđầu tư, xuất khẩu và tăng trưởng: Với cơ chế đặc thù về khấu trừ, hoàn lạithuế GTGT đầu vào đã trả khi mua các sản phẩm dùng cho SXKD hàng hoá,dịch vụ chịu thuế; hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu được áp thuế 0% (không phảinộp thuế khi xuất khẩu mà còn được hoàn lại toàn bộ số thuế đầu vào đã trả);tài sản đầu tư được hoàn lại thuế GTGT theo định kỳ khi dự án chưa có sảnphẩm đầu ra (hoặc được khấu trừ ngay đối với trường hợp vừa có dự án đầu

tư, vừa có hoạt động kinh doanh phát sinh thuế đầu ra

- Khuyến khích và thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường hạch toán kinhdoanh, thực hiện tốt chế độ kế toán, lưu giữ hoá đơn, chứng từ; góp phần vàoviệc chống trốn, lậu thuế; nâng cao tinh thần tự giác của các đối tượng kinhdoanh

- Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, làm cho hệ thốngchính sách thuế từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó tạo thuận lợicho quá trình hội nhập kinh tế của nước ta với khu vực và thế giới

II ÐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ VÀ NỘP THUẾ GIÁ TRỊ GIATĂNG

1. Ðịnh nghĩa đối tượng chịu thuế:

Theo Luật số 13/2008/QH12: Ðối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là

“hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam,

Trang 5

trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật thuế giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành.”

2. Ðối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng:

Luật số: 31/2013/QH13

1 Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưachế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổchức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu

2 Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống,con giống, cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền

3 Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụsản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp

4 Sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muốitinh, muối i-ốt mà thành phần chính là Na-tri-clo-rua (NaCl).”

5 Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đangthuê

6 Chuyển quyền sử dụng đất

7 Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm người học, cácdịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểmcây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền,trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷsản; tái bảo hiểm

8 Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán sau đây:a) Dịch vụ cấp tín dụng bao gồm: cho vay; chiết khấu, tái chiết khấucông cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tàichính; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốctế; hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật;

b) Dịch vụ cho vay của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng;

Trang 6

c) Kinh doanh chứng khoán bao gồm: môi giới chứng khoán; tự doanhchứng khoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán; tư vấn đầu tư chứng khoán;lưu ký chứng khoán; quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu

tư chứng khoán; dịch vụ tổ chức thị trường của sở giao dịch chứng khoánhoặc trung tâm giao dịch chứng khoán; hoạt động kinh doanh chứng khoánkhác theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

d) Chuyển nhượng vốn bao gồm: chuyển nhượng một phần hoặc toàn

bộ số vốn đã đầu tư, kể cả trường hợp bán doanh nghiệp cho doanh nghiệpkhác để sản xuất, kinh doanh, chuyển nhượng chứng khoán; hình thức chuyểnnhượng vốn khác theo quy định của pháp luật;

đ) Bán nợ;

e) Kinh doanh ngoại tệ;

g) Dịch vụ tài chính phái sinh bao gồm: hoán đổi lãi suất; hợp đồng kỳhạn; hợp đồng tương lai; quyền chọn mua, bán ngoại tệ; dịch vụ tài chính pháisinh khác theo quy định của pháp luật;

h) Bán tài sản bảo đảm của khoản nợ của tổ chức mà Nhà nước sở hữu100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tíndụng Việt Nam.”

9 Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh,phòng bệnh cho người và vật nuôi

10 Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và In-ter-net phổ cập theochương trình của Chính phủ

11 Dịch vụ duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đườngphố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ tang lễ

12 Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhândân, vốn viện trợ nhân đạo đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, côngtrình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xãhội

13 Dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật

Trang 7

14 Phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng nguồn vốn ngân sách nhànước.

15 Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành,sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoahọc - kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyêntruyền cổ động, kể cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệuđiện tử; tiền, in tiền

16 Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện

17 Máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư thuộc loại trong nước chưa sảnxuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoahọc, phát triển công nghệ; máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiệnvận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cầnnhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khíđốt; tàu bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại trong nước chưa sản xuất đượccần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc thuê của nướcngoài để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, cho thuê, cho thuê lại

18 Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh

19 Hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợkhông hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổchức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; quà biếu, quà tặng cho

cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định của Chính phủ; đồ dùng của tổ chức,

cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theongười trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế

Hàng hóa, dịch vụ bán cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc

tế để viện trợ nhân đạo, viên trợ không hoàn lại cho Việt Nam

20 Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạmnhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệunhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất;

Trang 8

gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài; hàng hóa, dịch vụ được muabán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quanvới nhau.

21 Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao côngnghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trítuệ; phần mềm máy tính

22 Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành sảnphẩm mỹ nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác

23 Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chếbiến thành sản phẩm khác

24 Sản phẩm nhân tạo dùng để thay thế cho bộ phận cơ thể của ngườibệnh; nạng, xe lăn và dụng cụ chuyên dùng khác cho người tàn tật

25 Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thuhàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống

Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăngquy định tại Điều này không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầuvào, trừ trường hợp áp dụng mức thuế suất 0% quy định tại khoản 1 Điều 8của Luật này

3 Ðối tượng nộp thuế giá trị gia tăng:

Ðối tượng nộp thuế giá trị gia tăng là các tổ chức, cá nhân sản xuất,kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩuhàng hoá chịu thuế là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng

3.1 Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ:

- Doanh nghiệp nhà nước,

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham giahợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Trang 9

- Các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh

ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

- Doanh nghiệp tư nhân

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

3.2 Cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ:

Bao gồm những người có kinh doanh độc lập, hộ gia đình, cá nhân hợptác với nhau để cùng sản xuất kinh doanh nhưng không hình thành pháp nhânkinh doanh

Trang 10

III CĂN CỨ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ

1 Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng:

Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất

1.1Giá tính thuế giá trị gia tăng: (theoluật thuế giá trị gia tăng 13/2008/QH 12

được sửa đổi bổ sung)

1.1.1 Giá tính thuế được quy định như sau:

a) Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giábán chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụđặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị giatăng; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo

vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuếtiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặcbiệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng;

b) Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuếnhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuếbảo vệ môi trường (nếu có) Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quyđịnh về giá tính thuế hàng nhập khẩu

c) Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu,tặng cho là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặctương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này;

d) Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuếgiá trị gia tăng

Trang 11

đ) Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tínhtheo giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hoá đó, khôngbao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm;

e) Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế giá trị giatăng;

g) Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mụccông trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế giá trị gia tăng.Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết

bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyênvật liệu và máy móc, thiết bị;

h) Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sảnchưa có thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuêđất phải nộp ngân sách nhà nước;

i) Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụhưởng hoa hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuếgiá trị gia tăng;

k) Đối với hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giáthanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác địnhtheo công thức sau:

Trang 12

1.1.3 Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam Trường hợpngười nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Namtheo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng doNgân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu đểxác định giá tính thuế.

1.2 Thuế suất thuế giá trị gia tăng:

Hiện nay các nước áp dụng thuế VAT có sự khác nhau trong việcthiết kế mức thuế suất và số lượng thuế suất trong đạo luật thuế giá trị giatăng Một số nước thực hiện cơ cấu một mức thuế suất như Ðan Mạch (22 %),Nhật Bản, Singapo (3%), Italia (38%) Một số nước khác thực hiện cơ cấunhiều thuế suất như: Bỉ, Colombia (6 mức thuế suất), Pháp (5 mức thuếsuất)

Luật thuế gía trị gia tăng của Việt Nam hiện hành quy định 3 mứcthuế suất là: 0 % ,5 % , 10 % áp dụng cho các nhóm hàng hóa, dịch vụ

• Trong đó mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu

• Mức thuế suất5%,10% phân biệt theo tính chất và công dụng của sản phẩm

2 Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng:

Trang 13

Có 2 phương pháp: phương pháp khấu trừ và phương pháp tính thuếtrực tiếp trên GTGT

2.1 Phương pháp khấu trừ thuế:

• Đối tượng áp dụng: các tổ chức kinh doanh và doanh nghiệp bao gồm DNNN,

DN đầu tư nước ngoài, DNTN, công ty cổ phần, hợp tác xã …

• Yêu cầu đối với các đối tượng nộp thuế: có đầy đủ các căn cứ, hóa đơn chứng

từ hợp pháp để xác định số thuế GTGT được khấu trừ đầu vào

• Quy định về hóa đơn, chứng từ:

• Khi lập hóa đơn phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định và ghi rõ: giá bánchưa có thuế, kể cả phụ phí, thuế GTGT và tổng giá thanh toán với người mua

• Trường hợn trên hóa đơn không ghi rõ các chi tiết trên mà chỉ ghi tổng số tiềnngười mua phải thanh toán thì đơn vị mua hàng hóa không được khấu trừ thuếGTGT đầu vào

• Quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

• Các cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào củahàng hóa, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ chịuthuế GTGT

• Tỷ lệ khấu trừ đối với từng loại hàng hóa do Chính phủ quy định

• Thuế đầu vào của hàng hóa dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh thuộc diệnchịu thuế GTGT mua vào tháng nào sẽ được kê khai khấu trừ toàn bộ số thuếphải nộp trong tháng đó không phân biệt đã xuất dùng hay chưa xuất dùnghay chưa

Trang 14

Phương pháp tính:

thuế GTGT phải nộp =thuế GTGT đầu ra trừ - thuế GTGT đầu vào

được khấu trừ

Trong đó

Nếu hàng hóa chỉ chịu thuế GTGT:

VAT đầu ra = doanh thu x thuế suất thuế GTGT

VAT đầu vào = chi phí x thuế suất thuế GTGT

Nếu hàng hóa chịu thuế TTĐB: thì đương nhiên chịu thuế GTGT

VAT đầu ra = ( doanh thu + thuế TTĐB đầu ra) x thuế suất VAT

VAT đầu vào = ( chi phí + thuế TTĐB đầu vào) x thuế suất VAT

Nếu hàng hóa chịu thế nhập khẩu, thuế TTĐB và thuế GTGT

VAT đầu vào = ( chi phí + thuế nhập khẩu + thuế TTĐB đầu vào) x thuế suất GTGT

2.2 Phương pháp tính trực tiếp trên gía trị gia tăng:

Đối tượng áp dụng:

Tổ chức cá nhân là người nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam khôngtheo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Trang 15

Cơ sở sản xuất kinh doanh không có tư cách pháp nhân hay có hoạt

động mua bán vàng bạc đá quý

Quy định về hóa đơn chứng từ:

Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế trực tiếp trên GTGT sử

dụng hóa đơn bán hàng do bộ Tài chính phát hành

Khi lập hóa đơn bán hàng, cung cấp dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi

đầy đủ, đúng các yếu tố: giá bán, các khoản mục phụ thu, phí ngoài giá bán và

tổng giá đã thanh toán

Phương pháp tính:

Số thuế GTGT phải nộp = GTGT của hàng hóa dịch vụ chịu

thuế x thuế suất thuế GTGT củahàng hóa dịch vụ đó

Trong đó:

GTGT của hàng hóa dịch vụ = giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ

- giá vốn của hàng hóa, dịch vụ muavào tương ứng

Trang 16

B MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Từ thực tiễn thi hành cho thấy Luật Thuế VAT đã góp phần khuyếnkhích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy phát triển sản xuất kinhdoanh Thông qua việc hoàn thuế VAT đầu vào đối với các dự án đầu tư đãtạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển công nghệ, đầu tư đổi mới tài sản cốđịnh, góp phần thúc đẩy vốn đầu tư xã hội tăng trưởng Việc áp dụng thuếsuất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đã tạo điều kiện cho doanhnghiệp hạ giá hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trêntrường quốc tế

Ngoài ra, việc ban hành Luật thuế VAT với những nội dung phù hợpvới thông lệ quốc tế là một bước tiến mới trong quá trình thực hiện các camkết của Việt Nam khi gia nhập WTO và các hiệp định về thuế Theo cam kếtcủa Việt Nam khi hội nhập quốc tế, Việt Nam phải cắt giảm thuế quan, đồngthời phải bãi bỏ các khoản trợ cấp trực tiếp từ ngân sách cho doanh nghiệp,việc thu thuế VAT đối với hàng nhập khẩu, hoàn thuế cho hàng xuất khẩu đãgóp phần điều chỉnh cơ chế kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng vẫnkhuyến khích được các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, bảo hộ nềnsản xuất trong nước và bù đắp cho ngân sách phần thiếu hụt do cắt giảm thuếquan

Luật VAT ban hành là cơ sở pháp lý vững chắc để ổn định nguồn thu từthuế VAT vào ngân sách nhà nước, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế -

xã hội Luật thuế VAT đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện pháp luật về kếtoán, thuế của doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực quản trị của doanhnghiệp, hiện đại hóa và đổi mới phương thức quản lý thuế

Bên cạnh những mặt đạt được nêu trên, trong quá trình thực thi LuậtVAT cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, cần được sửa đổi Luật VAT baogồm 16 điều với những qui định đơn giản, còn thiếu cụ thể tạo ra nhiều lỗhổng và gây nên sự tùy tiện trong quá trình áp dụng Điều này dẫn đến phải

Trang 17

ban hành các văn bản hướng dẫn Tuy nhiên, trên thực tế các văn bản này lạichỉ là những giải pháp tình thế, không dựa trên một cơ sở lý luận có hệ thống

về điều chỉnh pháp luật VAT, thậm chí nhiều lúc còn mâu thuẫn với luật, dẫnđến sắc thuế VAT nhiều khi bị bóp méo

Ngày 19 tháng 6 năm 2013, Luật số: 31/2013/QH13 “SỬA ĐỔI, BỔSUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG” được banhành, có hiệu lực thực hiên vào 1/1/2014 (một số điểm có hiệu lực vào1/7/2013) đã sửa đổi 1 số thiếu sót của Luật thuế Giá trị gia tăng 2008 Tuynhiên vẫn còn những bất cập trong quá trình kê khai, tính và nộp thuếgây khókhăn cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý như sau:

1. Về đối tượng chịu thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế:

Ngày 3/6/2008 Luật VAT được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳhọp thứ 3 và có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/1/2009 Điểm mới cơ bản củaLuật thuế này so với Luật VAT trước đây là thu hẹp đối tượng không chịuthuế và diện áp dụng thuế suất 5%, bổ sung qui định điều kiện khấu trừ thuếđối với hàng hóa, dịch vụ mua vào có giá trị từ 20 triệu VN Đ trở lên phảithanh toán qua ngân hàng, bỏ các phần qui định liên quan đến quản lý thuế

Điều 3 Luật VAT sửa đổi bổ sung năm 2013 qui định: “Hàng hóa, dịch

vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượngchịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này”.Vậy về nguyên tắc, mọi hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượngchịu thuế này rất cần thiết để đảm bảo tính liên hoàn của thuế VAT Tuynhiên, bất kỳ một quốc gia nào khi xem xét ban hành Luật VAT cũng đều tínhtới ngoại lệ trong đối tượng chịu thuế, bởi lẽ xuất phát từ yêu cầu phải thựchiện các chính sách kinh tế xã hội nhất định Chính vì vậy, hiện nay theo LuậtVAT có 25 đối tượng không thuộc diện chịu thuế VAT Đây là những hànghóa, dịch vụ mang tính thiết yếu, phục vụ cho đời sống nhân dân, không mangtính chất kinh doanh hoặc là những hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu vì mục

Trang 18

tiêu nhân đạo, hàng hóa, dịch vụ của các ngành cần khuyến khích phát triển(như sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm muối), hàng hóa, dịch vụ khó xác địnhgiá trị tăng thêm (dịch vụ tín dụng, kinh daonh chứng khoán, bảo hiểm nhânthọ, bảo hiểm vật nuôi…), hàng hóa mang tính chất phụ vụ nhu cầu đặc biệtcủa Nhà nước cần bảo mật (vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng,

an ninh)….Có thể nhận định rằng, việc qui định trên là phù hợp với chủtrương chung về ưu đãi thuế, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể sản xuất, kinh

doanh, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, nhưng trên thực tế nhiều trường hợp lại mâu thuẫn với mục tiêu của các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách ưu đãi này.Sau đây chúng tôi xin phân tích 1 số bất cập trên các đối tượng sau:

Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến

thiết bị, máy móc chuyên dùng thuộc dây chuyền công nghệ, vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được

các hàng hóa, dịch vụ như dịch vụ y tế công cộng; hoạt động dạy học, dạy nghề; hoạt động văn hóa, xuất bản báo chí, phát thanh, truyền hình; các dịch vụ công ích; dịch vụ tưới tiêu thủy lợi

Chuyển quyền sử dụng đất

Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến

Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống.

Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể dưới đây:

− Đối với các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm không thuộc diện chịu thuếthì giá thành sản phẩm thường cao vì giá này thường bao gồm cả số thuế VAT

đã trả khi mua nguyên liệu, máy móc, thiết bị vào (do không có thuế VATđầu ra để khấu trừ) Ngược lại, đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóathuộc diện chịu thuế VAT nhưng do nguyên liệu đầu vào thuộc diện khôngchịu thuế nên không được hưởng lợi thế khấu trừ, vì vậy khi áp dụng thuếVAT sẽ phải tăng giá bán hoặc giảm giá mua để đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế

Ngoài ra, Khoản 1, Điều 5 Luật VAT qui định: “ Sản phẩm trồng trọt, chăn

Trang 19

nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm

khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánhbắt bán ra và ở khâu nhập khẩu” không thuộc đối tượng chịu thuế VAT Vậyđối với trường hợp doanh nghiệp chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản theo hìnhthức ký hợp đồng chăn nuôi với các hộ gia đình có tay nghề cao, doanhnghiệp chỉ cung cấp thuốc men, con giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi, còn

hộ gia đình có trách nhiệm tổ chức nuôi, trao sản phẩm và được thanh toántiền công Vậy doanh thu từ tiền chăn nuôi của hộ gia đình có thuộc đối tượngchịu thuế VAT không? Khi thu hồi sản phẩm, doanh nghiệp bán sản phẩmchưa qua chế biến có thuộc đối tượng chịu thuế không? Điều này chưa đượclàm rõ trong luật, gây ra các cách hiểu không nhất quán

Bên cạnh đó việc hàng hóa là nông, lâm, thủy, hải sản chưa qua chếbiến không phân biệt trực tiếp sản xuất hay kinh doanh thương mại là đốitượng không chịu thuế GTGT tuy tác dụng bảo hộ sản xuất kinh doanh(SXKD) trong nước đối với những mặt hàng này nhưng sẽ khiến cho tính chấthàng hóa của các đối tượng này không được coi trọng, khả năng cạnh tranhkhu vực, quốc tế ngày càng giảm sút và là nguyên cớ để các quốc gia dựngrào cản thương mại với hàng nông, lâm, thủy, hải sản xuất khẩu của ViệtNam

Đối với các loại thiết bị, máy móc chuyên dùng thuộc dây chuyền công nghệ, vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được, cần nhập khẩu

không phải chịu thuế GTGT, qua thời gian thực hiện cho thấy việc khôngđánh thuế GTGT vào nhóm đối tượng này nhằm giúp các nhà đầu tư khôngphải ứng vốn để trả trước tiền thuế, nhưng chi phí và thời gian cho ngành thuếxác định hết được danh mục các đối tượng diện này khá khó khăn Và khikhông quản lý hết được thì vô tình sắc thuế này đang tạo ra một cuộc cạnhtranh không cân sức của các loại thiết bị, máy móc chuyên dùng thuộc dây

Trang 20

chuyền công nghệ, vật tư xây dựng trong nước có thể sản xuất được với hàngnhập khẩu.

Đối với các hàng hóa, dịch vụ như: dịch vụ y tế công cộng; hoạt động dạy

học, dạy nghề; hoạt động văn hóa, xuất bản báo chí, phát thanh, truyền hình;các dịch vụ công ích; dịch vụ tưới tiêu thủy lợi; dịch vụ quốc phòng an ninh;chuyển quyền sử dụng đất, nhà của nhà nước bán cho người tiêu dùng… đếnnay vẫn chưa có tên trong danh sách chịu thuế GTGT Đây là một kẽ hở khálớn vừa làm thất thu cho NSNN vừa chưa tạo ra sự công bằng đối với các chủthể đầu tư vốn kinh doanh ở các lĩnh vực khác

− Bên cạnh đó, việc qui định đối tượng không thuộc diện chịu thuế tại Khoản

23 Điều 5 luật 2008 “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thácchưa chế biến theo quy định của Chính phủ” còn nhiều bất cập, bởi lẽ đây làloại sản phẩm đặc thù, chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành – Luậtkhoáng sản Nếu Nghị định của Chính phủ không theo qui định của luật này,

có cách hướng dẫn khác thì theo nguyên tắc áp dụng pháp luật vẫn phải theoqui định của luật Khoáng sản Nếu Nghị định theo qui định của Luật Khoángsản thì khi luật này sửa đổi, nghị định cũng phải sửa theo Việc luật thuế VATkhông qui định cụ thể về vấn đề trên mà lại trao thẩm quyền cho Chính phủhướng dẫn sẽ dẫn đến tình trạng bất lợi về hiệu lực áp dụng, gây ra sự chậmtrễ trong áp dụng pháp luật, ảnh hưởng tới quyền lợi của các chủ thể trong

quan hệ thuế VAT Bởi vậy mà trong luật sửa đổi 2013 đã sửa thành “ Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác”

− Khoản 6, điều 5, luật VAT 6: “Chuyển quyền sử dụng đất.”

Thu nhập chịu thuế GTGT là giá trị chuyển nhượng bất động sản trừ đigiá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm chuyển nhượng Ví dụ, giá trị chuyểnnhượng của một bất động sản là 8 tỷ VND, trong khi giá trị tòa nhà trên đấtđược xác định là 5 tỷ VND thì số chênh lệch 3 tỷ VND là giá trị của quyền sửdụng đất Thu nhập chịu thuế GTGT trong trường hợp này chỉ là 5 tỷ VND

Trang 21

Tuy nhiên, trong thực tế, có nhiều vấn đề phát sinh trong quá trìnhthực hiện mà các đối tượng chịu thuế gặp phải.

Thứ nhất, làm thế nào để có thể xác định và thống nhất giá trị quyền

sử dụng đất tại thời điểm chuyển nhượng cho mục đích giảm trừ tính thuếGTGT? Theo Thông tư 129, trong trường hợp giá đất tại ngày chuyển nhượng

do đối tượng chịu thuế khai không được xem là có đủ cơ sở để xác định giáhợp lý để tính thuế GTGT theo luật định, thì giá đất được khấu trừ sẽ là giáđất (hoặc tiền thuê đất) được quy định bởi UBND tỉnh tại ngày chuyểnnhượng bất động sản

Theo một số công văn của Bộ Tài chính, DN và khách hàng có thểtham khảo giá đất niêm yết tại Trung tâm giao dịch bất động sản hoặc ký kếthợp đồng với các cơ quan định giá để xác định giá đất tại ngày chuyểnnhượng bất động sản Điều này có nghĩa là sử dụng “giá thị trường”.Vậy, liệu

“giá thị trường” này đối với đất có thể được xác định một cách “trung thực vàhợp lý” và có thể được cơ quan thuế chấp nhận hay không?

Thứ hai, đối với giao dịch bán căn hộ chung cư, đặc biệt là chung cưcao tầng, làm thế nào để để tính phân bổ giá trị quyền sử dụng đất chung chotừng căn hộ chung cư cho mục đích khấu trừ thuế GTGT? Thông tư hiện hành

về thuế không đề cập hướng dẫn cụ thể về vấn đề này Việc tham khảo Luậtđất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản và các quy định thực hiệnliên quan khác là cần thiết trong trường hợp này và đây là vấn đề rất phức tạp

về mặt pháp lý Chúng tôi đã có cơ hội xem xét một số giấy tờ chủ quyền vềquyền sử dụng đất của nhiều dự án căn hộ chung cư cao tầng khác nhau vànhận thấy cách tính toán phân bổ và trình bày về việc phân bổ đất sử dụngcho các căn hộ của những dự án này rất khác nhau kể cả trong trường hợp các

dự án nằm trong cùng một thành phố

Cuối cùng, việc khấu trừ giá trị quyền sử dụng đất trong thu nhậpchịu thuế GTGT sẽ dẫn đến nhà đầu tư phát triển bất động sản bị coi là đốitượng được miễn một phần thuế GTGT Do đó, họ có thể không được khấu

Trang 22

trừ toàn bộ số thuế GTGT đầu vào phát sinh liên quan đến hoạt động bất độngsản Hay nói cách khác, thuế GTGT đầu vào phát sinh liên quan đến thu nhậpchuyển nhượng quyền sử dụng đất được miễn thuế GTGT (như chi phí cải tạođất), sẽ không được khấu trừ là GTGT đầu vào

Trong trường hợp không thể xác định được chính xác số thuế GTGTđầu vào liên quan đến thu nhập chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thuếGTGT đầu vào được khấu trừ phải được tính căn cứ trên tỷ lệ thu nhập chịuthuế GTGT trên tổng thu nhập Điều này có thể dẫn đến trường hợp một phầnthuế GTGT đầu vào không được khấu trừ và trở thành chi phí của nhà đầu tưkinh doanh phát triển bất động sản

Hiện nay (trước khi luật thuế GTGT sửa đổi được áp dung 1/1/2014)quy

định cả các hộ đăng ký kinh doanh có quy mô nhỏ, doanh số thấp cũng thuộcdiện chịu thuế GTGT đang gây khó khăn lớn cho các cán bộ và cơ quan thuếđịa phương, hiệu quả thu thuế rất thấp Nhằm bảođảm quản lý thuế có hiệuquả và khuyến khích kinh tế tư nhân, động viên các cá nhân, hộ gia đình làmgiàu chính đáng chúng ta cần phân loại các đối tượng nộp thuế theo mức thu,

tỷ lệ thu để vừa bảođảm không bỏ sót nguồn thu, vừa nâng cao hiệu quả thu.Một nguyên tắc bất di bất dịch là: khoản thu thuế từ các đối tượng phải lớnhơn chi phí cơ quan thuế phải chi ra để thu thuế Theo đó, cần tập trung quản

lý thu đối với các doanh nghiệp vừa và lớn, các hộ kinh doanh có mức doanhthu lớn Khoản thu của các đối tượng này ổn định là nguồn thu chủ yếu chongân sách Đối với các hộ kinh doanh nhỏ, doanh thu dưới ngưỡng tính thuế(dưới 500 triệu đồng/tháng) thì nên đưa ra khỏi đối tượng nộp thuế GTGT, ápdụng hình thức thuế khoán theo tỷ lệ % trên doanh thu (khoảng từ 1-2%) Tỷ

lệ thu này cũng tương đương với thuế suất tính trên doanh thu hiện nay củamột số nước ở khu vực Châu Á đang áp dụng

Điểm 25 điều 1 luật thuế GTGT 2013 quy định Chuyển đổi căn cứ đểxác định hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT của hộ, cá nhân kinhdoanh có thu nhập thấp từ tiêu thức thu nhập so với mức tiền lương tối thiểu

Trang 23

sang tiêu thức doanh thu để đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với thông lệ quốc

tế và bản chất của thuế GTGT Qua tính toán, mức doanh thu để xác địnhhàng hoá, dịch vụ không chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh là từ 100 triệuđồng/nămtrở xuống, tương đương với hơn 8 triệu đồng/tháng không phân biệtngành nghề, địa bàn

“25 Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống.

Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều này không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào, trừ trường hợp áp dụng mức thuế suất 0% quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật này.”

2. Vềthuế suất

Hiện nay có 2 mức thuế suất 5% và 10% (không kể thuế suất 0%).Sovới mục tiêu cải cách thuế bước 3 thì Luật VAT năm 2008 đã không hoànthành Nguyên nhân là do một số hàng hóa, dịch vụ (sản phẩm thiết yếu, sảnphẩm công nghiệp nặng, công nghiệp phụ vụ nông nghiệp ) vẫn cần có sự ưuđãi từ phía nhà nước thông qua việc áp dụng mức thuế suất thấp hơn các hànghóa, dịch vụ khác Tuy nhiên, việc qui định cùng 1 lúc nhiều mức thuế suất đãtạo ra sự không công bằng giữa các hàng hóa, dịch vụ thuộc các mức thuếsuất khác nhau.Hơn nữa, việc qui định này lại dựa trên công dụng của hànghóa hoặc nguyên vật liệu trong kết cấu nên rất khó xác định thuế suất đối vớitừng mặt hàng.Trên thực tế, cơ quan thuế và doanh nghiệp nhiều khi cũngkhông xác định được hàng hóa chịu mức thuế suất là bao nhiêu (5% hay10%)

Ví dụ,Điểm c, Khoản 2, Điều 8 Luật VAT qui định: Thức ăn gia súc,gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác thuộc diện áp dụng thuế suất 5% Thực

tế có những sản phẩm vừa sử dụng với mục đích làm thực phẩm cho conngươi, vừa làm thức ăn gia súc như ngô mảnh, sắn mảnh thì áp dụng thuế

Trang 24

suất là bao nhiêu (5% hay 10%)? Điều này cho thấy xét về hiệu quả quản lý

và cả về mặt lý luận thì xu hướng chuyển dần sang áp dụng 1 mức thuế suất làphù hợp và cần thiết, hạn chế được những cách hiểu và vận dụng luật khôngthống nhất, gây bất bình đẳng trong xã hội

Ngoài ra, hiện nay, việc xây dựng tiêu chí cơ bản nhằm xác định khi

nào thì dịch vụ xuất khẩu được hưởng thuế suất VAT 0% chưa rõ ràng, do

đó gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp trong việc muốn được hưởng lợiích của qui định này

Vấn đề đặt ra là tại sao chỉ ràng buộc điều kiện về dịch vụ tiêu dùngngoài lãnh thổ Việt Nam đối với dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân ởtrong khu phi thuế quan mà không áp dụng đối với dịch vụ cung cấp cho tổchức, cá nhân nước ngoài nói chung? Nếu không áp dụng thì cơ sở đánh thuếđối với trường hợp người nước ngoài đến Việt Nam và sử dụng các dịch vụtại Việt Nam là gì? Thực tế, các tổ chức, cá nhân nước ngoài đến Việt Namnếu tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam vẫn phải thanh toán theo giá đã có thuế.Vậy việc qui định không rõ ràng đã dẫn đến sự không công bằng trong việcthực hiện nghĩa vụ thuế và hiện tượng gian lận thuế dễ xảy ra Ví dụ, dịch vụ

ăn uống cung cấp cho cá nhân nước ngoài hay trong nước thì đều áp dụngthuế suất VAT 10% nhưng dịch vụ tư vấn cung cấp cho cá nhân trong nướcthì có thuế suất là 10% còn cung cấp cho người nước ngoài được áp dụng thuếsuất 0%, mặc dù người nước ngoài đó đến Việt Nam và sử dụng dịch vụ tưvấn tại Việt Nam nhưng người cung cấp dịch vụ tư vấn chỉ cần xuất trình cho

cơ quan thuế hợp đồng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng chứ không cónghĩa vụ xác định dịch vụ được thực hiện và tiêu dùng ở đâu

3 Trong kê khai hóa đơn nộp thuế

Hóa đơn là chứng từ kế toán do người bán lập để ghi nhận thông tinbán hàng hóa hoặc dịch vụ Đây là một loại chứng từ gốc đặc biệt quan trọng

cả trên phương diện quản lý tài chính doanh nghiệp (DN) và trên phương diện

Trang 25

quản lý thuế của cơ quan nhà nước Về phía người bán, hàng hóa, dịch vụ,hóa đơn là chứng từ gốc xác định doanh thu (giá) tính nhiều sắc thuế quantrọng liên quan đến DN như: thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế giátrị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu.

Về phía người mua hàng hóa, dịch vụ, hóa đơn là chứng từ gốc để xác địnhthuế GTGT đầu vào được khấu trừ, chi phí tính thuế TNDN

Quy định về quản lý hóa đơn bán hàng còn chưa chặt chẽ.

.+Thứ nhất, đối tượng tự in hoặc tự đặt in quá rộng

Thông tư 153/2010/TT-BTC quy định chỉ bán hóa đơn do cơ quan thuếđặt in cho DN siêu nhỏ và DN ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn và một số ítđối tượng khác, còn các DN thì phải tự đặt in hóa đơn hoặc nếu đủ điều kiệnthì sử dụng hóa đơn tự in Thông tư 64/2013/TT-BTC thay thế Thông tư153/2010/TT-BTC tiếp tục mở rộng đối tượng tự đặt in hoặc tự in hóa đơn.Theo đó, DN siêu nhỏ và DN ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn cũng phải tựđặt in hoặc tự in hóa đơn, cơ quan thuế không bán hóa đơn cho các DN nàynữa Quy định này có mặt tích cực là trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệmcho người nộp thuế và nó đặc biệt tốt cho các DN sử dụng số lượng lớn hóađơn lớn Tuy nhiên, điều này không phù hợp với DN sử dụng ít hóa đơn, vìnhư vậy, giá thành hóa đơn sẽ rất cao Thêm vào đó, với đối tượng được tựđặt in hóa đơn rộng mà không có những điều kiện chặt chẽ để kiểm soát thìnguy cơ xuất hiện hành vi sử dụng hóa đơn giả là khá cao

+ Thứ hai, chưa quy định cụ thể phương thức thông báo thông tin về

hóa đơn hợp pháp được sử dụng để người nộp thuế dễ dàng tiếp cận

Quy định pháp luật hiện hành về hóa đơn có yêu cầu người nộp thuếphải gửi thông báo phát hành hóa đơn và hóa đơn mẫu cho cơ quan thuế vàdán thông báo phát hành cũng như hóa đơn mẫu tại trụ ở DN Tuy vậy, trênthực tế, các DN chủ yếu tuân thủ được yêu cầu thông báo phát hành và hóađơn mẫu cho cơ quan thuế, còn việc thông báo tại trụ sở DN còn chưa tuânthủ đầy đủ Hơn nữa.Chưa có công cụ hữu hiệu để giúp người nộp thuế nhận

Trang 26

biết hóa đơn bất hợp pháp Trong trường hợp DN cố tình sử dụng hóa đơn giảvẫn dán thông báo công khai tại trụ sở của mình thì những người đến muahàng không có cơ sở để phát hiện ngay được Trong khi đó, nguồn thông tinxác nhận từ cơ quan thuế thì lại chưa kịp thời, chưa đầy đủ và khó tiếp cận.

+ Thứ ba, quy định về xử phạt hành vi vi phạm về hóa đơn chưa bao

quát hết các vi phạm cần xử lý Chưa áp dụng hiệu quả công nghệ thông tinvào đối chiếu, xác minh hóa đơn Cụ thể là:

- Chưa có quy định xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng sai loạihóa đơn Chẳng hạn như theo quy định thì DN xuất khẩu hàng hóa phải sửdụng hóa đơn xuất khẩu Nếu DN sử dụng hóa đơn GTGT khi xuất khẩu hànghóa là không đúng quy định, nhưng Nghị định 51/2010/NĐ-CP lại chưa cóquy định trong trường hợp này xử phạt như thế nào

- Hiện nay, đã có quy định về xử phạt trong trường hợp DN khôngthông báo việc mất hóa đơn đã phát hành nhưng chưa lập Tuy vậy, nếukhông phải mất mà bị hỏng do những nguyên nhân khách quan (nhưng chưamất) mà không thông báo cơ quan thuế thì chưa có quy định xử phạt

- Chưa phân biệt rõ cách thức xác định trách nhiệm của bên bán và bênmua trong một số sai phạm về hóa đơn để từ đó áp dụng điều khoản xử phạtphù hợp

4.Bất cập trong phương pháp tính thuế:

Quy định ngưỡng áp dụng các phương pháp tính thuế.

Quy định trước luật Thuế sửa đổi bổ sung năm 2013, chưa có quy định

về ngưỡng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ trong khi có khoảng180.000 doanh nghiệp có quy mô nhỏ và rất nhỏ đang kê khai và nộp thuếGTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu chưa tới 1 tỷ đồng/năm, số thuthuế GTGT chiếm khoảng 0,3% tổng thu về thuế GTGT Đối với hầu hếtdoanh nghiệp này thuộc loại nhỏ, rất nhỏ, công tác kế toán chưa bảo đảm tuânthủ pháp luật về kế toán, nhiều doanh nghiệp thiếu ý thức tuân thủ quy địnhcủa pháp luật về kê khai, nộp thuế GTGT Một số ít lợi dụng để mua bán hoá

Trang 27

đơn, vừa ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh, vừa gây thất thuNgân sách nhà nước

Tuy nhiên trong Luật sửa đổi bổ sung năm 2013 đã đề cập tới vấn đềnày Theo đó, quy định ngưỡng doanh nghiệp có doanh thu 1 tỷ đồng/năm trởlên để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT còn lại Doanh nghiệp códoanh thu dưới ngưỡng 1 tỷ đồng/năm phải nộp thuế GTGT theo phươngpháp trực tiếp, trừ trường hợp có đăng ký tự nguyện áp dụng phương phápnày Điều kiện đăng ký tự nguyện để áp dụng phương pháp khấu trừ sẽ giaoChính phủ quy định cho phù hợp với thực tế Số doanh nghiệp có doanh thudưới ngưỡng (doanh nghiệp nhỏ) nộp thuế theo phương pháp trực tiếp nhằmđơn giản hoá thủ tục, tiết kiệm chi phí cho người nộp thuế có qui mô kinhdoanh nhỏ và chống gian lận thuế

Với từng phương pháp có những ưu điểm và hạn chế như sau:

Phương pháp trực tiếp:

Áp dụng cho các doanh nghiệp có doanh thu dưới ngưỡng hoặc không

có đầy đử hóa đơn theo quy định tại luật Như vậy có thể tiết kiệm chi phí vàđơn giản hóa cho doanh nghiệp nhỏ tuy nhiên vẫn còn điểm không hợp lý:

+ Thuế phải nộp = Doanh thu* Thuế suất (trừ vàng bạc, đá quý,ngoại tệ) Với cách tính này giống thuế doanh thu trước đây mà không thểhiện được bản chất của thuế GTGT

+ Tuy mức thuế suất trong luật thuế 2013 đã được quy định rõ chotừng nhóm hàng hóa, dịch vụ nhưng quy định về kê khai doanh thu vẫn cònlỏng lẻo nhất là đây là những doanh nghiệp nhỏ và chưa có đầy đủ hóa đơnchứng từ kế toán tạo điều kiện doanh nghiệp

+ Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp không được tính vàocác tài khoản phản ánh thuế để khấu trừ của doanh nghiệp mà hạch toán vàochi phí sản xuất, giá vốn hàng bán Hình thức thu thuế này dễ nảy sinh hiệntượng gian lận thuế Doanh nghiệp cũng thường trốn thuế bằng cách chia nhỏquy mô doanh nghiệp

Trang 28

Phương pháp khấu trừ:

Thứ nhất, tránh được hiện tượng gian lận thuế hơn tuy nhiên đòi hỏidoanh nghiệp phải có đầy đủ chứng từ kế toán Đôi khi có được đầy đủ hóađơn chứng từ cũng là vấn đề khó khăn của doanh nghiệp

Thứ hai, khi hàng hóa chịu thêm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT sẽđược tính như sau: VAT = ( Giá hàng chưa thuế + Thuế tiêu thụ đặc biệt) *Thuế suất VAT

Như vậy, khoản thuế VAT phải nộp còn bao gồm 1 tỷ lệ của thuế tiêuthụ đặc biệt mà thuế này đã được tính trước đó.Và người nộp thuế trongtrường hợp này đã phải nộp hai lần cho cùng 1 loại thuế

5.Về khấu trừ thuế GTGT

a.Trùng thuế

Khấu trừ thuế GTGT là việc số thuế GTGT phải nộp được tính trên

cơ sở số thuế GTGT đầu ra trừ đi số thuế GTGT đầu vào

Nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập về khấu trừ thuế là do sửdụng đồng thời 2 phương pháp tính thuế như hiện nay Theo quy định hiệnhành, có hai cách tính thuế GTGT: khấu trừ hoặc trực tiếp; sử dụng một tronghai loại hoá đơn bán hàng tương ứng là: Hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàngthông thường (ngoài ra còn có: hóa đơn đặc thù, bảng kê mua hàng hóa củangười không có hóa đơn) làm nảy sinh hiện tượng thuế trùng thuế

Chỉ khi những đơn vị nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ muahàng hoá, dịch vụ từ những đơn vị cũng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ

và có lập hoá đơn GTGT hợp pháp thì mới có khả năng được khấu trừ thuếđầu vào một cách chính xác số thuế GTGT đúng theo bản chất của thuếGTGT

Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện phương pháp khấu trừ thuếGTGT có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp thực hiện tính thuế GTGT theophương pháp trực tiếp hoặc hộ kinh doanh thì cả hai bên đều bị thiệt hại dotrùng thuế

Cụ thể:

Trang 29

Đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ để tính thuếGTGT khi mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp áp dụng phương pháptrực tiếp để tính thuế GTGT thì dù có hoá đơn bán hàng (đã có thuế GTGT)nhưng không được sử dụng để khấu trừ thuế Bởi, theo quy định chỉ có hóađơn GTGT hoặc hóa đơn đặc thù của các đơn vị nộp thuế theo phương phápkhấu trừ thuế GTGT phát hành mới được khấu trừ thuế Như vậy, trong cácdoanh nghiệp này mặc dù đã tuân thủ chế độ kế toán, giao dịch kinh tế cóchứng từ pháp lý đầy đủ, nhưng trong chi phí hợp lý hình thành giá bán hànghóa dịch vụ chịu thuế GTGT vẫn có một phần thuế GTGT đầu vào khôngđược khấu trừ Khi tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phải nộp thuế GTGT đầu

ra trên tổng giá trị hàng hoá Vậy là, thuế GTGT đầu ra vẫn đang đánh chồnglên thuế GTGT đầu vào làm doanh nghiệp mất đi một khoản lợi nhuận, đó là

sự bất bình đẳng không đáng có

Tương tự, khi doanh nghiệp thực hiện phương pháp tính thuế GTGTtrực tiếp mua dịch vụ, hàng hoá của các doanh nghiệp áp dụng tính thuếGTGT theo phương pháp khấu trừ để dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hóadịch vụ chịu thuế GTGT, doanh nghiệp cũng có hóa đơn GTGT do doanhnghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT phát hành cũng khôngđược khấu trừ thuế GTGT, họ cũng phải trả phần thuế GTGT đầu vào chìmtrong giá bán ở đầu ra, tức là thuế vẫn đánh chồng lên thuế

Trang 30

Giải pháp:

Trước hết, đối với các hộ kinh doanh cá thể không thể thực hiện đượcchế độ kế toán thì cơ quan thuế sẽ áp dụng hợp đồng thuế khoán theo tỷ lệdoanh thu thực tế đầu ra Tỷ lệ thuế khoán trên doanh thu của hộ kinh doanh

cá thể cũng sẽ là cơ sở để khấu trừ thuế cho các doanh nghiệp đang thực hiệnphương pháp khấu trừ thuế khi mua hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh làmđầu vào cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT củadoanh nghiệp Đối với các hộ kinh doanh có quy mô lớn, các đơn vị áp dụngphương pháp trực tiếp để tính thuế GTGT bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuếGTGT cho các doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đểsản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT Cần cho phép cácdoanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ sử dụng hóa đơn bán hàng hóa,dịch vụ thông thường của hàng mua vào làm căn cứ để khấu trừ thuế GTGT.Đồng thời cần quy định lộ trình thực nghiệm hướng dẫn và bắt buộc họ camkết thời gian chuyển sang áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

b.Bất cập trong điều kiện hóa đơn để được khấu trừ thuế

+ Theo quy định hiện hành, để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng(VAT) cho hàng xuất khẩu, một trong những chứng từ bắt buộc mà doanhnghiệp phải có là chứng từ thanh toán qua ngân hàng trừ trường hợp tổng giátrị thanh toán đã có thuế từng lần theo hóa đơn dưới 20 triệu đồng Như vậytrường hợp tổng giá trị thanh toán đã có thuế từng lần theo hóa đơn dưới 20triệu đồng không bắt buộc có hóa đơn thanh toán qua ngân hàng Việc phânbiệt giao dịch có giá trị dưới 20 triệu đồng không cần phải thanh toán quangân hàng vẫn được khấu trừ thuế đang là một kẽ hở để các doanh nghiệpgian lận thuế bằng cách khi tách hóa đơn có giá trị giao dịch lớn thành nhiềuhóa đơn có giá trị giao dịch nhỏ, cơ quan thuế rất khó kiểm soát được hiệntượng này

+ Bên cạnh đó, theo Luật 2008 các quy định chưa đề cập tới nhữnghàng hóa mua vào nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh hoặc hàng hóa bán ra

Trang 31

nhưng bị tổn thất số thuế không được khấu trừ buộc doanh nghiệp phải hạchtoán vào giá thành sản phẩm Điều này làm giảm tính cạnh tranh, tạo thêmkhó khăn cho doanh nghiệp trong việc khắc phục hậu quả tổn thất, tốn kém

thêm chi phí.Ví dụ điển hình trong thực tế ở các doanh nghiệp xuất khẩu

hàng ra nước ngoài có trường hợp khi xuất khẩu hàng hóa nhưng lô hàngkhông được chấp nhận do không bảo đảm chất lượng Trong phần lớn nhữngtrường hợp này, doanh nghiệp xuất khẩu hàng phải lựa chọn phương án tối ưu

là tiêu hủy hàng ngay tại cửa khẩu nước ngoài, vì nếu thuê phương tiện manghàng ngược trở lại Việt Nam sẽ bị lỗ nhiều hơn Do hợp đồng thương mạikhông được thực hiện, nên doanh nghiệp không thể có được chứng từ thanhtoán qua ngân hàng Vừa bị mất toàn bộ số vốn đầu tư sản xuất số hàng bịhủy, vừa bị mất trắng chi phí thuê phương tiện vận chuyển hàng hóa ra nướcngoài, doanh nghiệp lại không được hoàn thuế giá trị gia tăng đã nộp cho sốhàng bị tiêu hủy ấy Đó là thiệt thòi lớn cho doanh nghiệp.Nếu không cho kêkhai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và không được hoàn thuế trongnhững trường hợp này thì sẽ tạo thêm nhiều khó khăn cho người xuất khẩu

Nó đã đươc khắc phục trong lần sửa đổi luật năm 2013 Theo nội dungsửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 6 Điều 1 của Luật 2013, để tháo gỡ khó

khăn cho doanh nghiệp, bổ sung quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào

không được bồi thường của hàng hoá, dịch vụ bị tổn thất; bỏ khống chế thờihạn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào tối đa là 6 tháng trong trườnghợp có sai sót kể từ tháng phát sinh hóa đơn, theo đó doanh nghiệp được kêkhai bổ sung vào bất kỳ thời điểm nào trước khi cơ quan thuế công bố quyếtđịnh kiểm tra, thanh tra thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế; bỏ quyđịnh thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất,kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGTđược khấu trừ toàn bộ để bảo đảm nhất quán với nguyên tắc chỉ khấu trừ thuếGTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuếGTGT

Trang 32

+ Các dịch vụ vừa diễn ra ở Việt Nam, vừa diễn ra ở nước ngoài Với

phần dịch vụ ở nước ngoài, doanh nghiệp có thể cũng bị áp thuế giá trị giatăng Do vậy, để bảo đảm nguyên tắc không đánh thuế trùng, các quy địnhcủa pháp luật phải bảo đảm có thể phân tách được phần dịch vụ diễn ra ở ViệtNam để đánh thuế, phần dịch vụ diễn ra ở nước ngoài sẽ không bị đánh thuế

c.Sự bất đồng giữa luật thuế GTGT và luật Dân sự

Luật bổ sung luật thuế GTGT quy định: hàng hoá, dịch vụ mua vàomuốn được khấu trừ thuế đầu vào thì phải thanh toán qua ngân hàng, nhằmngăn chặn các hành vi mua bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để gian lậntrong khấu trừ, hoàn thuế GTGT Đây là chủ trương phù hợp với định hướngchính sách trong quản lý tiền mặt, khắc phục sự thái quá của tình trạng kinh tếtiền mặt ở nước ta hiện nay

Tuy nhiên, pháp luật dân sự và thương mại thì quy định việc lựa chọnphương thức thanh toán bằng tiền mặt hay không dùng tiền mặt qua ngânhàng là quyền của các cơ sở kinh doanh; Nghị định số 161/2006/NĐ-CP,ngày 28/12/2006 quy định về thanh toán bằng tiền mặt hiện nay cũng mới chỉbắt buộc các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước là phải thanh toán qua ngânhàng

Giải pháp:

Để quy định của Luật phù hợp với thực tiễn và đi vào cuộc sống, cần có

sự tuyên truyền sâu rộng và sự đồng tình ủng hộ của xã hội, đặc biệt là cộngđồng doanh nghiệp và nhân dân về vấn đề này Mặt khác, cũng cần phải phânloại và xác định các trường hợp không cần điều kiện bắt buộc phải thánh toánqua ngân hàng cũng được khấu trừ thuế đầu vào, nhất là trong các giao dịchmua bán hàng hóa trực tiếp giữa các doanh nghiệp với người dân khi khôngthể áp dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng Đểbảo đảm tính khả thi của Luật, cần giao cho Chính phủ tiếp tục cụ thể hoáviệc áp dụng quy định này theo hướng nói trên Tuy vậy, các nhà làm luật cần

dự liệu để đề phòng các doanh nghiệp “lách luật”, gây thất thoát cho ngân

Trang 33

sách Nhà nước, đồng thời tạo ra “sân chơi” bình đẳng cho việc cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp Hầu hết những trường hợp nêu trên đều “nhạy cảm”,khó kiểm soát được trên thực tế.Chẳng hạn, doanh nghiệp vẫn xuất được hàngnhưng khai rằng phải tiêu hủy, vẫn bán được vé nhưng khai rằng không bánđược vé.Khi dự liệu được càng nhiều tình huống như vậy, những quy định củapháp luật sẽ càng được xây dựng chặt chẽ hơn, không còn tình trạng luật vừađược ban hành đã phải sửa.

6.Về hoàn thuế

Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT đã gặpnhững bất cập sau đây:

Về đối tượng được hoàn thuế:

Thứ nhất: Theo nguyên lý về thuế GTGT, đối tượng nộp thuế chỉ đượckhấu trừ và hoàn thuế GTGT khi xác định được số thuế đầu ra và số thuế đầuvào Về nguyên tắc, nếu đối tượng nộp thuế có phát sinh thuế đầu ra nhưng lạikhông có thuế đầu vào (hàng hoá, dịch vụ mua vào rơi vào trường hợp khôngchịu thuế GTGT) thì sẽ không được khấu trừ thuế vì không xác định được cơ

sở để tiến hành khấu trừ thuế.Trường hợp đối tượng nộp thuế có phát sinh sốthuế đầu vào nhưng lại không có thuế đầu ra (hàng hoá, dịch vụ bán ra khôngthuộc diện chịu thuế GTGT) thì đối tượng nộp thuế cũng không được hoànthuế

Thứ hai: Đối với cơ sở xuất khẩu có số thuế đầu vào của hàng hóa xuấtkhẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì vẫnkhông được hoàn thuế theo tháng Các cơ sở kinh doanh không có hoạt độngxuất khẩu hoặc có nhưng giá trị thấp, thì dù số thuế đầu vào trong tháng phátsinh cao đến mấy vẫn không được hoàn lại theo tháng mà phải chờ đủ 3tháng Đây là hạn chế rất lớn của quy định về hoàn thuế vì đồng vốn của cácdoanh nghiệp bị đông cứng khá lâu ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh tiếptheo

Trang 34

Về quy trình hoàn thuế:

Việc quy định về quy trình hoàn thuế hiện nay theo quy định của phápluật hiện hành còn nhiều tồn tại, bất cập:

- Việc quy định “hoàn thuế trong trường hợp có quyết định xử lý hoànthuế của cơ quan Nhà nước có thầm quyền” là một quy định làm mất địnhtính thực thi của Luật Thuế GTGT Hơn nữa, quy định này sẽ dẫn đến tìnhtrạng lạm dụng và tùy tiện trong quá trình quyết định hoàn thuế

- Trong trường hợp ngành Thuế nghi ngờ doanh nghiệp gian lận thuếGTGT, cần có thời gian để xác minh, thì thời hạn 40 ngày đối với hồ sơ hoànthuế thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau là không đủ, bởi vì việc xácminh các hóa đơn mất rất nhiều thời gian, thậm chí nhiều trường hợp, khôngđược cơ quan thuế các địa phương phản hồi Theo báo cáo của cơ quan thuế,chỉ khoảng 50% số hồ sơ gửi đi xác minh là được phản hồi.Trong trường hợpnày ngành Thuế buộc phải hoàn thuế cho doanh nghiệp Đây là một kẽ hởkhiến hành vi “chiếm dụng” tiền ngân sách thông qua hoàn thuế ngày cànggia tăng

- Việc hoàn thuế GTGT dựa trên những hóa đơn chứng từ đã có, còntính trung thực của các hoá đơn chứng từ này (đã phát sinh từ 3 tháng trướcđó) thì không được xác minh đầy đủ Đây là thời gian đủ để các doanh nghiệpthực hiện phi vụ lừa đảo rồi bỏ trốn.Vì vậy, cần phải thực hiện việc kiểm tra,ngăn chặn từ xa, chứ không phải chờ đến khi doanh nghiệp xin hoàn thuếGTGT

Về hồ sơ hoàn thuế:

Tương ứng với từng đối tượng được hoàn thuế, từng trường hợp hoànthuế pháp luật yêu cầu các hồ sơ chứng từ khác nhau Song tính chính xác hợppháp, hợp lý của các chứng từ thì cơ quan thuế khó có thể kiểm tra, điển hình

là trong trường hợp hoàn thuế đối với hàng hoá là nông sản thực phẩm xuấtkhẩu qua các cửa khẩu đường bộ, thanh toán không qua ngân hàng

Ngày đăng: 26/05/2015, 16:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w