Tìm hiểu về giá trị và sắc thái văn hóa của nhóm dân tộc Hán ở nước ta
Trang 1Lời mở đầu
Cả nước hiện có 54 dân tộc anh em Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay
từ thửa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta Do vị trí nước ta giao lưu hết sức thuận lợi nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống, rồi định cư trên lãnh thổ nước ta Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thậm chí có bộ phận dân
cư còn chuyển đến nước ta sau năm 1945 Ðây là những đợt di cư lẻ
tẻ, bao gồm một số hộ gia đình đồng tộc
Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rất không đều nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu Trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước, góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam.Tuy số dân
có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh
em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn
Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng.Cùng với nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều
có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc Bản sắc văn hoá dân tộc là tất
cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá
Trang 2văn hoá của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày
càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc
Nhóm dân tộc Hán là một ví dụ sinh động về bản sắc văn hóa của
các dân tộc thiểu số ở nước ta.ở bài viết này em xin đi tìm hiểu về
giá tri và sắc thái văn hóa của nhóm dân tộc Hán ở nước ta.nhóm
dân tồc Hán gồm có ba dân tộc là:Hoa,Ngái, Sán dìu.mỗi dân tộc lại
có sắc thái văn hóa riêng ,nhưng họ đều có chung một nguồn gốc là
từ nước Hán
54 dân tộc Việt Nam
Xếp theo nhóm ngôn ngữ
Nhóm
Việt-Mường:Chứt | Mường | Thổ | Việt (Kinh)
Nhóm Tày–Thái Bố Y | Giáy | Lào | Lự | Nùng | Sán Chay | Tày | Thái
Nhóm Môn–
Khmer:Ba Na | Brâu | Bru - Vân Kiều | Chơ-ro | Co | Cơ-ho | Cơ-tu |
Giẻ-triêng | Hrê | Kháng | Khmer | Khơ-mú | Mạ | Mảng | M'Nông | Ơ-đu | Rơ-măm | Tà-Ôi | Xinh-mun | Xơ-đăng | Xtiêng
Nhóm H'Mông–
Nhóm Kadai Cờ lao | La-chí | La ha | Pu péo
Nhóm Nam đảo Chăm | Chu-ru | Ê-đê | Gia-rai | Ra-glai
Nhóm Hán :Hoa | Ngái | Sán dìu
Nhóm Tạng Cống | Hà Nhì | La Hủ | Lô Lô | Phù Lá | Si La
Trang 3I/ Dân tộc Hoa:
Một gia đình người Hoa tại Lào Cai
Dân tộc Hoa(chữ Hán) là những người gốc Trung Quốc và định cư
ở VIệt Nam và đa số có quốc tịch Việt Nam
.-Tên gọi khác:Triều châu,Phúc kiến,Quảng đông, Hải nam,Hạ ,Xạ phang
-Nhóm ngôn ngữ
Hoa
-Dân số :
theo thống kê của cuộc điều tra năm 1999 ,tổng số người Hoa ở VIệt Nam là 862.371 (1,13% dân số ở Việt Nam) năm 2003 ước tính là 913.250 người Hoa
_Cư trú:sinh sống ở nhiều nơi từ bắc vào nam, ở cả nông thôn và thành thị .Tại mỗi địa phương người Hoa sống tập trung; ở nông thôn thì thành làng và hương, mà phổ biến là Minh Hương (làng người Minh); ở thành phố sống thành các bang rất gắn bó với nhau
_Đặc điểm kinh tế:
Người Hoa làm nhiều nghề nghiệp khác nhau :ở nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông,coi lúa nước là đối tường canh tác chính.Còn
ở các thành phố thị xã thị trấn họ làm nghề dịch vụ,buôn bán…tiểu thủ công nghiệp khá phát triển,như nghề gốm(Quảng Ninh ,Sông
Trang 4trọng chữ tín.Nhiều nghề gia truyền của người Hoa đã nổi tiếng từ lâu
_Tổ chức cộng đồng:Người Hoa thường cư trú thành làng
xóm,hoặcđường phố,tạo thành khu vực đông đúc và gắn bó với nhau.Trong đó các gia đình cùng dòng họ thường quay quần bên nhau
-Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại Người Hoa có kỹ thuật nấu
ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị
Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng" Các loại trà sâm, hoa cúc là những thứ thông dụng trong mọi gia đình Những dịp hội
hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi
Sản phẩm của nghề điêu khắc đá của người Hoa ở thành phố Biên Hoà, tỉnh Ðồng Nai.
Trang 5-Trang phục: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi
lễ cưới xin, tang ma Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo
"sườn xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ
tà dưới phần đùi Màu sắc trang phục của
họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng
hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm
Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm,
cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ
tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng,
vai liền, có túi Phụ nữ thích dùng đồ trang
sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng,
đá, ngọc ), bông tai, dây chuyền Ðàn
ông thích bịt răng vàng và xem như một lối
trang sức
-Ở: Những người làm nghề nông thường
sống thành thôn xóm Làng thường ở ven
chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ
biển, gần nguồn nước, giao thông thuận
tiện Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo
dòng họ Ở thành thị họ thường sống tập
trung trong các khu phố riêng
Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai
chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên
-Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao
Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng Hàng năm vào
Múa Lân
-Sư tử - Rồng là hình thức sinh hoạt văn nghệ truyền thống của người Hoa thường tổ chức từ ngày 23 tháng chạp (ngày ông Táo lên trời đến ngày 15 tháng giêng (tết Nguyên tiêu) tại các chùa Người Hoa chuẩn bị
kỹ càng trang phục trước khi múa Lân.
Trang 6có các hội nghề nghiệp tương ứng Những hội này đều có một vị
tổ và một ngày giỗ tổ trong năm
Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là
28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con)
-Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung
nguyên, Trung thu.Tết Nguyên đán vào
những năm cũ chuyển sang năm mới theo
âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng
giêng (tết Nguyên tiêu) Lễ Nguyên tiêu là
đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt
động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn
hoá truyền thống đều được biểu hiện trong
dịp này
-Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng
dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng
họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp,
thổ địa, thần tài ) và một số vị thánh và bồ
tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn,
Nam Hải Quan Âm )
Hệ thống chùa miếu khá phát triển Chùa
miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ
-Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông
-Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch với nhiều loại nhạc cụ: tiêu,
Học chữ Hoa - một nhu cầu bức thiết của người Hoa ở Việt Nam đã được Ðảng
và Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện Hiện nay học chữ hoa đang phổ biến rộng rãi trong cư dân người Hoa ở các địa
phương.
Trang 7sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt ), chập choã Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã"
Múa lân, sư tử, rồng là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày
lễ lớn, ngày lễ tết
II/Dân tộc Ngái:
-Tên gọi khác:
Ngái Hắc Cá, Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đàn, Lê Tên tự gọi
chung là Sán Ngái (người miền núi)
-Nhóm ngôn ngữ:
Hoa
-Dân số:
1.154 người
-Cư trú:
Cư trú ở Quảng Ninh, Hà Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng,
Bắc Thái, thành phố Hồ Chí Minh
-Đặc điểm kinh tế:
Người Ngái sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng trồng lúa Ơở vùng hải đảo, ven biển thì đánh cá là chính Đồng bào có truyền thống đào kênh, mương, đắp đập, tạo hồ nước, đắp đê biển, có những nghề thủ công như dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói
-Hôn nhân gia đình:
Trong gia đình, người chồng quyết định mọi việc lớn, con trai được coi trọng, con gái không được chia gia tài khi cha mẹ chết và phải về nhà chồng sau khi cưới
Xưa kia, trai gái Ngái được cha mẹ dựng vợ gả chồng phải trải qua
Trang 8mua quần áo Sau khi sinh con 60 ngày đối với con đầu, 40 ngày đối với con thứ, người sản phụ mới được đến nhà mẹ đẻ của mình
-Tục lệ ma chay :
Theo phong tục Ngái, người chết được tổ chức đám ma chu đáo Sau khi chôn cất được cúng vào dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang
-Văn hóa :
Người Ngái có lối hát giao duyên nam nữ, gọi là Sường cô, rất phong phú Có thể hát đối nhau 5 đến 7 đêm liền vẫn không bị trùng lặp Tục ngữ có ý nghĩa răn dạy về kinh nghiệm làm ăn, về cách sống Nhiều trò chơi được ưa thích như múa sư tử, múa gậy, chơi rồng rắn
-Nhà cửa:
Người Ngái thường lập thôn xóm ở sườn đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên đảo Nhà phổ biến là nhà ba gian hai chái
-Trang phục :
Trang phục Ngái giống người Hoa (Hán) Ngoài quần áo, đồng bào còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô
III/ Dân tộc Sán Dìu
-Tên gọi khác:
Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc
-Nhóm ngôn ngữ :
H oa
Trang 9-Dân số :
95.000 người
-Cư trú :
Sống ở miền Trung du các tỉnh Quảng Ninh, Hải Hưng, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên Quang
-Đặc điểm kinh tế :
Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có phần nương, soi, bãi Thêm vào đó, còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả
cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát
Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ
Hàng ngày người Sán Dìu dùng cả cơm cả cháo, đồ giải khát thông thường cũng là nước cháo loãng
-Tổ chức cộng đồng :
Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ
-Hôn nhân gia đình:
Trong nhà, người chồng (cha) là chủ gia đình, con theo họ cha, con trai được thừa hưởng gia tài Cha mẹ quyết định việc cưới gả cho con Con trai con gái phải được xem số, so tuổi trước khi nên duyên
vợ chồng
-Tục lệ ma chay :
Việc ma chay cũng qua nhiều lễ thức Từ sau 3 năm, người chết được bốc cốt - cải táng, và đây là một dịp vui
-Văn hóa :
Thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú, dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ (soọng cô) rất phổ biến Truyện kể, chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo Nhiều trò chơi của dân tộc được đồng bào
ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo
co
-Nhà cửa :
Người Sán Dìu ở nhà đất Nhà cửa đồng bào không có những đặc trưng riêng Có lẽ vì vậy mà người Sán Dìu đã tiếp thu mẫu nhà của người Việt khá dễ dàng
-Trang phục :
Trang 10hoa văn sặc sỡ, và kèm theo là con dao bổ cau có bao bằng gỗ được chạm khắc trang trí đẹp
Kết luận
Nhóm dân tộc Hán dân số không đông,họ chỉ là một dân tộc thiểu
số họ cư trú ở nhiều nơi trên đất nước ta.Họ có những phong tục tập quán thật sinh động,mang đậm những nét văn hóa riêng biệt,dấu ấn của người phương bắc rất rõ.Ngôn ngữ của họ là tiếng Hoa,sinh sống tập trung thành từng khu dân cư đông đúc
Trong lịch sử dân tộc dựng nước và giữ nước ,Việt Nam đã từng bi phong kiến Trung Quốc đô hộ.Những dấu ấn lịch sử ấy đã để lại trên đất nước ta phong phú và đặc sắc về cộng đồng văn hóa các dân tộc.Những tàn tích xưa để lại đã tạo ra tộc người Hán Hoa trên đất nước ta.Dân tộc đấy tồn tại cho đến ngày nay và ngày càng phát triển ,là một trong những 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam.Nét văn hóa dân tộc Hán Hoa luôn mang màu sắc riêng của dân tộc Hán và nằm trong cái chung của bản sắc dân tộc Việt Nam Bài viết là những tìm hiểu đôi điều về dân tộc Hán Hoa ở Việt Nam.Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn hiểu rõ hơn về dân tộc này