Cải cách tổ chức bộ máy quản lý tài chính công với các bộ phận chức năng ngày càng phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Ban hành và sửa đổi luật Ngân sách nhà nước như: Mở rộng
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI HẾT MÔN MÔN: QUẢN LÝ KINH TẾ
*Lưu ý: Qua trao đổi với Thầy Nguyễn Văn Dũng, Thầy nhắc lớp là đối với các câu hỏi thuộc
chuyên đề của Thầy thi lưu ý như sau:
- Trước khi nêu phần giải pháp đối với một vấn đề nào đó (theo yêu cầu của đề thi) thì phảinêu phần thực trạng (thành tựu và hạn chế) Trong đó, cần tập trung nêu phần hạn chế, cònphần thành tựu thì chỉ nêu ngắn gọn
- Khi trình bày thực trạng cả nước (chủ yếu dựa vào Báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủnăm 2014) thì lồng ghép vào thực trạng của tỉnh (chủ yếu dựa vào Báo cáo kinh tế - xã hội của
tỉnh năm 2014) Phần thực trạng của tỉnh được xem như là phần liên hệ thực tiễn.
1 Xác định các thách thức đặt ra trong quản lý tài chính
công ở Việt Nam hiện nay? Các giải pháp cải cách
quản lý tài chính công trong thời gian tới
2 - 7
2 Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ở
Việt Nam, giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ
cán bộ quản lý kinh tế trong tình hình mới
8 - 11
3 Trình bày các nội dung chủ yếu của hệ thống các mục
tiêu kinh tế vĩ mô, phân tích mối quan hệ giữa các mục
tiêu kinh tế vĩ mô Liên hệ thực tiễn, hiện mục tiêu kinh
tế vĩ mô nào được ưu tiên trong phát triển kinh tế-xã
hội tại địa phương?
12 – 18
4 Trình bày vai trò, chức năng QLNN về kinh tế Liên hệ
thực tiễn ? (cả nước và địa phương - Khái quát những
thành công, hạn chế và đề ra giải pháp để hoàn thiện,
thực hiện các chức năng của QLNN KT trong nền
KTTT đ/hướng XHCN Việt Nam hiện nay)
19 - 28
5 Trình bày khái quát bộ máy quản lý nhà nước về kinh
tế Phương hướng, giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ
thống BMQLNN về KT ở nước ta
29 - 36
6 Phân tích hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về
kinh tế Phương hướng, giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ
thống BMQLNN về KT ở nước ta
37 – 42
7 Bằng kiến thức quản lý kinh tế và thực tiễn công tác,
đồng chí hãy Làm rõ nội dung sau: “ Nhà nước tập
trung duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng phát
triển, tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển nhanh, bền
vững Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật; chính
sách kinh tế….Phân định rõ hơn chức năng quản lý
kinh tế của nhà nước và chức năng của các tổ chức
kinh doanh vốn và tài sản nhà nước”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu
43 - 47
Trang 2toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG - ST, tr.215).
Câu 1: Xác định các thách thức đặt ra trong quản lý tài chính công ở Việt Nam hiện nay?
Bài làm (Lưu ý: Câu này cũng hơi dài Vì vậy, nên dựa vào yêu cầu của đề thi để chọn nội dung trình bày cho phù hợp)
1 Mở bài: Cá nhân tự viết
2 Thân bài:
2.1 Nêu các khái niệm liên quan:
Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh
mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ của nhà nước nhằm thực hiện các chứa năng vốn có của nhà nước đối với xã hội
Quản lý tài chính công là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm soát các
hoạt động thu và chi của nhà nước nhằm thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ củanhà nước
Hiệu quả của quản lý tài chính công vừa phản ảnh năng lực của bộ máy nhà nước, vừa cótác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động của các cơ quan trong bộ máy quản lý
2.2 Nêu quá trình quản lý tài chính công ở Việt Nam:
Cải cách hệ thống thuế góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo môi
trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần, thúc đầy kinh tế tăng trưởng nhanh trongnhững năm qua
Cải cách tổ chức bộ máy quản lý tài chính công với các bộ phận chức năng ngày càng
phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Ban hành và sửa đổi luật Ngân sách nhà nước như: Mở rộng quyền hạn, trách nhiệm
của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong việc quyết định, phân bổ và phê chuẩnquyết toán ngân sách; đổi mới phân cấp quản lý tài chính – ngân sách dựa trên cơ sở sự thốngnhất của hệ thống tài chính quốc gia; tăng cường phân cấp quản lý chi tiêu công nhiều hơn chocác bộ ngành và địa phương; cải thiện tính minh bạch trong quản lý chi tiêu công; thực hiện
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính từ năm 2000; tin quản lý tài chính, thực hiệncông khai, minh bạch tài chính ngân sách phù hợp với thông lệ quốc tế
2.3 Nêu bối cảnh kinh tế - tài chính và tác động tới quản lý tài chính công ở Việt Nam
Bối cảnh kinh tế - tài chính thế giới: Trong hai thập kỷ qua, tình hình kinh tế - tài chínhthế giới có nhiều biến động với những bước phát triển to lớn, song cũng gánh chịu các thất bạinặng nề, đặc biệt là 2 cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á (bắt đầu từ tháng 7-1997),
Trang 3khủng hoảng tài chính – tiền tệ thế giới năm 2008 và khủng hoảng nợ công đã ảnh hưởng rộnglớn và sâu sắc trên phạm vi toàn cầu.
Bối cảnh kinh tế - tài chính ở Việt Nam:
Giai đoạn tăng trưởng cao (1991 – 1996), Chính phủ thực hiện một loạt chính sách
chuyển từ cơ chế chỉ huy tập trung sang phát triển theo hướng kinh tế thị trường, làm cho nềnkinh tế khởi sắc, đạt tốc độ tăng trưởng cao
Giai đoạn suy thoái (1997 – 2001), Chính phủ thực hiện nhiều chính sách năng động để
kích thích kinh tế (cải cách thể chế theo cơ chế thị trường, mở cửa thu hút vốn đầu tư, thúc
đẩy thương mại quốc tế, phát triển thị trường tài chính)
Giai đoạn phục hồi (2002 – 2007) ổn định sự tăng trưởng, kim ngạch xuất khẩu cao,
nhưng chịu nhiều biến động của kinh tế thế giới
Giai đoạn suy thoái (2008 – 2012) do ảnh hưởng khủng hoảng tài chính – tiền tệ thế
giới, Chính phủ thực hiện các nhóm giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tăngtrưởng bền vững và thực thi chính sách xã hội
2.4 Nêu các thách thức đặt ra trong quản lý tài chính công
2.4.1 Thách thức về nguồn thu ngân sách
Mặc dù cải cách thuế có những thành công, song nguồn thu ngân sách vẫn không đáp ứngnhu cầu chi tiêu ngày càng tăng cao của tiến trình phát triển kinh tế và CNH, tình trạng thâmhụt ngân sách cao và chưa khắc phục
Sự tăng trưởng kinh tế chưa thật sự ổn định, đặc biệt trong giai đoạn chịu tác động củakhủng hoảng kinh tế,…đang đặt nhà nước trước thách thức về việc cải cách thuế theo hướngtăng nguồn thu và giảm thâm hụt ngân sách
2.4.2 Thách thức về hiệu quả phân bổ và sử dụng chi tiêu công
Nguồn lực ngân sách phân bổ một cách dàn trải, kém hiệu quả, không có thứ tự ưu tiên
Sử dụng ngân sách nhà nước kém hiệu quả: Hiệu quả chi tiêu công thấp, không tươngxứng với chất lượng tăng trưởng kinh tế
Tình trạng lãng phí, thất thoát vẫn diễn ra phổ biến, trở thành căn bệnh của đời sống kinh
tế - xã hội, là nguy cơ kéo lùi đà tăng trưởng và làm cho khoảng cách giàu nghèo ngày thêmdoãng rộng
2.4.3 Thách thức về phân cấp ngân sách
Mức độ phân cấp ngân sách còn thấp, việc phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngânsách trung ương và ngân sách địa phương cũng như giữa các cấp chính quyền địa phương ởmột số nơi còn bất hợp lý
Trong xu thế tăng cường phân cấp trong hành chính nhà nước hiện nay, đòi hỏi cần traonhiều quyền nhiều hơn cho chính quyền địa phương
2.4.4 Thách thức trước yêu cầu chuyển từ quản lý ngân sách theo đầu vào sang chú trọng đến các kết quả đầu ra.
Quản lý ngân sách hiện nay dựa trên phương thức lập ngân sách theo các khoản mục đầuvào, không chú trọng đến các kết quả đầu ra gắn với mục tiêu chiến lược ưu tiên
Trang 4Thách thức trong chuyển sang quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra gặp phải lực cản rấtlớn về tư duy và cách làm trong quản lý ngân sách hiện nay.
2.4.6 Thách thức trong đảm bảo cân đối ngân sách và giảm nợ công
Ở Việt nam thâm hụt ngân sách chủ yếu được bù đắp từ các nguồn vốn vay trong vàngoài nước hình thành nên nợ công Thâm hụt ngân sách cao là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
sự gia tăng nợ công
Trong điều bối cảnh kinh tế phát triển chưa ổn định, nhu cầu chi tiêu ngày một lớn,nguồn thu lại chậm cải thiện thách thức về giảm bội chi ngân sách và nợ công ngày càng trởnên nghiêm trọng
2.4.7 Thách thức trước đòi hỏi gia tăng hỗ trợ người nghèo
Chi tiêu công tập trung vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo thông qua các chương trình mụctiêu quốc gia ngày tăng lên nhanh chóng Nhưng, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững,
số hộ nghèo còn cao
Chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo còn nhiều bất cập: nguồn lực đến đối tượng không trọnvẹn; một số khoản chi hiệu quả không cao; nguồn vốn bị phân tán
2.4.8 Thách thức trong mua sắm và sử dụng tài sản công
Tình trạng mua sắm tài sản công còn lãng phí: vượt tiêu chuẩn, định mức; việc đấu thầu,thẩm định mang tính hình thức, không đúng quy định
Sử dụng tài sản công kém hiệu quả, nhiều tài sản công sử dụng không hết công suất, sửdụng sai mục đích
Thiếu sự ghi chép, đánh giá giá trị và tổng kết tài sản, không theo dõi sự biến động, sốliệu thống kê thiếu chính xác
Tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý tài sản công bất cập: cơ quan quản lý tài sản côngkhông được hình thành đầy đủ, đội ngũ cán bộ mỏng và thiếu kiến thức chuyên môn
Thiếu sự thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đúng mức
2.5 Các giải pháp cải cách quản lý tài chính công trong thời gian tới
2.5.1 Thực trạng: (Cả nước, tỉnh) Từng cá nhân tự viết (dựa vào Báo cáo của Chính phủ vàcủa tỉnh)
- Thành tựu
- Hạn chế
2.5.2 Các giải pháp
*Giải pháp thứ nhất: Cải cách thuế
Quy mô thu ngân sách cần so sánh với quy mô nền kinh tế từng thời kỳ, không nhất thiếtduy trì một tỷ lệ thu ngân sách trên GDP quá cao
Trang 5Bao quát hết các nguồn thu và nâng cao vai trò điều tiết của nhà nước Tạo ra một cơ cấuthu bền vững và hợp lý.
Tái phân phối lại thu nhập thông qua thuế Khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực cầnthiết, giảm tổn thất phúc lợi vô ích
Cải cách thuế dựa trên nguyên tắc mức thuế suất thấp và cơ sở thuế rộng, đồng thời giảmcác hành vi trốn thuế, tránh thuế thông qua hoạt động dịch chuyển thu nhập hay chuyển giá.Tăng cường năng lực cạnh tranh, đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống thuế thốngnhất, trung lập, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, cắt giảm thuế nhập khẩu để doanh nghiệp tăngcường đổi mới
Giảm sự quá tải của hệ thống quản lý thuế, giảm chi phí tuân thủ thuế và quản lý thuthuế Hiện đại hóa công tác thu nộp và tăng cường thanh tra, kiểm tra về thuế
*Giải pháp thứ hai: Nâng cao hiệu quả chi tiêu công
Hoàn thiện các thể chế về quản lý chi tiêu công nhằm tạo ra môi trường pháp lý đầy đủ
và phù hợp trong phân bổ và sử dụng chi tiêu công, đảm bảo chi tiêu công được sử dụng chocác nhiệm vụ đích thực, tập trung vào cung ứng các dịch vụ công thiết yếu, đảm bảo hiệu quả
KT – XH cao nhất
Mở rộng công khai, minh bạch tài chính đối với việc quản lý, sử dụng ngân sách nhànước Khắc phục việc công khai một cách hình thức, cần có lý giải cụ thể nhiệm vụ chi tiêu,mức độ đạt được mục tiêu có dữ liệu so sánh, đối chiếu, vá xác định hiệu quả
*Giải pháp thứ ba: Tăng cường quản lý nợ công
Có kế hoạch tổng thể về huy động vốn của Chính phủ được xây dựng cho từng giai đoạn,phân định theo từng năm, chi tiết từng loại thời hạn gắn với huy động vốn và được công bốrộng rãi
Xác định mức vay nợ nước ngoài để định hướng việc huy động vốn nước ngoài không vượtquá giới hạn an toàn cho phép Cần lựa chọn những lĩnh vực phù hợp để vận động ODA nhằm tạo
sự lan tỏa của các chương trình, dự án ODA
Xác định rõ và công bố công khai các mục tiêu về quản lý nợ, các biện pháp quản lý chiphí, rủi ro Phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong quản lý nợ công
Thực hiện công khai minh bạch các thông tin về nợ để chủ động phân tích, đánh giá vàphòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra
Bảo đảm vay và sử dụng có hiệu quả vốn vay Tăng cường giám sát, kiểm tra, kiểm toánviệc tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng vốn vay
*Giải pháp thứ tư: Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách
Việc phân cấp phải được nghiên cứu và tiến hành thận trọng, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng,đảm bảo tính hiệu quả và ổn định trong quản lý ngân sách, tạo cơ sở cho thành công cải cáchtài chính
Thực hiện phân tách rõ ràng giữa các cấp ngân sách, hướng đến xây dựng một hệ thốngngân sách thật đầy đủ và chính quyền địa phương có sự tự chủ nhiều hơn về ngân sách cấpmình
Trang 6Cho phép chính chính quyền địa phương tự chủ ở một mức độ thích hợp trong việc ra cácquyết định chi tiêu theo thứ tự ưu tiên của địa phương, nhưng phải phù hợp với chiến lược vàmục tiêu phát triển quốc gia.
Đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách gắn với việc tăng cường tính minh bạch và tráchnhiệm giải trình về tài chính ở địa phương Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát nhằmđảm bảo nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý
*Giải pháp thứ năm: Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu công nhằm hổ trợ người nghèo
có hiệu quả
Xác định phạm vi và thứ tự ưu tiên trong chi tiêu công
Phân bổ ngân sách vào những dịch vụ công mà người nghèo sử dụng nhiều nhất Đồngthời, bảo đảm cơ cấu chi ngân sách trong mỗi lĩnh vực dịch vụ công hướng vào lợi ích củangười hưởng thụ dịch vụ đó
Đối với những dịch vụ công quan trọng, mức phân bổ ngân sách không thể tính trên qui
mô dân số, mà cần có khoản hỗ trợ phụ thêm cho các địa phương nghèo, nơi các nhà cung ứngdịch vụ công không tham gia đầu tư
Nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo: Tập trung hơn vào đốitượng nghèo nhất, đảm bảo phân bổ đúng đối tượng
Mở rộng diện hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng nghèo và nâng dần mức hỗ trợ; đặc biệtcần tăng cường tín dụng đối với người nghèo
*Giải pháp thứ sáu: Lập ngân sách theo kết quả đầu ra
Thiết lập các mục tiêu mang định hướng chính sách mang tính khoa học, cơ sở chuẩnxác
Xác định các đầu ra cần hoàn thành để đạt được mục tiêu
Xác định, tính toán các nguồn lực tài chính để thực hiện đạt được mỗi đầu ra cũng nhưmục tiêu đề ra
Xác định thời gian và chi phí cần thiết để đạt được đầu ra
Xây dựng chỉ số đánh giá thời gian thực hiện và mức độ hoàn thành cho mỗi hoạt động.Phân công trách nhiệm cụ thể, lập hệ thống theo dõi để giám sát hoạt động và sự thay đổicủa chỉ số đánh giá
*Giải pháp thứ bảy: Lập khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Khuôn khổ chi tiêu ngân sách trung hạn (MTEF) là quá trình lập và xây dựng kế hoạch
ngân sch1 minh bạch, trong đó chính phủ và các bộ, ngành và chính quyền địa phương thốngnhất về việc phân bổ nguồn lực theo ưu tiên chiến lược trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc tài
khóa tổng thể
Mục tiêu lập khuôn khổ chi tiêu trung hạn:
Tạo cơ sở chiến lược cho việc soạn lập ngân sách, trong đó các khoản chi tiêu hướng tớiviệc đạt được các mục tiêu đề ra
Xây dựng một ngân sách thống nhất, bao gồm cả chi đầu tư và chi thường xuyên, từnguồn lực của Chính phủ, của khu vực tư nhân và của các nhà tài trợ
Chú trọng đến hiệu quả hoạt động của các ngành, các địa phương và hiệu quả sử dụngtổng nguồn lực
Đưa ra một tầm nhìn trung hạn để các bộ ngành và địa phương có thể lập kế hoạch chothời kỳ trung hạn đó
Trang 7*Giải pháp thứ tám: Bảo toàn và phát triển tài sản công
Xây dựng quy chế quản lý, sử dụng tài sản công, khoán mua sắm những tài sản công cóthể và sử dụng theo định mức
Tăng cường tính công khai minh bạch trong mua sắm tài sản công Gắn việc mua sắm tàisản công với kết quả đầu ra trong sử dụng tài sản công đó
Phân cấp QL đi đôi với kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan QLTSC
Thực hiện nghiêm chế độ theo dõi, ghi chép biến động, đánh giá, báo cáo tài sản công.Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
Tăng cường kiểm tra, giám sát trong mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản công; xử lýnghiêm vi phạm Qui trách nhiệm cá nhân về thất thoát, lãng phí, đặc biệt là trách nhiệmngười đứng đầu
3 Kết luận: Cá nhân tự viết
Câu 2: Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ở Việt Nam, giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế trong tình hình mới.
Bài làm
1 Mở bài:
(Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của dân tộc.Trọng điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, vai trò của cán bộngày càng được nâng cao, đặc biệt là cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế.)
2 Thân bài:
Khái niệm: Cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế là tất cả các cá nhân thực hiện những
chức năng quản lý nhất định trong bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế của quốc gia
Đặc điểm:
Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế gắn với bộ máy quản lý nhà nước từ TW
đến địa phương, từ các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế đến các đơn vị kinh doanh, các tổchức sự nghiệp kinh tế
Thứ hai, cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế gắn với lao động quản lý, hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế Đặc thù của lao động này là làm việc với thông tin, sản phẩm của lao động làcác quyết định quản lý
Thứ ba, cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế hoạt động trong ngành, lĩnh vực quan trọng,
rất nhạy cảm, liên quan đến khối tài sản lớn gắn với lợi ích vật chất với nhiều cám dỗ Do vậy,
đòi hỏi họ cần có phẩm chất đạo đức “liêm, chính”.
Thứ tư, việc hoạch định và thực thi chính sách kinh tế phụ thuộc rất lớn và năng lực, tư
duy của cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế
Vai trò:
Cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế trực tiếp xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược,quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế của quốc gia, của ngành kinh tế, của địaphương cũng như từng đơn vị, tổ chức kinh tế
Cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế trực tiếp tổ chức quản lý toàn bộ nền kinh tế cũngnhư từng ngành, kĩnh vực, từng hoạt động kinh tế cho đến các tổ chức kinh tế
Trang 8Cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế trực tiếp điều hành nền kinh tế cũng như các ngành,các đơn vị kinh tế.
Cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế có vai trò quan trọng trong việc phân bổ, sử dụng cácnguồn lực quốc gia
Cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế là người trực tiếp xử lý các quan hệ giữa nhà nước,các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với nhân dân
Những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế:
Yêu cầu về phẩm chất đạo đức, lối sống: Có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất con
người tốt, phẩm hạnh trong sáng, cách ứng xử tốt với mọi người, đạo đức và lương tâm nghềnghiệp chuẩn mực
Yêu cầu về trình độ, năng lực: Đáp ứng được yêu cầu về kiến thức chuyên môn, kinh tế
-kỹ thuật và quản lý cần thiết cho công việc, đặc biệt là quản lý, thể hiện được khả năng vậndụng hiểu biết lý luận vào thực tiễn, biến lý luận thành hành động thực tiễn
Nội dung cơ bản xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế bao gồm:
Xây dựng tiêu chuẩn, chức danh cán bộ; Quy hoạch cán bộ; Bầu cử, tuyển dụng và bổ nhiệmcán bộ; Đánh giá cán bộ; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Thực hiện chính sách đối với cán bộ
Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế
(Lưu ý: Trong phần này, các đồng chí nêu thêm thực tế ở địa phương, cố gắng có liên quan đến phần giải pháp phía dưới, như vậy bài làm logic hơn.)
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện qua các nội dung của công tácxây dựng đội ngũ cán bộ từ xây dựng tiêu chuẩn, chức danh đến thực hiện chính sách đối vớicán bộ Cụ thể như sau:
1 Về chuẩn chức danh: đã được định hình theo ba nhóm (cán bộ, công chức, viên chức) với
các chức danh cụ thể Tuy nhiên, vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa bao quát, mới tiến hành ở một
số cấp, khâu Trong nhiều đơn vị chưa phân định rõ nhóm cán bộ (cán bộ, công chức, viênchức), đặc biệt là trong các đơn vị sự nghiệp công lập Phần lớn các tiêu chuẩn đối với cán bộcòn chung chung, nặng về tiêu chí định tính, rất khó đánh giá, khó xác định
2 Về quy hoạch: Công tác quy hoạch cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế mới được triển khai
thực hiện từ khi có nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII và đặc là nghị quyết số
42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị, đến nay công tác này được tiến hành trong hệ
thống bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế trên cả nước Tuy nhiên, còn hạn chế trong nhậnthức về công tác quy hoạch, quy hoạch còn mang tính hình thức, chiếu lệ, không phát huy tácdụng của công cụ này Ở cấp cao, quy hoạch cán bộ mới được triển khai từ khi có chủ trươngcủa Hội nghị Trung ương 6 khóa XI
3 Công tác đánh giá: được duy trì và thực hiện hàng năm (chủ yếu là tự phê bình và phê
bình, theo tiêu chí thi đua) Tuy nhiên, Trong công tác đánh giá cán bộ, tình trạng nể nang,
“Dĩ hòa vi quý” vẫn còn tồn tại; tiêu chí đánh giá chưa rõ ràng, phương pháp còn nặng tínhchủ quan, cảm tính
4 Tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ: từng bước thực hiện theo quy định của pháp luật; tổ
chức công khai, dân chủ; việc bổ nhiệm, bố trí và sử dụng cán bộ dần đi vào nề nếp Tuynhiên, việc tuyển dụng còn thiếu khách quan, thậm chí trá hình, vi phạm pháp luật Ở một số
cơ quan, lợi dụng việc tuyển dụng cán bộ để đưa con em vào cơ quan nhà nước; tình trạng
Trang 9trí cán bộ không đúng người, đúng việc không đáp ứng , trình độ, phẩm chất đạo đức vẫn còndiễn ra thường xuyên.
5 Điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện tốt từ sau nghị quyết Hội nghị Trung ương
3 khóa VIII, năm 1997 Đến nay, nhiều cán bộ Trung ương được điều động về các địa phương
và ngược lại Tuy nhiên, nhiều trường hợp điều động chưa hợp lý, chưa thật sự hiệu quả.Thậm chí còn hiện tượng lợi dụng điều động, luân chuyển để đẩy người không hợp ra khỏi cơquan, đơn vị
6 Công tác đào tạo, bồi dưỡng được tiến hành rộng khắp cho phù hợp với yêu cầu, chương
trình, thời gian phù hợp nâng cao được trình độ, năng lực cán bộ, nhờ đó, đáp ứng được mộtphần quan trọng yêu cầu nâng cao trình độ, năng lực cán bộ nói chung và cán bộ quản lý kinh
tế nói riêng Tuy nhiên, một số chương trình, nội dung, phương pháp chưa hiệu quả, khôngthiết thực Chủ yếu một số chương trình đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu để “giải ngân” thay vìnâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ
7 Thực hiện chính sách đã được điều chỉnh nhiều lần, cơ bản đảm bảo lợi ích và đời sống của
cán bộ Lương, phụ cấp được quyết định theo ngạch, bậc công chức, việc tính lương căn cứvào mức lương cơ bản Cán bộ ở vị trí lãnh đạo, quản lý được nhận phụ cấp trách nhiệm từ 0,2đến 1,3 (đối với vị trí cao nhất) Tuy nhiên, lương tối thiểu còn thấp vì vậy cán bộ còn dựavào các nguồn thu nhập không chính thức, còn chênh lệch lớn về thu nhập giữa các ngành,chế độ thưởng phạt còn hạn chế, chưa thực sự kích thích cán bộ gắn với công việc
Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về KT
1 Nâng cao nhận thức về xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế; xem đây là
công việc trọng yếu của quốc gia và là việc làm thường xuyên, liên tục; là nhiệm vụ cơ bản,lâu dài
2 Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn chức danh trong từng ngành, từng vị trí, công việc
như: trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức,…Các tiêu chí đánh giá cần xây dựng theo hướng
có thể lượng hóa để đảm bảo tính chính xác và khách quan
3 Đổi mới công tác đánh giá cán bộ; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh
bạch, khách quan, toàn diện, công tâm; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làmthước đo chính; coi trọng và phát huy trách nhiệm của người đứng đầu, người trực tiếp quản
lý, sử dụng cán bộ trong các cơ quan, tổ chức đơn vị kinh tế
4 Hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ theo hướng nâng cao chất lượng, chủ động, có tầm
nhìn xa, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Triển khai quy hoạch đồng ở các cấp, khâu;tăng cường phối hợp giữa các cấp, ngành, địa phương trong công tác quy hoạch
5 Đổi mới tuyển dụng, bố trí sử dụng cán bộ đảm bảo đúng người, đúng việc Việc tuyển
dụng và bố trí sử dụng cán bộ cần gắn với cơ chế trách nhiệm cao, trách nhiệm của ngườiđứng đầu
6 Tạo chuyển biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo tiêu
chuẩn chứa danh cán bộ Chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo phù hợp, thiếtthực, gắn với thực tiễn
7 Cải cách hệ thống chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế: chế độ
tiền lương, thu nhập, chế độ nhà ở công vụ, … Đảm bảo đồng bộ, thống nhất, công bằng Cải
Trang 10cách công tác thi đua, khen thưởng để tạo động lực thúc đẩy phong trao thi đua yêu nước mộtcách thực chất, tránh hình thức, lãng phí.
8 Đổi mới công tác quản lý cán bộ: nội dung, phương thức quản lý, tăng cường kiểm tra,
kiểm soát, nâng cao trình độ của cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế ở tất cả các cấp, ngành, tổchức kinh tế
3 Kết luận
(Tóm lại, trong điều kiện phát triển đất nước hiện nay, với việc coi phát triển kinh tế là nhiệm
vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH, thì cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế càng cóvai trò, vị trí quan trọng nhưng cũng gánh chịu nhiều trách nhiệm nặng nề, Đây là bộ phận cán
bộ thuộc những ngành, lĩnh vực gắn với lợi ích vật chất, nắm giữ và quản lý khối tài sản lớncủa quốc gia, rất dễ phát sinh, tiêu cực, tham nhũng, thoái hóa, biến chất Do đó, việc xâydựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế vững mạnh là một trong những vấn đề “hệtrọng” của quốc gia.)
Trang 11Câu 3: Trình bày các nội dung chủ yếu của hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô, phân tích mối quan hệ giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô Liên hệ thực tiễn, hiện mục tiêu kinh tế
vĩ mô nào được ưu tiên trong phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương?
Bài làm
1 Mở bài
{Các bạn dùng nội dung trong mục 1 giáo trình để mở bài, có thể tham khảo như sau:
Trong nền KTTT hỗn hợp hiện đại, QLKT vĩ mô có vai trò rất quan trọng, tạo điều kiệncho các chủ thể kinh tế hoạt động sx, kd, tiêu dùng ổn định, hiệu quả, đồng thời điều tiết quátrình phân phối của cải xh hướng tới xh văn minh, có trình độ phát triển kinh tế ngày càng cao.Muốn vậy, chúng ta cần nắm rõ nội dung hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu, mốiquan hệ giữa chúng nhằm xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước nóichung và địa phương nói riêng
2 Thân bài
2.1 Về quản lý kinh tế vĩ mô (QLKTVM)
Kinh tế vĩ mô là khoa học xem xét những vấn đề kinh tế chung, bao trùm của nền kinh tếquốc dân, là những quan hệ kinh tế có tác động tới hoạt động tổng thể nền kinh tế quốc dân.Quản lý kinh tế vĩ mô là sự tác động của cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế tới các quátrình và cân đối chung của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được các mục tiêu chung của quốcgia như hiệu quả, công bằng và ổn định
Từ khái niệm quản lý kinh tế vĩ mô, ta cần chú ý các phương diện sau:
Thứ nhất, chủ thể của quản lý kinh tế vĩ mô là hệ thống các cơ quan nhà nước được ủy
quyền quản lý nền kinh tế quốc gia
Thứ hai, đối tượng tác động của quản lý kinh tế vĩ mô là sự vận động của tổng thể nền
kinh tế quốc dân
Thứ ba, quản lý kinh tế vĩ mô, phải hướng đến các mục tiêu chung của nền kinh tế quốc
gia
Thứ tư, tác động quản lý kinh tế vĩ mô, một mặt, dựa trên quyền lực chính trị của Nhà
nước, mặt khác, phải phù hợp với các nguyên tắc, quy luật vận động của thị trường
Quản lý kinh tế vĩ mô có nhiều vai trò quan trọng:
Một là, quản lý kinh tế vĩ mô hướng hành vi của các chủ thể kinh tế tới các lợi ích chung
của quốc gia
Hai là, quản lý kinh tế vĩ mô góp phần phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Ba là, quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững Bốn là, quản lý kinh tế vĩ mô còn thống nhất sức mạnh quốc gia, tạo dựng năng lực cạnh
tranh của quốc gia trên thị trường thế giới
2.2 Về nội dung hệ thống các mục tiêu KTVM
Hệ thống các mục tiêu KTVM là thước đo phản ánh lợi ích chung của quốc gia và trạngthái của nền kinh tế quốc gia mà chủ thể quản lý KTVM (nhà nước) mong muốn đạt tới saumột thời gian dự kiến trên cơ sở đánh giá, phân tích các yếu tố nội sinh và ngoại sinh ảnhhưởng đến nền kinh tế Bao gồm các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu sau đây:
Trang 12Một là, mục tiêu giải quyết việc làm cho lực lượng lao động
Mục tiêu này là nhằm nổ lực tạo ra nhiều việc làm hơn nữa để giảm đến mức thấp nhất sốngười thất nghiệp, hay nói cách khác là nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế bằng cách sửdụng với hiệu quả cao nhất nguồn lực lao động của quốc gia
Thực tế cho thấy lực lượng lao động của quốc gia là nguồn lực quan trọng đóng góp phầnlớn vào tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế quốc gia Việc giải quyết việc làm cho lựclượng lao động có ý nghĩa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa tạo điều kiện công bằng trongtiếp cận nguồn lực của mọi người dân có khả năng và nhu cầu lao động, đồng thời góp phần
ổn định xã hội và cho phép một quốc gia có khả năng tiến tới mức sản lượng lớn nhất có thể
có (sản lượng tiềm năng) của nền kinh tế
Các chỉ tiêu đo lường cho mục tiêu này như: Tỷ lệ thất nghiệp (là tỷ lệ phần trăm giữa sốngười thất nghiệp và lực lượng lao động xã hội ở thời điểm tính toán); số lượng việc làm mới
mà nền kinh tế đã tạo ra trong một thời kỳ kế hoạch; và một số chỉ tiêu khác nhu: Tỷ lệ thấtnghiệp theo lứa tuổi, tỷ lệ thất nghiệp theo giới, theo ngành nghề, tỷ lệ thất nghiệp do cơ cấulại nền kinh tế, số người làm việc không theo đúng chuyên môn đào tạo
Mục tiêu giải quyết việc làm được xác định căn cứ vào nhu cầu việc làm tăng thêm củalực lượng lao động và nhu cầu sử dụng lao động của các khu vực kinh tế do đầu tư và sản xuấtgia tăng
Hai là, mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức vừa phải
Lạm phát là thuật ngữ kinh tế chỉ tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trongthời kỳ xem xét Nếu mức giá chung giảm đi trong thời kỳ xem xét thì gọi là thiểu phát
Chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá lạm phát là mức tăng mức giá chung trong nền kinh tế tính theo chỉ số giá tiêu dùng theo công thức sau:
Mức độ lạm phát quá cao hay thiểu phát đều tác động tiêu cực tới sản xuất, tiêu dùng, tới
sự tăng trưởng kinh tế và ổn định xh Một số tác động của lạm phát như: phân phối lại thunhập và của cải, sự điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tác động tới sản lượng: Lạm phát do cầukéo (Sản lượng tăng), lạm phát do chi phí đẩy (Sản lượng giảm)… Hiện nay, các biện pháp đểgiảm lạm phát thường là kiểm soát mức cung tiền cho phù hợp với tăng lượng hàng hóa trênthị trường và đi đôi với chính sách tài khóa hợp lý
Ba là, mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giá trị khi chuyển đổi đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ Có 2 cáchtính tỷ giá:
Một là, tính giá trị 1 đơn vị đồng ngoại tệ trong so sánh với giá trị đồng nội tệ theo công
thức (yết giá trực tiếp):
Trang 13Các biện pháp chủ yếu thường dùng để điều chỉnh TGHĐ là: Chính sách chiết khấu,chính sách hối đoái, lập quỹ bình ổn hối đoái, vay nợ và phá giá hay nâng giá tiền tệ để điềuchỉnh tỷ giá hối đoái
Bốn là, mục tiêu cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế được hiểu một cách khái quát là cân bằng tích cựcgiữa thu và chi ngoại tệ của cả nền kinh tế phù hợp với xu hướng phát triển tích cực của nềnkinh tế quốc gia, bao gồm hai bộ phận:
Thứ nhất, cán cân vãng lai bao gồm các khoản mục phải cân đối như: cán cân thương
mại, cán cân dịch vụ, thu nhập đầu tư ròng, chuyển nhượng hiện hành…
Thứ hai, cán cân vốn và tài chính bao gồm các bộ phận: Chuyển nhượng vốn, Đầu tư trực
tiếp, Đầu tư vào giấy tờ có giá, Đầu tư khác, tín dụng ngắn hạn, thay đổi tài sản có nước ngoàiròng của hệ thống ngân hàng…
Trong điều kiện kinh tế mở, mục tiêu cân bằng cán cân thanh toán quốc tế rất qua trọng,
nó phản ánh năng lực cạnh tranh, tình trạng lành mạnh của nền kinh tế, quy mô và mức độ mởcửa, hội nhập và khả năng hấp thụ, tiếp nhận các hoạt động trao đổi hàng hóa và đầu tư vớinước ngoài của nền KT
Trong quản lý kinh tế vĩ mô, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế có tác động tích cực tớicác hoạt động kinh tế trong nước, tránh cho nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng bất lợinhư phụ thuộc quá lớn vào nước ngoài, vỡ nợ, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, và làm cơ sởthiết lập các chính sách tiền tệ, thương mại và ngân sách
Để duy trì tình trạng cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, Nhà nước thường thi hành cácchính sách như: Khuyến khích xuất khẩu; khuyến khích đầu tư nước ngoài; kiểm soát nhậpkhẩu; kiểm soát các luồng ngoại tệ ra và vào nền kinh tế, khuyến khích chuyển tài sản từ nướcngoài về nước…
Năm là, mục tiêu bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội
Trang 14Luận chứng cho việc đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội là một mục tiêu của quản lýkinh tế vĩ mô được thể hiện trên hai giác độ sau:
Thứ nhất, công bằng và tiến bộ xã hội là một trong những điều kiện phát triển toàn diện
con người, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, một nền kinh tế đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng các cơ hội lao động, việc làm,
phát triển cá nhân chính là mục tiêu của phát triển kinh tế
Trong nền KTTT định hướng XHCN, đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội càng đượccoi là một mục tiêu quan trọng, đồng thời cũng là một lĩnh vực thu hút sự đồng thuận của xh.Các tiêu chí đo lường mức độ công bằng và tiến bộ xã hội là hệ số GINI, chỉ số phát triểncon người HDI, chỉ số phát triển giới GDI,…
Quan điểm thực hiện mục tiêu công bằng không có nghĩa là bình quân, cào bằng, mà phảivừa phát huy động lực kinh tế của từng cá nhân, từng tổ chức, khuyến khích mọi người làmgiàu chính đáng, đồng thời vừa quan tâm tạo điều kiện để các đối tượng khác có thể phát huynăng lực của mình đi đôi với hỗ trợ của xã hội nhằm đạt được mức thu nhập trung bình của xãhội
Nhà nước thường thực hiện mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội thông qua hệ thống cácchính sách xã hội như: chính sách người có công, chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sáchgiáo dục, y tế có sự hỗ trợ của nhà nước, chính sách an sinh xã hội, chính sách bình đẳng giữacác dân tộc, chính sách bình đẳng giới…
Tuy nhiên, nhu cầu tài chính để thực hiện các chính sách xh là khá lớn, trong khi nguồnlực ngân sách có hạn, vì vậy nhà nước cần biết cách sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các chínhsách xh phù hợp với trình độ phát triển kt và ngân sách của Nhà nước
Sáu là, mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Tăng trưởng nhanh và bền vững vừa là kết quả của thực hiện các mục tiêu nêu trên, vừa
là là tiền đề để có thể tiếp tục thực hiện các mục tiêu đó trong giai đoạn tiếp theo
Đối với các nước đang phát triển, tăng trưởng nhanh là mục tiêu tối quan trọng để cácquốc gia này có thể thu hẹp khoảng cách lạc hậu với các nước phát triển Bên cạnh đó, tăngtrưởng kinh tế bền vững đòi hỏi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế không những phải ở mứccao nhất có thể đạt được mà còn phải bảo đảm sự ổn định của quá trình tăng trưởng, tức là tốc
độ tăng trưởng phải ổn định liên tục trong một thời kỳ dài, đồng thời bảo đảm sử dụng có hiệuquả các nguồn lực sản xuất, bảo vệ môi trường, tái tạo được các nguồn lực tự nhiên đi đôi vớichi phí thỏa đáng cho thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội
Các chỉ tiêu đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng tổng sảnphẩm quốc nội (GDP), mức GDP bình quân tính trên đầu người; tốc độ tăng trưởng của cácngành sx chính
Đối với các chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển bền vững, việc đo lường các chỉ tiêu trênđược đặt trong mqh với các chỉ tiêu đo lường mức độ công bằng, tiến bộ xh và bảo vệ môitrường
Ngoài ra, việc đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế đượcxem xét thông qua chỉ tiêu năng suất tổng hợp của các yếu tố đầu vào (TFP), hệ số gia tăng tưbản – đầu tư (ICOR), đây là 2 chỉ tiêu quan trọng và các chỉ tiêu khác như: tốc độ đổi mớicông nghệ, mức độ ô nhiễm môi trường,…
Trang 152.3 Phân tích mối quan hệ giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Về tổng thể, các mục tiêu kinh tế vĩ mô phản ánh mong muốn của Nhà nước muốn nềnkinh tế quốc gia đạt được trong một thời kỳ nhất định Các mục tiêu này và các chỉ số đolường chúng hợp thành một hệ thống thống nhất có quan hệ chặt chẽ với nhau, chế định lẫnnhau, thậm chí có thể đánh đổi cho nhau (ví dụ mục tiêu công bằng và hiệu quả, mục tiêukiểm soát lạm phát và giải quyết việc làm…) Trong kinh tế vĩ mô, điều cần chú ý là xác địnhthứ tự ưu tiên của các mục tiêu cần đạt được phù hợp với đk cụ thể trong từng gđ phát triểnđất nước Trên cơ sở đó, Nhà nước xây dựng các chiến lược phát triển kt-xh nhằm sử dụng tốtnhất nguồn lực của đất nước để hoàn thành các mục tiêu đề ra
Một ví dụ tiêu biểu là mqh giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với đảm bảo công bằng,tiến bộ xh, hai mục tiêu này, vừa có mqh thống nhất vừa mâu thuẫn nhau, cụ thể:
Hai là, tăng dự trữ quốc gia, giải quyết biến động lớn của đất nước do thiên tai, địch họạgây ra, kịp thời trợ giúp cho những nhóm dân cư dể bị tổn thương có cơ hội vượt qua hiểmnguy
Ba là, tăng kinh phí cho phát triển khoa học, công nghệ để tăng năng lực sản xuất chophát triển
Bốn là, tạo kinh phí cho việc giải quyết các vấn đề xã hội như: đầu tư giáo dục, y tế, vănhoá, thể thao, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện các chính sách xã hội, chiếnlược dân số, xoá đói giảm nghèo…
Như vậy, nếu không có tăng trưởng kinh tế thì không có điều kiện để thực hiện đượccông bằng xã hội
Đến lượt mình, công bằng, tiến bộ xã hội có tác động kích thích và thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Khi công bằng xã hội được thực hiện sẽ khơi dậy tính tích cực, sáng tạo của người laođộng, tạo động lực phát triển kinh tế; việc an sinh được đảm bảo xã hội, xã hội được ổn định
là điều kiện quan trọng tạo nên sự đồng thuận xã hội Ngoài ra, CBXH được thực hiện sẽ tậphợp, phát huy được mọi nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đối với mặt mâu thuẫn
Một là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để thực hiện công bằng xã hội, nhưng không
tự phát đưa đến công bằng xã hội, vì:
- Tăng trưởng kinh tế gắn liền với phân phối nguồn lực sản xuất theo cơ chế thị trường(tối ưu) nó không quan tâm tới phân phối kết quả sản xuất có công bằng hay không
- Chênh lệch giữa các ngành và các vùng miền
- Trong nhiều trường hợp để tập trung cho tăng trưởng kinh tế phải dồn nguồn lực đầu tưcho phát triển kinh tế Do đó, đầu tư cho xã hội bị hạn chế làm ảnh hưởng tới việc thực hiệncông bằng xã hội
Trang 16Như vậy, điều kiện đủ để thực hiện được công bằng xã hội là phải có sự điều tiết của Nhànước và sự tham gia của cộng đồng dân cư Trong đó, điều tiết của Nhà nước được thực hiệnbằng cách phân phối lại thu nhập thông qua 3 công cụ: Chính sách thuế; trợ cấp chính phủ:tăng thu nhập người nghèo bằng những phương thức thích hợp và phúc lợi xã hội.
Hai là, nếu tập trung vào giải quyết công bằng xã hội thái quá - thiên về đảm bảo phúc
lợi xã hội thì sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế Chẳng hạn để có ngân sách cho đảm bảo phúclợi xã hội thì phải tăng sự điều tiết của Nhà nước và của dân cư
- Điều tiết của Nhà nước: thuế cao sẽ làm giảm đầu tư, mất động lực thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế
- Điều tiết của cộng đồng dân cư: thông qua các phong trào đền ơn đáp nghĩa, quỹ cộngđồng Nếu huy động quá mức sức dân cũng ảnh hưởng đến đầu tư cho tăng trưởng kinh tế.Như vậy, sự điều tiết của Nhà nước và của dân cư phải luôn quan tâm thoả đáng đến cả 2mục tiêu: tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Trong điều kiện nước ta hiện nay phải coităng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết để thực hiện công bằng xã hội
2.4 Liên hệ thực tiễn
{Các bạn liên hệ thực tiễn theo nội dung mục 3 bài 2 trong giáo trình hoặc theo Báo
cáo tình hình KT-XH An Giang 2014, phương hướng nhiệm vụ 2015 hoặc kết hợp cả hai}
3 Kết luận
Trang 17Câu 4: Trình bày vai trò, chức năng QLNN về kinh tế Liên hệ thực tiễn ? (cả nước và địa phương - Khái quát những thành công, hạn chế và đề ra giải pháp để hoàn thiện, thực hiện các chức năng của QLNN KT trong nền KTTT đ/hướng XHCN Việt Nam hiện nay)
ra trong quá trình phát triển của hệ thống kinh tế quốc dân
Vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta trước hết cũng giống như các Nhà nước khác thể hiện ở việc thực hiện các mục tiêuquản lý kinh tế vĩ mô, mà cơ bản và khái quát nhất là bảo đảm sự phát triển ổn định; thực hiệncông bằng; tăng trưởng nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh tế
Ngoài vai trò chung như các nước khác trong quản lý nền kinh tế thị trường, do tính chấtđặc thù của nước ta, Nhà nước còn thể hiện vai trò quan trọng trên các nội dung sau:
- Nhà nước quyết định sự thành công hay không thành công của sự nghiệp đổi mới,chuyển từ nền kinh tế kế hoạch, chỉ huy tập trung sang phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa
- Nhà nước quyết định tốc độ nhanh hay chậm của quá trình đổi mới
- Nhà nước quyết định sự định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường
Trong quá trình đổi mới, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước không hề bị suy giảm màngày càng tăng lên Cần nhận thức rằng, tăng cường vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tếkhông có nghĩa là Nhà nước nắm tất cả, can thiệp vào tất cả mọi hoạt động kinh tế mà Nhà nướcphải nắm những lĩnh vực, những khâu, thực hiện những công việc quan trọng nhất mà thị trường
và nhân dân không làm được, biết sử dụng cơ chế thị trường một cách khôn khéo, hiệu quả để
Trang 18phục vụ cho mục tiêu quản lý của mình, biết phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị trường
và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế đó
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
* Nhận thức chung về chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa là những hoạt động tổng quát nhất về phương diện quản lý nền kinh tế mà Nhànước phải thực hiện để đạt mục tiêu đã đề ra, trả lời câu hỏi: Nhà nước phải làm những gì? Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa do bản chất của Nhà nước, do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội và dotình hình kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử quy định Trong những điều kiện cụ thể,
do mục tiêu và những điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì vai trò và thứ tự ưu tiên của cácchức năng có thể có sự thay đổi nhất định, tuy nhiên tên gọi của các chức năng ít thay đổi
* Những chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Có thể khái quát thành 5 chức năng quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay như sau:tạo môi trường thuận lợi cho toàn bộ nền kinh tế thị trường hoạt động; định hướng và hướng dẫn
sự phát triển của nền kinh tế; tổ chức và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; điều tiết nềnkinh tế; kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hoạt động của các chủ thể kinh tế Tùy theo yêu cầuphục vụ nhiệm vụ chính trị và kinh tế - xã hội của từng giai đoạn mà việc sắp xếp thứ tự ưu tiên
và nội dung cụ thể của các các chức năng có thể thay đổi
1 Tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế hoạt động
Các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế chỉ có thể hoạt động tốt khi có môi trườngthuận lợi Bằng quyền lực và sức mạnh kinh tế của mình, Nhà nước có trách nhiệm chínhtrong việc xây dựng và bảo đảm môi trường thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động sản xuất, kinhdoanh, đồng thời còn bảo đảm môi trường phù hợp cho chính cơ chế mới đang hình thành,phát triển và phát huy tác dụng Nhà nước cần tạo lập nhiều loại môi trường, trong đó có cácmôi trường chính sau đây:
Một là, xây dựng môi trường chính trị ổn định, thật sự phát huy các nguồn lực và sức
sáng tạo của nhân dân của các doanh nghiệp
Hai là, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế vận động và phát triển
thuận lợi
Ba là, xây dựng môi trường văn hóa xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường, xã hội
ngày càng tôn trọng và tôn vinh nghề kinh doanh và người kinh doanh
Bốn là, bảo đảm môi trường an ninh trật tự, kỷ luật, kỷ cương, mọi cá nhân và tổ chức
đều phải tuân thủ pháp luật
Năm là, xây dựng và hoàn thiện môi trường thông tin.
Với chức năng này, Nhà nước có vai trò như một bà đỡ giúp cho các cơ sở sản xuất kinhdoanh phát triển, đồng thời bảo đảm các điều kiện tự do, bình đẳng trong kinh doanh
2 Định hướng, hướng dẫn sự vận động, phát triển của toàn bộ nền kinh tế
Trang 19Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa,nhà kinh doanh và các tổ chức kinh tế được tự chủ kinh doanh nhưng không thể nắm được hếttình hình và xu hướng vận động của thị trường, do đó họ thường chạy theo thị trường mộtcách bị động, dễ gây ra thua lỗ, thất bại và đổ vỡ, gây thiệt hại chung cho nền kinh tế Hơnnữa, Nhà nước còn phải định hướng nền kinh tế phát triển theo quỹ đạo và mục tiêu kinh tế –
xã hội đã được Đảng và Nhà nước định ra cho mỗi giai đoạn Do đó, Nhà nước có chức năngđịnh hướng phát triển kinh tế và hướng dẫn các nhà kinh doanh, các tổ chức kinh tế hoạt độnghướng đích theo các mục tiêu chung của đất nước Nhà nước định hướng và hướng dẫn bằngcác công cụ như chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch, thông tin và các nguồn lực củaNhà nước
3 Tổ chức thực hiện, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và bảo hộ cho các chủ thể kinh doanh đúng pháp luật
Nhà nước phải sắp xếp, tổ chức lại các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế quan trọng,trong đó có sắp xếp, củng cố lại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các doanh nghiệp nhànước, tổ chức các khu công nghiệp, khu chế xuất Đây là những công việc nhằm tạo cơ cấukinh tế hợp lý
Nhà nước phải bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế thị trường như cân đối tổng cung
- tổng cầu, cân đối xuất khẩu – nhập khẩu, cân đối thu - chi ngân sách bảo đảm ổn định kinh
tế vĩ mô của nền kinh tế thị trường
Nhà nước phải bảo hộ và bảo vệ cho các chủ thể kinh doanh đúng pháp luật, can thiệpvào nền kinh tế thị trường khi có những biến động lớn như khủng hoảng, suy thoái kinh tế.Nhà nước có trách nhiệm tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan quản lý của Nhà nước về kinh
tế từ trung ương đến cơ sở, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính, đào tạo và đào tạo lại, sắpxếp đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp nhà nước, thiết lậpmối quan hệ kinh tế với các nước và các tổ chức quốc tế
4 Điều tiết hoạt động của toàn bộ nền kinh tế
Trong khi điều hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước vừa phải tuânthủ và vận dụng các quy luật khách quan của thị trường, phát huy mặt tích cực, hạn chế nhữngtiêu cực của thị trường, vừa điều tiết sự hoạt động của thị trường theo định hướng của Nhànước, đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định, công bằng và có hiệu quả Để điều tiết, Nhànước phải sử dụng các chính sách, các công cụ như: tài chính, tiền tệ, thuế, tín dụng, lãisuất ,các nguồn lực mạnh để điều tiết nền kinh tế thị trường
5 Kiểm tra, kiểm soát và xử lý các vi phạm của các chủ thể tham gia thị trường
Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm nhằm thiết lập trật
tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm phápluật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của nhân dân, góp phần tăngtrưởng kinh tế và từng bước thực hiện công bằng xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mới phát triển, thậm chí còn sơ khai như ở nướcta: tình trạng rối loạn, tự phát, vô tổ chức và các hiện tượng tiêu cực còn khá phổ biến, có nơi,
có lúc rất trầm trọng và phức tạp, càng cần phải đề cao chức năng của Nhà nước kiểm tra,kiểm soát, xử lý vi phạm đối với các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, đồng thời cũng kiểmtra, kiểm soát, xử lý vi phạm của chính các cơ quan và các cán bộ, công chức quản lý kinh tếcủa Nhà nước
Trang 20Liên hệ thực tiễn ở nước ta:
Những thành công của quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách phù hợp, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho nền kinh tế thị trường phát triển
Thứ hai, đã phát huy vai trò tích cực của các chủ thể kinh tế.
Thứ ba, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa đã hình thành, phát huy tác dụng
Thứ tư, hệ thống thị trường ngày càng phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng.
Những hạn chế, yếu kém của quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Có thể khẳng định mọi thành công của nền kinh tế đều là kết quả lãnh đạo đúng đắn củaĐảng, quản lý của Nhà nước, mọi hạn chế, yếu kém của nền kinh tế cũng do những hạn chế,bất cập trong lãnh đạo của Đảng, trong quản lý của Nhà nước Đảng ta cũng nhận thức rất rõvấn đề đó Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:
"Tư duy phát triển kinh tế -xã hội và phương thức lãnh đạo của Đảng chậm đổi mới, chưa đápứng kịp yêu cầu phát triển đất nước; bệnh thành tích còn nặng; hệ thống pháp luật còn nhiềubất cập, việc thực thi chưa nghiêm, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém; tổ chức bộ máycồng kềnh, một bộ phận cán bộ, công chức yếu cả về năng lực và phẩm chất”1
Có thể khái quát những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước tatrên một số nội dung sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới, chưa phát huy
đầy đủ những mặt tích cực và hạn chế tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị trường Chưa giảiquyết tốt mối quan hệ nhà nước – thị trường – doanh nghiệp Quản lý nhà nước chưa trở thànhnhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Thứ hai, hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách chưa đồng bộ và thiếu nhất quán, thực
hiện chưa nghiêm
Thứ ba, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa đã
hình thành nhưng chưa đồng bộ, quản lý các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạchhóa, thương mại, phân phối thu nhập, đất đai, vốn và tài sản Nhà nước chưa tốt và chậm đổimới, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí còn lớn và ngày càng phức tạp
Thứ tư, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế còn nặng nề và còn nhiều vướng
mắc; tình trạng quan liêu, phân tán cục bộ, vô cảm với dân còn nghiêm trọng; đội ngũ cán bộ,công chức quản lý nhà nước về kinh tế đông nhưng không mạnh, tình trạng không làm tốtchức trách của mình khá phổ biến, hiện tượng tham nhũng, tiêu cực có xu hướng ngày càngtăng và phức tạp
Thứ năm, quản lý tài sản công nói chung, quản lý các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và
các doanh nghiệp nhà nước nói riêng còn quá nhiều bất cập, thậm chí yếu kém, gây lãng phí,thất thoát rất lớn, để lại những hậu quả rất nặng nề về kinh tế và xã hội
Nguyên nhân của những hạn chế trên đây có nhiều, trong đó có cả những nguyên nhânkhách quan như: nước ta đang trong quá trình đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường định