các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập, các tại sản khác và các khoản nợ tài chính, các khoản chuyển giao một chiều.Nh vậy, cán cân thanh toán là tài khoản đối ngoại trong hệ thống
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU1.Mức độ cần thiết của đề tài
Việt Nam đang trong qua trình chuyển đổi sang trong cơ chế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa đặc biệt trong kinh tế đối ngoại với chủ trương mở cửa, hợp tác và hội nhập với nền kinh tế thế giới Kinh tế đối ngoại đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước Vấn đề kinh tế đối ngoại trở nên vô cùng quan trọng đảm bảo cho chóng ta khai thác được các lợi thế so sánh của đất nước
Cán cân thanh toán quốc tế là một trong những tài khoản kinh tế vĩ mô quan trọng phản ánh hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với phần còn lại của thế giới Nó có quan hệ chặt chẽ với các tài khoản kinh tế vĩ mô khác nh bản cân đối ngân sách, cân đối tiền tệ, hệ thống tài khoản quốc gia Chính vì vậy, cán cân thanh toán đã trở thành công cụ quan trọng để đề ra các chính sách phát triển kinh tế và những diễn biến trong cán cân thanh toán của một nước là mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên để lập được một bản cán cân thanh toán quốc tế đầy đủ chính xác và kịp thời là một việc rất khó khăn do phạm vi thu thập số liệu cán cân thanh toán quốc tế quá rộng Việc phân tích các tình trạng và đưa ra các giải pháp điều chỉnh cán cân thanh toán trong từng thời kì phát triển kinh tế của một quốc gia cũng là việc khó do các khu vực trong nền kinh tế có quan hệ tác động lẫn nhau
Việc thành lập cán cân thanh toán quốc tế mới chỉ chính thức bắt đầu từ năm
1990 Có thể nói rằng việc thành lập, phân tích điều chỉnh cán cân thanh toán quốc
tế đối với Việt Nam là rất mới mẻ và thiếu kinh nghiệm, để cán cân thanh toán quốc tế trở thành một công cụ phân tích, quản lý tốt các hoạt động kinh tế đối ngoại thì vấn đề cấp thiết là phải có sự nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn trong
Trang 22 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
*Phân tích cơ sở khoa học của việc thành lập, phân tích và điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế
*Phân tích thực trạng của cán cân thanh toán của Việt Nam nói riêng từ năm
1990 đến nay
* Trên cơ sở phân tích trên đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp cho cán cân thanh toán quốc tế hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng là những vấn đề thực tiễn và lý thuyết trong việc thành lập cán cân thanh toán và các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán của Việt Nam hiện nay Phạm vi nghiên cứu: về mặt lý thuyết phân tích cơ sở khoa học của việc xây dựng cán cân thanh toán quốc tế và các cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế; về mặt thực tiễn, phân tích thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong những năm từ 1990 đến nay Từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thích hợp, đảm bảo sự phát triển cân đối bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, so sánh tổng hợp và phân tích, kết hợp những kết quả thống kê và vận dụng lý thuyết để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Mặt khác luận văn còn vận dụng các quan điểm đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước để khái quát hệ thống và khẳng định kết quả nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Đức Dị, các thầy cô và bè bạn đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận Do hạn chế về thời gian còng nh trình độ nghiên cứu, khóa luận không thể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 31.1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế:
Xét dưới một góc độ nhất định, các định nghĩa về cán cân thanh toán trong những sách kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế về cơ bản là giống nhau Tuy vậy, quan điểm của quỹ tiền tệ (IMF) được trình bày trong "Sổ tay cán cân thanh toán" (1993) được coi là chính thức mà các thành viên khi lập cán cân thanh toán phải tuân theo Theo đó, cán cân thanh toán Quốc tế được định nghĩa nh sau:
"Cán cân thanh toán là một bản thống kê được thành lập một cách có hệ thống các giao dịch kinh tế của một nướcvới phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian nhất định Các giao dịch, chủ yếu là giữa người cư trú và người không cư trú, gồm các luồng trao đổi về hàng hoá, dịch vụ và thu nhập; các giao dịch về tài sản và các khoản nợ tài chính của một nước với phần còn lại của thế giới Bản thân một giao dịch được nhìn nhận như một luồng kinh tế phản ánh sự phát sinh, sự biến đổi, sự trao đổi, sự chuyển giao, hay sù thanh toán các giá trị kinh tế và dẫn đến sự thay đổi về quyền sở hữu hàng hoá và /hay các tài sản tài chính, cung cấp các dịch vụ, hay cung cấp lao động và vốn"
Tóm lại: Cán cân thanh toán của một nước là bản ghi chép toàn bộ giao dịch kinh tế giữa người cư trú của nước lập báo cáo với người cư trú của phần còn lại
Trang 4các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập, các tại sản khác và các khoản nợ tài chính, các khoản chuyển giao một chiều.
Nh vậy, cán cân thanh toán là tài khoản đối ngoại trong hệ thống các tài khoản quốc gia Tình trạng của nó sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, đến tình hình ngoại hối, đến toàn bộ nền kinh tế của một nước đặc biệt là lĩnh vực kinh
tế đối ngoại
1.2 Phân tích nội dung của cán cân thanh toán quốc tế:
1.2.1 Nội dung của cán cân thanh toán Quốc tế:
Theo cuốn Sổ tay của cán cân thanh toán Quốc tế xuất bản lần thứ 4 của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), cán cân thanh toán Quốc tế gồm những khoản mục sau: Tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và tài chính, tài khoản dự trữ Ngoài ra, do khó khăn trong việc thu thập số liệu của tất cả các giao dịch của một số nước với thế giới bên ngoài nên trong cán cân thanh toán còn có tài khoản sai sót
A Tài khoản vãng lai:
Tài khoản vãng lai hay còn gọi là cán cân vãng lai là một bộ phận chính hình
thành lên bảng cán cân thanh toán của một nước Nó phản ánh đầy đủ mọi giao dịch có giá trị kinh tế xảy ra giữa những người cư trú và không cư trú Cụ thể: Trong tài khoản vãng lai bao gồm các hạng mục: Hàng hoá, dịch vụ, thu nhập, chuyển giao vãng lai một chiều
1 Hạng mục hàng hoá: Hạch toán tất cả các khoản thu từ xuất khẩu hàng hoá
và các khoản chi để nhập khẩu hàng hoá Bảng cân đối thu chi của phần này được
gọi là cán cân thương mại Thông thường đây là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tài khoản vãng lai Tất cả các số liệu xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá được ghi chép trong cán cân thanh toán được tính theo giá FOB hoặc FAS
2 Hạng mục dịch vụ: Hạch toán các khoản thu từ xuất khẩu và chi để nhập
Trang 5khẩu các loại hình dịch vụ Bảng cân đối thu và chi của phần này được gọi là cán cân dịch vụ Theo tiêu chuẩn của IMF, hạng mục này có thể phân chia thành:
a Dịch vụ vận chuyển: cước phí, hành khách, các khoản khác
b Dịch vụ du lịch: bao gồm các chi phí khách sạn và nhà trọ, các chi phí du
lịch khác (nhà hàng, các chuyến thăm quan )
3 Hạng mục thu nhập: Hạch toán tất cả các khoản thu nhập từ hai yếu tố sản
xuất: Lao động và vốn Thu nhập từ lao động gọi là thu nhập của người lao động Thu nhập từ vốn gọi là thu nhập đầu tư
a Thu nhập của người lao động bao gồm lương, thưởng và các khoản thu
nhập khác bằng tiền hoặc bằng hàng do người không cư trú trả cho người cư trú và
Trang 6b Thu nhập đầu tư bao gồm:
+Thu nhập đầu tư trực tiếp (các khoản thu nhập đầu tư và tái đầu tư)
+Thu nhập đầu tư vào giấy tờ có giá (thu nhập do nắm giữ cổ phiếu, trái phiếu,các giấy tờ có giá và các công cụ tài chính khác)
+Thu nhập đầu tư khác: các khoản thu về tài sản của người cư trú
4 Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều: Ghi chép các khoản chuyển
giao dưới dạng không hoàn lại như quà tặng, viện trợ và các khoản chuyển giao khác bằng tiền mặt hoặc hiện vật giữa người cư trú và người không cư trú cho mục đích tiêu dùng này bao gồm:
a Chuyển giao khu vực chính phủ
- Các khoản viện trợ không hoàn lại (các khoản chuyển giao bằng tiền hoặc bằng hàng ví dô nh quà tặng về thực phẩm, quần áo, thuốc men và hàng tiêu dùng khác với mục đích cứu trợ)
- Các khoản chuyển giao khác
b Chuyển giao khu vực phi chính phủ
Chuyển tiền của người lao động bao gồm những khoản chuyển tiền của công nhân lao động ở nước ngoài hơn một năm chuyển về nước Tiền lương của lao động ở nước ngoài dưới một năm cần hạch toán trong mục thu nhập của người lao động
Các khoản viện trợ của tổ chức phi chính phủ (nh tổ chức chữ thập đỏ quốc tế ) bằng tiền hoặc bằng hàng hoặc trợ giúp dưới hình thức kỹ thuật
B Tài khoản vốn và tài chính:
Tài khoản vốn và tài chính là tổng hợp tất cả các giao dịch ghi chú những thay đổi về tổng tài sản, những khoản có và nhữmg khoản nợ tài chính nước ngoài của một nước Các giao dịch chủ yếu trong hạng mục vốn và tài chính bao gồm:
Trang 71 Chuyển giao vốn một chiều bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cho
mục đích đầu tư, các khoản nợ được xoá giữa người cư trú và người không cư trú, các loại tài sản của người cư trú di cư mang ra nước ngoài và của người không cư trú di cư vào nước lập báo cáo
2 Các giao dịch về tài sản phi tài chính bao gồm các tài sản vô hình như bản
quyền, nhãn hiệu thương mại, bằng sáng chế, giấy phép kinh doanh, hợp đồng thuê mua, hoặc các hợp đồng chuyển nhượng khác
3 Đầu tư trực tiếp là việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một nước sở tại
vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư thu lợi nhuận theo quy định của luật đầu tư nước ngoài của nước sở tại
4 Đầu tư gián tiếp là việc người không cư trú đầu tư vào giấy tờ có giá như cổ
phiếu, trái phiếu dài hạn, trái phiếu ngắn hạn, các công cụ thị trường tiền tệ và các công cụ phái sinh do người cư trú phát hành
5 Đầu tư khác bao gồm các khoản vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, các khoản
tiền mặt và tiền gửi không được liệt kê trong các khoản mục 1,2,3,4 và tài khoản
dự trữ chính thức
C Tài khoản dự trữ:
Ghi lại những thay đổi về tài sản dự trữ của cơ quan quản lý tiền tệ để tài trợ và điều hoà sự mất cân đối của cán cân thanh toán Nó có thể là những dạng sau:
1 Vàng tiền tệ: Vàng tinh chế thuộc sở hữu của các cơ quan quản lý tiền tệ
Các giao dịch bằng vàng tiền tệ chỉ xảy ra giữa các ngân hàng Trung ương các nước hoặc với các tổ chức tiền tệ Quốc tế
Trang 83 Ngoại hối: Các phương tiện có giá trị được dùng để tiến hành thanh toán
giữa
các quốc gia (ví dụ: Ngoại tệ tiền mặt, tiền gửi và các phương tiện thanh toán Quốc
tế ghi bằng ngoại tệ )
D Sai sót thống kê: Phản ánh phần chênh lệch do sai sót thống kê của tất cả
các hạng mục trong cán cân thanh toán
1.2.2 Phân tích nội dung cán cân thanh toán :
Phân tích cán cân thanh toán là một trong những cơ sở quan trọng để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách thích hợp cho từng thời kỳ Cán cân thanh toán Quốc tế cần phải được phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong mối quan hệ với các tài khoản kinh tế vĩ mô khác và trong các mối quan hệ giữa các hạng mục của cán cân thanh toán
A Dư thừa và thiếu hụt cán cân thanh toán
Theo hệ thống kế toán bót toán kép, tổng các khoản ghi nợ bằng tổng các khoản ghi có cán cân thanh toán luôn cân bằng Về nguyên tắc, các giao dịch được ghi trong cán cân thanh toán được chia làm hai loại chính: giao dịch tự định và giao dịch điều chỉnh Giao dịch tự định là những giao dịch được thực hiện vì lợi Ých của bản thân chúng Điểm đặc trưng của giao dịch tự định là chúng được thực hiện độc lập không phụ thuộc vào trạng thái của cán cân thanh toán của nước lập báo cáo Tất cả các giao dịch khác được gọi là giao dịch điều chỉnh Các giao dịch điều chỉnh không được thực hiện vì lợi Ých của chính nó Đúng hơn, khi các giao dịch
tự định để lại một lỗ hổng cần phải được bù đắp thì giao dịch điều chỉnh phải được
Trang 9thực hiện để bù đắp lỗ hổng đó (vì thế mà giao dịch tự điều chỉnh còn được gọi là giao dịch bù đắp).
Hãy tưởng tượng một đường nằm ngang được vẽ xuyên qua một bảng cán cân thanh toán Phía trên đường tưởng tượng đó, đặt tất cả các giao dịch tự định; phía dưới, đặt các giao dịch điều chỉnh Khi số dư các giao dịch tự định bằng không (có nghĩa là các khoản thu tự định bằng các khoản chi tự định), cán cân thanh toán là
cân bằng Khi tổng các khoản thu tự định (những khoản có) lớn hơn tổng các khoản chi tự định (những khoản nợ), thì có một thặng dư; và khi tổng số các khoản thu tự định nhỏ hơn tổng số các khoảnchi tự định, thì có một thâm hụt Trong mỗi trường hợp, sự đo lượng mất cân bằng kế toán (thặng dư hay thiếu hụt) được xác định bằng chênh lệch giữa tổng số những khoản thu tự định và tổng số những khoản chi tự định
Do cán cân thanh toán là đồng nhất thức, chúng ta luôn có:
Tổng các giao dịch tự định+tổng các giao dịch điều chỉnh=0
Hay: Tổng các giao dịch tự định = -Tổng các giao dịch điều chỉnh
Do đó, đo lường sự mất cân bằng các cân thanh toán cũng có thể xác định nh là
số âm của chênh lệch giữa các khoản thu và chi của giao dịch điều chỉnh
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa giao dịch tự định và giao dịch điều chỉnh trong thực tế là không rõ ràng do đó không có cách đo lường kế toán duy nhất về sự mất cân bằng cán cân thanh toán Nói chung, để phản ánh trạng thái của cán cân thanh toán quốc tế của một nước người ta thường dùng cán cân tổng thể (tổng hợp cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài chính) Tuy nhiên, cán cân tổng thể đôi khi không được đánh giá chính xác bằng cán cân vãng lai bởi vì nó không phản ánh đúng năng lực sản xuất hay khả năng cạnh tranh kinh tế của một nước Chẳng hạn,
Trang 10nếu đi sâu vào phân tích từng chỉ tiêu lại thấy cán cân vãng lai bị thiếu hụt lớn và được tài trợ hoàn toàn bằng vay nợ, đầu tư nước ngoài Do đó, sự phân tích thoả đáng về cơ cấu tài trợ liên quan đến sự ổn định các cân vãng lai trong tương lai là rất cần thiết.
B Phân tích tài khoản vãng lai:
Nh ta đã biết, trong cán cân thanh toán, cán cân vãng lai giữ vai trò quan đặc biệt quan trọng Vì vậy, khi phân tích cán cân thanh toán cần phải chú trọng phân tích cán cân vãng lai và số dư tài khoản vãng lai
Các nhà kinh tế học cho rằng những định nghĩa khác nhau thể hiện những mặt khác nhau của cán cân vãng lai Trên thực tế, có bốn định nghĩa về cán cân vãng lai
và sự lùa chọn định nghĩa nào phụ thuộc vào mục đích phân tích
Thứ nhất: cán cân vãng lai đo lường các giao dịch kinh tế của một nước với
phần còn lại của thế giới về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao một chiều (định nghĩa trong Rivera-Batiz, 1989, trang 119) Hay nói cách khác, cán cân vãng lai là tổng của chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (X-M) cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài (NF) và chuyển khoản ròng từ nước ngoài (NTR) Theo định nghĩa này, tài khoản vãng lai (CA) sẽ bằng:
CA= X-M+NF+NTR
Theo định nghĩa này, Khi thâm hụt ngân sách vượt quá 5% đến 6% GDP có thể
có vấn đề và cần chú ý yếu tố nào đã gây ra thâm hụt Liệu có phải do người dân
đã nhập quá nhiều hàng hoá và dịch vụ? Phần thâm hụt do tiêu dùng bùng nổ có thể được tài trợ bởi phần rót ra từ các tài khoản dự trữ hoặc tăng các khoản nợ Trong cả hai trường hợp đều có thể gây ra nhiều vấn đề song tăng các khoản nợ,
Trang 11đặc biệt là các khoản vay ngắn hạn có thể cho thấy dấu hiệu của một nền kinh tế suy yếu và các chính sách gia cần có những hành động khẩn trương Người đảm nhiệm công tác phân tích cán cân thanh toán cần được cung cấp đầy đủ các thông tin chi tiết để cố vấn cho các nhà hoạch định chính sách giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp thời.
Thứ hai: cán cân vãng lai được định nghĩa nh chênh lệch giữa thu nhập và chi
tiêu của nền kinh tế
Thứ ba: cán cân vãng lai là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của toàn bộ nền
kinh tế
CA= S - I
S : Tiết kiệm trong nướcI : Đầu tư trong nướcCAlà cán cân vãng lai I :
§Çu t trong níc CAlµ c¸n c©n v·ng lai
Nếu chia tổng tiết kiệm (S) và đầu tư (I) của toàn bộ nền kinh tế thành các phần
về khu vực chính phủ và tư nhân Ta có:
CA=(Sp+Sg)-(IP+Ig)hayCA=(Sp-Ip)+(Sg-Ig) hay
CA=(Sp-Ip)+(Sg-Ig)
Trang 12Công thức trên cho thấy cán cân vãng lai bằng chênh lệch của khu vực tư nhân cộng khu vực chính phủ Vì vậy, khi đề ra các biện pháp, chính sách nhằm cải thiện cán cân vãng lai phải nghiên cứu tác động của chúng tới hành vi tiết kiệm và đầu tư Nếu thâm hụt tài khoản vãng lai xuất hiện do các hoạt động đầu tư mạnh thì phần thâm hụt này cần được tài trợ bởi đầu tư trực tiếp tại nước báo cáo hoặc phần tăng trong các khoản vay bên ngoài hay bởi đầu tư chứng khoán Tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai tương đối lớn (6% hoặc 7%) có thể là bền vững nếu nó liên quan đến các hoạt động đầu tư trực tiếp mạnh ở nước báo cáo.
Thứ tư: khi công dân một nước cho vay hay mượn một lượng tiền của nước
ngoài, họ đã tạo ra mét quan hệ tài sản với phần còn lại của thế giới Vì vậy, khi phân tích tiết kiệm và đầu tư, phải tính đến nguồn tài chính nước ngoài Từ đó, có thể định nghĩa tài khoản vãng lai như những thay đổi trong tài sản nước ngoài ròng của quốc gia lập báo cáo với phần còn lại của thế giới
CA= B*t - Bt-1*
B*t : Tài sản nước ngoài ròng giai đoạn hiện tại
Bt-1*: Tài sản nước ngoài ròng giai đoạn trước
Định nghĩa này được Sarch và Larrain mở rộng từ định nghĩa trên Theo đó, các thay đổi tài sản nước ngoài ròng có thể bù đắp được tình trạng thâm hụt của tài khoản vãng lai Thặng dư tài khoản vãng lai có nghĩa là nước này đang tích luỹ tài sản quốc tế ròng Ngược lại, thâm hụt tài khoản vãng lai nghĩa là nước này đang giảm dần tài sản quốc tế ròng hoặc tăng thêm nghĩa vụ nợ nước ngoài Như vậy: có thể định nghĩa tài khoản vãng lai là sự thay đổi vị thế đầu tư quốc tế ròng của một nước
Như vậy, để tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự thâm hụt tài khoản vãng lai cũng như đưa ra những biện pháp điều chỉnh có hiệu quả để cải thiện tình trạng, cần phải
có sự phân tích cụ thể từng khoản mục trong cán cân vãng lai, đặc biệt là cán cân thương mại
Trang 13Thâm hụt cán cân vãng lai không phải bao giê cũng xấu, điều đó còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của một nước Khả năng thanh toán được đánh giá thông qua các chỉ số vĩ mô nh: tỷ lệ xuất khẩu/GDP, tỷ giá hối đoái thực tế, tiết kiệm với đầu tư nội địa Nếu một quốc gia có tỷ lệ xuất khẩu/GDP lớn, tỷ giá hối đoái ổn định và sát với thực tế, mức tiết kiệm và đầu tư cao thì thâm hụt cán cân thương mại nếu có cũng Ýt khả năng gây ra khủng hoảng kinh tế Một tiêu chí quan trọng khác để đánh giá tình trạng cán cân thanh toán quốc tế của một nước là khả năng chịu đựng của cán cân thanh toán vì nó chú ý đến những yếu tố nói trên Đối với một nước có nợ nước ngoài ròng dương và thâm hụt cán cân vãng lai, một "điểm uốn" giữa thâm hụt và thặng dư là cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán và khả năng chịu đựng Một tiêu chuẩn cần được xét đến khi đánh giá khả năng chịu đựng
là liệu "điểm uốn" có thể đạt được một cách suôn sẻ và không gây những bất ổn cho nền kinh tế khi cán cân thương maị đảo chiều đột ngột từ thâm hụt sang thặng
dư, không tạo ra sù thay đổi lớn trong chính sách (ví dụ: chính sách thắt chặt đột ngột) và không gây ra tình trạng rệu rã của nền kinh tế
Sơ đồ 1: Mối quan hệ kinh tế vĩ mô cơ bản
NK hµng ho¸ vµ dÞch vô Thu nhËp
quèc d©n kh¶
dông (SNDI)
Chªnh lÖch
Chi tiªu (A)
ChuyÓn giao rßng níc ngoµi Thu nhËp rßng
Trõ
Céng
Céng
Trang 14
Ngoài ra, tài khoản vóng lai bao gồm tài khoản thương mại hàng hoỏ và dịch
vụ, tài khoản thu nhập và tài khoản chuyển giao vóng lai Do đú cần phải phõn tớch
cụ thể từng tài khoản này để tỡm ra nguyờn nhõn của thõm hụt tài khoản vóng lai và đưa ra được cỏc biện phỏp điều chỉnh thớch hợp Trong đú cần đặc biệt phõn tớch cỏn cõn thương mại vỡ đõy thường là nguyờn nhõn chủ yếu dẫn đến thiếu hụt cỏn cõn vóng lai và cũng là đối tượng chớnh khi cỏn cõn thanh toỏn mất cõn bằng cơ bản
B Phõn tớch tài khoản vốn và tài chớnh
Tài khoản vốn và tài chớnh bao gồm cỏc luồng vốn dài hạn và ngắn hạn, chạy vào hoặc chạy ra khỏi một nước Hay núi cỏch khỏc, nú là tổng đầu tư của nước ngoài và số vay nợ rũng Nh vậy, tỡnh trạng của cỏn cõn thanh toỏn cú liờn quan trực tiếp đến tỡnh trạng tài sản ngoại tệ rũng của một nền kinh tế Vỡ vậy, một gợi ý nhằm giảm bớt thõm hụt cỏn cõn thanh toỏn là sự điều chỉnh chớnh sỏch của chớnh phủ nhằm thu hút đầu tư tư nhõn hoặc tỡm kiếm cỏc khoản vay nước ngoài
Đối với bất cứ nước nào, con đường phỏt triển cũng đầy rẫy trở ngại Một trong những trở ngại là tiết kiệm khụng đỏp ứng nhu cầu đầu tư Vỡ vậy, sự phụ thuộc
Chênh lệch khu vực chính phủ
Chênh lệch giữa tiết kiệm
và đầu t Quốc gia (S-I) Tất cả các khoản mục bù đắp
để cân bằng cán cân vãng lai
Cộng Thay đổi về tài sản ngoại tệ ròng của các tổ chức ngân hàng
Trang 15vào nguồn tư bản nước ngoài để bổ sung cho nguồn vốn trong nước giai đoạn đầu phát triển là điều hiển nhiên Tuy nhiên, vì lượng tư bản vay hôm nay sẽ phải trả trong tương lai nên việc sử dụng chúng một cách có hiệu quả là một điều vô cùng quan trọng.
Có nhiều nguồn tài trợ cho sự thâm hụt cán cân vãng lai nhưng xét về mặt hiệu quả sử dụng vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài được đánh giá cao hơn cả vì nó không ảnh hưởng nhiều tới cán cân thanh toán, tới tổng nợ nước ngoài cũng như tăng trưởng kinh tế và không tạo ra dư nợ Ngoài ra, nó còn là nhịp cầu để chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quản lý hiện đại giúp đất nước đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, cần chú ý rằng các nguồn vốn đầu tư này sẽ làm tăng nguồn chuyển giao ra nước ngoài, một khi lợi nhuận và cổ tức được các nhà đầu tư nước ngoài chuyển về nước
Nhìn chung, các luồng đầu tư nước ngoài khác nhau, dù có tạo ra dư nợ hay không đều tiềm Èn những mất mát nhất định đối với nước tiếp nhận Beceer và Hargin gợi ý rằng: "Khi thu hót đầu tư nước ngoài, trước hết các công ty trong nước cần xác định những khó khăn mà họ phải chấp nhận đối với từng hình thức đầu tư và sau đó cân nhắc xem liệu tại những thời điểm nhất định nó có đem lại lợi Ých để duy trì hay không?"
Nhiều nước đang phát triển sử dụng nguồn vốn nước ngoài trong tài khoản tài chính để hỗ trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai và tốc độ phát triển kinh tế còng nh trong tài sản dự trữ Tuy nhiên, bên cạnh những lợi Ých thiết thực, những thay đổi của nguồn vốn này cũng gây lo lắng cho những nhà hoạch định chính sách vĩ mô
Vì vậy, khi xác định rủi ro và khó khăn của mỗi dạng đầu tư nước ngoài, chúng ta cần quan tâm ba vấn đề sau:
- Vấn đề thời hạn vay nợ: những khoản nợ ngắn hạn thường rủi ro hơn vì chủ nợ thường yêu cầu trả nợ gốc hơn là nhận lãi trong giai đoạn ngắn
Trang 16- Liệu nguồn tư bản nước ngoài có tạo ra gánh nặng nợ nần hay không? Ví dụ: Nếu
đi vay thì tình hình kinh doanh tốt hay xấu, việc trả nợ vẫn phải tiến hành Trong khi đó, cổ đông chỉ nhận được cổ tức khi công ty bán cổ phiếu cho họ làm ăn phát đạt
- Nguồn vốn trên từ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hay là những khoản vay mang tính chất thương mại
Theo ngân hàng thế giới, một nước đước coi là nợ nần nghiêm trọng nếu như tỷ
lệ giữa giá trị hiện tại ròng của tổng các khoản trả nợ (PV) và GDP vượt quá 80% hoặc tỷ lệ giữa giá trị hiện tại ròng của tổng các khoản trả nợ và tổng xuất khẩu lớn hơn 220% Ngược lại một quốc gia được coi là có khả năng chịu đựng nợ nếu như chính phủ có thể thực hiện được toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ quá hạn trong một thời gian dài, nếu như các khoản nợ đến hạn chiếm tối đa từ 20-25% xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
Bên cạnh việc xem xét các khoản nợ theo chủng loại và thời hạn của các công
cụ nhận nợ, thì cũng nên phân tích xu hướng thay đổi theo khu vực các tổ chức Cụ thể là khu vực chính phủ và tư nhân bởi vì những khu vực này chịu ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau Các luồng thay đổi của khu vực chính phủ chủ yếu được quy định bởi nhu cầu của ngân sách nhà nước Ngược lại, các luồng thay đổi trong khu vực tư nhân lại tuỳ thuộc vào mức sinh lời của tài sản trong và ngoài nước.Nhiều nước đang phát triển sử dụng các luồng vốn vào trong tài khoản tài chính
để hỗ trợ bù đắp cho mức thâm hụt cán cân vãng lai do nhập khẩu và tốc độ phát triển kinh tế tăng lên, hoặc tăng tài sản dự trữ Mặc dù có nhiều lợi Ých nh vậy, nhưng những thay đổi đột ngột của số vốn rất lớn này cũng gây ra nhiều lo lắng cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô Luồng vốn có 4 vấn đề cần quan tâm chủ yếu sau đây:
• Các luồng vốn chảy vào có thể chỉ mang tính tạm thời, và do vậy có thể được rót ra rất nhanh
Trang 17• Các luồng chảy vào này có thể kích thích tăng cung tiền và làm tăng mức lạm phát trong nước nếu nh ngân hàng trung ương can thiệp vào thụ trường ngoại hối để mua ngoại tệ cung ứng dư thừa Những hậu quả gây lạm phát nh vậy có thể tránh được nếu nh hoạt động can thiệp này mang tính chất có khả năng triệt tiêu hiệu ứng tăng cung tiền.
• Nếu ngân hàng trung ương không can thiệp thì luồng vốn chảy vào có thể làm cho giá của đồng bản tệ tăng lên
• Các luồng chảy vào có thể đảm bảo cho hiện tượng tiêu dùng tăng tạm thời và điều này cuối cùng sẽ dẫn đến việc cắt giảm chi tiêu để trả số nợ tích luỹ
Từ đó, đưa ra những nghiên cứu sử dụng chúng một cách hiệu quả Ví dụ: nguồn vốn ODA nên đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng để tạo tiền đề cho luồng FDI chảy vào trong nước
C Phân tích tài khoản dự trữ và tài trợ:
Trước đây, tổng tài sản dự trữ được coi là nguồn bù đắp chủ yếu cho thiếu hụt cán cân thanh toán và hỗ trợ cho chính sách tỷ giá cố định Ngày nay, trong điều kiện chế độ tỷ giá thả nổi và xu hướng toàn cầu hoá trở nên phổ biến, nhiều hình thức bù đắp khác đã được áp dụng (ví dụ: vay nước ngoài) Vì thế, sự thay đổi trong tài sản dự trữ không phải lúc nào cũng phản ánh độ lớn trạng thái mất cân bằng của cán cân thanh toán
Trang 18thả nổi, mức dự trữ cần thiết chỉ để cải thiện những biến động xấu do tỷ giá gây ra Ngoài ra, về cơ bản thì mức độ tin cậy của các chính sách kinh tế và lòng tin của thị trường vào các chính sách này là yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ dự trữ cần thiết.
Theo thông lệ quốc tế, dự trữ ngoại tệ thường được tính theo tháng nhập khẩu Chỉ số này đo lường tổng tài sản dự trữ ngoại tệ của một nước so với giá trị nhập khẩu hàng tháng
Tổng dự trữ ngoại hối
Tổng dự trữ ngoại tệ tính bằng tháng nhập khẩu =
Mức nhập khẩu hàng thángTheo nguyên tắc chung, tổng dự trữ Ýt nhất bằng ba tháng nhập khẩu Tuy nhiên, ngày nay yêu cầu này có thể thay đổi cho phù hợp với từng hoàn cảnh của từng quốc gia Theo đánh giá mức độ phù hợp của dự trữ ngoại hối của một nước, các nhà phân tích cần chú ý các yếu tố sau:
- Mức độ mở cửa của tài khoản vốn và tài chính
- Sè dư của tài khoản nợ có tính thanh khoản cao
- Khả năng đi vay vốn của ngân hàng
- Tính thời vụ của hoạt động xuất nhập khẩu
1.3 Nguyên tắc bót toán của cán cân thanh toán quốc tế.
1.3.1 Nguyên tắc hạch toán nợ/có:
Về nguyên tắc, cán cân thanh toán được xác định trên cơ sở bót toán kép Điều này có nghĩa là một giao dịch quốc tế được ghi kép: một ghi nợ và một ghi có với giá trị nh nhau Ví dụ: một công ty của Việt Nam xuất khẩu hàng hoá sang Hàn Quốc với giá trị 600.000 USD Xuất khẩu hàng hoá sẽ được ghi vào bên Có (+) vì
nó liên quan đến việc thu tiền thanh toán từ người nước ngoài Công ty Hàn Quốc
ra lệnh trích tiền từ tài khoản của họ ở Việt Nam giảm 600.000 USD Nguồn vốn
Trang 19của họ chảy ra làm giảm tài sản của Hàn Quốc ở Việt Nam nên phải ghi vào bên
Nợ (-)
Nguồn vốn ngắn hạn chạy ra 600.000 USD
Khi xem xét từ nước lập báo cáo: Một giao dịch Quốc tế (trao đổi giá trị) có hai mặt :
- Mét nhập khẩu giá trị: nã tạo ra một khoản trả cho phần còn lại của thế giới
- Mét xuất khẩu giá trị: nã tạo ra một khoản thu từ phần còn lại của thế giới
Nhìn chung, những khoản trả (những ghi nợ) thể hiện việc cung cấp tài chính để nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, tiền tệ, tài sản khác của nước lập báo cáo từ phần còn lại của thế giới Nó thể hiện luồng vốn ra và ngược lại, những khoản thu (những ghi có) thể hiện luồng vốn vào
Như vậy, xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, quà cáp nhận từ nước ngoài và vốn đầu
tư vào trong nước được phản ánh vào bên Có (+), bởi vì nó liên quan đến việc thu tiền từ người nước ngoài Mặt khác, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, chuyển quà cáp
ra ngoài nước và đầu tư ra bên ngoài được phản ánh vào bên Nợ (-) của cán cân thanh toán, bởi vì nó liên quan đến việc thanh toán cho người nước ngoài
Vốn đầu tư vào trong nước có thể tồn tại dưới hai hình thức: một là, nguồn vốn chạy vào trong nước làm tăng tài sản nước ngoài ở trong nước mình Ví dụ: công dân Nhật Bản mua cổ phiếu ở Việt Nam sẽ làm tăng tài sản của người Nhật ở Việt Nam và nguồn vốn này sẽ được ghi vào bên Có (+) trong cán cân thanh toán Quốc
tế của Việt Nam Hai là, nguồn vốn chạy vào trong nước làm giảm tài sản của nước mình ở nước ngoài Ví dụ: công dân Việt Nam bán cổ phiếu ngoại quốc (ví như cổ phiếu của công ty Nhật Bản phát hành) cho người khác, do đó làm giảm tài sản của
Trang 20Việt Nam ở nước ngoài, thu hồi vốn về trong nước Nguồn vốn này được ghi vào bên Nợ (-) trong cán cân thanh toán của Việt Nam.
Vốn đầu tư bên ngoài cũng có thể tồn tại dưới hai hình thức: hoặc làm tăng tài sản của nước mình ở nước ngoài hoặc làm giảm tài sản ngoại quốc ở nước mình, bởi vì nó liên quan đến việc thanh toán cho người nước ngoài Nguồn vốn thanh toán này được ghi vào bên Nợ (-) của cán cân thanh toán Quốc tế
1.3.2 Nguyên tắc hạch toán trên cơ sở cơ số phát sinh
Cán cân thanh toán hạch toán trên cơ sở cơ số phát sinh nghĩa là khi hạch toán các giao dịch chúng ta sử dụng số đến hạn chứ không phải số thực trả Như vậy, cán cân thanh toán này là bảng đối chiếu giữa thu và chi tại một thời điểm nào đó, phản ánh tất cả các khoản nợ nước ngoài và nước ngoài nợ mà thời hạn thanh toán cùng một ngày Vì vậy, chính tình hình của cán cân này phản ánh tình hình thu chi sắp xảy ra của nước này đối với phần còn lại của thế giới nên nó là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến biến động tỷ giá hối đoái Ví dụ: vào ngày 30/12/2000, tiến hành thu thập số liệu cho cán cân thanh toán quốc tế thì tất cả các khoản nợ nước ngoài mà nước ngoài nợ mà thời hạn trả tiền rơi vào ngày này sẽ được phản ánh vào cán cân thanh toán trên cơ sở cơ số phát sinh Còn những khoản nợ có thời hạn thanh toán rơi vào trước hoặc sau thời điểm trên đều không được tính đến
1.3.3 Nguyên tắc hạch toán trị giá toàn bộ và trị giá ròng:
Theo nguyên tắc này, các khoản mục trên cán cân vãng lai được hạch toán trên
cơ sở trị giá toàn bộ để phù hợp với mối quan hệ giữa các giao dịch của cán cân vãng lai với hệ thống tài khoản quốc gia
Trong cán cân vốn và tài chính, các khoản mục (không kể đầu tư trực tiếp) được hạch toán trên cơ sở trị giá ròng vì không có số liệu trên cơ sở trị giá toàn bộ và có những thay đổi trong bảng tổng kết tài sản được đưa vào cán cân tài chính trên cơ
sở trị giá ròng Tuy nhiên, đối với đầu tư trực tiếp, bên cạnh số liệu ròng cần phải tách rời tổng số các khoản nợ với tổng tài sản thuộc sở hữu của các nhà đầu tư vì
Trang 21chỉ có những khoản mục giống nhau mới được triệt tiêu để đưa ra trị giá ròng Nghĩa là: Tài sản không thể triệt tiêu với các khoản nợ mà chỉ có sự tăng lên trong tài sản mới được triệt tiêu bởi sự giảm đi trong tài sản tương tự và sự tăng lên trong khoản nợ mới được triệt tiêu bởi sự giảm đi trong khoản nợ tương tự.
1.3.4 Nguyên tắc định giá các giao dịch :
Cán cân thanh toán ghi lại toàn bộ các giao dịch phát sinh trong một thời kỳ cụ thể Trị giá các giao dịch được tính theo giá thị trường Các giao dịch này được thực hiện giữa các bên độc lập và chỉ dùa vào các quy tắc về thương mại Vì vậy, giá thị trường là giá của một giao dịch cụ thể trong các điều kiện nhất định Giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu là giá FOB hoặc FAS Chi phí vận chuyển và bảo hiểm được tách ra khỏi giá cả hàng hoá và đưa vào khoản mục dịch vụ
1.3.5 Các thời kỳ và thời gian ghi chép
Về nguyên tắc, thời kỳ để ghi chép các dòng giao dịch của cán cân thanh toán không được quy định cụ thể Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thực tế, các số liệu về giao dịch ổn định trong cán cân thanh toán được thu thập mỗi năm một lần Còn các số liệu khác (về xuất khẩu và nhập khẩu ) thường được thu thập theo quý để nhất quán với các số liệu tính theo quý của các tài khoản quốc gia
1.3.6 Đơn vị tính.
Đối với các nước có đồng bản tệ không ổn định, các tài khoản thường được thực hiện bằng một đồng ngoại tệ ổn định (ví dụ: đô la Mỹ, Frăng Pháp, ) Điều này tạo thuận lợi cho việc ghi chép các giao dịch cán cân thanh toán và cho việc so sánh giữa các nước Tỷ giá trên thị trường vào ngày giao dịch được sử dụng để chuyển đổi các số liệu trong giao dịch sang số liệu tính toán
1.4 Các cơ chế điều chỉnh và kinh nghiệm cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
ở các nước đang phát triển.
1.4.1 Các cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán.
Trang 22- Thâm hụt cán cân thanh toán tạm thời: mất cân đối diễn ra trong thời gian ngắn và có thể bù đắp bằng cách thay đổi dự trữ quốc tế.
-Thâm hụt cán cân thanh toán cơ bản: mang tính thường xuyên, dai dẳng và phải được điều chỉnh kịp thời, hiệu quả Nguyên nhân mất cân đối cơ bản là sự mất cân đối sâu sắc trong nên kinh tế các nước Trên thực tế, việc phân biệt giữa mất cân bằng tạm thời và cơ bản là rất khó
Trong khi mất cân đối tạm thời có khả năng và có thể được tài trợ bằng các thay đổi dự trữ quốc tế, còn mất cân đối cơ bản yêu cầu một sự điều chỉnh thực sự
Quá trình điều chỉnh các mất cân đối cơ bản của cán cân thanh toán được thể hiện thông qua các cơ chế điều chỉnh như thu nhập tiền tệ và tỷ giá Các học thuyết khác nhau về cán cân thanh toán đưa ra những gợi ý khác nhau về cơ chế điều chỉnh Các học thuyết truyền thống, có thể gọi chung thành nhóm lý thuyết Keyness, đưa ra ba cơ chế điều chỉnh: cơ chế điều chỉnh thu nhập, cơ chế điều chỉnh theo hệ số co giãn và cơ chế điều chỉnh chi tiêu Những người theo học thuyết tiền tệ đưa ra một cơ chế điều chỉnh tiền tệ
A Nhóm lý thuyết Keyness.
1 Cơ chế điều chỉnh thu nhập
Cơ chế điều chỉnh thu nhập được Keyness giới thiệu vào năm 1936 áp dụng cho các nền kinh tế khép kín Năm 1943, cơ chế này được Machlup mở rộng để áp dụng cho nền kinh tế mở Học thuyết Keyness nghiên cứu tác động của sự thay đổi trong chi tiêu của chính phủ và xuất khẩu tới thu nhập quốc dân và cán cân vãng lai trong điều kiện giá cả ổn định Họ cho rằng, một sự gia tăng trong chi tiêu của chính phủ sẽ dẫn tới sự thâm hụt sâu hơn của cán cân vãng lai trong khi xuất khẩu
sẽ cải thiện cán cân vãng lai Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, biên độ dao động của cán cân vãng lai nhỏ hơn biên độ dao động của chi tiêu chính phủ hay xuất khẩu
a Xác định thu nhập quốc dân.
Trang 23Trong nền kinh tế mở, thu nhập quốc dân cân bằng khi tổng cầu bằng tổng sản lượng Tức là:
- X : xuất khẩu Xuất khâủ không phụ thuộc vào thu nhập quốc dân nên X = x
- M : nhập khẩu Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập quốc dân với mối quan hệ
tỷ lệ thuận nên M = M(Y)
Trang 24Y- C(Y) là tiết kiệm quốc gia Tiết kiệm phụ thuộc vào thu nhập quốc dân theo mối quan hệ tỷ lệ thuận nên S = S(Y) (*)
(*)
Hàm tiết kiệm có dạng : S(Y) = - c + MPS x Y
Trong đó MPS là xu hướng tiết kiệm biên ( phần tiết kiệm tăng lên khi thu nhập tăng thêm một đơn vị : MPS = ∆S/∆Y)
Từ (3) và (*) ta có : S(Y) - I = X - M(Y)(4) (4)Phương trình (4) thể hiện mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư với cán cân thương mại Nếu tiết kiệm lớn hơn đầu tư thì thặng dư cán cân thương mại và ngược lại, tiết kiệm nhỏ hơn đầu tư thì thâm hụt cán cân thương mại
b Số nhân trong nền kinh tế mở.
Bất kỳ sự biến động trong tổng cầu D = C(Y) + I + X - M(Y) cũng làm thu nhập quốc dân thay đổi Cụ thể, sự thay đổi trong thu nhập (∆Y) phải là bội số của sự thay đổi trong tổng cầu (∆Y) Tỷ lệ ∆Y/∆D ddược hiểu là sè nhân trong nền kinh
tế mở
Điều kiện cân bằng thu nhập quốc dân là rò rỉ, S(Y) + M(Y), bằng bơm vào, I +
X Khi một biến động ngoại sinh làm tổng cầu tăng thêm ∆D, ở mức thu nhập bơm vào lớn hơn rò rỉ một lượng bằng tăng tự định trong tổng cầu (∆D Các cân bằng được thiết lập lại khi một sự gia tăng trong thu nhập ∆Y làm rò rỉ, S(Y) + M(Y) tăng thêm một lượng ∆D để rò rỉ nội sinh bơm vào ngoại sinh Đối với bất kỳ thay đôi trong thu nhập ∆Y, lượng thay đổi bằng (MPS + MPM) ∆Y Do đó bằng thu nhập quốc dân thiết lập lại khi ∆D= (MPS + MPM) ∆Y
Theo tính toán, cân bằng thu nhập quốc dân được thiết lập lại khi:
∆D = (MPS + MPM) x ∆Y
Số nhân trong nền kinh tế mở : ∆Y/∆D = 1/(MPM + MPS)
Trang 25c Những tác động cụ thể đến cán cân thương mại thông qua cơ chế điều chỉnh thu nhập.
Giả sử quốc gia có xu hướng tiết kiệm biên MPS = 0,1 và xu hướng nhập khẩu biên MPM = 0.15 số nhân trong nền kinh tế mở là 1/(0.1 + 0.15) = 4
Chóng ta xem xét sự biến động của đầu tư, chi tiêu chính phủ, xuất khẩu và nhập khẩu tác động đến cán cân thương mại nh thế nào
+ Mét sù gia tăng trong đầu tư:
Giả sử rằng đầu tư nội địa tăng thêm 100 triệu USD Do ∆Y/∆D = 4 , nên sự gia tăng trong thu nhập quốc dân sẽ là : 4x100=400 triệu USD Thu nhập quốc dân tăng dẫn đến nhập khẩu tăng thêm là : MPM x ∆Y = 0.15 x 400 =60 triệu USD
Nh vậy, một sự gia tăng trong đầu tư sẽ làm giảm cán cân thương mại
+ Mét sù gia tăng trong chi tiêu Chính phủ (hay giảm thuế) cũng có tác động tương tù nh sù gia tăng trong đầu tư làm sản lượng tăng và cán cân thương mại giảm
+ Mét sù gia tăng trong xuất khẩu Giả sử xuất khẩu tăng 100 triệu USD, tác động đến thu nhập quốc dân sẽ là : 4x100=400 triệu USD Tác động đến cán cân thương mại của gia tăng xuất khẩu gồm tác động trực tiếp (đó là xuất khẩu taưng thêm 100 triệu USD) cộng với tác động gián tiếp (đó là nhập khẩu tăng do thu nhập tăng) Nh vậy:
Tác động đến cán cân thanh toán sẽ bằng:
∆X - ∆M = ∆Y - MPM x ∆Y = 100-(0.15x400)=100-60=40 triệu USD
+ Mét sù gia tăng trong nhập khẩu Giả sử rằng nền kinh tế áp dụng một thuế quan và do đó người tiêu dùng trong nước chuyển 100 triệu USD dự định nhập khẩu hàng vào dùng hàng trong nước Sản lượng hàng trong nước tăng bằng số hàng nhập khẩu Do đó, thu nhập quốc dân tăng thêm 4x100=400 triệu USD Tuy
Trang 26nhiờn, thu nhập quốc dõn tăng dẫn đến nhập khẩu hàng hoỏ khỏc tăng: MPM x ∆Y
= 0.15x400=60 triệu Do đú, cải thiện cỏn cõn thanh toỏn là :100-60=40 triệu
2 Cỏc cơ chế điều chỉnh theo hệ số co gión
Cơ chế này được Marshall, Lerner đưa ra và sau đú được Robinson mở rộng năm 1937 Giả sử rằng nguồn cung cấp hàng xuất khẩu và nhập khẩu là tương đối linh hoạt để đảm bảo khụng gõy ảnh hưởng tới giỏ cả và chỉ cú sự thay đổi của giỏ
cả mới tỏc động đến tỷ giỏ Với giả thiết này, sự giảm giỏ của đồng nội tệ sẽ cải thiện được cỏn cõn thanh toỏn
Sơ đồ 2 : Dũng tỏc động của phỏ giỏ.
Tỏc động trực tiếp của phỏ giỏ là tỏc động đến giỏ cả xuất khẩu (tớnh bằng ngoại tệ) và giỏ cả nhập khẩu (tớnh bằng nội tệ) Nếu một quốc gia phỏ giỏ đồng tiền của
họ x% cú nghĩa là giỏ nhập khẩu tăng x% tớnh bằng đồng nội tệ, số lượng nhập khẩu giảm do giỏ nhập khẩu tăng Trong khi đú, những người xuất khẩu nhận được
.Phá giá đồng tiền
Số lợng xuất khẩu
Hệ số co dãn nhu cầu nhập khẩu
Hệ số co dãn nhu
cầu xuất khẩu
Số lợng nhập khẩu
Thu nhập nhập khẩu Thu nhập xuất khẩu
Trang 27thêm x% đồng nội tệ cho mỗi đơn vị ngoại tệ kiếm được Điều này cho phép họ đẩy nhanh số lượng xuất khẩu bằng cách giảm giá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ.
Cán cân thương mại = Giá trị xuất khẩu - Giá trị nhập khẩu.
Việc phá giá đồng tiền để cải thiện cán cân thương mại có thực hiện được hay không phụ thuộc vào những khoản thanh toán hàng nhập khẩu Ýt hay nhiều hơn những khoản thu từ xuất khẩu Tiếp theo, điều đó còn phụ thuộc vào nhu cầu của nước ngoài về hàng xuất khẩu và nhu cầu của nước phá giá về hàng nhập khẩu co giãn hay không khi giá xuất khẩu và giá nhập khẩu thay đổi
Sù thay đổi nhu cầu hàng hoá theo giá được thể hiện bằng hệ số co giãn nhu cầu: Hệ số co giãn = (∆Q/Q)/( ∆P/P)
Trong đó :
∆Q: độ chênh lệch số lượng hàng hoá Q : sè lượng hàng hoá
∆P: Độ chênh lệch giá cả hàng hoá P : giá cả hàng hoá
Nh vậy, tùy thuộc vào độ lớn của các hệ số co giãn nhu cầu đối với hàng xuất khẩu và nhập khẩu của nước phá giá mà cán cân thương mại của nước đó được cải thiện hay không khi phá giá đồng tiền
3 Cơ chế điều chỉnh chi tiêu.
Cơ chế điều chỉnh chi tiêu được Alexander đưa ra năm 1952 Cơ chế này coi cán cân vãng lai là chênh lệch giữa thu nhập quốc dân và chi tiêu quốc dân và nghiên cứu sự tác động của phá giá tới hành vi tiêu dùng nội địa và ảnh hưởng của tiêu dùng đến cán cân thương mại
Theo phương pháp chi tiêu : Tổng tiêu dùng nội địa bằng tổng chi tiêu Tổng chi tiêu gồm có tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu của chính phủ (G), xuất khẩu ròng (X-M) Vì vậy :
Y = C + I + G + (X-M)
Trang 28Sau đó phương pháp này xếp: C+I+G vào một nhóm được coi là sự hấp thụ của nền kinh tế và gọi xuất khẩu ròng là NX Nh vậy:
Y- A
Nh vậy, cán cân thương mại NX = sù chênh lệch giữa sản lượng trong nước (Y)
và mức hấp thụ (A) Nếu sản lượng trong nước vượt mức hấp thụ thì có thặng dư cán cân thương mại và ngược lại
Phương pháp chi tiêu dự đoán một sự phá giá đồng tiền chỉ cải thiện được cán cân thương mại nếu có sản lượng quốc gia tăng so với hấp thụ Nghĩa là, sản lượng quốc gia phải tăng, mức hấp thụ phải giảm hoặc kết hợp cả hai Chẳng hạn, một nền kinh tế đang có thất nghiệp và thâm hụt cán cân thương mại Do nền kinh tế hoạt động dưói khả năng tối đa nên động cơ của phá giá sẽ hướng trực tiếp đến các nguồn tài nguyên nhàn rỗi vào sản xuất hàng hoá để xuất khẩu đồng thời nó chuyển chi tiêu từ hàng nhập khẩu vào những hàng thay thế được sản xuất trong nội địa Vì vậy, tác động của phá giá sẽ làm tăng sản lượng trong nước và cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với một nền kinh
tế đang hoạt động ở công suất tối đa vì khi đó các nhà hoạch định chính sách trong nước chỉ có thể giảm hấp thụ bằng cách áp dụng chính sách tiền tệ và tài khoá thắt chặt dẫn đến một bộ phận người phải chịu thiệt hại do những biện pháp đó
Trang 29Những người theo trường phái tiền tệ còn cho rằng: chính sự kiểm soát yếu kém của chính phủ đối với nguồn cung tiền tệ là nguyên nhân gây ra thâm hụt cán cân thanh toán Vì vậy, chỉ những chính sách tiền tệ mới có thể lấy lại sự ổn định của cán cân thanh toán Các chính sách phi kinh tế (thuế quan ) nhằm tác động đến cán cân thanh toán chỉ là vô Ých.
IMF, với tư cách là một tổ chức tiền tệ quốc tế, đã quản lý rất sát sao cán cân thanh toán và tỷ lệ lạm phát của các nước thành viên Cơ chế điều chỉnh tiền tệ là nội dung cơ bản trong chương trình trợ giúp của IMF Theo IMF, chính sách hạ thấp tỷ giá hối đoái, đưa ra mức tín dụng nhất định là những công cụ để giữ cân bằng cán cân thanh toán khi giá cả được đảm bảo ổn định Tuy nhiên, biện pháp này đang bị chỉ trích bởi nhiều trường phái khác
1.4.2 Kinh nghiệm cải thiện cán cân thanh toán quốc tế ở một số nước đang phát triển.
Những nước đang phát triển thường là những nước có thị trường tài chính kém phát triển Bên cạnh đó, các nước đang phát triển lại áp dụng chế độ quản lý ngoại hối nghiêm ngặt và không cho phép tự do thương mại Việt Nam nên xem xét kinh nghiệm cải thiện cán cân thanh toán của họ, điều này giúp chúng ta rót ra những bài học trong việc điều chỉnh cán cân thanh toán
Trước tiên họ có thể tìm cách cải thiện số dư trong tài khoản vãng lai bằng cách kích thích phát triển xuất khẩu hoặc hạn chế nhập khẩu Họ có thể tập trung hơn nữa vào xuất khẩu các sản phẩm thô hoặc sản phẩm đã qua chế biến, và hạn chế nhập khẩu bằng các chính sách thay thế hàng nhập khẩu và dùng thuế nhập khẩu hay các hạn ngạch hàng hoá có chọn lọc, hay cấm nhập khẩu những hàng hoá tiêu dùng mà trong nước có khả năng sản xuất được Họ có thể đồng thời đạt được cả hai mục tiêu trên bằng cách phá giá đồng nội tệ làm giảm giá xuất khẩu và tăng giá nhập khẩu Các nước đang phát triển cũng có thể áp dụng các chính sách tài khoá
Trang 30và tiền tệ hạn chế nhắm giảm nhu cầu trong nước, từ đó giảm nhập khẩu và giảm sức Ðp của lạm phát.
Cách thứ hai, thường được đi cùng cách thứ nhất, là các nước đang phát triển cố gắng cải thiện trong số dư tài khoản vốn của mình bằng cách khuyến khích đầu tư nước ngoài.và vay nguồn tài trợ khác của các chính phủ nước ngoài Một ví dụ điển hình là Trung Quốc Sau khi áp dụng chính sách mở cửa, thâm hụt cán cân thương mại của Trung Quốc tăng lên và năm 1985, mức thâm hụt là hơn 1 tỷ USD
Để cân bằng cán cân thanh toán, Trung Quốc đã phải vay nợ nước ngoài Nợ nước ngoài của Trung Quốc tăng nhanh trong suốt thập kỷ 80: từ 4,5 tỷ USD năm 1980 (chiếm 1,6% GNP) lên tới 52,6 tỷ USD năm 1990 Nh vậy gánh nặng nợ và sự phụ thuộc vào các nước khác cũng tăng theo
Cách thứ ba để cải thiện cán cân thanh toán là phá giá đồng bản tệ Bằng biện pháp này, giá hàng xuất khẩu sẽ giảm tương đối và về lâu dài sẽ thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại, tăng khối lượng dự trữ ngoại tệ quốc gia Vào những năm 70 - 80, cứ chu kỳ 3 - 5 năm, vào thời điểm biến động kinh tế thế giới (tăng, giảm giá dầu quốc tế, tăng lãi suất quốc tế, ), một số nước đang phát triển
đã tiến hành phá giá từng đợt Tuy nhiên, kết quả của những đợt phá giá này rất khác nhau Một số quốc gia khá thành công trong việc thực hiện phá giá Chẳng hạn: năm 1979, trong tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, chính phủ Braxin đã tăng tỷ giá hối đoái lên 30% và cán cân thương mại bắt đầu có thặng dư trong năm 1981-1982 Đến tháng 2/1983, chính phủ lại tăng tỷ giá 30% Kết quả thật khả quan, năm 1984, cán cân thương mại dư thừa 11 tỷ USD và cán cân thanh toán quốc tế đạt mức cân bằng lần đầu tiên trong nhiều năm
Tuy nhiên, không phải phá giá lúc nào cũng có thể cải thiện cán cân thanh toán
vì việc tăng giảm xuất nhập khẩu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Mexico là một ví dụ về thất bại trong việc phá giá Năm 1976, tỷ giá tăng từ 12.5 pêsô/USD
Trang 31tới 22 pêsô/USD, song do tỷ lệ lạm phát quá cao nên nhập khẩu tăng đáng kể, làm cho tỷ giá thực giảm, cán cân thương mại và cán cân thanh toán vẫn bị thâm hụt.Cuối cùng, các nước đang phất triển có thể xoa dịu những ảnh hưởng của thâm huỵ cán cân thanh toán bằng cách sử dụng vốn của quỹ tiền tệ quốc tế (SDR).Trong trường hợp các nước đang phát triển đứng trước những vấn đề cán cân thanh toán và nợ nước ngoài nghiêm trọng thường phải miễn cưỡng đàm phán với IMF về những khoản vay nhiều hơn hạn định IMF thường đưa ra các bài thuốc có điều kiện là:
a Huỷ bỏ sự tự do hoá việc kiểm soát ngoại hối và nhập khẩu;
b Giảm giá trị tỷ giá chính thức đồng nội tệ;
c Một chương trình chống lạm phát nghiêm ngặt trong nước bao gồm (a) kiểm soát tín dụng ngân hàng để tăng lãi suất và những yêu cầu dự trữ; (b) kiểm soát thâm hụt ngân sách của chính phủ bằng cách hạn chế chi tiêu, đặc biệt là trong các lĩnh vực dịch vụ xã hội cho người nghèo và trợ cấp lương thực thiết yếu đi đôi với tăng thuế; (c) kiểm soát việc tăng lương, đặc biệt là phải bảo đảm việc tăng lương
ở tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ lạm phát ( tức là huỷ bỏ việc điều chỉnh lương theo giá); và (d) bãi bỏ những hình thức kiểm soát giá;
d Đón nhận nhiệt tình hơn đầu tư nước ngoài và mở cửa toàn bộ nên kinh tế đối với thương mại quốc tế
Bài thuốc trên của IMF có thể thành công trong việc cải thiện tình trạng cán cân thanh toán của những nước kém phát triển, thì nó lại không được lòng dân về mặt chính trị, vì nó làm tổn thương một cách đáng kể đến các nhóm thu nhập thấp và trung bình
Những kinh nghiệm trên cần được tham khảo và việc nghiên cứu áp dụng chúng phải phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của quốc gia trong từng thời kỳ cụ thể
Trang 32
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC
TẾ CỦA VIỆT Nam.
Chương này sẽ đề cập đến thực trạng của vấn đề thiết lập, điều chỉnh cán cân thanh toán và tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam trong giai đoạn từ 1990 đến nay Đồng thời phân tích mối quan hệ giữa chênh lệch tiết kiệm- đầu tư và thiếu hụt cán cân vãng lai ở Việt Nam
2.1 Vấn đề thiết lập cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam
Việt Nam mới bắt đầu thiết lập cán cân thanh toán cách đây 10 năm, trong khi các nước phát triển như Anh, Pháp và Mỹ, đã thiết lập cán cân thanh toán từ sau
Trang 33chiến tranh thế giới chiến tranh lần thứ II (cách đây hơn 50 năm) Nhìn chung, cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam được thiết lập theo đúng hướng dẫn của IMF, được nêu ra trong cuốn “sổ tay cán cân thanh toán” xuất bản lần thứ 4 Nhưng do đặc điểm thực tế của nền kinh tế Việt Nam và tình hình thu thập số liệu gặp nhiều khó khăn, nên việc thiết lập cán cân thanh toán của Việt Nam có một số điểm khác với các nước.
2.1.1 Cơ sở pháp lý của việc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam
Việc phân tích, thiết lập và điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế là việc làm còn rất mới mẻ đối với Việt Nam Vấn đề thiết lập cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam chính thức đưa ra vào năm 1990 (từ khi có pháp lệnh của ngân hàng) Để nâng cao chất lượng của bảng cán cân thanh toán, chính phủ đã ban hành nghị định
số 164/1999/NĐ-CP về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam ngày 16/11/1999 Nghị định này quy định về việc lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, nã chính là cơ sở pháp lý trong việc phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan đến việc cung cấp số liệu Theo nghị định
164, việc lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam được giao cho ngân hàng nhà nước Việt Nam chủ trù phối hợp cùng với bộ kế hoạch và đầu tư, bộ tài chính, bộ thương mại, tổng cục thống kê, tổng cục hải quan
Trên cơ sở nghị định 164/1999/NĐ-CP, ngân hàng nhà nước Việt Nam đã đưa
ra thông tư 05/20000TT-NHNN ngày 28/3/2000 hướng dẫn thi hành một số điểm
về lập cán cân thanh toán quốc tế Đồng thời, ngân hàng nhà nước cũng ban hành các mẫu biểu báo cáo cho các bộ, ngành có liên quan nhằm thu thập được các thông tin theo đúng yêu cầu của lập cán cân thanh toán
A Nguyên tắc lập cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán được chia làm hai loại: cán cân thanh toán dự báo và cán
Trang 34Cán cân thanh toán dự báo được lập trên cơ sở các chỉ tiêu kinh tế dự báo trong thời gian tới Tình trạng của cán cân dự báo sẽ phản ánh sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, của tình hình ngoại hối và toàn bộ nền kinh tế của một nước trong tương lai gần.
a Cán cân thanh toán thực tế được lập trên cơ sở số liệu kinh tế tài chính thực tế phát sinh giữa người cư trú và người không cư trú trong thời kỳ báo cáo Cán cân thanh toán thực tế phản ánh tình trạng dự trữ ngoại hối, ngoại thương và toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia tại một thời kỳ lập báo cáo Các giao dịch kinh tế giữa các tổ chức và cá nhân là người cư trú với các tổ chức và cá nhân là người không cư trú được thu thập trên cơ sở mẫu biểu báo cáo định kỳ hoặc trên cơ sở điều tra chọn mẫu do Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Tổng cục thống kê và các Bộ, ngành có liên quan
b Cán cân được lập theo đơn vị là đôla Mỹ (USD)
c Các giao dịch kinh tế đươc tính theo giá thực tế đã được thoả thuận giữa người
cư trú và người không cư trú
d Giá trị các giao dịch phát sinh bằng đồng Việt Nam được quy đổi ra đôla Mỹ theo tỷ giá hiện hành của Bộ tài chính về hướng dẫn quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam sử dụng trong hạch toán kế toán của doanh nghiệp
Giá trị kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ không phải là Đôla Mỹ được quy đổi ra đồng Việt Nam, sau đó quy đổi ra Đôla Mỹ theo thời giá hiện hành của bộ tài chính về hướng dẫn quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam sử dụng trong hạch toán
kế toán của doanh nghiệp
e Các giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú được thống kê tại thời điểm hạch toán vào sổ sách kế toán Đối với hàng hoá của tổng cục hải quan thống kê được thực hiện theo quy định hiện hành của tổng cục thống kê
Trang 35B Cơ cấu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
a Cán cân vãng lai: Tổng hợp toán bộ chi tiêu về giao dịch kinh tế giữa người
cư trú và người không cư trú về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập của người lao động, thu nhập từ đầu tư trực tiếp,thu nhập từ đầu tư vào giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nứơc ngoài, chuyển giao vãng lai một chiều và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật
Cán cân vãng lai gồm 4 khoản mục: Cán cân thương mại, cán cân dịch vụ, cán cân thu nhập, chuyển tiền đơn phương không bồi hoàn Nội dung và phương pháp tính toán của bốn khoản mục trên tương tù như của nước khác trên thế giới Chỉ có chú ý nhỏ là: giá trị các khoản nhập khẩu hàng hoả Việt Nam thường được thống
kê theo giá CIF tức là giá cả hàng hoá, chi phí bảo hiểm và chi phí vận chuyển Vì vậy, khi đưa số liệu vào cán cân thanh toán cần bóc tách chi phí bảo hiểm ra khỏi tổng giá trị hàng nhập khẩu
b Cán cân vốn và tài chính: Tổng hợp toàn bộ chi tiêu về giao dịch kinh tế
giữa người cư trú và người không cư trú về chuyển vốn từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu
tư vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, chuyển giao vốn một chiều, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật Việt Nam làm tăng hoặc làm giảm tài sản có hoặc tài sản
nợ của Việt Nam
c Cán cân tổng thể: Là tổng hợp của cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài
chính
d Sai sót thống kê: Phản ánh phần chênh lệch so sai sót thống kê của tất cả các
khoản mục trong cán cân thanh toán Quốc tế
e Phần bù đắp: Các tài khoản do ngân hàng trung ương quản lý để điều hoà và
Trang 36Các tài sản này bao gồm dự trữ vàng, vị thế dự trữ tại IMF (đồng SDR) và các thay đổi các khoản nợ quá hạn Nguồn bù đắp có một phần quan trọng là những biến động của dự trữ vàng và ngoại tệ Ngân hàng Trung ương thường giữ một số vàng và ngoại tệ để có thể can thiệp vào thị trường hối đoái nhằm ổn định tỷ giá đồng tiền trong nước Dự trữ vàng và ngoại tệ bị giảm đi hay tăng thêm bao nhiêu
có nghĩa là cán cân thanh toán dư thừa hay thiếu hụt bấy nhiêu Trong trường hợp
này, vàng đóng vai trò tiền tệ thế giới
C Trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc thiết lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán
Tuy IMF không nói rõ cơ quan nào của chính phủ sẽ lập cán cân thanh toán của một nước, nhưng ở hầu hết các nước trên thế giới, chức năng này do cơ quan quản
lý tiền tệ (ngân hàng trung ương) đảm nhận vì nó là cơ quan quản lý các ngân hàng thương mại, đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách ngoại hối, nên
có thể tiếp cận tốt nhất các nguồn số liệu liên quan đến cán cân thanh toán Nhưng
để thành công trong việc lập cán cân thanh toán đòi hỏi phải có sự phối hợp nhiều
bộ, ngành thì mới đưa ra một bản cán cân thanh toán một cách tổng hợp đầy đủ và chính xác
Ở Việt Nam còng vậy, ngân hàng nhà nước là người lập cán cân thanh
toán Điều này đã được ghi rõ trong Pháp lệnh Ngân hàng và Nghị định 164/2000/NĐ-CP
Ngoài ra, trong nghị định 164 đã quy định rất rõ trách nhiệm của các bộ ngành trong việc cung cấp các thông tin về các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú và những số liệu có liên quan cho ngân hàng nhà nước
Trang 37Trách nhiệm của các bộ ngành có liên quan đã được ngân hàng nhà nước cụ thể hoá thông qua trách nhiệm cung cấp thông tin, số liệu theo các mẫu biểu quy định trong thông tư hướng dẫn 05/2000/TT-NHNN.
2.1.2 Tình hình thu thập số liệu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Từ năm 1990, theo pháp lệnh ngân hàng, ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNN) chính thức được phân công lập và theo dõi tình hình thực cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, NHNN đã đưa ra một hệ thống mẫu biểu để các tổ chức tín dụng báo cáo về các giao dịch đối của các khách hàng mở các tài khoản tại hệ thống ngân hàng, như báo cáo về thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá, thanh toán phi mậu dịch và chuyển tiền, báo cáo tình hình vay
và trả nợ nước ngoài, Qua các mẫu biểu báo cáo này, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng đước phép kinh doanh ngoại hối trên toàn quốc báo cáo định kỳ hàng tháng và hàng quý cho NHNN qua mạng vi tính của hệ thống ngân hàng (nếu tổ chức tín dụng nào chưa nối mạng qua hệ thống thì có thể thực hiện báo cáo bằng văn bản)
Bên cạnh các số liệu thu thập từ hệ thống báo cáo trên, NHNN còn thu thập các
số liệu liên quan đến cán cân thanh toán từ các bộ, ngành khác như bộ tài chính, bộ thương mại, tổng cục hải quan, tổng cục thống kê, bộ kế hoạch và đầu tư
Từ năm 1993 đến nay nhờ những cố gắng của NHNN trong việc cải tiến phương pháp thu thập số liệu và do có sự phối hợp tốt với các bộ, ngành, cùng với
sự biến đổi về chất trong nguồn số liệu thu thập, nên bảng cán cân thanh toán quốc
tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao về mặt chất lượng Hiện nay, NHNN lập cán cân thanh toán của Việt Nâm theo quý, năm dùa trên cách phân loại và các nguồn thông tin số liệu đáng tin cậy sau
A Thu thập cán cân vãng lai
•
Trang 38qua các cửa khẩu của Việt Nam, phản ánh đầy đủ các luồng hàng hoá ra (xuất khẩu), vào (nhập khẩu) Việt Nam Hàng tháng, dưới sự chủ trì của bộ kế hoạch
và đầu tư, với sự tham gai của tổng cục thống kê, tổng cục hải quan, bộ thương mại và NHNN đã tiến hành họp giao ban định kỳ để thống nhất số liệu xuất nhập khẩu hàng hoá trong kỳ ước lượng số liệu cho kỳ tới để báo cáo chính phủ
• Số liệu thu chi dịch vụ: Đây là mảng số liệu khá phức tạp và khó có thể thu
thập được một cách chi tiết theo yêu cầu của các hạng mục tiêu chuẩn nh quy định của IMF Hiện nay, NHNN đã thu thập số liệu của tất cả các ngành kinh doanh dịch vụ: du lịch, bảo hiểm, vận tải, bưu điện, hàng không, hàng hải, qua hệ thống do NHTM được phép kinh doanh đối ngoại Nguồn số liệu này có thể tin cậy được nếu chúng ta xây dựng được một hệ thống mẫu biểu tốt, vì tất
cả các hoạt động giao dịch về dịch vụ giữa người cư trú và người không cư trú
về nguyên tắc đều phải thanh toán qua hệ thống ngân Hiện nay, NHNN đang trong quá trình hoàn thiện hệ thống mẫu biểu
• Số liệu chuyển tiền: NHNN sử dụng các nguồn số liệu sâu để tính toán phân
tích chuyển tiền:
-Chuyển tiền tư nhân: gồm chuyển tiền kiều hối thu thập qua hệ thống ngân hàng và ước tính thêm phần ngoại tệ chuyển giao vào hoặc ra ngoài hệ ngân hàng trên cơ sở thông tin về số ngoại tệ tiền do các NHTM chuyển ra nước có khai báo tại các cửa khâu hải quan
-Chuyển tiền nhà nước: số liệu về viện trợ không hoàn lại được thu thập từ ban quản lý và tiếp nhận viện trợ thuộc bộ tài chính
• Thu thập đầu tư: Do hiện nay, Việt Nam chưa có đầu tư ra nước ngoài dước
hình thức góp vốn cổ phần hay cho nước ngoài vay, nên phần thu của các hạng mục này chủ yếu là thu từ lãi tiền gửi ngân hàng gửi tại các ngân hàng ở nước ngoài Phần chi thể hiện các khoản trả lãi tiền vay của các khoản vay nợ nước
Trang 39ngoài ở cả hai khu vực (chính phủ và doanh nghiệp) và phần lợi nhuận mà các nhà đầu tư trực tiếp nươc ngoài chuyển tiền về nước.
B Thu thập số liệu về cán cân vốn và tài chính
• Đầu tư trức tiếp nước ngoài: Bé kế hoạch và đầu tư định kỳ cung cấp cho
NHNN các số liệu về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
• Vay trả nợ nước ngoài: theo nghị định số 58/CP ngày 30/8/1993 của Chính
phủ ban hành về “ những quy định của chính phủ và các bộ ngành về vau trả nợ nước ngoài” (cũ) và nay là nghị định số 90/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 ban hành quy chế quản lý vau và trả nợ nước ngoài, bộ tài chính có trách nhiệm quản lý toàn bộ các khoản vay, trả nợ của các doanh nghiệp Hiện nay, NHNN
đã thu thập tương đối đầy đủ hai nguồn số liệu này để đưa vào hạng mục vay, trả nợ nước ngoài (chia theo thời: ngắn hạn, trung và dài hạn)
C Thu thập số liệu tài sản dự trữ
Số liệu về tài sản dự trữ ngoại tệ được lấy từ bảng cân đối tiền tệ toàn ngành do NHNN lập, trên cơ sở bảng tổng kết tài sản của các tổ chức tín dụng
2.1.3 Những khó khăn khi thiết lập cán cân thanh toán của Việt Nam
Cũng như các nước, Việt Nam khi lập một cán cân thanh toán phát sinh các vấn
đề khó khăn về xác định cư trú, xác định giá trị của các giao dịch quốc tế, đặc biệt các giao dịch mà không thông qua thị trường, xác định thời điểm khi nào thực hiện các bót toán cần thiết trong cán cân thanh toán
Ngoài ra, Việt Nam còn gặp một số khó khăn do nền kinh tế đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Do các số liệu thu thập trong thời kỳ kế hoạch hoá không phù hợp với mục đích của lập cán cân thanh toán nên trong giai đoạn chuyển đổi các nguồn số liệu phải theo tiêu chuẩn quốc tế như thống kê thương maị quốc tế (ITS), hệ thống báo cáo giao dịch quốc tế, bản
Trang 40đã ra nghị định 164/1999 về quản lý cán cân thanh toán, đây sẽ là một cơ sở để Việt Nam tiến tới xây dựng được một cán cân thanh toán có chất lượng tốt.
A Xác định cư trú
Về mặt lý thuyết, cán cân thanh toán được định nghĩa như là một bản ghi chép
có hệ thống tất cả giao dịch giữa người cư trú của nước lập báo cáo và những người nước ngoài Trên thực tế vẫn có những bất đồng về việc phân biệt người cư trú và người không cư trú
B Thu thập số liệu
Về nguyên tắc, cán cân thanh toán đòi hỏi phải ghi tất cả các giao dịch kinh tế quốc tế Trong thực tế, nhiều giao dịch quốc tế rất khó xác định thông qua bất kỳ phương pháp thu thập số liệu nào Do đó chúng ta không được báo cáo
Ví dụ, hãy xem xét hướng thương mại hàng hoá, khoản này thường dùa trên các khai báo hải quan Thông thường có nhiều lý do tại sao những khai báo đó không bao trùm tất cả các giao dịch về thương mại hàng hoá Thứ nhất, khi buôn bán qua biên giới không đảm bảo đối phó được với khối lượng thương mại bất chính (nh trường hợp xuất khẩu qua biên giới), một giao dịch quan trọng đã bị bỏ sót trong thống kê Thêm nữa, những khoản mục nào đó coi như hàng hoá (như hàng hoá gửi bưu điện, tàu thủy và máy bay; cá và các sản phẩm kiếm được ở biển khác đồng thời bán trực tiếp ở các cảng nước ngoài) thường sót trong các khai báo hải quan Đối với hầu hết các khoản mục dịch vụ không có những báo cáo toàn diện về các giao dịch cá nhân như đối với xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá hữu hình Do
đó, số liệu về các dịch vụ thường được rót ra bằng cách ước lượng hơn là liệt kê
Đó là nguyên nhân chính dẫn đến việc xác định các số liệu dịch vụ không hoàn hảo Ví dụ, những ước lượng về chi tiêu du lịch dùa vào số lượng người du lịch và một mẫu khai báo tự nguyện về dự định, thời gian ở lại, và các chi tiêu Do tính đa dạng của các khoản dịch vụ khác (nh tiền hoa hồng và tiền bản quyền tác giả) nên
có Ýt hay không có số liệu