Quan niệm 2: Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập và s
Trang 1Thực trạng hoạt động hệ thống tài chính Việt Nam, vai trò của hệ thống tài chính
đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trang 2Chương 1: Lý Luận Chung
I Tài chính
1 Sự ra đời
Thứ nhất, Sự ra đời do sản xuất hàng hóa và tiền tệ: Tài chính ra đời sau khi tiền ra
đời
Thứ hai, Sự ra đời do Nhà nước: Sự ra đời của Nhà nước mang tính chất định hướng
Do (i) Nhà nước cần tiền để duy trì hoạt động; (ii) thống nhất tiền tệ, quản lý tiền tệ (định giá)
2 Khái niệm
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
II Hệ thống tài chính
1 Khái niệm và vai trò của hệ thống tài chính
1.1 Khái niệm
Có 3 quan niệm khác nhau về hệ thống tài chính :
Quan niệm 1: Dựa trên mức độ can thiệp vào tài chính của Nhà nước vào hệ thống
tài chính qua lãi suất Hệ thống tài chính đc chia làm 2 loại là:
Trang 3
Quan niệm 2: Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh
vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể kinh
tế xã hội
Quan niệm 3: Căn cứ vào sự luân chuyển vốn trong nền kinh tế
Hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính được kiểm soát
Hệ thống tài chính
tự do
HTTC
Ngân sách nhà nước
Bảo hiểm
Tài chính
hộ gia đình
và các chủ thể khác
Tài chính doanh nghiệp Tín dụng
Trang 41.2 Vai trò
Các bộ phận trong hệ thống tài chính hoạt động trên các lĩnh vực:
Tạo ra các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế
Tạo ra sức thu hút các nguồn tài chính đó
Luân chuyển các nguồn tài chính giữa các bộ phận trong hệ thống tài chính đó Với các lĩnh vực hoạt động này, toàn bộ hệ thống tài chính thực hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế xã hội
2 Chức năng của hệ thống tài chính
- Phân bổ nguồn lực
- Sàng lọc,chuyển giao và phân tán rủi ro
- Giám sát quá trình phân bổ nguồn lực
- Vận hành hệ thống thanh toán
Hệ thống tài chính
Thị trường tài chính
Các định chế tài chính trung gian
Các tổ chứ điều hành và giám sát hệ thống tài chính
Cơ sở hệ thống tài chính
Trang 53 Cấu trúc của hệ thống tài chính
3.1 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động giao dịch và mua bán quyền sử dụng những khoản vốn thông qua các phương thức giao dịch và những công cụ tài chính nhất định Thị trường tài chính là tổng hòa các quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế
Thị trường tài chính gồm:
- Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp (phân theo phương thức tổ chức thị trường)
- Thị trường tài chính trực tiếp và thị trường tài chính gián tiếp (phân theo phương thức luân chuyển vốn)
- Thị trường tiền tài chính và thị trường vốn (phân theo thời hạn của công cụ tài chính)
3.2 Trung gian tài chính
Các trung gian tài chính thực hiện việc dẫn vốn thông qua hoạt động tài chính gián tiếp Trước hết các trung gian tài chính huy động vốn từ những người có vốn (người tiết kiệm) bằng nhiều hình thức để tạo thành vốn kinh doanh của mình Sau đó, sử dụng vốn kinh doanh này để cho người cần vốn vay lại hoặc thực hiện các hình thức đầu tư khác Bằng cách này, các trung gian tài chính đã tập trung được các nguồn vốn nhỏ, từ các hộ gia đình các tổ chức kinh tế thành một lượng vốn lớn, đáp ứng nhu cầu của người cần vốn từ những khối lượng vay nhỏ đến những khối lượng vay lớn, từ những cá nhân chưa từng
ai biết đến tới những công ty lớn có tiếng trên thị trường Chính vì vậy, các trung gian tài chính đã đáp ứng được những nhu cầu mà thị trường tài chính không giải quyết được, hoặc giải quyết không có hiệu quả Tuỳ theo lĩnh vực và phạm vi hoạt động, các trung gian tài chính được chia thành các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, quỹ trợ cấp, công ty tài chính
3.3 Cơ sở hạ tầng tài chính
Cơ sở hạ tầng tài chính là khuôn khổ và luật lược và hệ thống thông tin làm nền tảng
để các bên lập kế hoạch đam phán và thực hiện các giao dịch tài chính
Trang 6Cơ sở hạ tầng tài chính gồm :
- Hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước
- Nguồn lực và cơ chế giám sát
- Hệ thống cung cấp thông tin
- Hệ thống thanh toán và hỗ trợ giao dịch chứng khoán
3.4 Các tổ chức giám sát tài chính quốc gia
- Ngân hàng Trung ương: giám sát hệ thống ngân hàng
- Bộ tài chính: lo việc chi tiêu của chính phủ
- Ủy ban chứng khoán nhà nước
- Các tổ chức tài chính quốc tế : IMF,WB,ADB
Trang 7Chương 2: Thực trạng hệ thống tài chính Việt Nam
12 năm qua, TTCK đã huy động gần 650.000 tỷ đồng cho nền kinh tế (trong đó, riêng từ
2005 đến nay huy động gần 550.000 tỷ đồng)
Hệ thống tổ chức niêm yết liên tục gia tăng, từ chỗ chỉ có 2 công ty niêm yết, đến nay đã có 705 công ty Số lượng nhà đầu tư cũng gia tăng, từ chỗ chỉ có 2.900 tài khoản, đến nay đã tăng lên gần 1,2 triệu tài khoản, thu hút gần 10 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài 1.1.2 Những hạn chế
Cơ sở hàng hóa chưa đa dạng, chất lượng phát hành, niêm yết và hiệu quả sử dụng vốn chưa cao Hàng hóa trên thị trường chứng khoán có không ít hàng kém chất lượng,
thậm chí hàng giả Nhà đầu tư không thiếu những phen ngã ngửa khi hàng loạt doanh nghiệp giải trình những kết quả kinh doanh từ lãi thành lỗ hoặc lỗ nhỏ thành lỗ lớn Điển hình như tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (mã VCG – sàn HNX) giải trình kết quả kinh doanh hợp nhất trong quý 3 lỗ tới 105,57 tỉ đồng, trong đó công ty mẹ lỗ 85 tỉ đồng, trong khi báo cáo tài chính riêng lẻ trước đó, VCG lãi ròng 49,34
tỉ đồng Hay báo cáo sau soát xét kết quả kinh doanh sáu tháng đầu năm của công ty cổ phần xây dựng hạ tầng Sông Đà (SDH) đã thể hiện mức lỗ 16,3 tỉ đồng, trong khi trước đó báo lãi 613 triệu đồng; công ty cổ phần tập đoàn Thái Hòa (THV) tăng mức lỗ từ 84,17 tỉ đồng lên 129,44 tỉ đồng…
Trang 8Theo ủy ban Chứng khoán Nhà nước, năm 2012, có 21 công ty bị hủy niêm yết, nguyên nhân bị hủy niêm yết chủ yếu do lỗ ba năm liên tiếp; không thực hiện công bố thông tin theo đúng quy định, hủy niêm yết tự nguyện để tái cấu trúc công ty và để thực hiện giải thể công ty
SD3 Vi phạm nghiêm trọng công bố
thông tin
BAS Lỗ 3 năm liên tiếp
SME Vi phạm nghiêm trọng công bố
thông tin
CAD Lỗ 3 năm liên tiếp
AGC Lỗ 3 năm liên tiếp VKP Lỗ 3 năm liên tiếp
MCV Vi phạm nghiêm trọng công bố
thông tin
MKP Tự nguyện, cơ cấu cổ đông ngoại
VSP Lỗ 3 năm liên tiếp TRI Lỗ 3 năm liên tiếp
HBB Sáp nhập SHB CSG Tự nguyện giải thể công ty
VMG Không giao dịch 12 tháng liên
tiếp
PSE Chưa lên sàn
V11 Kiếm toán ý kiến về BCTC HU4 Chưa lên sàn
SDS Tự nguyện hủy niêm yết PXH Chưa lên sàn
Thị trường còn có nhiều biến động, tính thanh khoản và cung cầu trong một số thời điểm có nhiều hạn chế Những biến động trên thị trường khi có những thông tin tích cực
cũng như tiêu cực trên các phương tiện truyền thông Theo kết quả báo cáo nghiên cứu
thường kỳ Policy Debate số 07 của Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VietNam
Report) vào ngày ngày 25/12/2012 ta thấy:
Trang 9VNINDEX và niềm tin vào TTCK, 9 tháng đầu năm 2012 Nguồn: Dự án đánh giá
uy tín truyền thông DNNY do Vietnam Report tiến hành 3756 tin bài trên 3 nhật báo trong
9 tháng đầu năm 2012 đã được thu thập mã hóa và phân tích
Hình trên cho ta thấy mối quan hệ giữa hai chỉ số (được thể hiện qua đường màu xanh với đơn vị ở trục bên phải) của các doanh nghiệp chứng khoán và chỉ số VNindex trong 9 tháng đầu năm 2012 Chỉ số này có quan hệ nghịch với chỉ số Vnindex Sự gia tăng các tin xấu trên truyền thông của các doanh nghiệp niêm yết thường được đi kèm theo sự
sụt giảm về chỉ số VNindex với độ trễ nhất định về thời gian
Bức tranh toàn cảnh của TTCK Việt Nam năm 2012: TTCK năm 2012 được ví von
như “trái táo độc” của mụ phù thủy trong truyện cổ tích “Nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn”
5 tháng đầu năm 2012 sẽ như nửa màu xanh, ngon lành và hấp dẫn, trong khi 7 tháng còn
Trang 10lại sẽ như phần màu đỏ, ngấm thuốc độc và có thể khiến nhà đầu tư “bất tỉnh nhân sự” –
giống như kết cục của Bạch Tuyết
Nguyên nhân gây ra sự thất bại của TTCK nửa cuối năm 2012 là do:
Thứ nhất, nợ xấu tăng cao, thị trường gần như bị “shock” sau thông báo chính thức của NHNN về tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống lên tới 10% thay vì 4% như các NHTM báo cáo Những bất ổn vĩ mô và hệ thống ngân hàng bắt đầu xuất hiện Niềm tin thị trường lung lay sau “quả bom” Habubank công bố tình hình tài chính bi bét đã được che đậy với tỷ lệ
nợ xấu lên tới 13% và cần được giải cứu
Trang 11Thứ hai, việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đẩy mạnh, SHB tham gia vào tái
cơ cấu Habubank Thị trường trở nên thiếu tiền trầm trọng, mặc dù lãi suất giảm mạnh song các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay do các ngân hàng phải xử lý nợ xấu
Thứ ba, ngày 21/8 – ngày được coi là “ngày thứ ba đen tối” của TTCK Việt Nam khi ông Nguyễn Đức Kiên – Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập của ngân hàng ACB bị bắt Tiếp theo đó, lãnh đạo ngân hàng ACB bị khởi tố, Chủ tịch STB bị điều tra đã khiến lòng tin vào thị trường ngày càng lung lay Cổ phiếu ngân hàng bị bán sàn liên tiếp, bị cắt margin khiến thị trường gần như lao dốc không phanh
Biến động của giá cổ phiếu ACB và Chỉ số niềm tin Nguồn: Dự án đánh giá uy tín truyền thông DNNY do Vietnam Report tiến hành 3756 tin bài trên 3 nhật báo trong 9 tháng đầu năm 2012 đã được thu thập mã hóa và phân tích
Trang 12Thanh khoản giảm mạnh và gần như cạn kiệt trong những ngày giao dịch tháng 11, bình quân 2 sàn giao dịch khớp lệnh 300 tỷ đồng/phiên, tuy nhiên nếu tính tổng thể cả năm
2012, quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2011 nhờ kéo dài thời gian giao dịch buổi chiều
Số lượng các tổ chức kinh doanh chứng khoán nhiều so với quy mô còn nhỏ của thị trường, chất lượng cũng như khả năng quản trị rủi ro còn thấp Hiện nay có quá nhiều công
ty chứng khoán (105 công ty) trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó riêng 10 công ty lớn nhất đã chiếm tới hơn 50% thị phần
Những công ty còn lại đều là công ty nhỏ, hoạt động không hiệu quả Nhiều công
ty chứng khoán hầu như không hoạt động, phát sinh lỗ, làm tiêu hao vốn của cổ đông, gây rủi ro cho những nhà đầu tư chính đáng mở tài khoản giao dịch ở những công ty này Lỗ phát sinh của các công ty chứng khoán chủ yếu là do tự giao dịch, vay vốn quá lớn và thiếu thận trọng trong cho vay, trong khi cơ chế quản trị rủi ro yếu
2 Thị trường tiền tệ
2.1 Thị trường hối đoái
Trên thị trường ngoại hối, năm 2011 chứng kiến lần đầu tiên trong lịch sử Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá mạnh nhất từ 18.932 đồng đổi 1 USD lên 20.693 đồng (tăng 9.3%) và thu hẹp biên độ giao dịch từ 3% xuống còn 1% vào ngày 11/02/2011 Việc
Trang 13tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã giúp thu hẹp tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên thị trường chợ đen vốn đã duy trì khoảng cách từ 7%-8% trong vòng hai tháng trước đó Để đảm bảo ổn định tỷ giá, Chính phủ ban hành nghị định 95, phạt hành chính tới 500 triệu đồng cho vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng Nhiều đơn vị, tổ chức cá nhân đã bị bắt vi phạm, thu giữ và phạt hành chính
Tháng 10 ghi nhận tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng mạnh nhất kể từ khi NHNN điều chỉnh tỷ giá hôm 11/2 Trong tháng có tới 14 lần NHNN nâng tỷ giá với mức tăng tổng cộng 175 đồng Nguyên nhân là do nhu cầu mua ngoại tệ của DN để trả các khoản vay từ 2 qúy đầu năm 2011, nhu cầu nhập khẩu tăng cao vào cuối năm cộng thêm nhu cầu nhập khẩu vàng nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc
tế Thêm vào đó cung ngoại tệ cũng giảm sút do nhiều DN không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng khi niềm tin về đồng nội tệ chưa cao Sau loạt tăng 14 lần liên tiếp đầu tháng
10, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND đã kéo dài 5 tuần cố định
Trong tháng 12 NHNN bất ngờ điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng lên mức cao nhất 20.828 đồng Đây là mức điều chỉnh thứ hai trong tháng này và tính từ thời điểm NHNN đưa ra cam kết không tăng tỷ giá quá 1% thì tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã tăng 0,97%, khá sát với chỉ tiêu Như vậy, khả năng sẽ không còn lần điều chỉnh tỷ giá trong tuần cuối cùng của năm, do dự địa còn lại khá thấp (khoảng 0,03%) Mặc dù vậy, nhu cầu ngoại tệ cuối năm vẫn còn khá cao, bên cạnh đó do chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới vẫn ở mức hấp dẫn (xoay quanh 2 triệu đồng/lượng) có thể làm tăng nhu cầu gom USD để nhập lậu vàng, vì vậy khả năng điều chỉnh tỷ giá USD/VND vào đầu năm 2012 hoàn toàn có thể xảy ra
Bên cạnh đó, trong vòng 1 năm qua, để ổn định tỷ giá, chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý chặt chẽ như cấm kinh doanh ngoại tệ trên thị trường tự do, cấm kinh doanh vàng miếng, yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải bán ngoại tệ cho tổ chức tín dụng, điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ thêm 1 điểm phần trăm, từ 6% lên 7% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng, lãi suất huy động tối đa bằng USD từ 1%/năm xuống còn 0,5%/năm đối với tổ chức và 3%/năm
Trang 14xuống còn 2%/năm đối với cá nhân Những giải pháp có phần hành chính trên đã khiến thị trường ngoại hối tự do liên tục giảm và xoay quanh tỷ giá chính thức với mức chênh lệch rất nhỏ (0.5%), thậm chí có thời điểm giao dịch thấp hơn tỷ giá bình quân của các ngân hàng thương mại
Năm 2011 cũng là năm đánh dấu hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt kết qủa khả quan, thực hiện tốt hơn các chỉ tiêu đề ra và tạo sự hỗ trợ lớn cho việc ổn định tỷ giá Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan công bố tổng kim ngạch xuất khẩu trong 11 tháng năm 2011 đạt gần 87,36 tỷ USD, tăng 35% so với cùng kỳ và vượt so với chỉ tiêu kế hoạch cả năm đề ra là 10% Tương tự, kim ngạch nhập khẩu đã đạt gần 96,2 tỷ USD, tăng 26,5%
so với cùng kỳ và vượt mức kế hoạch cả năm là 2,9% Điều đáng mừng là tỷ trọng nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu đã giảm rất mạnh so với các năm trước và dưới khá
xa so với mục tiêu phấn đấu do Quốc hội và Chính phủ đưa ra Bên cạnh đó kiều hối cũng đang góp phần đáng kể trong việc cải thiện dự trữ ngoại hối, ước tính vừa công bố của Ngân hàng Thế Giới (WB) cho thấy lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong năm 2011 đạt gần 9 tỷ USD Với con số này, Việt Nam thuộc top 10 các nước nhận được nhiều kiều hối nhất theo con đường chính thức (gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Mexico, Philippines, Pakistan, Bangladesh, Nigeria, Ai Cập và Liban) Điều này chứng tỏ sự hấp dẫn và ổn định của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là rất cao
Năm 2011 Thị trường hối đoái vẫn chưa thực sự ổn định Mặc dù những diễn biến trên cho thấy, thị trường ngoại hối khá ổn định, đúng theo định hướng của NHNN Tuy nhiên, theo TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, sự ổn định của thị trường hối đoái chưa thật vững chắc bởi 4 lý do:
Thứ nhất, thâm hụt thương mại tăng lên rất nhanh Nếu như trong quý I, nhập siêu
được kiểm soát khá tốt (tại thời điểm cuối quý I, nhập siêu chỉ ở mức 3,5 tỷ USD, bằng khoảng 16% kim ngạch xuất khẩu), thì trong 2 tháng trở lại đây, đã tăng nhanh trở lại
Trang 15Đặc biệt, với mức nhập siêu kỷ lục 1,7 tỷ USD trong tháng 5, tính chung 5 tháng đầu năm, nhập siêu đã lên tới 6,6 tỷ USD, bằng 19% kim ngạch xuất khẩu và đang tiếp tục
Thứ hai, theo tính toán sơ bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 5 tháng đầu năm, cả nước
chỉ thu hút được gần 4,7 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), giảm 40% so với
cùng kỳ năm ngoái Số vốn thực hiện đạt 4,52 tỷ USD, chỉ tăng 0,4% so với cùng kỳ năm
ngoái và mới chỉ bằng 39% so với kế hoạch năm Tuy nhiên, nếu tính với mặt bằng giá thế giới hiện nay thì đầu tư thực tế của nước ngoài vào Việt Nam thậm chí còn giảm chút ít
Thứ ba, kiều hối về Việt Nam giảm mạnh, một phần do lao động Việt Nam ở nước
ngoài giảm đáng kể, phần khác do lãi suất huy động USD ở Việt Nam giảm trong khi lãi suất ở các quốc gia khác có xu hướng tăng
Theo số liệu thống kê từ NHNN chi nhánh TP HCM, kiều hối chuyển về nước qua các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức kinh tế trên địa bàn trong tháng 4/2011 chỉ đạt khoảng 367,6 triệu USD
Thứ tư, lạm phát Việt Nam đang rất cao Lạm phát tháng 5 tính theo năm đã lên tới
xấp xỉ 19,8% và dự kiến lạm phát năm 2011 vào khoảng 15% Điều đó có nghĩa, sức ép giảm giá VND vẫn còn rất lớn
Rõ ràng, thâm hụt thương mại đang đe doạ tính ổn định dài hạn của thị trường hối đoái và vấn đề đặt ra bức thiết hiện nay đối với các nhà quản lý là cần phải kiểm soát chặt nhập siêu
Trang 16Bên cạnh đó, một rủi ro nữa cho thị trường ngoại hối là tín dụng ngoại tệ vẫn tiếp tục tăng rất mạnh, bất chấp việc NHNN đã ban hành Thông tư 07/2011/TT-NHNN thu hẹp đối tượng được vay vốn ngoại tệ
Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu, tính đến 23/5, tín dụng ngoại tệ tăng 18,9% so với cuối năm 2010 Mặc dù Thông tư 07 có yêu cầu các đối tượng được vay ngoại
tệ phải chứng minh được nguồn ngoại tệ trả nợ và nguồn ngoại tệ này có thể do ngân hàng cho vay hoặc ngân hàng khác cam kết bán cho Thế nhưng, khi các khoản vay đến hạn, chưa chắc các ngân hàng đã có đủ nguồn ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp
Bài học của năm 2010 khi tín dụng ngoại tệ tăng trưởng quá nóng vẫn còn hiển hiện Khi các khoản nợ đến kỳ đáo hạn, cầu ngoại tệ tăng mạnh trong khi cung không đủ đáp ứng đã gây sức ép lớn đến tỷ giá và buộc NHNN phải có bước điều chỉnh tỷ giá tới 9,3% hồi đầu năm 2011 Đây là vấn đề NHNN cũng cần hết sức cân nhắc, tránh lặp lại "vết xe" của năm 2010
Ghi nhận thành công lớn nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2012 vừa qua là duy trì tỷ giá USD/VND ổn định ở mức 20,828 VND/USD, giữ nguyên so với mục tiêu điều hành trong năm 2012 (tỷ giá năm 2012 biến động không quá 2-3%) Các quyết sách rõ ràng và minh bạch của NHNN trong công tác điều hành chính sách tỷ giá năm 2012 như giảm lãi suất mạnh trong 6 tháng đầu năm 2012, trần lãi suất huy động VND sau 3 lần điều chỉnh đã giảm từ mức 14% xuống còn 9% (bắt đầu từ 11/6), đặc biệt là lãi suất cho vay đã giảm mạnh từ mức phổ biến trên 18%/năm xuống 12 – 14%/năm đối với lĩnh vực cho vay nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu và công nghiệp hỗ trợ; ở mức
14 – 16.5%/năm đối với các lĩnh vực sản xuất khác Đối với ngoại tệ, lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ tương đối ổn định, lãi suất huy động phổ biến ở mức 2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và 0.5 -1%/năm đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế, lãi suất cho vay phổ biến ở mức từ 5.3-7.5%/năm
Bên cạnh đó, tình hình cung – cầu ngoại tệ trong nền kinh tế tỏ ra khả quan hơn khi Việt Nam có xuất siêu trở lại sau 19 năm (kể từ năm 1993) với 284 triệu USD; cán cân
Trang 17vãng lai thặng dư sau khi đã thâm hụt trong năm 2010 – 2011, góp phần quan trọng tạo nên thặng dư của cán cân tổng thể nửa đầu năm 2012 Dự trữ ngoại tệ từ mức 9 tỉ USD hồi cuối năm 2011 đến nay đã tăng trên 25 tỉ USD, đủ để trang trải hơn 2.4 tháng nhập khẩu Dự trữ ngoại tệ đã quay trở lại sau đợt sụt giảm mạnh kể từ 2008 Tất cả những điều này đã giúp diễn biến tỷ giá USD/VND duy trì xu thế ổn định trong suốt năm 2012
Tỷ giá NHTM chỉ thay đổi khoảng 0.75% Tỷ giá giao dịch của Ngân hàng Thương mại (NHTM) sau một thời gian được duy trì ở mức kịch trần biên độ đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm dừng ở mức 20,860 (mua vào) – 20,920 (bán ra) vào thời điểm cuối tháng 6/2012 và tiếp tục điều chỉnh giảm trong 6 tháng cuối năm, chốt phiên giao dịch cuối năm giá mua vào chỉ còn 20,820 và giá bán ra là 20,860 Diễn biến tỷ giá trên thị trường chợ đen bám sát diễn biến tỷ giá giao dịch của NHTM
Thị trường liên ngân hàng hình thành hai nhóm: nhóm "uy tín" gồm các "nhà giàu",
có tài sản đảm bảo; phần còn lại là nhóm "mất uy tín" với các đơn vị yếu thanh khoản, thiếu tài sản đảm bảo
Mặc dù từ 19/3 - 23/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 13,8 nghìn tỷ VND qua OMO
và phát hành tín phiếu, nhưng thị trường liên ngân hàng vẫn phẳng lặng, lãi suất rất thấp, thanh khoản tốt
Có lẽ, chưa bao giờ vốn VND trên thị trường liên ngân hàng lại hết sức yên ả như trong tuần từ 19/3 - 23/3/2012 Do cầu vốn thấp, lượng tiền giữa giới nhà giàu với nhau dư giả nên nguồn cung VND dồi dào, đẩy lãi suất xuống rất thấp
Theo phản ánh của các cán bộ ban vốn một ngân hàng thương mại nhà nước, trong khi lãi suất nghiệp vụ thị trường mở (OMO) khoảng 13%/năm thì lãi suất thị trường liên ngân hàng liên tục hạ nhiệt: qua đêm khoảng 8% - 9%/năm; 1 tuần khoảng 9% - 10%/năm;
2 tuần trên 10%/năm
Trang 18So với những thời điểm căng thẳng thanh khoản dai dẳng từ 2008 đến nay, phải thấy thị trường liên ngân hàng đang dần đi vào ổn định, và làm đẹp thêm các bản báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước
Tuy nhiên, mức lãi suất đó có phản ánh bộ mặt chung của thị trường liên ngân hàng hay không lại liên quan đến một câu chuyện: niềm tin và tài sản đảm bảo trên thị trường liên ngân hàng
Thứ nhất, từ sau khi thị trường này xảy ra tình trạng chây ỳ trả nợ, khiến lòng tin trên thị trường liên ngân hàng bị mai một, đã buộc các tổ chức tín dụng khi mua bán vốn với nhau đều kèm theo tài sản đảm bảo, điều chưa bao giờ có tiền lệ
Cũng từ thực tế này, thị trường liên ngân hàng hình thành hai nhóm: nhóm "uy tín" gồm các "nhà giàu", có tài sản đảm bảo; phần còn lại là nhóm "mất uy tín" với các đơn vị yếu thanh khoản, thiếu tài sản đảm bảo và đương nhiên, họ gần như thành kẻ chầu rìa nhưng vẫn mang danh ở trong cái "chợ" ấy
Thứ hai, chính vì thực tế trên, nếu nhìn vào mức lãi suất và/hoặc cung cầu vốn trên thị trường, thật khó biết đó có phải là bức tranh chung cho mọi thành viên hay không
Điều này lý giải vì sao chỉ trong vòng 5 ngày (từ 19 - 23/3), Ngân hàng Nhà nước hút ròng 13.834 tỷ đồng qua nghiệp vụ OMO và phát hành tín phiếu (theo tài liệu từ nhóm nghiên cứu của một ngân hàng thương mại nhà nước mà người viết có được) nhưng lãi suất vẫn rất thấp như nói trên
Từ thực tế này, lãnh đạo một ngân hàng thương mại nhận xét: những ngân hàng ở nhóm tốt, thanh khoản dư giả thì nhu cầu vay ít; còn ngân hàng có nhu cầu vay vốn, nếu không có tài sản đảm bảo thì không vào được "chợ"
Tất nhiên, đối với những ngân hàng thuộc nhóm "mất uy tín", muốn tồn tại, họ phải tìm đủ mọi cách để tăng tài sản nợ và giảm tài sản có Tăng tài sản nợ ở thị trường 2 không được thì ở thị trường 1
Trang 19Phải chăng, sự xì xào về lách trần lãi suất tiền gửi trong những ngày qua không phải không có căn cứ Song hành với đó, xu hướng mức tăng tài sản có ở các ngân hàng nhóm
3, nhóm 4 tiếp tục giảm mạnh so với năm trước và so với kế hoạch, thậm chí kéo dài từ đầu năm đến nay
Trước thực tế này, qua điểm của Ngân hàng Nhà nước là đã vay mượn thì phải có thế chấp, bất kể ở thị trường nào, "ta" hay "tây" đều thế cả
Nhưng, ý kiến của một cán bộ thường xuyên dao dịch trên thị trường liên ngân hàng lại cho rằng: "Phải xem xét lại vì sao có chuyện chây ỳ để giải quyết tận gốc vấn đề đó chứ không chỉ là quan niệm đơn giản: đã vay mượn thì phải có tài sản đảm bảo"
Theo ông này, sự thích nghi khi dùng thế chấp trên thị trường liên ngân hàng không hoàn toàn tốt và tương tự như con người sống trong bầu không khí ô nhiễm và độc hại thì buộc phải thích nghi
Còn phó chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng cổ phần dư vốn đang "đốt đuốc tìm doanh nghiệp tốt" lại nói thẳng: "Tôi sẽ xé rào, sẽ cho các ngân hàng thương mại nhóm
3, nhóm 4 vay mà không nhất thiết phải đòi tài sản đảm bảo!"
Ông này phân tích: tất cả những khó khăn của các ngân hàng này chỉ là tạm thời và nếu ai biết phá rào để vẫn làm bạn với họ thì đó là một cơ hội Ông cho biết thêm, nếu như các "nhà giàu" đang cho nhau vay 10% - 11%/năm và cho vay nhóm khó khăn tới 22%/năm thì ngân hàng của ông sẽ không lấy giá cao như thế Chỉ cần cho họ vay 17% - 18%/năm
để cùng Ngân hàng Nhà nước giúp họ lần hồi qua khó khăn thì ngân hàng ông không những giải phóng được lượng vốn dư thừa mà vẫn thêm bạn
Ngược lại, nếu cứ đóng cửa với nhau trên thị trường liên ngân hàng thì tình trạng không khác gì doanh nghiệp bị ngân hàng chặn cửa tín dụng, bởi một triết lý ở đời nhưng không xa lạ trong kinh doanh: "Sông có khúc, người có lúc"
Trang 20Còn lãnh đạo một ngân hàng thương mại trong diện khó khăn phân trần: "Đừng nghĩ
có tài sản đảm bảo là yên tâm hoàn toàn Giả định có nhận tài sản đảm bảo là bất động sản thì lúc thị trường đang khó khăn như hiện nay, chắc gì đã bán được?"
Ông cho rằng, khi thị trường mất niềm tin với nhau thì Ngân hàng Nhà nước phải tạo ra môi trường mà trong đó, các tổ chức tín dụng phải tin nhau, hỗ trợ nhau để vượt qua khó khăn thay vì vay một đồng cũng phải tài sản đảm bảo Chỉ khi cả hệ thống khôi phục được lòng tin và xây dựng được tinh thần "tương thân tương ái" thì thanh khoản sẽ được giải quyết và Ngân hàng Nhà nước cũng nhẹ gánh hơn rất nhiều
2.3 Thị trường vay nợ
Về thị trường vốn ngắn hạn hay còn gọi là thị trường tiền tệ Nhìn chung, thị trường này chưa thực sự phát triển và Ngân hàng Nhà nước (NHTW) chưa thực sự đóng vai trò can thiệp có hiệu quả vào thị trường này Các loại lãi suất của NHTW: lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước có tác động rõ nét đến thị trường Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là công cụ dự trữ bắt buộc… thiếu linh hoạt Các Ngân hàng thương mại (NHTM) và Tổ chức tín dụng cạnh tranh với nhau tăng lãi suất huy động vốn một cách một chiều, tạo nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho chính các NHTM
II Trung gian tài chính
1 Ngân hàng thương mại
Trang 21hoảng Để trụ vững được qua những con sóng đó thì các NHTM cổ phần cần có một năng lực tài chính đủ khỏe, và một biện pháp đó là tăng lượng vốn tự có
Vốn tự có được định nghĩa là vốn riêng của Ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại
Về mặt pháp lý, vốn tự có là cơ sở để pháp lý để hình thành doanh nghiệp, đồng thời đó cũng là yếu tố tài chính đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng Với lĩnh vực ngân hàng, vốn tự có có vai trò to lớn hơn, nó còn là yếu tố quyết định sự sống còn và sự phát triển lâu dài của ngân hàng Từ năm 2006 đến nay đã chứng kiến việc đua nhau tăng vốn của các Ngân hàng cổ phần, nhất là khối các NHTMCP trong nước
1.1.1.2 Thực trạng
Sự kiện đáng chú ý trên thị trường tài chính thời gian qua là Nghị định 141/2006/NĐ-CP, đến cuối năm 2010 vốn điều lệ của các NHTM CP phải đạt 3.000 tỷ đồng Các tổ chức tín dụng đều đã rất nỗ lực để hoàn thành việc tăng vốn điều lệ theo đúng
lộ trình quy định của Chính Phủ Tuy nhiên, quá trình tăng vốn điều lệ đã chịu tác động của một số nguyên nhân khách quan như bối cảnh nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng chưa có dấu hiệu thực sự khả quan
Bên cạnh đó, việc Chính phủ có chủ trương hạn chế các Tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước đầu tư trái ngành cũng là một khó khăn lớn cho các TCTD cổ phần có cổ đông hiện hữu là các Tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước khi thực hiện tăng vốn điều lệ
Vì các yếu tố khách quan đó, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận đề xuất giãn lộ trình tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỉ đồng đối với các NHTM đến 31-12-2011 theo như đề xuất của NHNN Cho đến thời điểm có quyết định gia hạn, có khoản 17 trên tổng số 40 Ngân hàng và các tổ chức tín dụng vẫn chưa thể hoàn thành mục tiêu tăng vốn điều lệ theo nghị định 141 Kết thúc năm 2011, các ngân hàng hầu hết đã hoàn tất lộ trình tăng vốn điều
lệ lên 3000 tỉ đồng, duy chỉ còn 3 ngân hàng chưa đảm bảo được con số này (SaigonBank, PGBank, BaoVietBank)
Trang 22Lý do cho việc yêu cầu tăng vốn pháp định của NHTM của Chính phủ là do việc tồn tại một hệ thống tài chính gồm quá nhiều ngân hàng quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu luôn là một rủi do đến an toàn hệ thống Những hiện tượng như cuộc đua lãi suất bắt nguồn từ những ngân hàng nhỏ do tình trạng khát vốn, cho vay lãi suất cao trong khi khả năng quản trị điều hành kém, vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng để cho vay dài hạn và đẩy lãi suất liên ngân hàng lên cao… là những ví dụ cho thấy việc tồn tại song song những ngân hàng có quy mô khác biệt lớn có thể gây bất ổn đến hệ thống như thế nào
Một hệ thống tài chính an toàn khi các ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR-capital adequacy ratio) cao, nói cách khác là đủ vốn để “chịu trận” khi lỗ Nếu vốn thấp mà lỗ nặng, ngân hàng sẽ phá sản và vì đặc thù của loại hình kinh doanh này sẽ rất dễ kéo toàn
hệ thống sụp đổ theo, liên lụy cho cả nền kinh tế
Hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của các ngân hàng Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi
ro tín dụng Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ người gửi tiền
1.1.2 Huy động vốn và lãi suất huy động vốn
1.1.2.1 Thực trạng
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả sử dụng số tiền đó để cho vay, vì vậy việc thu hút vốn là vấn đề hàng đầu của các NHTM
Trang 23Nguồn: VN ECONOMY Trong nhưng năm gần đây có nhiều bất ổn trong vấn đề huy động vốn, trong năm
2009 huy động vốn tăng trưởng mạnh và giảm tốc vào năm 2010 Bức tranh huy động tín dụng đã đảo màu hoàn toàn vào năm 2011 là một năm khó khăn cho hệ thống ngân hàng
Với một hệ thống ngân hàng chủ yếu sử dụng lãi suất để thu hút khách hàng như hệ thống ngân hàng Việt Nam thì việc chạy đua lãi suất diễn ra là một điều hiển nhiên Để ngăn chặn tình trạng này dẫn đến nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống, ngày 3/3/2011, NHNN đã ra thông tư đặt trần lãi suất huy động 14%
Việc sử dụng công cụ trần lãi suất có thể là một công cụ “lạc hậu” và phi thị trường, nhưng đây lại là một điểm sáng trong chính sách điều hành của NHNN cũng như của toàn
hệ thống ngân hàng Lãi suất trần thay đổi nhiều lần và có xu hướng giảm dần, đến thời điểm hiện tại NHNN chỉ đặt trần lãi suất 2% đối với các khoản huy động dưới 1 tháng và 8% đối với các khoản huy động 1 đến 12 tháng
Mặc dù lãi suất huy động 2012 liên tục giảm nhưng lượng vốn huy động được lại rất khả quan Huy động tăng trưởng mạnh mẽ và đạt mức 20,29% cao gấp đôi mức tăng 9,89% của năm 2011