1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Văn hóa tây nguyên

56 7,4K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có một nền văn hóa bản địa phong phú và đa dạng, với những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hết sức quý giá như đàn đá, cồng chiêng cùng các loại hình

Trang 1

Bước qua từ những ký ức đau thương của lịch sử, Tây Nguyên vẫn giữ trong mình vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí đến lạ thường và đặc biệt là một nền văn hoá văn minh đậm đà, mang những đặc sắc độc đáo gắn liền với mảnh đất và tình người nơi đây

.

TP Hồ Chí Minh, Ngày 9 tháng 3 năm 2015

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió mùa.Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung, Nam.Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng của

ẩm thực từng vùng - miền.Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng.Điều đó góp phần làm

ẩm thực Việt Nam phong phú, đa dạng.

Núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ với những sản vật của non cao sẽ làm hài lòng du khách bốn phương khi có dịp dừng chân Ẩm thực Tây Nguyên vừa dân giã, vừa tinh tế, lại bổ dưỡng Món ăn không được nấu trong những nồi, chảo thông thường mà chế biến

từ trong những ống tre, ống nứa sẽ đem lại cho bạn những cảm giác đặc biệt, không thể nào quên.

I. Giới thiệu sơ lược về Tây Nguyên.

Tây Nguyên Việt Nam là vùng cao nguyên gồm 5 tỉnh,được sắp xếp theo thứ tự từ bắc xuống nam: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, và Lâm Đồng

1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên:

Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia Kon Tum có biên giới phía tây giáp với Lào và Campuchia Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông thì chỉ có chung đường biên giới với Campuchia Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, cao nguyên Mdrak cao

Trang 3

khoảng 500m, Đắk Lắk cao khoảng 800m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000m, Lâm Viên cao khoảng 1500m và Di Linh cao khoảng 900-1000m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam).

Tây Nguyên có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai), Trung Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam

Với đặc điểm đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển Cà phê là cây công nghiệp quan trọng

số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam

Bộ Tây Nguyên là khu vực ở Việt Nam có nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn

2 Khí hậu

Khí hậu được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô

từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất

Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500 m khí hậu tương dối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới

3 Lịch sử

Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa nhằm cướp bóc nô lệ

Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của vương quốc Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Ðá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Ðá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van

Trang 4

(Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.

Tuy có sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn Thời Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các

bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789)

Sang đến triều Nguyễn, quy chế dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, chủ yếu người Việt vẫn chú ý khai thắc miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ)

Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên

Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayrena sang Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ lạc thiểu số Ông ta thành lập vương quốc Sédan có quốc kỳ, có giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayrena về châu Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên

“đăng quang” thay Mayrena Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn Sau đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải tán

Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao

nguyên Liang Biang Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng đất này

Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình Đại Nam Vì vậy, năm 1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung kỳ Năm

1898, vương quốc Sédan bị giải tán Một tòa đại lý hành chính được lập ở Kontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây

Năm 1900, Toàn quyền Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát Vùng đất cao nguyên Trung kỳ (Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân Pháp Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và

Trang 5

Cheo Reo Những thực dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồ điền đồng thời cũng ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được.

II. Văn hóa vùng Tây Nguyên

1 Chủ thể văn hóa

Nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba

Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông

- Tây Nguyên hiện nay thực sự là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa, nơi cư trú của

47 dân tộc anh em, với rất nhiều đặc trưng, sắc thái của nhiều tộc người, nhiều địa

phương trong cả nước hội tụ; đồng thời cũng là nơi có tốc độ tăng dân số và biến động về

cơ cấu dân cư nhanh nhất cả nước Một trong những nguyên nhân chính là do tình trạng

di cư tự do kéo dài nhiều năm, đến nay vẫn còn diễn ra phức tạp

Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời thực hiện chủ trương chuyển một bộ phận dân cư và lao động từ các vùng đông dân của đất nước đến xây dựng kinh tế mới và mở mang các nông lâm trường Là vùng đất màu mỡ, có ưu thế lớn về đất đai và tài nguyên thiên nhiên, nên Tây Nguyên đã nhanh chóng trở thành nơi hấp dẫn, thu hút hàng triệu đồng bào từ các tỉnh thành đến sinh sống

Cùng với quá trình di cư có tổ chức theo kế hoạch của Nhà nước, làn sóng di cư

tự do bắt đầu hình thành vào đầu thập kỷ 80 và diễn ra ồ ạt từ giữa thập kỷ 80 (thế kỷ XX) cho đến những năm gần đây Sự sôi động của làn sóng di cư tự do vào Tây Nguyên

là một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi quy mô của nó lớn và kéo dài Chỉ tính từ năm 1990 đến năm 2000, đã có 160 nghìn hộ với khoảng 810.000 nhân khẩu di cư tự do đến Tây Nguyên, làm cho dân số toàn vùng tăng đột biến Nơi xuất xứ của dòng di cư tự do chủ yếu từ các tỉnh miền núi phía Bắc và khu IV cũ, nhất là những địa bàn có điều kiện kinh

tế - xã hội khó khăn Thành phần di cư tự do đông nhất là người Kinh, chiếm 64%; tiếp

đó là một số dân tộc thiểu số phía Bắc (Tày, Nùng, Thái, Dao, Mông ) chiếm 17%; còn lại là các dân tộc khác

Chính làn sóng di cư tự do đã làm cho cơ cấu và thành phần dân tộc ở Tây Nguyên biến đổi nhanh Năm 1976 dân số toàn vùng là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm 69,7% (853.820 người) Nhưng hiện nay, dân số toàn vùng đã lên đến 5.107.437 người, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ

Trang 6

còn chiếm 25,5% (1.302.396 người); đồng bào Kinh chiếm 66,9% (3.416.875 người), các dân tộc thiểu số nơi khác đến chiếm 7,6% (388.166 người).

Các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên thuộc hai nhóm ngôn ngữ chính là Nam Đảo (Msalayô-Pôlinêdiêng) và Nam Á (Môn-Khơ me) Trong đó, đông nhất là dân tộc Gia-rai (379.589 người), tiếp theo là Ê-đê (305.045 người), Ba-na (185.657 người), Cơ-

ho (129.759 người), Xơ-đăng (103.251 người), Mnông (89.980 người), Giẻ-Triêng

(32.024 người), Mạ (36.119 người), Chu-ru (16.863 người), Ra-glai (1.210 người), mâm (357 người) và Brâu (347 người)(10)

Trong thời kỳ chiến tranh, do đất rộng, người thưa nên các dân tộc cư trú thành những khu vực tương đối biệt lập Chỉ có hai đầu (Bắc Kon Tum và Nam Lâm Đồng) buôn làng của các dân tộc có xen kẽ nhau, còn lại là những khu vực cư trú tập trung theo dân tộc Ví dụ như vùng đông bắc cao nguyên Pleiku kéo đến đông nam Kon Tum và Tây Bình Định là nơi sinh sống tập trung của người Ba-na, làng mạc khá ổn định, trung bình mỗi làng có từ 50-60 nóc nhà Khu vực đông nam cao nguyên Pleiku kéo đến chân núi Chư Dliêya là địa bàn cư trú của người Gia-rai, làng mạc gần nhau, trung bình mỗi làng

có từ 150-170 nóc nhà Vùng tam giác Ea H’leo-M’Drăk-Buôn Đôn của tỉnh Đắk Lắk là nơi quần cư của người Ê-đê, buôn làng đông đúc, trù phú, có buôn có đến 300 nóc nhà dài Gần trọn cao nguyên Đắk Nông và một phần cao nguyên Di Linh là khu vực sinh sống của người Mnông; kế tiếp là khu vực người Mạ

Nhưng hiện nay, các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên không còn cư trú theo lãnh thổ tộc người riêng biệt mà sinh sống xen kẽ, đan xen nhau, có sự giao lưu về văn hóa với người Kinh và các dân tộc thiểu số từ miền Trung, miền Bắc đến sinh cơ lập nghiệp Trong quá trình chung sống cận kề, các cộng đồng dân cư tuy thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau nhưng cơ bản có sự hoà hợp, đoàn kết, không phân biệt giữa người tại chỗ và nơi khác đến, cùng “chung lưng đấu cật” xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trước đây, đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của các dân tộc Tây Nguyên là buôn làng (buôn, bon, plây…) mang dấu ấn của công xã thị tộc Các buôn, làng của đồng bào sinh hoạt cộng đồng bền chặt, ý thức tập thể rất cao; đất đai, núi rừng, nguồn nước là sở hữu chung; mọi hoạt động sản xuất và xã hội đều tuân thủ luật lệ, phong tục của buôn làng Thành tố hợp thành buôn làng của đa số các dân tộc là đại gia đình mẫu hệ, người phụ nữ cao tuổi có uy tín nhất cai quản; phần lớn theo chế độ hôn nhân lưỡng hợp, một

vợ một chồng, con gái cưới chồng và con mang họ mẹ Một số dân tộc theo chế độ phụ hệ

Trang 7

Sản xuất chính của đồng bào là làm nương rẫy và khai thác đất theo chế độ luân canh; sản xuất thô sơ, chủ yếu dựa vào thiên nhiên; cây lương thực chính là lúa tẻ, ngoài

ra còn có ngô, khoai, sắn làm lương thực phụ và chăn nuôi, nấu rượu Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm như: trâu, bò, heo, gà chủ yếu dùng vào việc cúng tế Đồng bào cũng có các nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như dệt vải, rèn, mộc, làm nhà, làm thuyền độc mộc, đan lát các dụng cụ gia đình bằng mây, tre,… Hiện những nghề này đang từng bước được phục hồi để tạo việc làm, tăng thu nhập, đồng thời bảo tồn những giá trị truyền thống

- Nét nổi bật của các dân tộc thiểu số là đời sống xã hội mang tính cộng đồng cao

Trong thiết chế cổ truyền, buôn làng của đồng bào là những đơn vị cơ sở xã hội duy nhất

và cao nhất (trên nó không còn một thiết chế nào khác), có nơi cư trú và nơi canh tác riêng, có bến nước và nghĩa địa riêng, mặc nhiên được các buôn làng khác thừa nhận Do

đó, mỗi buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số có thể coi là một đơn vị tự quản riêng biệt và tương đối hoàn chỉnh Chẳng hạn như trong cộng đồng tộc người Ê-đê, đứng đầu buôn là Khoa pin ea, người được coi là chủ bến nước

Ngoài việc quản lý bến nước, Khoa pin ea còn có nhiệm vụ quản lý, điều hành mọi công việc về mặt dân sự, an ninh, thần quyền, đối ngoại Ngoài ra, trong buôn làng còn có những người điều hành toà án phong tục, phụ trách việc cúng bái, tế tự và tầng lớp già làng - là những người có kinh nghiệm và uy tín về đạo đức, được trưởng làng coi trọng Bên cạnh đó, còn phải kể đến vai trò của những người am hiểu về luật tục, người hoạt động tín ngưỡng hoặc chủ đất của các dòng họ

Một trong những đặc trưng quan trọng, cơ bản nhất của buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên là chế độ tự quản vận hành theo luật tục Đây là một dạng thức văn hóa pháp luật có tính lịch sử nhất định nhưng cho đến nay vẫn còn giá trị Luật tục trong xã hội cổ truyền có thể tồn tại dưới dạng văn xuôi hay văn vần và được truyền miệng từ dời này sang đời khác; nó đã trở thành máu thịt, thấm đẫm trong mọi hành xử của cả cộng đồng Trong xã hội cổ truyền thì luật tục có hiệu lực như một sức mạnh để chế ước xã hội Phạm vi điều chỉnh của luật tục khá rộng và những điều răn trong luật tục

có ý nghĩa to lớn đối với các thành viên Ngoài ra, về mặt văn hóa, luật tục cũng có thể coi là di sản văn hóa tộc người đặc sắc, phản ánh những quan niệm, luật lệ, quy tắc của

xã hội

Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có một nền văn hóa bản địa phong phú và đa dạng, với những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hết sức quý giá như đàn đá, cồng chiêng cùng các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng phong phú và

Trang 8

kho tàng văn học dân gian đặc sắc Hiện nay, Tây Nguyên là nơi còn lưu giữ được nhiều

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm mỹ độc đáo như: nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội và một kho tàng văn học dân gian với những bản trường ca, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, lời nói vần, những làn điệu dân ca đậm đà bản sắc lưu truyền qua nhiều thế hệ Một trong những di sản nổi tiếng

là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là "Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại" Một số dân tộc như Ê-đê, Gia-rai còn có chữ viết xây dựng trên cơ sở bộ chữ La tinh (đây là hai trong những bộ chữ dân tộc thiểu số ra đời sớm ở nước ta)

Đối với các dân tộc thiểu số nơi khác đến, hiện nay đông nhất là các dân tộc từ các tỉnh miền núi phía Bắc đến lập nghiệp, như: Nùng (111.962 người), Tày (98.348 người), Mông (41.713 người), Thái (28.514 người) Dao (26.304 người), Mường (23.589 người) Những dân tộc khác dân số ít, có dân tộc chỉ từ 1-2 người Nhìn chung, đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc rất cần cù, chịu khó làm ăn, đa số sau khi vào lập nghiệp từ 5-7 năm là ổn định cuộc sống Tuy nhiên, đây cũng là một bộ phận dân cư tham gia vào làn sóng di dân tự do, làm đảo lộn chiến lược dân số và lao động của vùng Tây Nguyên; làm phá vỡ quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương; tạo nên

sự quá tải về cơ sở hạ tầng Về mặt xã hội, dân di cư tự do phần đông là nghèo khổ nên

đã làm tăng thêm tỷ lệ nghèo đói; gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gia tăng nạn phá rừng lấy đất canh tác Không những thế, do họ di cư tự do ồ ạt, Nhà nước không đủ nguồn lực để sắp xếp, hỗ trợ nên bản thân của một bộ phận dân di cư tự do cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn cả trong hiện tại và tương lai, như thiếu vốn và công cụ để sản xuất, thiếu đất canh tác, thu nhập thấp, thời gian làm việc nhiều, phải làm thuê, các điều kiện sinh sống như nhà ở, điện nước, các phương tiện sinh hoạt, vệ sinh môi trường, dịch vụ y tế, cơ sở vật chất giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc đều thiếu thốn; phải mất một thời gian dài mới có thể phát triển đồng đều giữa các bộ phận dân cư

Trong toàn vùng Tây Nguyên hiện có 4 tôn giáo chính đang hoạt động bình

thường là: Công giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao đài, với tổng số 1.753.761 tín đồ (chiếm 34,7% dân số), gần 3.500 chức sắc-nhà tu hành, khoảng 840 cơ sở thờ tự các loại Những năm qua, số lượng tín đồ tôn giáo tăng nhanh theo tốc độ tăng dân số Đáng lưu ý là tín

đồ người dân tộc thiểu số tăng lên rất nhanh, chủ yếu theo đạo Công giáo và Tin lành Hiện nay, tín đồ Tin lành người dân tộc thiểu số là 324.135 người, chiếm 89,3% tổng số người theo đạo Tin lành của toàn vùng; tín đồ Công giáo người dân tộc thiểu số là

Trang 9

248.039 người, chiếm 30,9% tổng số người theo đạo Công giáo của toàn vùng Ngoài ra,

có một số tôn giáo khác đã được công nhận nhưng số lượng tín đồ ít, như Bahai, Phật giáo Hòa Hảo

2 Không gia văn hóa và thời gian văn hóa

Giống như một điểm trong không gian, vị trí của một nền văn hóa được xác định bởi một

hệ tọa độ Hệ tọa độ của một nền văn hóa bao gồm ba chiều: Không gian văn hóa, thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa

2.1 Khái niệm chung

Thời gian văn hóa

Thời gian văn hóa được xác định từ khi một nền văn hóa hình thành cho đến khi tàn lụi Nói chung, thời gian văn hóa không thể xác định được một cách rạch ròi, nó được hiểu là một khái niệm mở Thời điểm khởi đầu của một nền văn hóa được quy định bởi thời điểm hình thành dân tộc (hay còn gọi là chủ thể văn hóa)

Không gian văn hóa

Không gian văn hóa có phần phức tạp hơn: bởi lẽ văn hóa có tính lịch sử, cho nên trong văn hóa đã bao hàm yếu tố thời gian Vì có tính thời gian nên không gian văn hóa có liên quan đến lãnh thổ nhưng không đồng nhất với không gian lãnh thổ Nó bao quát tất thảy những vùng lãnh thổ mà ở đó các dân tộc đã tồn tại qua từng thời kì lịch sử Do vậy, không gian văn hóa bao giờ cũng rộng hơn không gian lãnh thổ

Để xác định đầy đủ thông tin và hình dung cụ thể về không gian văn hóa của một dân tộc, phải tìm hiểu được yếu tố nguồn gốc và quá trình hình thành của dân tộc đó Suy cho cùng, cả thời gian văn hóa và không gian văn hóa đều phụ thuộc vào chủ thể văn hóa

2.2 Định vị không gian văn hóa Tây Nguyên

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng Chủ thể của không gian văn hóa Tây Nguyên đặc sắc này là cư dân các dân tộc: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai

2.3 Xác định thời gian văn hóa Tây Nguyên

Các nhà khoa học đã tiến hành khai quật các di khảo cổ Lung Leng (Kon Tum),Cát Tiên (Lâm Đồng) và các di tích văn hóa – lịch sử - khảo cổ thời tiền sử tại Đắk Lắk, từ đó đưa

ra những cứ liệu vô cùng quan trọng về lịch sử và văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, chứng minh sự tồn tại của nền văn hóa Tây Nguyên tương đương về trình độ và niên đại với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ, Sa Huỳnh ở Trung Bộ và Đồng Nai ở Nam Bộ

Trang 10

2.4 Không gian văn hóa và thời gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ Thời gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tương đồng với thời điểm bắt đầu văn hóa cồng chiêng, bắt nguồn từ văn minh Đông Sơn cổ đại, nền văn minh được biết đến với tư cách là một nền văn hóa trống đồng nổi tiếng ở Đông Nam Á Cồng chiêng Tây Nguyên là một di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và không gian Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện

từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến Trong đó bảo lưu

cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc từ thời kỳ sơ khai Ở đây, mọi giá trị nghệ thuật đều nằm trong mối quan hệ tương đồng và dị biệt, xác định cá tính vùng miền của nghệ thuật

Không gian văn hóa cồng chiêng gắn bó mật thiết đối với đời sống của người dân nơi đây, nói cách khác, không gian văn hóa cồng chiên có mặt trong hầu hết các sinh hoạt văn hóa, lễ hội của người Tây Nguyên, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu, hay trong một buổi nghe khan đều phải có tiếng cồng

Đắm mình trong không gian văn hóa dân gian truyền thống ấy mới thấy vai trò chủ đạo không thể thiếu của văn hóa cồng chiêng Từ những nghệ nhân già, đầu bạc trắng đến những thiếu niên mới chỉ 13-14 tuổi đều có khả năng biểu diễn tốt cồng chiêng, điều này cho thấy, không gian văn hóa cồng chiêng được kế thừa và mở rộng, “ăn sâu” vào tiềm thức của cộng đồng người dân Tây Nguyên

Văn hóa cồng chiêng đã khẳng định "đất" sống, điều này được chứng thực qua việc loại hình này được bảo tồn sống trong sinh hoạt cộng đồng Có thể nói, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã phát huy được giá trị cả về vật thể và phi vật thể

2.5.Không gian văn hóa và thời gian văn hóa nghệ thuật sử thi Tây Nguyên

Từ lâu, Tây Nguyên được biết đến như là miền đất huyền thoại, nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa tinh thần vô giá Không chỉ là vùng đất của cồng chiêng, của rượu cần, đàn T’rưng… mà nổi danh hơn cả với tên gọi “xứ sở của sử thi” Không gian văn

Trang 11

hóa nghệ thuật sử thi ở Tây Nguyên phát triển mạnh mẽ Sử thi Tây Nguyên gắn liền với tên tuổi những anh hùng thần thoại, những anh hùng của buôn làng Tây Nguyên từng được bao thế hệ, bao đời nay ngưỡng vọng như Đăm San, Đăm Di, Dyông Dư… Nhưng điều thú vị và hấp dẫn ở sử thi Tây Nguyên là những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa của nó với những cứ liệu lịch sử đầy thuyết phục về một giai đoạn lịch sử của dân tộc Theo một

số nhà nghiên cứu, sử thi Tây Nguyên có thể ra đời vào khoảng thế kỉ XVI (hay còn gôi

là thời gian văn hóa của sử thi Tây Nguyên), khi xã hội Tây Nguyên có những biến động

to lớn do các cuộc chiến tranh giữa các buôn làng Cũng theo các tài liệu lịch sử, sử thi Tây Nguyên đã được biết đến từ khá lâu, từ thời Pháp thuộc, đầu những năm hai mươi của thế kỉ trước, nhưng phải đến gần đây mới được nghiên cứu, khai thác một cách qui

mô, sâu rộng hơn Theo các nhà nghiên cứu, cho đến nay, đã có hơn hai trăm bộ sử thi Tây Nguyên được sưu tầm, ghi chép và đang được tổ chức biên soạn; số còn lại đã được biết đến nhưng chưa kịp ghi chép cũng có hàng trăm bộ nữa Trong đó, sử thi ngắn cũng

có tới mấy trăm câu (sử thi H’điêu có 570 câu); sử thi tương đối dài thì có hàng nghìn câu, như Đăm San (2077 câu), Khinh Dú (5880 câu); có những sử thi rất dài, có lẽ dài nhất trong số những sử thi đã được biết cho đến nay là Ot N’rông của người M’nông khoảng 30.000 câu… Nhưng điều quan trọng hơn là dù ngắn hay dài, sử thi Tây Nguyên vẫn phản ánh một cách trung thực, sinh động đời sống sinh hoạt cộng đồng, cuộc đấu tranh vì những ý tưởng nhân văn cao cả mà sự kiện trung tâm là hình ảnh những người anh hùng (các M’tao) qua các cuộc chiến đấu dũng cảm, với tài năng phi thường của mình, đưa nhân dân đến hình thành những cộng đồng mới, đông đúc, giàu mạnh, vinh quang hơn… Một trong những hình ảnh tiêu biểu ấy là Đăm San, người anh hùng của các buôn làng Tây Nguyên.Có thể nói sử thi Tây Nguyên là một bản anh hùng ca hoành tráng nhất trong giàn hợp xướng của một dân tộc có hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất để sinh tồn và phát triển Điều đặc biệt ở sử thi Tây Nguyên là cách

kể độc đáo Dù văn bản có độ dài hàng trăm, hàng ngàn câu, nhưng vẫn có các cụ già thuộc lòng Họ là những nghệ nhân, là những “kho tàng sống”, góp phần lưu giữ những giá trị tinh thần vô giá của người Tây Nguyên Và đêm đêm bên bếp lửa nhà sàn vẫn trầm ngâm kể cho con cháu nghe, thường phải kể hàng chục đêm mới xong… Có lẽ vì được sáng tác theo một loại văn vần đặc biệt của người Tây Nguyên nên người ta dễ thuộc, dễ nhớ đến như vậy Đấy là biển hiện của một không gian văn hóa đậm đà bản sắ dân tộc của vùng đất Tây Nguyên Mặt khác, cái khung cảnh huyền ảo của màn đêm, của không gian núi rừng như tạo nên một không – thời gian huyền thoại mà cũng rất thực và sống động lạ thường… Nếu ai đã được nghe kể Khan Ê Đê hay hơmon Bana thì hẳn không

Trang 12

quên được cái ấn tượng của những đêm bên bếp lửa bập bùng và bên ché rượu cần giữa nhà rông hay nhà dài, nghệ nhân ngồi giữa kể sử thi và xung quanh con cháu, buôn làng ngồi nghe như nuốt từng lời, như hòa vào cái không gian huyền ảo, lung linh, lặng thầm cuộc sống.Ngoài cách kể trên, còn một cách kể độc đáo hơn Đó là cách người ta nằm kể Mỗi lần như thế, nghệ nhân nằm trên một chiếc ghế chỉ dành cho khách quý và là chỗ ngồi của các nghệ nhân cồng chiêng trong các ngày lễ hội lớn Nhà văn Nguyên Ngọc đã miêu tả: Họ nằm đấy “đầu gối lên một chiếc gối cao, tay gác lên trán, trang nhã và đẹp như một vị tiên” Và có điều rất kì lạ “ông cụ nhắm mắt lại mà kể Vì sao vậy? Chính ở đây chứa đựng một trong những điều bí ẩn tuyệt diệu nhất của sử thi Tây Nguyên…”Như vậy, với những giá trị văn hóa tinh thần vô giá, sử thi Tây Nguyên đã góp phần làm nên diện mạo của các dân tộc giàu bản sắc văn hóa ở một vùng đất huyền thoại và nhiều tiềm năng, tạo nên một không gian văn hóa giàu sắc thái và đậm đà thi vị

***

Đặc Trưng cơ bản của nền văn hóa Tây Nguyên.

3 Phong tục,tập quán

Những tỉnh vùng núi Tây Nguyên Việt Nam có rất đông dân tộc ít người đang sinh sống,

họ ở trong các buôn làng và trong những khu rừng trọc đã được phát hoang, sống sinh hoạt theo từng cộng đồng dân tộc của mình không lẫn lộn với dân tộc khác

Mỗi dân tộc đều có những tập quán, phong tục riêng, nên đối với người Kinh cho đấy

là cách thờ phụng tâm linh thần bí của họ

3.1 Hội nhà mồ

Dân tộc ít người như Gia Rai, Ba Na, sau mỗi lần có người thân trong gia đình qua đời, đều làm mồ mả cho đẹp, sau đó tổ chức ăn mừng nhà mồ Vì vậy ngày lễ không có thời gian mà tùy thuộc vào hoàn cảnh

Nhà mồ Tây Nguyên có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của họ, những gì có

ở nhà mồ không chỉ dành cho người đã chết mà còn là niềm tin cho người đang sống Người Ba-Na, Gia-Rai tin rằng linh hồn người chết sẽ biến hóa những thứ để trong nhà

mồ sẽ có thêm nhiều hơn nữa, như tượng các con vật nuôi, những dao rựa, cung nỏ săn bắn v.v… tức phù hộ cho người sống gặp may mắn khi nuôi súc vật, đi rừng hay săn bắn.Hội mừng nhà mồ là một nghi thức tín ngưỡng độc đáo hấp dẫn được diễn ra trong ba ngày đêm liền, và được chuẩn bị từ mấy tháng trước Tất cả mọi người khi đến dự lễ đều phải biết múa Rông Chiêng, biết đánh cồng chiêng, gõ trống, chơi đàn Tơ rưng

Trang 13

Trong ngày lễ có múa Rông chiêng nên bắt buộc mọi người phải biết múa; theo ý nghĩa Rông chiêng là quanh choé Múa hát chung quanh choé rượu là điệu múa giành cho các

cô gái, diễn tả các động tác làm nương, may vá thêu thùa, và điệu múa khiên của thanh niên trình diễn các động tác săn bắn hay chiến trận Vì vậy Rông chiêng là điệu múa truyền thống trong ngày hội nhà mồ

Từ buổi sáng đầu tiên, đoàn múa Rông chiêng tiến vào nhà mồ trong sự chào đón của mọi người Đi đầu là một chàng trai vạm vỡ, đóng khố tua cườm, thắt lưng dây bạc, đầu cắm lông chim, vừa đi vừa múa, tay gõ trống đeo trước bụng, theo sau có 8 người già cắp ngang cây giáo, cũng vừa đi vừa múa, tiếp đến 6 chàng trai khiêng một cái trống lớn, rồi những người cầm cồng chiêng, chũm chọe, thanh la ăn mặc đẹp biểu diễn những động tác ngộ nghĩnh Cuối cùng đến hai hàng thiếu nữ trong trang phục lễ với điệu múa xoang truyền thống, nhưng được cách điệu rất uyển chuyển và đẹp mắt

Khi đoàn người đi vào khu vực sân diễn của nhà mồ, sau những hồi trống lệnh được đệm bởi những tiếng cồng chiêng trầm hùng, vũ điệu Rông chiêng bắt đầu, cùng động tác múa

là những tiếng hú vang xa, rồi lại chiêng trống rền vang… Cứ như thế, ngày hội như không thể dừng lại

Hội lễ mừng nhà mồ không chỉ có một vài đoàn múa đơn lẻ, thông thường có rất nhiều đoàn từ các buôn làng bên đến góp hội, không những để mua vui mà còn là dịp để thi thố tài năng của nhau

3.2 Phong tục người Bana

- LỄ BỎ MẢ: được người Ba Na tiến hành vào mùa khô, từ tháng Chạp đến tháng Tư năm sau Lễ bỏ mả chứng tỏ người sống đã có thể cắt đứt mọi quan hệ tình thân với người chết sau mấy năm chịu tang, về sau nếu không còn cúng giỗ cũng không ai khiển trách

Trước khi làm lễ, người Ba Na làm một căn nhà mồ mới sau khi dở bỏ cái cũ Mọi người vừa dựng nhà vừa đánh cồng chiêng vui chơi suốt đêm, có khi kéo dài đến mấy ngày Khi làm xong nhà mồ (mả) họ tổ chức lễ bỏ mả, gia đình đem rượu thịt vào nhà mồ để cúng, nhằm mong người chết đừng về quấy rầy người sống

Sau lễ cúng là cuộc rước mô hình nhà mồ, các con rối đẻo bằng gỗ to nhỏ khác nhau, cùng với đoàn múa và giàn cồng chiêng theo sau

Cuộc rước là nghi lễ giải phóng cho người thân Người Ba Na khấn linh hồn người chết xong thì té nước vào nguời thân trong gia đình, để đánh dấu từ thời gian này trở đi, người sống không còn quan hệ với người chết, chồng hay vợ góa có thể đi lấy người khác mà không mang tội

- LỄ CÚNG ĐẤT LÀNG: được tổ chức vào cuối tháng 2 hay đầu tháng 3 ÂL, khi sắp

bước vào vụ sản xuất, nhằm thông báo với thần linh biết công việc dân làng sắp làm trong năm mới và cầu xin thần linh cho mùa màng tươi tốt, mưa gió thuận hòa

Trang 14

- LỄ KHẤN TỈA LÚA: ở Gia Lai, Kontum gọi là lễ Sámãh Zmulba Người Ba Na làm lễ

khấn tỉa lúa ở nhà hay trên nương như hình thức cáo yết với các thần núi, thần nước, công việc tỉa lúa sắp bắt đầu, họ cầu xin thần linh phù hộ cho nương rẫy của mình được xanh tốt, lúa sinh sôi nảy nở, vật nuôi trong nhà thêm đông

Khấn vái xong người Ba Na lấy một ít thóc trộn với máu gà rồi đem đi gieo tỉa, lấy cây chọc vào mảnh đất để vài hạt thóc vào lỗ tượng trưng cho vụ cấy sắp đến Sau nghi thức đến tiệc rượu, ngày hôm sau mới bắt đầu công việc tỉa hạt

- LỄ MỞ CỬA RỪNG: thông thường vào ngày 7/1ÂL, họ dâng lễ cúng bái xin mở cửa

rừng, cầu xin bộ hạ của chúa Sơn Lâm đừng đến giết hại người Ba Na khi đang ở nhà hay đang săn bắt trong rừng

Lễ mở cửa rừng gồm một đôi gà có trống có mái Chủ tế cùng một số trai gái tiến vào đàn Con trai đóng khố mang 3 mũi tên, con gái mặc váy và yếm Sau khi cắt tiết gà đổ xuống đất, họ bắt đầu điệu múa săn gà, phụ nữ đóng vai con mồi, còn thanh niên đóng vai người đi săn, phỏng theo các động tác đi săn mồi và con thú bị dồn đuổi

3.3 Phong tục người Tày ( Thái)

Người Thái Trắng sống không nhiều ở Lâm Đồng (đa số ở Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh) tuy vậy nơi có người Thái sinh sống, họ cũng có những phong tục tập quán của riêng dân tộc mình :

- LỄ NHÓM LỬA: Lễ này ngoài người Thái (có Thái trắng, Thái đen hay còn gọi Tày,

Thổ Đà Bắc) còn của người Mường, họ thờ “thần lửa” nhằm cầu thần linh phù hộ cho gia đình mạnh khỏe, làm ăn hạnh thông, phát đạt

Với người Thái lễ nhóm lửa do một bà cụ già giỏi việc bếp núc nhóm lên, nếu lửa bén nhanh là trong năm gặp may mắn, nếu lửa không cháy, chủ nhà phải mời thầy mo đến cúng tiếp

Còn người Mường trước khi làm lễ, họ lấy một bẹ chuối cắt thành hình ba con cá kẹp vào một cặp nứa buộc lên cột bếp giành cho “ba ông đầu rau” (Thần táo) ăn, và đặt một quả

bí xanh vào cột cái của bếp trước khi nhóm lửa, đồng thời lấy vỏ cây bỏ vào 4 góc bếp, xong mới mời một bà cụ già giỏi việc bếp tới nhóm lửa Nếu lửa bén ngay là may mắn, nếu không phải cúng thần bếp thêm một lần nữa

- LỄ TRỒNG CỘT: vào khoảng tháng 9 ÂL, và cứ đủ một giáp 12 năm mới làm lễ một

lần, với ý nghĩa trồng các cây cột để giữ sự bình yên cho đất đai

11 chiếc cột có hình như dùi trống được đem trồng ở bãi đất bằng, cây cột chính trồng ở giữa, 10 cây cột còn lại trồng chung quanh Một con trâu mập mạp, cùng bộ sừng và đuôi

có cài bông hoa được đem ra tế thần, khi đó thầy mo lo việc cúng tế còn thanh niên nam

nữ từng tốp nhảy múa, đánh cồng, thổi khèn ở quanh 11 cây cột

Trang 15

- LỄ CƠM MỚI: tổ chức từ tháng chạp đến tháng 3 ÂL, người Thái coi “lễ cơm mới”

giống như tết Nguyên Đán của người Kinh Từ sáng sớm, các cô gái mặc quần áo đẹp đi đến bàn thờ tổ tiên xin dự lễ Mọi người trong gia đình làm động tác khênh thóc gạo từ trên gác xuống để các cô đem đi giã gạo, nhuộm màu và nấu cơm, nấu xôi Lễ cơm mới ngoài xôi cúng còn có con cá được gói trong lá chuối với bột gạo bao ngoài có dây buộc chặt

Sau khi bày mâm cúng, thầy mo hay gia chủ làm lễ gọi hồn vía những người đã chết về vui tết với con cháu Trong lễ cơm mới, buôn làng thường tổ chức nhiều trò chơi cổ truyền để mua vui trong ngày lễ

- LỄ CÚNG TRỜI: đây là lễ tạ ơn Giàng đã phù hộ và cầu cho vụ mùa sau sẽ tốt hơn

Đàn cúng được lập giữa trời gồm lúa, ngô, kê, bắp, bầu, bí, gà, heo Trong khi thầy mo cúng trời, trai gái nhảy múa chung quanh đàn đang làm lễ, nhằm mua vui cho các thần linh về hưởng lễ vật

- HỘI HOA BAN: là lễ hội vui xuân phổ biến của người Thái (nhất là ở vùng Sơn La,

Lai Châu…) nhằm ghi nhớ và tưởng niệm mối tình trong trắng của một đôi trai gái đang tuổi yêu đương, gắn với truyền thuyết về sự xuất hiện của cây hoa ê-ban

Đây là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Thái khi xuân về Hội hoa ban gắn với cuộc hát giao duyên trên thuyền, hái hoa của nam nữ thanh niên dân tộc Thái

3.4 Phong tục người Mường

Trước đây người Mường sống nhiều các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An… sau này một số người Mường đã

di dân xuống các tỉnh cao nguyên miền Trung sinh sống

Người Mường cũng có những tập quán :

- Người họ Đinh không ăn thịt chó, vì cho rằng ngày xửa ngày xưa khi bọn giặc đánh vào buôn bản, người làng phải chạy trốn Có một gia đình người cha mãi đi làm rẫy, mẹ đi vào nương hái cây bông vải, chạy trốn giặc mà bỏ quên đứa con trai mới sinh ở nhà, nghĩ rằng nó đã chết vì thiếu sữa Nào ngờ trong nhà có con chó mới đẻ, thấy đứa nhỏ khóc con chó liền đến cho bú Nên đứa nhỏ được sống đến ngày cha mẹ nó trở về Từ đó thế hệ

họ Đinh không đánh, chửi mắng và ăn thịt chó để tạ ơn chúng

- Toàn thể dân Mường đều không ăn thịt rùa, vì rùa là nhân vật thần linh “đẻ đất đẻ nước” còn chỉ họ cách làm nhà: bốn chân là chân cột, mai rùa là mái, bụng là sàn, lỗ đầu và lỗ đuôi là lối cửa tiền cửa hậu lên xuống nhà sàn

3.5 Phong tục người Gia Rai

Trang 16

Người Gia Rai có phong tục thờ cúng vạn vật hữu linh, trong đó thường thờ cúng Thần Nhà (Yang sang), Thần Làng (Yang ala bôn), Thần Nước (Yang ia); Thần Vua (Yang ptao) do Vua Nước (Pơ tao ta), Vua Lửa (Pơ tao put), Vua Gió chuyên cúng trời đất, cầu mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt Khi chết người Gia Rai theo tục tất cả người cùng họ mẹ chôn chung một huyệt, người đàn ông chết phải khiêng về chôn ở huyệt phía

mẹ mình; trong huyệt chung ấy các quan tài được xếp kề sát bên nhau theo chiều ngang rồi chồng lên theo chiều dọc, khi quan tài cao bằng miệng huyệt thì lấy ván kê thêm bốn

bề để chôn tiếp vài ba lớp nữa mới làm lễ “bỏ mả” (Họa lui, Thi nga hay Bô thi)-một nghi thức lớn trong quá trình tang lễ; ngoài ra họ còn tin rằng khi chết các linh hồn biến thành

ma, thậm chí có hiện tượng gán cho người có ma thuật làm hại gọi là ma lai Cưới xin luật tục cấm những người cùng ngành và dòng mẹ lấy nhau, đến tuổi trưởng thành nam

nữ tự do lựa chọn người yêu, trong đó nữ chủ động lựa chọn lấy chồng, khi đã thành vợ chồng thì đàn ông phải sang nhà vợ và không có trường hợp ngược lại Khi sinh đẻ bà mẹ được coi trọng, không làm việc nặng nhọc khi mang thai, kiêng khem nhiều thứ như không ăn thịt mà chỉ ăn rau khi sinh nở

3.6 Những phong tục khác

Người dân tộc miền núi còn mang nặng tính sùng bái thần linh, nên còn nhiều hủ tục chưa xóa bỏ được, nên khi chúng ta nghe nói đến những hủ tục này đều phải rùng mình rợn tóc :

- Ma lai rút ruột: khi một người bị bệnh ngày một gầy yếu, gia đình cho rằng bệnh nhân

bị ma lai rút ruột

Ma lai còn gọi là Ma Rừng, ban ngày là người nhưng ban đêm chỉ có cái đầu lăn đi tìm phân người để ăn Ai đi tiêu không đề phòng, bị ma lai ăn phân tức người đó bị ma lai rút ruột, lâu ngày cơ thể không còn gì là phải chết Nếu biết nhà con ma lai mà đến tạ lễ thì

sẽ sống

Hiện tượng này trước đây xuất hiện ở tộc người Ê Đê, Mường, H’Mông, ai có cổ cao ba ngấn xem người đó là ma lai, ai sinh con ra có cổ ba ngấn liền đem vào rừng sâu mà bỏ.Sau này có người nói không phải do ma lai rút ruột, mà do các thầy mo dùng thuốc thư (bùa ngải) trấn yểm mà vô tình dẫm qua, hay chính thầy mo thư yểm

- Sinh con đôi: ở thành phố việc sinh đôi hay sinh ba là chuyện thông thường (có người

sinh tư…) Nhưng với người H’Mông việc sinh đôi thuộc vào thế giới thần bí, những đứa trẻ này bị xem là ma rừng, nếu cha mẹ chúng không đem vào rừng sâu để bỏ, thì cả gia đình phải vào rừng mà sống với ma rừng, hay sống trong nhà không được đi ra ngoài, dù người cha là lao động chính trong nhà, không được đi làm thuê, không được uống chung dòng suối với bản làng, cho đến khi những đứa trẻ này lớn lên cổ không cao ba ngấn mới được sống chung với bản làng

Trang 17

- Chôn con theo mẹ : nếu đứa trẻ còn bú sữa mẹ, nhưng chẳng may người mẹ qua đời, còn có tục chôn con theo mẹ.

4 Nghệ thuật Tây Nguyên

4.1 Văn hóa cồng chiêng

* Tây Nguyên - "cái nôi" của cồng chiêng Đông-Nam Á

Trước những ý kiến băn khoăn về "căn nguyên", "cội rễ" của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, nhạc sĩ Tô Vũ - một trong những chuyên gia ở Việt Nam có thâm niên cao nhất

về lĩnh vực này - đã cho rằng, căn cứ vào nhiều yếu tố, có thể khẳng định rằng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á

Nghiên cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú

vị Về cội nguồn, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá - trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo "quy trình tiến hóa" cồng đá, chiêng đá, chiêng tre, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng

Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử hơn 4.000 năm

Một "vua chiêng" ở Kông Chro,Gia Lai, vẫn lưu giữ những bộ chiêng quý do tổ tiên truyền lại

Về lối đánh, "rất nguyên thủy", người Tây Nguyên vẫn "mỗi người một cái", chưa kết

thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc ở Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là "vật tổ"); hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn)

Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai của nó: Dùng

để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên qua các lễ thổi tai, bỏ mả v.v , nghĩa

là vẫn thuần chức năng phục vụ đời sống con người Trong khi ở các vùng Đông -Nam Á khác, cồng chiêng đã "tiến hóa" đến mức thành phương tiện biểu diễn cung đình, mang chức năng giải trí

Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự biến chuyển tính năng nhạc khí (ở thời bấy giờ) diễn ra trong hàng mấy trăm năm Và có thể khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng

Trang 18

(mà những gì quý giá mới được khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất 2.000 năm.

Trở lại vấn đề lịch sử Năm 43 sau Công nguyên, khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, tướng Mã Viện của Nam Hán đã cho tịch thu tất cả đồ đồng (bấy giờ chỉ

có cồng chiêng, được coi là vật thiêng của người Việt) đem đúc trụ chôn ở vùng biên giới, nhằm tiêu diệt ý chí của người Việt

Đây là cơ sở giải thích việc thất tán mạnh mẽ loại nhạc khí này trong quá khứ đời sống tinh thần người Việt, song cũng có thể hiểu rằng tổ tiên người Việt đã đem cất giấu

ở vùng núi (bắt đầu sự "giao thoa" văn hóa cồng chiêng với các tộc người khác)

Đồng thời, dựa vào tài liệu khảo cổ về nguồn gốc tộc người và ngữ hệ ở Việt Nam, vốn từ họ Nam Á và Nam Đảo (thậm chí gần đây còn có luận điểm gây bất ngờ rằng trống đồng Việt có nguồn gốc từ Trường Sơn), có thể khẳng định rằng cộng đồng Việt, Tày, các tộc người Tây Nguyên đã từng ở với nhau rất lâu đời, vì vậy sự "giao thoa" văn hóa cồng chiêng là hiển nhiên

Suốt lịch sử văn hóa của mình, người Tây Nguyên không chế tác mà mua cồng chiêng từ người Kinh vùng Quảng Nam, rồi về "nắn" lại thanh âm theo cách của mình -

đó là những hoạt động "giao thương" theo lối hàng đổi hàng có từ hàng nghìn năm nay Ngay cả "chiêng Lào" mà người Tây Nguyên sở hữu cũng không phải được chế tác từ Lào mà chỉ là hàng hóa trao đổi, mua bán từ nơi khác về Tây Nguyên Từ đó dẫn đến

quan điểm nhất quán rằng cồng chiêng Tây Nguyên cũng chính là cồng chiêng Việt

* Những giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Cơ hội và thách thức

Sự kiện Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận

là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại ngày 25-12, là một trong những sự kiện văn hóa nổi bật nhất của năm 2005

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên chứa đựng những giá trị nổi bật ngang tầm kiệt tác sáng tạo của nhân loại

Cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên

Trang 19

mặt chiêng và trong không gian Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng Do vậy, kỹ thuật

gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc

chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học) Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên

Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:

Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất Dàn 2 chiêng bằng gọi là

chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai,

Gié-Triêng cũng thuộc loại này

Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc Mnông

Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng)

Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp

Hầu hết các nghệ nhân đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả hai tộc người Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả chế độ mẫu hệ lẫn chế độ phụ hệ Riêng ở ngành Bih tộc người Êđê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng, ở người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2 dàn: Dàn chiêng nam, dàn chiêng nữ Ngày nay, đã có dàn chiêng hỗn hợp các nghệ nhân

cả nam lẫn nữ Việc nữ giới đánh chiêng cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của

họ trong tâm thức các tộc người này

Ngoài ra, ở nhiều tộc người như Churu, Xơđăng, Mnông và đặc biệt tộc người Giarai, Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng Điều đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc trình diễn giải trí) Nói cách khác, sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là sinh hoạt cộng đồng, cuốn hút tất cả các thành viên tham gia Đây là bằng

Trang 20

chứng chứng tỏ lịch sử lâu đời của cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.

Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức và được coi như một thành tố hữu cơ của lễ thức đó Như thế, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều công đoạn có nhạc chiêng riêng: Người ngành Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ

Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã

Có thể nói, văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện tài năng sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại Cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên rất đa dạng, nhưng thống nhất Đây chính là đặc điểm rất cơ bản của vùng văn hoá Tây Nguyên và cũng là đặc điểm của văn hoá Việt Nam

Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên bắt rễ từ truyền thống văn hoá và truyền thống lịch sử của cộng đồng có liên quan

Từ cơ tầng văn hoá Đông Nam Á thời tiền sử, vào khoảng cuối nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, trên đất nước Việt Nam ngày nay đã hình thành và phát triển 3 trung tâm văn hoá lớn thuộc thời đại đồ đồng (Bronze Age): Văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc; văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung; văn hoá Đồng Nai ở Nam Bộ Các cộng đồng dân

cư của 3 trung tâm này có những mối giao lưu văn hóa thường xuyên và nhiều chiều với nhau Cả 3 trung tâm đều có kỹ nghệ đúc đồng đặc biệt phát triển, sáng tạo nên những công cụ, vũ khí, đồ trang sức, đặc

biệt là các loại nhạc cụ bằng đồng rất

độc đáo Các hiện vật khảo cổ của

văn hoá Đông Sơn như trống đồng,

cây đèn Lạch Trường có những hình

chạm khắc cách chơi các loại nhạc cụ

đó

Khu vực Tây Nguyên hiện nay

nằm trong các tuyến văn hoá truyền

thống giao thoa và phát triển của 3

Trang 21

trung tâm đó, đồng thời cũng nằm trong bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á Các nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ khảo cổ Lung Leng (tỉnh Kon Tum), cũng như ở các di chỉ khảo cổ khác tại Tây Nguyên nhiều hiện vật đồ đồng, đồ sắt, nhất là khuôn đúc rìu đồng (Nguyễn Khắc Sử, Thông báo khảo cổ học, 2004) Điều đó có nghĩa là, cư dân cổ xưa ở Tây Nguyên đã từng có một kỹ nghệ đúc đồng, một nền văn hoá thời kim khí.

Điều đáng nói là tất cả các nhạc cụ trên, nhất là cồng chiêng, đều tiếp tục được sử dụng và tồn tại đến ngày nay như một thành tố hữu cơ trong nền âm nhạc của các dân tộc Việt Nam, dù là họ sinh sống ở phía Bắc hay ở duyên hải miền Trung

Cồng chiêng đóng vai trò là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hoá dân tộc của cộng đồng các dân tộc ít người ở Tây Nguyên

Di sản văn hoá của các thế hệ tộc người ở Tây Nguyên gồm: Kho tàng ngữ văn dân gian, nghệ thuật điêu khắc dân gian, tri thức dân gian, nhưng nổi trội nhất là sử thi và cồng chiêng Người dân nơi đây có cồng chiêng để ứng xử với thiên nhiên, cầu xin, giãi bày với thần linh, tổ tiên, đối thoại với cộng đồng và với chính mình Khó có nhạc khí nào, sinh hoạt văn hoá nào lại có nhiều vai trò đến vậy Với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc cộng đồng là cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng

Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có một cách tổ chức dàn cồng chiêng khác nhau, cách chơi cũng khác nhau Có ít nhất 3 phong cách âm nhạc lớn của cồng chiêng Tây Nguyên: Cồng chiêng Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông cường độ không lớn mặc dù tốc độ khá nhanh; cồng chiêng Bana - Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hùng tráng, một

bè giai điệu thánh thót của chiêng không có núm với âm sắc đanh gọn, lảnh lót)

Bản sắc văn hoá các dân tộc ít người Tây Nguyên thể hiện đậm đà nhất trong cồng chiêng

và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật tạo hình, múa dân gian

và ẩm thực dân gian đều thể hiện, gắn bó mật thiết với cồng chiêng (các tượng tròn ở nhà mồ của các dân tộc Tây Nguyên chỉ trở nên đẹp hơn với ngày lễ bỏ mả trong một không gian huyền ảo đầy những tiếng cồng chiêng sâu lắng)

Với các dân tộc Tây Nguyên, phương tiện để nối kết cộng đồng cũng lại là cồng chiêng Tiếng cồng chiêng vang lên để nối kết cá thể với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác của cùng một dân tộc Điều đáng lưu ý là Tây Nguyên có nhiều dân tộc, nhưng các dân tộc luôn hoà hợp lẫn nhau trong văn hoá cồng chiêng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình, không có hiện tượng loại trừ hay đồng hoá văn hoá của nhau trong sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Các dân tộc đều có thể đến với nhau khi sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người, như sự đồng thanh tương ứng khiến họ tìm đến với nhau

Trang 22

Cư dân các dân tộc ít người ở Tây Nguyên đã đạt đến những hiểu biết sâu và có các kỹ thuật điêu luyện trong việc sử dụng cồng chiêng trong văn hoá và âm nhạc của mình

Điều này thể hiện ở việc chỉnh âm chiêng mua về với tư cách là một hàng hoá để

nó trở thành một nhạc cụ trong dàn cồng chiêng của dân tộc; thể hiện ở việc lựa chọn các biên chế dàn chiêng, ở việc quy định giới tính, tư thế và kỹ xảo diễn tấu Ngoài ra, họ còn sáng tác nhiều bản nhạc chiêng cho những công dụng khác nhau

Cồng chiêng Tây Nguyên có giá trị như một bằng chứng độc đáo của đặc trưng truyền thống văn hoá

Cồng chiêng có mặt trong nền văn hoá của nhiều nước trên thế giới (nhất là châu Á) Tuy nhiên, dạng cồng chiêng được tổ chức thành dàn để diễn tấu độc lập hoặc kết hợp với các nhạc cụ khác thì chủ yếu thấy ở các nước Đông Nam Á Ở Việt Nam, hầu như tất

cả các tộc người đều sử dụng cồng chiêng Nhưng các dân tộc thường chỉ dùng 1-2 cồng phối hợp với một trống dùng trong nghi lễ hoặc giữ nhịp cho múa Người Mường ở các tỉnh miền núi phía Bắc có dàn cồng sắc bùa, bao gồm một biên chế 8-12 chiếc cồng núm Biên chế chiêng thành dàn là đặc trưng trong văn hoá của các tộc người Tây Nguyên Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên có nhiều điểm tương đồng với cồng chiêng Đông Nam Á Tuy vậy, nó có những nét khác biệt: Văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là văn hoá và âm nhạc dân gian Nó là sở hữu cộng đồng, là chuẩn mực văn hoá cho thành viên cộng đồng thực hiện Ở những tộc người mà cồng chiêng dành riêng cho nam giới thì mọi chàng trai tộc người đó phải biết đánh chiêng Ở những tộc người, nơi cồng chiêng do nữ giới đảm nhiệm thì mọi cô gái phải biết thực hiện nhiệm vụ này (ở nhóm Noong dân tộc Mnông thì đó là nhiệm vụ của cả nam lẫn nữ)

Là sở hữu của cộng đồng, cồng chiêng Tây Nguyên có vai trò như một biểu tượng cho năng lực sáng tạo văn hoá, âm nhạc của người dân trong không gian văn hoá Tây Nguyên Cho đến nay, cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá gắn bó với cồng chiêng vẫn tồn tại trong từng gia đình, p’lei, bon, buôn Trong khi ở một số nước Đông Nam Á, cồng chiêng hầu như đã trở thành hoạt động âm nhạc có tính chuyên nghiệp như các dàn

Gamelan của Inđônêxia, dàn Khong wong trong Mahori của Thái Lan, trong Pin Peat của Campuchia Đặc điểm này cho thấy cồng chiêng Tây Nguyên có thể còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa hơn

4.2 Âm nhạc Tây Nguyên

Nếu coi văn hóa vật chất của các dân cư Tây Nguyên là một thực tế của nền văn hóa lúa khô, nương rẫy cao nguyên, thì văn hóa tinh thần nói chung và âm nhạc nói riêng đang hoạt động một cách tích cực trong thực tế ấy Âm nhạc như một yếu tố cấu thành, không thể thiếu được của cuộc sống trong suốt tiến trình lịch sử Đặc biệt trong xã hội đương

Trang 23

đại, nó vẫn là một nhu cầu như cơm ăn, nước uống của con người vậy Có thể đưa ra một nhận xét rằng:

Nhân loại sắp bước sang thế kỷ 21, nhưng các dân cư bản địa Tây Nguyên vẫn còn bảo lưu được một kho tàng âm nhạc (cả nhạc hát lẫn nhạc đàn) rất phong phú và nguyên sơ Các nhà nghiên cứu đã xếp âm nhạc của họ vào loại âm nhạc thời khuyết sử

ở lĩnh vực nhạc khí: Nghiên cứu kỹ chúng ta thấy chúng đã được con người sáng tạo nên theo tiến trình tiến hóa của lịch sử con người Nhạc khí Tây Nguyên thuộc nhiều loại, nhiều nhóm và được chế tác bằng nhiều chất liệu khác nhau Loại đầu tiên được chế tác hoàn toàn bằng chất liệu thiên nhiên như: Tre, nứa, gỗ, đá, vỏ bầu, dây rừng, sừng trâu, bò ; loại thứ hai được chế tác kết hợp giữa chất liệu thiên nhiên với kim loại; loại thứ ba

là hoàn toàn bằng kim loại như: đồng, gang, chì, sắt

Các loại nhạc khí được chế tác bằng chất liệu của thiên nhiên chắc chắn đã có lịch sử lâu đời, bởi khi con người còn sống phụ thuộc vào thiên nhiên hoang sơ, các nhạc khí thô sơ

ấy cũng có thể lấy từ thiên nhiên Những nhạc khí này bắt nguồn từ lao động nguyên thủy như: săn bắt, đào củ rừng, mò tôm cá ở sông suối nói cách khác, do nhu cầu của cuộc sống phải lao động để sinh tồn, đã ra đời một số nhạc cụ để phục vụ lao động Những dụng cụ ấy dần dần trở thành nhạc khí, ví dụ: Khi đi gieo hạt, hạt giống được bỏ vào ống nứa khi hạt giống hết người ta dốc ngược ống đổ xuống đất để các hạt còn sót lại rơi ra Động tác tự nhiên này tạo nên một âm thanh ấm áp và dần dần trở thành nhạc khí như: Goong tốc lốc, Goong teng leng; nhiều loại nhạc khí khác như: T'rưng, Kông Pút cũng nhờ vào kinh nghiệm tương tự mà ra đời Khi đi săn thú rừng, người thợ săn cần những tiếng động lạ để làm tín hiệu thúc giục chó săn tấn công vào đối phương, đồng bào đã dùng sừng bò, sừng dê rừng để làm kèn phục vụ cho việc săn bắt Ngày nay gọi là kèn sừng bò, kèn kêu thú Đặc biệt, hiện nay đàn Khinh Khung là một thứ nhạc cụ cổ sơ nhất còn bảo lưu được đầy đủ những yếu tố của nhạc rừng Đàn Khing Khung ban đầu là những mảnh đá hay ống tre, nứa, lò ô treo lơ lửng trên nương rẫy, bên bờ suối để đuổi chim thú phá hoại mùa màng, nhờ vào sức nước Những âm thanh phát ra từ những vật treo lơ lửng nói trên là cha đẻ của đàn Khing Khung, mà các nhà nghiên cứu âm nhạc đã gọi là "Dàn nhạc nước" Chính đàn Khing Khung là cơ sở cho việc ra đời đàn "Thạch cầm" (đàn đá) và được các nhà nghiên cứu nhạc học xếp vào loại các nhạc cụ thời khuyết

sử Nó là khởi sự của loài người khi biết biểu lộ tình cảm bằng âm thanh (âm nhạc)

Các loại nhạc khí có chất liệu thiên nhiên có nhiều loại và nhiều nhóm khác nhau, căn cứ vào chất lượng chế tác, màu âm, hình thức và phương pháp diễn tấu có thể phân chia các loại nhạc khí Tây Nguyên được chế tác bằng chất liệu thiên nhiên làm các nhóm sau:

1 Nhóm nhạc khí gõ: Goong teng leng, Goong tốc lốc, Tol Alao, T’rưng, Khing Khung,

Trống (đùng đong, đăng )

2 Nhóm nhạc khí thổi hơi: Kèn lá, Kèn kêu thú, Sáo Ala, Kèn Tơ nốt, Kèn Tơdiép, Kèn

Alát, Klông Pút, Sáo Hol, Đinh Pi, Đinh Năm, Đinh Tút, Kèn Avơng, Sáo Pi, Tơ Pơl

3 Nhóm nhạc khí dây: Goong Đe

Trang 24

Các nhạc khí được chế tác kết hợp giữa chất liệu của thiên nhiên với kim loại như sắt, đồng gồm có: Brõh, Kơ Ni, Tinh ninh (goong).

Nói đến nhạc khí có chất liệu hoàn toàn bằng kim loại, có lẽ không ở đâu trên đất nước ta

có nhiều và đa dạng như ở Tây Nguyên Các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk là những vùng văn hóa còn lưu lại một kho tàng nhạc khí được chế tác hoàn toàn bằng kim loại rất

đồ sộ, đó là cồng chiêng Bên cạnh cồng chiêng còn có lục lạc, chập chõa (Rang rai, Ha kam) Mỗi vùng mỗi dân tộc đều có các loại nhạc chiêng của dân tộc mình và đặc biệt khác nhau ở biên chế, phương pháp, mục đích và phạm vi sử dụng Đó là các bộ chiêng: T'Rum, M'Nhum, So, Avơng, L Náring, Vang, Vâm, Hơđứk, Kaná, Lào, Mong meng, Tuk, K'Đo, Sa Kho tàng nhạc khí nói trên đã ra đời và tồn tại vượt xa điều kiện của cơ

sử kinh tế xã hội đương thời Ngoài chức năng là nhạc khí, cồng chiêng còn biểu hiện sự giàu có và niềm tự hào của mỗi gia đình và cộng đồng Bởi âm thanh của chúng không đơn thuần chỉ là tín hiệu âm nhạc mà còn là "Ngôn ngữ" của con người dùng để giao tiếp với thế giới siêu nhiên Thực tế cho thấy trong xã hội đương đại, các dân tộc Tây Nguyên thông qua nghệ thuật sử dụng cồng chiêng, qua độ vang tiết tấu và âm sắc của từng loại

mà mọi người thêm hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết thương yêu nhau, cùng vượt qua những thử thách gian nan Cồng chiêng biểu hiện niềm vui, nỗi buồn, lòng yêu thương, căm giận, tinh thần đoàn kết, bất khuất kiên cường và thượng võ - Đồng thời còn biểu hiện cho sự giàu có, sự hùng mạnh và chiến thắng của các dân tộc Tây Nguyên

ở lĩnh vực nhạc hát (dân ca) cũng đã thể hiện khá rõ nét sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật với cuộc sống, trải qua nhiều biến cố dồn dập của lịch sử nhưng nhiều loại dân ca vẫn ra đời và đi theo con người từ thế hệ này sang thế hệ khác, mặc dù lúc ấy đồng bào chưa có chữ để ghi chép lại thành văn Cũng như văn học dân gian, dân ca đã mang theo trong hành trang giữa sự chuyển giao các thế hệ bằng hình thức truyền miệng, một nhà nghiên cứu âm nhạc Tây Nguyên đã nhận xét rằng: "Dân ca của các dân tộc Tây Nguyên

là những điệu hát huyền thoại được kết dệt từ ngàn xưa và lưu truyền từ đời này sang đời khác Nó mô phỏng tiếng vang vọng của núi rừng, tiếng gió lách qua chòm lá, tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng thác đổ ào ào Vì vậy, âm điệu của những bài ca nghe thì thầm, nhè nhẹ như gió thoảng, lá rơi, như tiếng thì thầm của tâm hồn con người trên miền cao nguyên huyền thoại"

Nếu xét về thang âm, điệu thức thì dân ca Tây Nguyên có đủ các thể từ thang 3 bậc âm đến 4, 5, 6 và 7 bậc âm Tuy nhiên dân ca Tây Nguyên chủ yếu dùng điệu thức 5 bậc âm (có hoặc không có bản âm tùy theo từng dân tộc)

Nếu xét về yếu tố nội dung trong dân ca của các dân tộc Jarai, Bahnar ta thấy mỗi bài hát

là một trang sử sinh động ghi lại những tư tưởng, tình cảm của con người qua nhiều thế

hệ - khi đánh giá về giá trị thể loại này, Lênin đã cho đó là "Một tài liệu nghiên cứu rất hay về nguyện vọng và ý muốn của nhân dân Đó là một sáng tạo thực sự của nhân dân,

sự sáng tạo ấy là rất quan trọng, rất cần thiết cho chúng ta nghiên cứu tâm lý nhân dân ngày nay" (Lênin nói về thơ ca)

Trang 25

Nội dung dân ca chứa đựng rất nhiều yếu tố của cuộc sống đời thường như tình yêu đôi lứa, ca ngợi buôn làng, ca ngợi những chàng trai anh dũng, có sức khỏe phi thường chiến đấu chống lại cái ác để bảo vệ buôn làng, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp Có bài còn dùng

để khẩn cầu các thần linh làm cho mưa gió thuận hòa, mùa màng bội thu, con người thoát khỏi bệnh dịch Nội dung nói trên biểu hiện qua nhiều thể loại dân ca lao động, dân ca phong tục tập quán, dân ca nghi lễ tín ngưỡng, v.v và v.v

Trong dân ca phần giai điệu, làn điệu, nét nhạc hoặc giọng cũng giữ một vai trò quan trọng - Nó thể hiện tình cảm của con người mà ngày xưa đã được chia ra làm 7 thứ tình cảm: vui mừng, tức giận, buồn rầu, thỏa thích, thương yêu, căm ghét và ước muốn

Dân ca Tây Nguyên có hai loại:

1 Loại đơn giản mang tính chất hát như nói, ngân nga hoặc giai điệu tiến hành chỉ có 2 hoặc 3 âm Loại âm này thường gặp ở những bài ca rất cổ

2 Loại phức tạp hơn, nó không còn mang tính sơ lược như trên mà đạt tới trình độ khá cao Hình tượng âm nhạc, các quảng âm đã phong phú, đa dạng song vẫn giữ được mối quan hệ chặt chẽ, tính tương quan, sự hài hòa giữa lời ca và âm nhạc Chắc rằng loại thứ hai đã ra đời sau và phát huy tính kế thừa của loại dân ca đơn giản ban đầu Đa số những bài dân ca trong cả hai nhóm trên đều sử dụng nhịp 2/4; 2/2; 4/4 cho đến những nhịp phức tạp hơn như 3/4; 3/8

Dân ca Tây Nguyên cũng có nhiều hình thức như: hát đơn, hát tập thể, hát kể chuyện trường ca (Khan của người Ê-Đê, Hơ-ri Jơrai, Hơ-mon Bahnar ), hát múa, hát đợi chờ, hát giao duyên (đối đáp), hát ru, hát đồng giao (hát trò chơi con trẻ), v.v

Như vậy các loại nhạc khí và dân ca nói trên có thể đại diện cho các tầng văn hóa Mỗi tầng văn hóa ấy chứng minh cho sự tiến hóa của con người nơi đây Có điều đáng lưu ý là các tầng văn hóa mới lại không làm lấp đi tầng văn hóa cũ - Tây Nguyên đương đại vẫn còn nguyên vẹn cả các tầng văn hóa xa xưa mà nhìn vào các nhạc cụ và những bài ca chúng ta có thể đoán tuổi của chúng, ít nhất cũng cách thời đại chúng ta khoảng 3-4 nghìn năm như: Đàn đá (Thạch cầm), Goong teng leng, Goong tốc lốc, Dinh tút, Cồng chiêng sự hiện diện của kho tàng âm nhạc nói riêng và văn hóa tinh thần nói chung trong đời sống các cư dân bản địa tây Nguyên trong xã hội đương đại giữa sự bùng nổ thông tin và thời đại tin học phát triển là điều kiện chúng ta không khỏi quan tâm Mặt khác, văn hóa ngoại lai vẫn như những đợt sóng vỗ vào bến bờ văn hóa các dân tộc chúng

ta Đặc biệt trong cơ chế thị trường, các tầng văn hóa cũ rất dễ bị lu mờ bởi sức mạnh và đặc thù cũng như phương tiện phổ cập hiện đại của nền văn hóa mới Nhiều lúc văn hóa truyền thống bị tấn công chao đảo nhưng nó vẫn còn đó, rất riêng, rất bản sắc mà không

dễ gì có thể hòa tan Điều ấy chứng tỏ sự trường cửu của nghệ thuật dân gian Tây

Nguyên Âm nhạc Tây Nguyên đương đại mà vẫn hiện rõ quá khứ xa xưa Đó là một tài sản vô cùng quí giá mà các thế hệ chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn Chắc chắn với chính sách và hướng đi đúng của Đảng và Nhà nước ta, âm nhạc Tây Nguyên đã và sẽ

Trang 26

góp phần quan trọng làm phong phú thêm kho tàng âm nhạc Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

4.3 Điệu múa đặc trưng của Tây Nguyên

Vũ điệu Xoang của người Ba Na

Trong kho tàng sử thi Tây Nguyên, vũ điệu Xoang của người Ba Na đang được bảo tồn và lưu giữ, đáp ứng tốt việc khai thác và phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hóa truyền thống

Trong khuôn khổ liên hoan ảnh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ 17 được tổ chức tại Kon Tum vừa qua, chúng tôi được tỉnh bạn “đãi khách” bằng vũ điệu Xoang của người Ba Na ở làng Kon Jơ Ry (xã Đăk Rơ Wa)

Chiều Tây Nguyên không nắng, không gió, chỉ có những cơn mưa giông ầm ầm đổ xuống bên mái nhà Rông truyền thống của người Ba Na Những cơn mưa không dứt nhưng cũng không ngăn được ngọn lửa bập bàng cháy mãi bên điệu Xoang huyền thoại Theo già làng A Mit, Xoang là cách gọi những hình thức múa phổ cập, tập thể có từ lâu đời của người Ba Na Vũ điệu Xoang mang tính cộng đồng, ai cũng có thể tham gia trong những dịp lễ hội Những người có mặt trong đội hình Xoang thường chuyển động theo những đường cong uốn lượn, di chuyển bằng những bước đi ngắn, nhịp nhàng trong đội hình đồng điệu, phối hợp giữa co và duỗi chân, tay, nhún nhẩy đung đưa thân mình Phong thái chung của Xoang là êm dịu, nhẹ nhàng, mức độ nồng nhiệt vừa phải

Trong múa Xoang truyền thống của người Ba Na không thể thiếu những chiếc trống Chơ gút Mặt trống được làm bằng da dê hoặc da bò Trống không đánh bằng dùi, mà vỗ bằng tay, do một người mang trống trước ngực dẫn đầu (chỉ huy) dàn cồng chiêng, âm thanh của nó rộn rã, đầm ấm Đánh trống Chơ gút là cả một nghệ thuật vì trống chỉ huy cả đội hình cồng chiêng, các cô gái nhẹ nhàng múa Xoang theo tiếng gọi rộn rã của trống và những bước di chuyển nhịp nhàng cùng nụ cười giao cảm

Trong tiếng cồng chiêng sống động, những điệu múa Xoang nhịp nhàng, uyển chuyển của các chàng trai, cô gái đã cuốn hút mọi người cùng vào vòng Xoang Đội hình múa Xoang của người Ba Na thường đi theo vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ, quay tròn theo cây nêu ngoài sân hoặc khu vực trước nhà Rông Đội hình Xoang tiến hành trong khi đang thực hiện những nghi lễ của lễ hội thì gọi là Xoang nghi thức - những vũ điệu có nội dung nhất định đối với từng loại lễ hội Và bên cạnh đội hình Xoang nghi thức là Xoang tự do, với sự tham gia tùy hứng của các thành viên khác trong cộng đồng

Trang 27

Theo già làng A Mít, về cơ bản, Xoang tự do cũng giống Xoang nghi thức ở nhịp điệu, động thái, chỉ khác ở chỗ người tham dự có thể tự do bộc lộ tình cảm của mình trong vũ điệu bằng kỹ thuật cá nhân, tùy hứng, không phụ thuộc nhiều vào đội hình múa nói

chung Xoang tự do thường bắt đầu ở cao trào của lễ hội, khi mà những nghi thức

(thường là cúng tế, tạ ơn thần linh) đã thực hiện xong, khi mà men rượu cần cùng với tiếng cồng chiêng ngấm vào trong cái bụng và cái đầu của tất cả mọi người trong cộng đồng tham gia lễ hội Lúc này, người múa nam thực hiện những động tác vận động khỏe, tạo hình độc đáo, thi thoảng có sự thay đổi đột ngột về tốc độ và cường độ Tuy thế, người múa nữ vẫn thực hiện những động tác mượt mà, trau chuốt đến từng chi tiết, trang điểm bằng những tuyến lượn mềm mại

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Đỗ Ngọc Thạch, đối với người Ba Na, tùy theo những lễ hội có tính chất khác nhau, vũ điệu Xoang có những biến đổi về đội hình, nhịp điệu, tiết tấu… cho phù hợp Ông cho biết, Xoang Samơk là vũ điệu trong lễ Samơk (lễ ăn lúa mới) vào dịp những vạt lúa trên nương bắt đầu chín tới, lễ Samơk với những điệu Xoang Samơk sôi nổi, đầy hứng khởi làm rộn rã buôn làng suốt 3 ngày liền Khi kết thúc lễ Samơk, người ta tiến hành điệu Xoang vòng tròn kéo dài thâu đêm suốt sáng ngay trong nhà Rông hoặc dưới sân trước cửa nhà Rông để tất cả thành viên cùng tham gia Xoang Khi tiến hành lễ Bơ-thi (lễ bỏ mả), vũ điệu Xoang A tâu chậm rãi, u buồn Khi tiến hành

lễ đâm trâu, Xoang Khiêl và Long Đeh là vũ điệu dành cho các chiến binh thể hiện sức mạnh cộng đồng Vũ điệu Xoang Tơnơl hay Tap Sơgơr (điệu vỗ trống) lại chỉ thực hiện khi nào cộng đồng Pơlêi làm lễ cúng sân mới trên mảnh đất cư trú mới…

Bà Lê Thị Kim Đơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum cho biết, Kon Tum là vùng đất đậm đặc về văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú, độc đáo mang bản sắc đặc thù, thể hiện

ở các loại hình văn hóa, trong đó có vũ điệu Xoang của người Ba Na đang được duy trì

và bảo lưu hiệu quả, đáp ứng tốt việc khai thác, phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên

4.4 Những giai điệu đặc trưng của Tây Nguyên

Dân ca Tây nguyên đã có từ lâu đời trên mãnh đất Tây nguyên bao la giàu đẹp Về dân

ca Tây nguyên, chúng ta thường được nghe những lời ca, tiếng đàn trong thang âm ngũ cung:

Rất nhiều bài hát viết về Tây nguyên của các nhạc sĩ trong và ngoài tỉnh như Tây nguyên bất khuất của Văn Ký, Hát mừng anh hùng Núp của Trần Quý, Em là Hoa Pơ lang của

Đức Minh… đều dựa trên thang âm ngũ cung này Thực ra, thang âm trên chỉ thuộc về dân ca của một số dân tộc thiểu số cư trú lâu đời ở Tây nguyên mà đông nhất là Ja rai và

Ba na

Trang 28

Mỗi dân tộc thiểu số ở Tây nguyên đều có những thang âm tiêu biểu cho dân nhạc của mình, chúng ta có thể điểm sơ qua một vài nét cơ bản của các dân tộc Ê đê, Ba na, Ja rai.

* Dân ca Ja rai

Giai điệu của dân ca Ja rai thường nồng nàn, mạnh mẽ, sâu đậm, thiết tha, vui buồn tột cùng, dễ đi sâu vào lòng người, thường được tiến hành theo quãng 5 đúng đi xuống liền bậc (Sol-Fa-Mi-Do) Sự tiến hành của các giai điệu có thể thay đổi nhưng tiết tấu thì ít khi

thay đổi Thí dụ bài Lên nương, dân ca Ja rai:

Hay như bài Bơ hơ chim:

Dân ca Ja rai có các thể loại:

Hát nói gọi là Knhă

Hát có nhịp điệu gọi là adoh

Hát giáo duyên gọi là nhik

Hát kể trường ca gọi là hri

* Dân ca Ba na

Dân ca Ba na có tính chất thiết tha, nồng nàn nhưng không bước đến tột cùng của tình cảm do dùng nhiều quãng 4 ( Si-Mi hay Mi-Si) Giai điệu Ba na có tính bình ổn, ít có đột biến, thường là những khúc nhạc ngắn, nhịp điệu đơn giản Dân ca Ba na cũng đem cảm giác lắng dịu, êm đềm

Ngày đăng: 22/05/2015, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Mai khôi, “các món ăn miền Bắc”, Văn hóa ẩm thực Việt Nam, Hà Nội: nhà xuất bản Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: các món ăn miền Bắc
Tác giả: Mai khôi
Nhà XB: nhà xuất bản Thanh Niên
[3]. Mai khôi, “các món ăn miền Bắc”, Văn hóa ẩm thực Việt Nam, Hà Nội: nhà xuất bản Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: các món ăn miền Bắc
Tác giả: Mai khôi
Nhà XB: nhà xuất bản Thanh Niên
[5].TÀI LIỆU INTERNET : www.amthuc365.vn; yume.vn/.../van-hoa-am-thuc- tay-nguyen-ruou-ghe-ga-nuong Link
[1]. Lò Giàng Pháo(1997) Tìm hiểu văn hóa vùng dân tộc thiểu số, Hà Nội, NXB Văn hó dân tộc Khác
[4] Ngô Đức Thịnh (chủ biên 1992), Văn hóa dân gian Ê đê, Hà Nội: nhà xuất bản Thanh Niên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình nam nữ và bộ phận sinh dục phóng đại được tìm thấy trên tượng đá ở nhà mồ tây  nguyên - Tiểu luận Văn hóa tây nguyên
Hình nam nữ và bộ phận sinh dục phóng đại được tìm thấy trên tượng đá ở nhà mồ tây nguyên (Trang 33)
Hình thành nên cộng đồng dân tộc-tôn giáo, tộc người - tôn giáo:Tôn giáo truyền vào Tây  Nguyên đã phá vỡ kết cấu truyền thống đó, đồng thời tạo nên cộng đồng dân tộc - tôn  giáo, tộc người - tôn giáo - Tiểu luận Văn hóa tây nguyên
Hình th ành nên cộng đồng dân tộc-tôn giáo, tộc người - tôn giáo:Tôn giáo truyền vào Tây Nguyên đã phá vỡ kết cấu truyền thống đó, đồng thời tạo nên cộng đồng dân tộc - tôn giáo, tộc người - tôn giáo (Trang 34)
Hình phễu - Tiểu luận Văn hóa tây nguyên
Hình ph ễu (Trang 51)
Hình ảnh lấy rượu cây - Tiểu luận Văn hóa tây nguyên
nh ảnh lấy rượu cây (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w