1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn cơ sở văn hóa : Văn hóa tây nguyên

37 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa Tây Nguyên
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn hóa
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiểu luận dùng cho môn cơ sở văn hóa, tìm hiểu về văn hóa khu vực Tây nguyên. về đặc điểm địa lý, đặc trùng về kinh tế xã hội và văn hóa. các nét đặc trưng tiêu biểu, các khu du lịch, lễ hội truyền thống, các món ăn đặc trưng....

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Văn hóa là một lĩnh vực đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới và trong đó văn hóa của Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Nền văn hóa xuất hiện trong mọi mặt của cuộc sống với mối quan hệ hai chiều, mọi lĩnh vực đều mang trong mình tính văn hóa và văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực và tác động đến mọi lĩnh vực Bài tiểu luận này nhằm góp phần nhỏ bé trên con đường nghiên cứu về nền văn hóa dân tộc Việt Nam Văn hóa là cốt hồn của dân tộc, một dân tộc, nếu không giữ được bản sắc văn hóa riêng thì dân tộc đó sẽ bị lu mờ thậm chí không còn dân tộc đó nữa Vì thế, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hoá

mà còn là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và toàn xã hội Tôi quan tâm và chọn đề tài: “ Văn hóa Tây Nguyên” để làm đề tài cho bài tiểu luận này

Là nơi được biết đến với các sắc thái văn hóa vô cùng đa dạng và phong phú, được biểu hiện qua kho tàng văn học truyền miệng, qua nghệ thuật cồng chiêng hay các lễ hội truyền thống đặc sắc, Tây Nguyên xứng đáng là một trong những vùng đất lý tưởng để tìm hiểu và khám phá Đến với nơi đây, du khách mới có thể cảm nhận hết vẻ đẹp của núi rừng, con người mà nền bản sắc độc đáo Dưới đây là một số nét tiêu biểu của văn hóa vùng Tây Nguyên.

Trang 2

Mục lục

I Tây Nguyên……… 3

1 Vị trí, địa hình……… 4

2 Khí hậu………5

3 Dân cư……… 5

II Văn hóa, phong tục , lễ hội……… 6

1 Bản sắc văn hóa Tây Nguyên……… 6

2 Luật tục của dân tộc Tây Nguyên……… 7

3 Nền ẩm thực của dân tộc Tây Nguyên……… 9

- Ẩm thực trong ngày lễ tết ở Tây Nguyên……… 9

- Phong tục uống rượu cần của người Tây Nguyên……… 11

- Các món ăn đặc sản của Tây Nguyên……… …….12

4 Phong tục kì thú ở Tây Nguyên……… …… 14

5 Nhà mồ ở Tây Nguyên……… ……18

- Kỹ thuật đẽo tượng ở nhà mồ……… 18

- Tính nghệ thuật thể hiện trong tượng mồ……….……19

6 Điêu khắc gỗ dân gian Ba Na……… 22

III Các hoạt động của dân tộc Tây Nguyên ……… 24

1 Hình ảnh trang phục nổi bật của dân tộc Tây Nguyên……….24

2 Lễ cưới cưới của các dân tộc Tây Nguyên……… 26

3 Lễ hội cồng chiêng ở Tây Nguyên……….…… 29

4 Lễ hội bến nước của Người Tây Nguyên……… …… 30

5 Lễ hội bắt chồng ở Tây Nguyên……… ……31

IV Các danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Tây Nguyên 32

1 Gia Lai……… …… 32

- Biển Hồ……… …….32

2 Tỉnh Đắk Lắk……… … 33

- Hồ Lắk……….…33

3 Đắk Nông……… … 34

- Thung lũng Vàng……….…34

4 Kom Tum……… …35

- Thác Yaly……… … 36

Trang 3

Nguyên ” vẫn là quen gọi bao gồm văn hoá của các dân tộc thuộchai nhóm này Nhưng đặc trưng văn hoá Tây Nguyên còn thấy ởnhiều dân tộc khác sống trên sườn phía Tây dãy Trường Sơn, suốtmột dải từ phía Tây Quảng Bình đến tận Phú Yên Do đó, đúngnhất nên dùng khái niệm “Văn hoá Tây Nguyên- TrườngSơn”, đậm chất Tây Nguyên hơn.

Theo Nguyễn Đình Tư trong bài Tây Nguyên xưa và nay,tạp chí Xưa và nay, số 61B, tháng 3 năm 1999, thì

địa danh Tây Nguyên được biết đến từ năm 1960, khi công bố Hiến pháp 1959 củaViệt Nam Cộng hòa, trong đó có điều khoản về các khu tự trị của các sắc tộc thiểu số

và có nhắc đến Tây Nguyên

Trước đó, từ thời Pháp thuộc, vùng đất này chưa có tên gọi riêng mà chỉ làđơn vị hành chính trực thuộc Khâm sứ Trung Kỳ, nên có tên là vùng Cao nguyênTrung Kỳ Ngoài ra, người Pháp còn gọi nơi này là Les Hauts Plateaux du Sud (Caonguyên miền Nam) Thời Nhà Nguyễn, vùng đất này được thuộc về Châu ThượngNguyên (bao gồm Thủy Xá, Hỏa Xá là vùng đất cư trú của người Êđê, Gia Rai, Ba

Na và là một phần Tây Nguyên ngày nay)

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim đã đổi tên đơn vịhành chính cấp Kỳ thành cấp Bộ Từ đó vùng đất này được gọi là Cao nguyên Trung

Bộ trong khi người Pháp thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương (Pays Montagnard

du Sud-Indochinois) năm 1946

Khi Quốc gia Việt Nam thành lập, Quốc trưởng Bảo Đại đã đổi tên đơn vịhành chính cấp Bộ thành cấp Phần Riêng khu vực cao nguyên được tách ra và đượchưởng quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều Cương thổ kể từ năm 1950.Tại vùng này thì Quốc trưởng Bảo Đại vẫn giữ vai trò là Hoàng đế

Đến năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm chấm dứt chế độ Bảo đại và thànhlập nền Đệ Nhất Cộng hòa Hoàng triều cương thổ lại được sáp nhập vào Trung phần

và được gọi là vùng Cao nguyên Trung phần Tên gọi này được chế độ Việt NamCộng hòa sử dụng mãi cho đến năm 1975

1 Vị trí, địa hình

Trang 4

Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắcgiáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp cáctỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận,phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, BìnhPhước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu(Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri(Campuchia) Trong khi Kon Tum có biêngiới phía tây giáp với cả Lào vàCampuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và ĐắkNông chỉ có chung đường biên giới vớiCampuchia Còn Lâm Đồng không cóđường biên giới quốc tế Nếu xét diệntích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của

5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộngkhoảng 54.7 nghìn km²

Thực chất, Tây Nguyên khôngphải là một cao nguyên duy nhất mà làmột loạt cao nguyên liền kề Đó là các caonguyên Kon Tum cao khoảng 500 m, Kon Plông, Kon Hà Nừng, Pleiku cao khoảng

800 m, M'Drăk cao khoảng 500 m, Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nôngcao khoảng 800–1000 m, Lâm Viên cao khoảng 1500 m và Di Linh cao khoảng 900–

1000 m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãynúi và khối núi cao chính là Trường Sơn Nam

Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểuvùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai),Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam TâyNguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng) Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn vànền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam

Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ Bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m sovới mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như Cà phê, Cacao, Hồ tiêu, Dâu tằm Cây điều và cây Cao su cũng đang được phát triển tại đây Càphê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là vùngtrồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ và đang tiến hành khai thác mỏ quặng Bôxít Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinhvật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng

du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái nhà của Miền Trung, có chức năng phòng

hộ rất lớn Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâmsản bừa bãi chưa ngăn chặn được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng

và thay đổi môi trường, sinh thái

2 Khí hậu

Trang 5

Nằm trong vùng Nhiệt đới Xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng

4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng

và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400–

500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao.

3 Dân cư

Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộcngười Jrai và Êđê sinh hoạt trong xã hội truyền thống Mãi đến giữa thế kỷ XXsau Cuộc di cư năm 1954 thì số người Kinh mới tăng dần Trong số gần một triệudân di cư từ miền Bắc thì Chính phủ Quốc gia Việt Nam đưa lên miền cao nguyên54.551 người, đa số tập trung ở Đà Lạt và Lâm Đồng

Từ đó nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (người Kinh) ở TâyNguyên như Ba Na, Jrai, Êđê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông Chính quyền ViệtNam Cộng hòa gọi chung những dân tộc này là "đồng bào sắc tộc" hoặc "ngườiThượng"; "Thượng" có nghĩa là ở trên, "người Thượng" là người ở miền cao haymiền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyênmiền Trung Danh từ này mới phổ biến từ đó thay cho từ ngữ miệt thị cũ là "mọi"

Trang 6

Tính đến năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc,trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số) Năm

1993, dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong đó đồng bàodân tộc thiểu số là 1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số) Năm 2004, dân số TâyNguyên là 4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số) Riêng tỉnh Đắk Lắk, từ 350.000 người(1995) tăng lên 1.776.331 người (1999), trong 4 năm tăng 485% Kết quả này, mộtphần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di dân đến Tâynguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân tự do Người dân tộc đang trở thànhthiểu số trên chính quê hương của họ Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo đói,kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên (gần đây, mỗi năm vẫn có tới gầnmột nghìn héc-ta rừng tiếp tục bị phá) đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên vàthường xuyên dẫn đến xung đột Theo kết quả điều tra dân số 01 tháng 04 năm 2009dân số Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.107.437 người, như thế so với năm 1976 đãtăng 3,17 lần, chủ yếu là tăng cơ học Đến năm 2011, tổng dân số của 5 tỉnh TâyNguyên là khoảng 5.282.000 người

II Văn hóa, phong tục lễ hội

1 Bản sắc văn hóa Tây Nguyên

Văn hóa Tây Nguyên rất phong phú, đa dạng, gắn kết chặt chẽ với bản, làng

và đặc trưng luật tục, lễ hội đặc sắc trong không gian rừng đại ngàn mênh mông Các

lễ hội truyền thống ở Tây Nguyên biểu thị những quan niệm về con người, trở thànhnhững hội vui với sự tham gia của toàn thể cộng đồng, thậm chí cả các dòng tộc kháchoặc các buôn lân cận, như lễ cúng bến nước, lễ ăn cơm mới, lễ cưới cho người trẻ,

lễ mừng thọ người già, lễ bỏ mả… Mỗi hội lễ là một tổng thể nguyên hợp, tiêu biểucho đời sống văn hóa cổ truyền các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, cho nền văn minhnương rẫy

Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Cụm từ "Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên" không phải dành chomột địa danh riêng rẽ mà nó bao trùm 5 tỉnh Tây Nguyên, và

là sự tập hợp của nhiều dân tộc thiểu số Cồng chiêng TâyNguyên không được hiểu đơn thuần như một loại nhạc

cụ mà còn được người dân xem như một loại ngôn ngữgiao tiếp của con người với thế giới siêu thực, bởi thế cácloại nhạc cụ này được sử dụng trong nhiều nghi lễ, tínngưỡng quan trọng

Trang 7

Những dịp người Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng là lễ "thổi tai" khi đứa trẻ

chào đời, tiếng chiêng cũng vang lên khi có đám cưới, làm rẫy, làmnhà và tới khi chết đi, tiếng chiêng tiễn người đã mất ra mồ,khi bỏ nhà mồ Nó cũng cất tiếng trong các cuộc săn bắn, lễhội mang tới cho người nghe không gian tâm linh huyền

ảo, thanh cao và lãng mạn Sự lãng mạn này đã xuất hiện trongcác áng sử thi, trong các bài văn thơ đi vào lòng người

Bên cạnh giá trị nghệ thuật được biểu hiện qua kỹthuật diễn tấu, cồng chiêng Tây Nguyên còn là sự hiệnthân của tổng hòa các giá trị văn hóa: giá trị sử dụng đadạng; giá trị vật chất; giá trị biểu thị sự giàu sang vàquyền uy; giá thị tinh thần;giá trị biểu thị đặc trưng vàbản sắc văn hóa vùng; giá trị biểu thị đặc trưng văn hóatộc người hoặc nhóm tộc người; giá trị phản ánh đa chiều; giá trị cố kết cộng đồng vàgiá trị lịch sử Cồng chiêng Tây Nguyên là nơi chứa đựng những giá trị kiệt tác củanhân loại

Sử thi Tây Nguyên

Hùng tráng như chính núi rừng và con người Tây Nguyên, trong kho tàng vănhọc Việt Nam, người Tây Nguyên đã xây dựng nên những áng sử thi bất hủ, cònđược ví như những bản anh hùng ca của đồng bào vùng cao Được hình thành trên

nền tảng văn hoá, văn nghệ dân gian

thời sơ sử và thời cổ đại, trước hếttrên nền tảng thần thoại; thể loại văn học này phản ánh nhận thức của người xưa vềthế giới, về nhân loại, về cuộc sống… gắn liền với phong tục, tập quán, nghi lễ và camúa nhạc nguyên thủy

Tây Nguyên là vùng đất sản sinh khá nhiều sử thi sớm đã được phong danhhiệu “vùng sử thi” hay “chiếc nôi của sử thi Việt Nam” với trên 20 sử thi của các dântộc khác nhau, nổi bật là sử thi “khan Đam San” của người Ểđê Sử thi Tây Nguyên

là một giá trị tinh thần được đồng bào nơi đây lưu giữ lại trong trí nhớ và bằng cáchtruyền miệng

2 Luật tục của các dân tộc Tây Nguyên

Trang 8

Luật tục của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên với nhiều tên gọi khác nhaunhư Phạtkđi hay Biđuê của người Ê Đê, Phạtkđuôi của người M Nông, Tơlơidjuathay Tơlơiphian của người Gia Rai, Ađatmuca của người Ra Glai, Dâytơrônkđi củangười Mạ, Nri của người S Rê… được coi là sự biểu hiện thái độ ứng xử của conngười với môi trường tự nhiên và cộng đồng xã hội Bên cạnh mặt hạn chế, nhìnchung các bộ luật trên trong một chừng mực nhất định, vẫn phát huy tác dụng tíchcực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Luật tục đề cập tới nhiều vấn đề khác nhau trong đời sống tộc người từ môitrường tự nhiên, quan hệ sản xuất và sở hữu, tổ chức và các quan hệ xã hội, phongtục tập quán, hôn nhân và gia đình…

Trước hết phải thấy rằng, xã hội truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M Nông,Gia Rai… là xã hội mẫu hệ Dòng họ mẹ thống trị mọi mặt trong đời sống xã hộinhư quyền thừa kế tài sản, hôn nhân và gia đình Do vậy, luật tục là công cụ hữu hiệu

để bảo vệ xã hội mẫu hệ, khẳng định vai trò của dòng họ nữ, khẳng định vị trí to lớncủa người phụ nữ trong xã hội

Tài sản trong gia đình đều thuộc về quyền quản lý của người mẹ hay người đạidiện cho mẹ là chị cả Việc thừa kế tài sản chỉ thực hiện theo dòng họ nữ Khi vợchết, mọi của cải và cả con cái đều thuộc về phía gia đình vợ (dì, bà ngoại) quản lý,còn người chồng phải trở về sinh sống với cha mẹ mình mà không được mang theotài sản và con cái Trong trường hợp người chồng được gia đình bên vợ cho nối dây(lấy em vợ) thì cùng với vợ tiếp tục quản lý con cái và tài sản đó

Ở các dân tộc Ê Đê, M Nông, Gia Rai… quan hệ hôn nhân theo chế độ mẫu

hệ Theo tập tục này, người phụ nữ đóng vai trò chủ động cưới chồng, người chồngsinh sống bên nhà vợ và con cái sinh ra mang họ mẹ Nhìn chung, quan hệ hôn nhâncủa các dân tộc thiểu số kể trên là tự nguyện Trai gái đến tuổi trưởng thành tự doyêu đương, tự do tìm hiểu người bạn đời của mình mà không phải chịu sức ép nào

cả Đây là nét tiến bộ quan trọng trong quan hệ hôn nhân Luật tục đã chỉ rõ điều đó :

"Trâu bò không ai ép thừng, trai gái không ai ép duyên Nếu hai người ưng nhaumuốn lấy nhau thì vòng cứ đặt trên chiếu, tự họ họ sẽ cầm lấy, không một ai cầm traocho họ"

Luật tục Gia Rai cho phép người đàn bà có chồng chết được quyền lấy cháuruột của người chồng đó Việc lấy trong dòng họ tạo nên mối quan hệ bền chặt củadòng họ đó, cũng giống như mối quan hệ giữa các thanh xà với sàn nhà và mái nhàtrong một ngôi nhà Đó là quyền được duy trì nòi giống, huyết thống, duy trì sự tồntại của dòng họ

Tuy nhiên, tính khắt khe của tập tục nối nòi đã khiến cho nhiều người phụ nữrơi vào tình trạng bất hạnh, chịu cảnh khốn khổ về chênh lệch tuổi tác Đây quả làvấn đề hết sức phức tạp Nếu không chịu "nối nòi" thì vi phạm luật tục, nhưng nếuchấp nhận "nối nòi" mà quá chênh lệch tuổi tác

Tập quán của nhiều dân tộc thiểu số rất quan tâm đến trẻ em bởi trẻ em là hìnhảnh ngày mai của mỗi dân tộc Do đó, nhiều tập tục thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối

Trang 9

với lớp người nhỏ tuổi này Luật tục phê phán những ông bố bà mẹ không biết nuôidạy, chăm sóc con cái, thậm chí còn bỏ rơi hoặc đẩy những đứa trẻ đáng thương rangoài đường:

Chúng còn nhỏ còn bé

Anh chị bỏ rơi nó

Anh chị không thương chúng

Chúng nó đâu phải là dê con, là bò con mà chỉ biết ăn cỏ

Vì sao anh chị lại đuổi chúng ra ngoài đường

Trách nhiệm nuôi nấng, chăm sóc trẻ em là bổn phận của bậc làm cha mẹ, giađình và cộng đồng làng buôn Tập quán của đồng bào các dân tộc phê phán nhữngông bố, bà mẹ không làm trọn bổn phận của mình, thậm chí còn bỏ rơi con trẻ :

Ống cháo sao bỏ bãi cỏ

Ống cá sao bỏ giữa buôn

Có con sao bỏ cho ai

Cha mẹ bỏ rơi con, có tội

Tập tục truyền thống của các dân tộc có nhiều điều đề cập đến quyền củangười phụ nữ và trẻ em Nhiều điều quy định đến nay vẫn có giá trị và phù hợp vớipháp luật Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh những điều luật đề cao và bênh vực ngườiphụ nữ thì còn không ít những tập tục tỏ ra không phù hợp, thậm chí lạc hậu Cónhững tập tục xử phạt người phụ nữ quá nặng như tội ngoại tình, loạn luân, hay quan

hệ tình dục trước hôn nhân Chẳng hạn, dân tộc Xê Đăng cư trú ở huyện Ngọc Hồi,tỉnh Kon Tum quy định, nếu phụ nữ có thai trước khi cưới sẽ bị phạt heo và rượu để

cả buôn làng cùng uống Còn theo tập quán của người Xê Đăng ở huyện Kon Plông,nếu người phụ nữ có thai trước khi cưới thì gia đình, họ hàng, buôn làng không giúp

đỡ mà hai người tự tổ chức lấy, trường hợp không cưới sẽ bị phạt một con bò và 10ché rượu

3 Nền ẩm thực của dân tộc Tây Nguyên

* Ẩm thực trong ngày lễ tết ở Tây Nguyên

Tây Nguyên là nơi sinh sống của hàng chục dân tộc anh em, đông nhất là cácdân tộc Ba Na, Gia Rai, Ê-đê, M’Nông, Xơ-đăng, H’rê Mỗi dân tộc đều có phongtục, tập quán riêng và hàng năm đều có tổ chức những ngày lễ Tết cho buôn làng saukhi gặt hái đã hoàn tất Những ngày lễ Bỏ Mả, lễ Đâm trâu xây cột, Tết Cơm mới,Tết Giọt nước, Tết Lửa diễn ra rộn rịp suốt mùa hanh khô Đây là mùa lễ Tết ở TâyNguyên

Trong lễ Tết, ẩm thực của các dân tộc Tây Nguyên đều giống nhau, từ mónthịt nướng cho đến rượu cần Còn cách ăn uống và nấu nướng thế nào, thì đó là đặcđiểm của mỗi dân tộc và của mỗi địa phương

Trang 10

Ngày thường, đồng bào Tây Nguyên ăn cơm gạo tẻ với thức ăn nấu từ các loạirau rừng, mộc nhĩ, các loại củ, măng le Thỉnh thoảng mới kiếm được con cá dướisông, con thú từ trong rừng để cải thiện thêm bữa ăn Còn các loại gia súc, gia cầmnhà nào cũng có, họ nuôi bằng cách thả rong vào rừng, ra bờ sông, bờ suối, và chỉlàm thịt để dùng vào việc cúng tế thần linh hay để thiết đãi khách quí đến thăm làng.

Vào các ngày lễ Tết, cơm nếp được thay cơm gạo tẻ và được nấu theo cáchthức của tổ tiên: Cơm Lam Họ vào rừng chặt những ống lồ ô còn non, giữ lại mấu ởmột đầu ống rồi cho gạo nếp và nước vào, xong nút lại đem đốt bằng lửa và than cho

thật khéo Những ống cơm lam, ngoài vỏ tuy đen đúa,lem nhem nhưng khi chẻ bỏ lớp vỏ ấy đi thì lộ ra lớp cơmnếp thơm ngon, hấp dẫn lạ thường Hương vị nếp quyệnvới hương thơm của tre tươi qua lửa làm cho cơm lam cómột hương vị đặc biệt, hơn hẳn cơm nếp nấu trong chõ,trong nồi

Thịt là thực phẩm chủ yếu trong các món ăn ngày Tết Người Tây Nguyên làmlông con vật bằng cách thui đốt Họ không chế biến được các món ăn đặc biệt như ởmiền xuôi Đáng chú ý là món nướng và làm món như tiết canh, nem sống ở dạngthô sơ Những món ăn này dùng để khoản đãi hay để dâng cúng thần linh

Ngoài ra, họ còn dùng phèo lấy từ ruột con vật bốn chân để chế biến món ăn làmột đặc điểm trong cách thức ngả món của đồng bào Gia Rai, Ba Na Kỹ thuật bămsống và trộn bóp đóng vai trò quan trọng tạo ra nhiều món từ thịt trâu bò, dê, nguồnthịt chính trong lễ hiến tế thần linh Có món thịt bóp với phèo Có món thịt băm nhỏtrộn với muối đựng trong ống tre Có món thịt trộn với phèo rồi gói lá Có món thịttrộn với tiết, phèo và muối ớt để trên lá Có món thịt, ruột non, gan, ruột già hỗn hợpđựng trong ống tre Lại có món thịt băm, tiết, phèo, muối ớt trộn nhuyễn Da bóp vớiphèo cũng thành một món Món thường gặp là gan và lá sách thái miếng xiên xen kẽvào que tre để nướng

Trong các món ăn kể trên họ đều dùng thịt sống, tuy không được nấu nướngnhưng có thể phèo là nguyên liệu có tác dụng làm tái các loại thịt tươi, giống nhưthính gạo trong món nem của người Kinh Hơn nữa, tất cả những món sống ấy baogiờ cũng làm thành món đưa cay Rượu cần là đồ uống không thể thiếu được trongcác ngày lễ Tết Thức nhắm, thậm chí được đặt gần bên các ghè rượu, có lót lá chuốiđặt vào chiếc rá (rổ) để thực khách vừa nhâm nhi thưởng thức vừa chuyện trò, thỉnhthoảng đưa tay bốc một nhúm thức ăn đưa lên miệng

Cùng với món sống, họ cũng làm các món nấu chín theo tập tục lâu đời Trongcác món này, thịt bao giờ cũng được nấu chung với bột gạo và rau đã giã nhỏ tạothành món sền sệt đặc như cháo có thể bốc ăn được

Món thịt nướng cũng là món thông dụng và được ưa thích Có loại đem góikín trong lá tươi rồi vùi vào than hay tro nóng Có loại thì xâu thành từng xâu hơ trênthan củi đang cháy

Trang 11

Trong không khí cộng đồng ngày lễ Tết, việc ăn uống diễn ra với nhiều ýnghĩa, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu no bụng, ngon miệng mà còn đáp ứng nhu cầu

về tình nghĩa chòm xóm láng giềng trong buôn làng, quan hệ giữa con người vớinhau

Vượt lên trên thực đơn vừa kể, món ăn trong ngày lễ Tết không tách khỏi phầntâm linh, tín ngưỡng sâu sắc, kết nối giữa người sống kẻ chết, giữa con người vớithần linh Chính vì vậy mà các món ăn thức uống vào ngày lễ Tết của họ mang ýnghĩa thiêng liêng và hết sức trang trọng

Phong tục uống rượu cần của người Tây Nguyên

Rượu cần đối với người Tây

Nguyên là sản phẩm văn hoá vật chất

tinh thần của mỗi gia đình Đặc biệt

trong các lễ hội và để mời khách quý,

rượu cần còn phản ánh tinh thần cộng

đồng là vật dâng hiến cho thần linh Để

có được một ché rượu ngon đúng hương

vị của người bản địa rượu phải ngọt

đắng, uống vaò luôn có cảm giác nồng

ấm, sảng khoái và vui vẻ hoà đồng với

mọi người, yêu thiên nhiên đất nước

Giàng (trời) tối cao đã ban cho Tây Nguyên rượu cần và ngàn đời nay đã trở thànhthuần phong mỹ tục, sinh hoạt văn hoá của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên Tất

cả mọi người, già trẻ, gái trai, không phân biệt chức sắc hay thường dân, ai cũng cóthể vin cần mà uống Uống được bao nhiêu tùy cái bụng của mình

Ở Tây Nguyên đâu đâu cũng uống rượu cần Rượu cần thơm, ngon, mát, bổ,kích thích tiêu hoá, lợi tiểu Chum nhỏ là một chum một cần, chồng rót vợ uống vàngược lại Chum nhỡ là đôi bạn, đôi cần, theo số chẵn là bốn, sáu, tám Chum to sẽ

là mười, mười hai,mười bốn bạn bè anh em đến là "lảu khay cáy khả" (rượu mở, thịtgà)

Thứ tự uống cũng khác, khi thầy cúng cúng xong, mọi người vít cần uống

rượu theo thứ tự nữ uống trước, nam uống sau:Chủ nhà, thầy cúng, anh hoặc em bà chủ nhà,người già,… nếu có khách quý thì chủ nhàuống xong cầm cần mời khách Đều hết sứcđặc biệt là cần rượu duy nhất đó không baogiờ rời khỏi bàn tay con người, ai đó mà thảcần rượu ra khỏi tay là thất lễ với chủ nhà Tạisao sau khi chúng ta uống phải lấy tay bịt đầucần rồi truyền cho người khác

Rượu cần là một nét sinh hoạt văn hóa đẹp – văn hoá rượu cần Từ "đặc sản" ởđây, ngoài ý nghĩa là sản phẩm đặc biệt về nội dung, chất lượng mà còn bao hàm cả

sự độc đáo có một không hai về cách tiêu dùng Trong hàng chục, hàng trăm loại

Trang 12

rượu, có lẽ đây là loại duy nhất không uống bằng ly, bằng chén mà uống bằng mộtdụng cụ đặc biệt được gọi là cần Bởi thế, việc sử dụng thứ đặc sản này có thêm

"công đoạn" hút, trước khi uống chúng vào người Hơn nữa, đối với rượu cần, người

ta không uống một mình với mục đích giải sầu mà chỉ uống tập thể vào những dịp lễTết, hội hè… khi tiếp đãi bạn bè, khách quý phương xa Vào những ngày trọng đại

đó, chóe rượu được đặt trang trọng giữa nhà, bên bếp lửa bập bùng; còn khách vàchủ cùng quây quần xung quanh, ngất ngây trong tiếng cồng chiêng trầm bổng Mọingười ngồi xếp chân vòng tròn, vít cong cây cần làm bằng ống trúc và hút say sưa

Đối với ngườiTây Nguyên, rượucần trước hết là vật đểdâng hiến cho cácthần (Yàng), sau đóđến nhu cầu của conngười Cũng như trâu,

bò nuôi chủ yếu đểlàm hiến sinh, sau đómới đến con người ỞTây Nguyên tất cả các

lễ hội không bao giờthiếu vắng rượu cần Ngoài giá trị vật chất, rượu cần còn biểu hiện cho văn hóa giaotiếp Bởi uống rượu cần vào con người mới thăng hoa, âm nhạc mới bốc đến độ caotrào, mọi khả năng nghệ thuật mới được biểu hiện đến mức tuôn chảy tự nhiên Songcái biểu hiện để nhận biết nhất ở rượu cần là sợi dây gắn kết từng cá nhân với cộngđồng Thông qua đó mọi người hiểu biết nhau hơn, xích lại gần nhau, đoàn kết vượtqua mọi thử thách Mỗi khi gia đình có việc, không cần mời mọc mà chỉ cần một tínhiệu như tiếng tù và hoặc hồi chiêng, trống thì cả làng đều có mặt, cùng góp rượu vàvật chất để chia sẻ niềm vui những khó khăn, mất mát, đau thương Rượu cần đã gắn

bó với các dân tộc Tây Nguyên qua bao thăng trầm của lịch sử tộc người Rượu cần

là lời chào mời thân thiết (khi gặp bạn), là điều nhắc nhở đôi trai gái phải tuân thủnhững phong tục của cha ông (trong lễ cưới) là một quyết định mang tính chất hànhchính (trong lễ "thổi tai" công nhận đứa trẻ vào cộng đồng), là tình cảm xót thương,

li biệt của người sống với người đã chết (trong lễ Pơ thi) Nó là sợi dây liên kếtcộng đồng, trở thành một phương diện văn hóa có sức sống lâu bền trong đời sốngcác cư dân Tây Nguyên

Các món ăn đặc sản của Tây Nguyên

Cơm Lam

Cơm lam được coi là món ăn của núi của rừng bởi sànglọc trong đó vị ngọt của dòng suối mát trong và hươngthơm của tre pheo xanh ngút đầu non Bắt đầu từ nhữngchuyến đi dài ngày của người con trai với ống gạo mangtheo , dao quắm và đánh lửa cùng ống nứa sẵn trong rừng

Trang 13

nhưng theo Dưới chân những người khách du lịch , cơm lam đã trở thành món ăn đặcsản , làm say lòng du khách

Để làm được cơm lam ngon đòi hỏi một sự tỉ mỉ đến từng chi tiết Hàng đầuphải chọn cây nứa ngô còn non , chặt lấy gióng lưng chừng nứa rồi phạt đi đầu mặt ,dùng lá nút lại , chất củi xung quanh

đốt cho sôi Gạo nếp làm cơm lam

phải chọn loại nếp trắng , dẻo , thơm

, tối ưu là "khảu tan" ( nếp tan )

Ngâm gạo , vo sạch , rắc ít muối

trộn đều rồi cho vào ống lam , cùng

với dòng nước suối trong veo sẽ tạo

nên một cơm lam hương vị đặc biệt

của núi rừng , có thể làm say lòng

bất cứ người thưởng thức nào

Khi cơm chín , chẻ bỏ lớp

cháy đen bên ngoài ống cơm thật khéo cho đến khi đùm bọc phần ruột cơm chỉ làmột lớp nứa mỏng Xắt mỗi ống ra thành năm hay bảy khúc Khi ăn chỉ cần bóc bỏlớp nứa bên ngoài , ăn cùng với thịt gà hay thịt lợn rừng nướng ( được nướng trongống tre ) Tuy nhiên , cơm lam ngon nhất khi ăn với muối vừng

Gỏi lá

Gỏi lá được chọn từ hơn 40 loại lá khácnhau , nhiều loại rất quen thuộc nhưng cũng cónhững loại phải kiếm từ rừng Tây nguyên mới

Nước chấm được làm từ hèm rượu , đượckhử qua dầu ăn , lẫn cùng trứng vịt thành loạinước chấm sền sệt Tiêu để nguyên cả hạt ,muối hạt , ớt hiểm xanh , hành… là những gia

vị không thể thiếu Kẹp đủ các loại lá , bỏ vào

đó thịt , tôm , da heo , gia vị… rồi ăn cùng một lúc , nhai càng kỹ càng dễ nhận ranhiều hương vị khác nhau vừa có vị chan chát , vừa ngòn ngọt , chua chua và vừa bùibéo ngậy của thịt , tôm

Sau mỗi lần ăn , làm thêm một ngụm

rượu được ngâm lâu ngày từ rễ cây đinh lăng

Lần chót là một nồi cháo cá chuối , sốt dẻo để

ăn lót bụng Theo nhiều người dân phố núi , ăn

gỏi lá nhiều rất tốt , bởi hầu hết đều là những lá

cây thuốc nam có tác dụng trị liệu Người mắc

các chứng bệnh về tim mạch , đường tiêu hóa…

ăn vào có thể chữa bệnh

Trang 14

4 Phong tục kì thú ở Tây Nguyên

Nhà Rông và nhà Dài

Nhà Rông là một kiểu nhà sàn đặc trưng, đây là ngôi nhà cộng đồng, như đình

làng của người Kinh, dùng làm nơi tụ họp, trao đổi,thảo luận của dân làng trong các buôn làng trên TâyNguyên, hoặc còn là nơi đón khách (theo phong tụcngười Ba Na), dù khách riêng của gia đình hay chungcủa làng

Nhà Rông chỉ có ở những buôn làng người dântộc như Gia Rai, Ba Na ở phía Bắc Tây Nguyên, đặcbiệt ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum

Nhà Rông được xây dựng chủ yếu bằng các vật liệucủa chính núi rừng Tây Nguyên như cỏ tranh, tre, gỗ,

lồ ô và được xây cất trên một khoảng đất rộng, nằmngay tại khu vực trung tâm của buôn

Nhà Rông của mỗi dân tộc đều có những nétriêng trong kiến trúc, tạo dáng, trang trí hoa văn Nhìnchung nhà Rông là ngôi nhà to hơn nhiều so với nhàbình thường, có kiến trúc cao Có những ngôi nhà caotới 18 m, với đặc điểm là mái nhọn xuôi dốc hình lưỡi rìu vươn lên bầu trời với mộtdáng vẻ mạnh mẽ

Nhà được dựng trên những cột cây to, thường là tám cột bằng cây đại thụ,thẳng, chắc, mái nhọn lợp bằng lá cỏ tranh, phơi kỹ cho đến khi khô vàng

Nhà Rông là nơi thực thi các luật tục, nơi tiếp khách, nơi diễn ra các sự kiệntrọng đại của buôn làng, nơi già làng tập hợp dân làng để bàn luận những việc quantrọng của buôn làng, của đất nước Đây cũng là nơi tổ chức các lễ hội tâm linh cộngđồng và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt lại cho thế hệ trẻ những giá trị vănhóa truyền thống

Ngoài ra nhà Rông còn là nơi lưu giữ các hiện vật truyền thống: cồng, chiêng,trống, vũ khí, đầu các con vật hiến sinh trong các ngày lễ

Nhà Dài của đồng bào Tây nguyênthường có 2 cầu thang, một là “thang Cái’”dành riêng cho phụ nữ và khách quý lên xuống.Đỉnh của cầu thang được đẽo giống như mũicon thuyền, phía dưới có một vầng trăng khuyết

và bộ ngực phụ nữ tượng trưngcho chế độ mẫu hệ Cầu

“thang Đực” nhỏ hơn và đượcđặt cách xa phía bên trái, cónhà thiết kế nhiều cầu thangĐực dành cho đàn ông trong gia đình Bậc của 2 loại cầu thang

thường có số lẻ :3,5,7 …

Điều thú vị là nếu bạn muốn biết gia đình nào có bao nhiêu con gái, hãy nhìnvào cửa sổ Nhà nào có mấy cửa sổ thì có mấy nàng con gái, cửa sổ nào đóng kín

Trang 15

nghĩa là cô con gái ấy chưa “bắt chồng”, còn cửa sổ nào mở có nghĩa là cô gái ấy đã

“bắt chồng” Bên trong nhà có những bộ cồng, chiêng, ná, ché rượu dụng cụ săn bắtvoi rừng Đặc biệt có hai chiếc ghế tượng trưng cho quyền lực của người phụ nữ vàchỉ dành cho phụ nữ ngồi hoặc khách phụ nữ tới thăm nhà Ghế được đẽo gọt từ cây

gỗ quý chỉ có trong rừng sâu và nhất thiết phải do 7 người thợ làm ra, không đượcghép hay đấu nối

Lễ hội đâm trâu

Lễ hội đâm trâu (người Ba Na gọi là x'trǎng, người Cor gọi là xa-ố-piêu, ngườiGia Lai gọi là mnăm thu, người Lạch gọi là sa rơpu) là một lễ hội nhằm mục đích tếthần linh hoặc những người đã có công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiếnthắng, ăn mừng mùa màng bội thu hay ăn mừng các sự kiện quan trọng khác Đây làmột trong những lễ hội truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên ở Việt Nam

Con trâu sẽ là vật hiến tế để cầuthần phù hộ cho buôn làng được khỏemạnh, ấm no, để mừng ngày mùa hay đểmừng chiến thắng

Ở mỗi dân tộc, các nghi thức phụcủa lễ hội có phần khác nhau nhưng đâmtrâu vẫn là tiết mục linh đình của lễ hội.Tùy theo mục đích, hoàn cảnh cụ thể vàtùy theo từng sắc tộc mà lễ hội này được tổ chức trong những thời điểm, khoảng thờigian và không gian khác nhau, song thường là một không gian rộng bên cạnh nhữngngôi nhà chung của buôn làng như nhà dài, nhà rông, Giữa quảng trường/khônggian rộng này có dựng một cây cột cao bằng gỗ hoặc

tre, ngọn cột được trang trí bằng hoa lá rừng, cờ,

phướn thật đẹp, và những lục lạc tre gọi là cù nan

Trên đỉnh cột thường gắn một con chim phượng hoàng

làm bằng gỗ, chạm trỗ hoa văn tỉ mỉ Cây cột này

tương tự cây nêu của người Kinh, người Êđê gọi là

blang kbâo Người Ba Na gọi cây cột này là gưng

sakapô, người Gia Rai gọi là ging ga

Người chủ trì lễ hội là một già làng Dân làng

chọn một con trâu thuộc giống trâu Langbiang khỏe mạnh đưa đi tắm rửa sạch sẽ vàcho ăn uống no nê rồi đem buộc bằng sợi dây rừng mềm dẻo nhưng rất bền chắc Sợidây này được buộc lỏng quanh cổ trâu chứ không xỏ vào mũi như khi dắt trâu đi làmđồng

Chủ trì lễ hội đâm trâu đọc lời khấn cầu xin hay tạ ơn thần linh và mời thầnlinh xuống ăn thịt trâu, uống rượu cần Chủ trì khấn xong thì các đội cồng chiêng bắtđầu diễn tấu Đám đông dân làng ca múa, đấu võ, kể khan và ăn uống suốt đêm và

Trang 16

đến sáng lễ đâm trâu mới bắt đầu Nghi lễ đâm trâu là phần quan trọng bậc nhất của

lễ hội Các tráng sĩ được trang bị lao dài sẽ phóng lao giết trâu, vừa phóng lao vừabiểu diễn các bài võ thuật Con trâu bị giết được đem xẻ thịt nhỏ chia cho các nhàtrong buôn làng cùng liên hoan

Sau khi dứt hồi nhạc và các nghi thức cúng bái, người chủ tế là ông riu yàng

cầm cây giáo hình mũi mác đến gần contrâu và bất thình lình đâm một nhát vào đùitrước rồi quay về chỗ ngồi Đây chỉ là một

cú đâm tượng trưng để mở màn Tuy vậycon trâu cũng bị đau, nhảy dựng lên, máuchảy ròng ròng Tiếng cồng chiêng lại tưngbừng nổi lên Một đội hành quyết gồm 4chàng trai bước vào quảng trường, trong đóhai người cầm mã tấu đứng yên một chỗ,hai người cầm lao nhọn, vừa nhún nhảy theo tiếng nhạc vừa dứ ngọn lao làm như thửmuốn đâm con trâu Trâu sợ hãi chạy vòng vòng cột

Nhưng những chàng trai chưa vội ra tay Họ chờ cho bước chân nhún nhảy vàtiếng nhạc kết hợp thật nhịp nhàng với âm điệu rụp thì thụp rụp kala rụp! Đúng vàonốt nhạc mạnh kala rụp, khi những bàn tay của các chàng trai đấm vào vú chiêng vàkhi bàn tay của các cô gái trong đội múa xòe ra, một ngọn lao chí tử phóng tới đâmvào sườn trâu, chỗ dưới vai bên trái Nếu là nhát đâm chuyên nghiệp mũi lao sẽ trúngngay tim con vật khiến trâu chết liền Nếu đâm không trúng tim trâu sẽ lồng lên dữdội khiến đám đông hoảng sợ Khi đó, hai người cầm mã tấu sẽ tiến lên, một ngườichém một nhát vào cổ, một người chém một nhát vào cột xương sống phía đuôi làmtrâu gãy thành ba khúc Sau đó các dũng sĩ đâm trâu rút lui nhường chỗ cho mộtnhóm khác, kẻ hứng máu, người phân thây xẻ thịt trâu

Lễ hội đua voi

Lễ hội đua voi là một trong những lễ hội quan trọng trong hệ thống các lễ hội

cổ truyền của người vùng cao Tây Nguyên ViệtNam Hội Đua Voi là một trong những hội củavăn hóa truyền thống các dân tộc tỉnh Đắk Lắkđược tổ chức 02 năm 01 lần vào tháng 3 âmlịch Là Tháng của những con ong rừng đi lấymật và cũng là thời điểm bắt đầu làm nươngrẫy Hội Đua Voi nhằm tôn vinh tinh thầnthượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi củađồng bào các dân tộc Tây Nguyên Được tổchức ở vùng Đắk Lắk

Hội Đua Voi là một trong những hoạt động của Lễ hội văn hóa truyền thốngcác dân tộc huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk được tổ chức 02 năm 01 lần vào tháng 3

âm lịch.Đây là mùa khô, nắng đẹp, đường sá đi lại dễ dàng, đồng bào Buôn Đôn mởHội Đua Voi cùng với các lễ hội khác như: Lễ cúng bến nước, Lễ cúng sức khỏe cho

Trang 17

Voi, Lễ Ăn Trâu mừng mùa (Lễ Đâm Trâu), Lễ cúng lúa mới (Lễ mừng mùa), Vănhóa cồng chiêng để cầu mong cho sự bắt đầu của một mùa vụ mới tốt tươi, đạtnăng suất cao, mang lại no ấm cho dân làng

Hội Voi chỉ diễn ra trong 01 ngày với các hoạt động Đua Voi như: Voi chạy tốc

độ, Voi bơi vượt sông Sêrêpốk, Voi đá bóng Số lượng tham gia từ 15 – 18 con Voi.Hội Đua Voi nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi củađồng bào các dân tộc Tây Nguyên Ngoài ra, du khách đến đây cũng được thưởngthức ẩm thực độc đáo, đậm đà bản sắc của

các dân tộc tại chỗ và được cưỡi voi tham

quan buôn làng, trải nghiệm với hành trình

cưỡi Voi lội sông Sêrêpốk tham quan Rừng

Yok Don

Hội đua voi thường diễn ra vào mùa

Xuân, trên một dãi đất rộng dài hay một

khu rừng, cụ thể hơn vào dịp tháng ba âm

lịch, đó lá tháng đẹp nhất trong năm Đặc điểm Tinh thần thượng võ và chất hùngtráng hội cổ truyền của người M'Nông Chuẩn bị cho ngày hội người quản tượng đưavoi đến những cụm rừng có nhiều cây cỏ để chúng có điều kiện dưỡng sức Vàongày hội, các đàn voi từ các buôn làng xa gần kéo về tập kết tập trung các bãi gần

đó Dân chúng khắp nơi đổ về dự hội với những bộ áo quần thổ cẩm Bãi đua là mộtdải đất tương đối bằng phẳng, đủ để 10 con voi giăng hàng đi cùng một lúc, dài từ 1đến 9 km

Bắt đầu một hồi tù và rúc lên, đàn voi dưới sự điều khiển của những chàngman-gát lần lượt tiến vào điểm xuất phát, dàn thành hàng ngay ngắn Theo nh ngườiđiều khiển Con đầu đàn đứng lên phía trước, hai chân trước đứng thẳng, ngẩng cao,quay cái vòi mấy vòng rồi cúi đầu chào khán giả hai bên, xong lại lùi vào vị trí cũ.Trên mỗi con voi có hai người man-gát khỏe mạnh, trong bộ trang phục sặc sỡ Mộttiếng tù và rúc to báo lệnh xuất phát Những chú voi bật lên phía trước trong tiếng hòreo, la hét của khán giả cùng tiếng cồng chiêng khua

Người mơ-gát ngồi phía trước đầu voi cúi rạp mình, quan sát và điều khiển voibằng một thanh sắt nhọn dài độ 1 mét gọi là kreo (tiếng M'Nông là gậy điều khiển)dùng để đâm mạnh vào da, thúc voi tăng tốc độ, còn người man-gát thứ hai ngồi ởphía sau dùng chiếc búa gỗ Kốc nện mạnh vào mông con voi để voi chạy nhanh vàthẳng đường Khi bóng người man-gát ngồi trên lưng chú voi đi đầu xuất hiện từ xatrong vòng quay trở về đích Tiếng trống chiêng giục giã liên hồi Tiếp theo là tiếnghoan hô những người thắng cuộc Cuộc đua voi kết thúc, các con voi dự thi lần lượttrở lại các buôn làng

Nội dung trong lễ hội gồm:

Trang 18

Lễ cúng Nước

Lễ cúng sức khỏe cho Voi

Lễ ăn trâu mừng mùa (Lễ Đâm Trâu)

Lễ hội văn hoá các dân tộc huyện Buôn Đôn

Thi Voi đá bóng

Thi Voi chạy

Thi Voi bơi

Lễ cúng lúa mới (Lễ mừng mùa)

Lễ tắm Voi sau khi kết thúc các hoạt động của Voi tại Lễ hội

Bãi đua được chọn thường là dải đấtbằng phẳng đủ để 5-10 con voi giăng hàngngang để thi theo từng tốp Sau hiệu lệnh làmột hồi tù và, đàn voi phóng nhanh về phíatrước sự cổ vũ nhiệt tình của đông đảo dukhách và người dân trong khu vực cùng tiếngchiêng, tiếng trống thúc giục Sau hội đua, cảbuôn làng tập trung về nhà cộng đồng để ăntiệc, uống rượu cần và nhảy múa trong không khí của lễ hội với âm vang cồngchiêng rộn rã

Nhà mồ Tây Nguyên

Ngày đăng: 09/05/2021, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w