“Chén vui nhớ buổi hôm nay Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau” Truyện Kiều từ trước tới nay vẫn được coi là một tác phẩm văn học cổ điển ưu tú trong lịch sử văn học nước ta, được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Gần 200 năm từ lúc Truyện Kiều ra đời tới nay, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để bàn tới nó.
Trang 1Phần mở đầu
Ph n n i dungần nội dung ội dung
Chương 1: Rượu và văn hóa uống rượu của người Việt 3
Chương 2: Văn hóa uống rượu trong sáng tác của Nguyễn Du 6
2.1 Trong Truyện Kiều 6
2.2 Trong thơ chữ Hán 9
Phần kết luận 14
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
“Chén vui nhớ buổi hôm nay Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau”
Truyện Kiều từ trước tới nay vẫn được coi là một tác phẩm văn học cổ điển
ưu tú trong lịch sử văn học nước ta, được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Gần 200
năm từ lúc Truyện Kiều ra đời tới nay, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu giấy
mực để bàn tới nó
Và khi nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du, độc giả nghĩ ngay đến một con người tóc bạc sớm, đa sầu đa cảm, có trái tim lớn đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh, đặc biệt có tài thơ không ai sánh kịp
Một trong những tài thơ ấy là mượn tửu tả tình
Có nhà nghiên cứu cho rằng “Lấy cảnh tả tình là thuật pháp xưa nay của thơ của văn Còn mượn tửu tả tình như cụ Nguyễn, quả là không còn có thể viết hay hơn được nữa!”
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu đi vào khảo sát chữ “tửu” trong các sáng tác của Nguyễn Du, đặc biệt là trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều Qua đó thấy được nét đặc sắc trong nghệ thuật mượn tửu tả tình và đồng thời thấy được nét văn hóa truyền thống trong sáng tác của ông
PHẦN NỘI DUNG
Trang 3ương 1 : Rượu và văn hóa uống rượu của người Việt
Khi nói về văn hóa ẩm thực Việt Nam thì không thể không nói đến việc uống rượu Uống rượu từ lâu đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của người Việt Người xưa có nói “Bát bửu” nghĩa là Tám món phép của Tiên, trong đó có bầu rượu của Lý Thiết Quả Người ta lại truyền tụng trên đời có bốn thú chơi cao sang mà tao
nhã Nguyễn Công Trứ ngợi ca đó là Cầm – kỳ – thi – tửu:
Dở duyên với rượu khôn từ chén Chót nợ cùng thơ phải chuốt lời Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó
Đàn còn phím trúc tính tình đây Rồi nữa nhiều người ngâm nga câu “Bán dạ tam bôi tửu Bình minh nhất trảm trà” (trước khi ngủ lúc nửa đêm uống ba chén rượu, sáng dậy lúc mặt trời mọc
uống một ấm trà) Đó là một thú sinh hoạt ổn định văn hóa của các nhà nho và dần lan tràn ra các bậc cao nhân tài tử, quan lại quyền quý rồi trở thành sinh hoạt bình dị trong dân gian
Rượu có mặt trong buổi gặp gỡ, rượu có mặt trong lúc thề nguyền, trong ước hẹn, trong chia ly, trong đoàn tụ Bạn bè gặp nhau, liên hoan hội hè, đình đám lễ tết, cúng bái không thể thiếu chén rượu Ngày tết mà trong nhà chưa có bình rượu là chưa có tết Đường ngõ làng quê trong mấy ngày tết mà không có người say lảo đảo, không có hương rượu uống, hương cây thắp lẫn vào trong trời đất thì còn gì là tết nữa Trên bàn thờ khi làm lễ dâng cúng tổ tiên không thể thiếu rượu vì người
Việt Nam quan niệm “trần sao âm vậy” và “thắp hương ba nén, rót rượu ba đài”.
Rượu không chỉ để cúng lễ hay uống vào ngày tết mà còn được sử dụng cả trong ngày thường Người Việt Nam uống rượu khi ăn, mang ý nghĩa tương sinh hài hòa, thuận theo nguyên lý “âm dương phối triển” của Phương Đông
Hình như rượu có phần xác và phần hồn Phần xác để tay nâng, miệng nhấp Phần hồn để tinh thần nghiêng ngả, bay lên Có người mượn rượu để mạnh dạn nói
điều mà không say không nói ra được “Lời say thường nói thật” Người uống rượu
thì có thể nhiều lời, lớn tiếng nhưng rượu thì thầm lặng, thấm thía Lúc bình thường
Trang 4người ta chỉ thấy hương rượu thơm, vị rượu cay nhưng càng uống, tâm sự càng đầy người ta nhận ra vị đắng chát, mặn nhạt, độ nóng lạnh của rượu
Việt Nam là dân tộc có truyền thống uống rượu lâu đời Nhưng chúng ta không phải là dân tộc có truyền thống nói lời chúc rượu như Tây phương Dầu vậy,
từ xa xưa người Việt đã có câu “Chén tạc, chén thù” Chủ rót rượu mời khách gọi là “tạc”, khách đáp lễ gọi là “thù” Trong các cuộc vui có uống rượu, người xưa thường đọc thơ, bình thơ, nên có chữ “bầu rượu, túi thơ”
Ðua chi chén rượu câu thơ Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao
(Nguyễn Trãi, Gia Huấn ca) Hay:
“Trời đất sinh ra rượu với thơ Không thơ không rượu sống như thừa”
(Tản Đà – Ngày xuân thơ rượu) Bình rượu túi thơ là những vật liệu luôn luôn mang bên mình của thi sĩ Rượu và thơ không thể tách rời nhau vì rượu mang lại nguồn cảm hứng cho hồn thơ lai láng, mang lại khí hào sảng của đấng trượng phu, và làm toại nguyện ước mơ của người xưa là: ngâm nga câu thơ dưới ánh trăng, cùng người tri kỉ chuốc rượu…Nhưng rượu không phải chỉ đem lại nguồn cảm hứng, khí hào sảng, tình tri kỉ, rượu còn mang lại sự say sưa, quên lãng, chiêm nghiệm sự đời, mang đầy ảo tưởng, thất vọng, bất bình
Có thể nói rằng uống rượu là một trong những nét văn hóa ẩm thực của người Việt Chính vì lẽ đó, nét văn hóa này đi vào các sáng tác của Nguyễn Du một cách tự nhiên, nhuần nhị Chúng ta sẽ tìm hiểu điều này qua mảng thơ chữ Hán và Truyện Kiều
Chương 2: Văn hóa uống rượu trong sáng tác của Nguyễn Du
Trang 52.1 Trong Truyện Kiều:
Cầm, kỳ, thi, họa vốn là những thú chơi tao nhã của các bậc tao nhân mặc khách Chữ “tửu” trong Truyện Kiều xuất hiện trong những hoàn cảnh khác nhau Đó là chén rượu thề nguyền, đưa tiễn, đoàn viên…Có khi cùng chung một hoàn cảnh nhưng được Nguyễn Du biến hóa rất tài tình, làm cho hình ảnh thơ trở nên lung linh hơn, chẳng hạn “chén hà, chén tương, chén quan hà, chén mừng, chén đưa, chén đồng, chén vàng…”
Đi sâu vào tác phẩm, chúng ta nhận ra một điều thú vị rằng chén rượu mở đầu câu chuyện - chén rượu thề nguyền giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, đồng thời chén rượu cũng kết thúc tác phẩm - chén rượu đoàn viên với gia đình và đặc biệt là với chàng Kim
Ở phần đầu tác phẩm, khi tình yêu giữa nàng Kiều và chàng Kim mới vừa chớm nở, họ đã lập tức thành tâm giao tâm đắc, tri kỷ tri âm, cùng vịnh thơ với nhau, nâng bầu mời rượu với nhau Ưu ái cho tình yêu của đôi trai tài gái sắc, chỉ trong một ngày, Nguyễn Du đã phóng tay, để cho họ được tới hai lần uống rượu với nhau
Lần thứ nhất là vào ban ngày Nhân lúc cha mẹ và hai em đi vắng, Thúy Kiều đã tìm đến tận thư phòng của Kim Trọng để tình tự Kiều vẽ tranh, chàng Kim thảo vài câu thơ vào tranh ấy, rồi hai người chuốc rượu mời nhau Xét theo quan điểm “nam nữ thụ thụ bất thân”, việc chỉ có hai người với nhau trong thư phòng vắng vẻ, đã là một điều cấm kỵ; đằng này, cụ Nguyễn còn giải phóng cho họ nâng
ly mời nhau:
Đủ điều trung khúc ân cần, Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
“Trung khúc” là khúc lòng thầm kín “Đủ điều trung khúc ân cần” là hai người nói với nhau rất nhiều về nỗi niềm thầm kín của lứa đôi Đã vậy lại còn thêm
chén rượu nồng đưa đẩy, đến mức “lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng”.
“Chén xuân” là chén rượu tỏ tình yêu Càng uống càng thấy “lòng xuân” tràn đầy tình yêu “phơi phới”, đến mức đã “tàng tàng” với nhau, tức cả hai đều đã ngà ngà vì
Trang 6nhau và vì rượu Không biết cuộc hàn huyên bắt đầu từ bao giờ Nhưng chắc chắn là nó đã kéo dài tới mức cả hai đều quên cả thời khắc
Uống như vậy gọi là uống rượu tình trong buổi đầu bày tỏ và chỉ có hai người Nhưng không dừng lại ở đó, cụ Nguyễn đã mạnh bạo đi thêm nước cờ thứ hai, khi cụ dám để Thúy Kiều ngay trong đêm hôm đó, khi vừa mới chia tay trở về,
đã lập tức quay ngay trở lại, bằng cách “xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình”
Và cuộc rượu ái tình lần này mới thật là đáng nhớ Thơ Nguyễn Du dành cho họ, cứ như dâng tràn ra từ đáy cốc; lóng lánh ngời lên tình yêu đôi lứa:
Tóc tơ căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương, Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.
Không gian ấy, thời gian ấy, cảnh ấy… sinh tình xiết bao Họ không chỉ nói với nhau lời vàng đá, mà còn thảo ra lời vàng đá, rồi cùng nhau thề thốt đinh ninh
“hai miệng một lời” dưới vầng trăng vằng vặc Chính bữa rượu thề nguyền đấy đã
ám ảnh suốt cuộc đời sau này của Thúy Kiều Khi đau đớn, xót xa nhất trong cảnh
bị vùi dập ở lầu xanh, Nguyễn Du đã giúp Kiều hồi tưởng lại:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ
Phải công nhận một điều rằng, nếu như “tiên tửu” là một cách uống đẹp, thì cuộc rượu “tiên thề” của chàng Kim và nàng Thúy cũng là một cách uống đẹp, thể hiện một nét văn hóa của người Việt
Nhưng không dừng lại ở đó, ngay sau tiệc rượu thề nguyền lời vàng đá với
chàng Kim, Thúy Kiều đã lâm ngay vào cảnh phải bán mình chuộc cha, phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” Trong lần khoác áo thanh lâu thứ nhất, Nguyễn Du đã mượn rượu để nói về thân phận “kiếp người đã đến thế này thì thôi” của nàng Thúy:
Lầu xanh mới rủ trướng đào, Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người.
Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Trang 7Bút pháp tài hoa của Nguyễn Du sắc như dao cứa vào lòng người Một đời tài hoa là
thế, hồng nhan là thế, mà nay đã lâm vào cảnh “thương thay thân phận lạc loài, dẫu sao cũng ở tay người biết sao” Và sau những tiệc rượu vui say với khách làng chơi,
Kiều bẽ bàng nhận ra thế giới này thật cô đơn, chỉ có mình mình giữa căn phòng trống vắng với nỗi đau buồn Hết ngày dài tới đêm thâu, Thúy Kiều bị dìm trong từng trận rượu Ấy là “ô nhục tửu” (chữ dùng của Hồ Tĩnh Tâm) Năm xưa nâng chén cùng chàng Kim, Thúy Kiều đã vẽ tranh, đã đánh đàn, đã dậy sóng ái ân mà cất lời thề nguyện trăm năm Nàng đã hạnh phúc biết dường nào Nhưng giờ đây chìm trong “ô nhục tửu” với những người khách chỉ biết “vùi liễu, dập hoa”, Thúy Kiều đã phải khóc nấc lên tiếng than thân xé dạ:
Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Chữ “tửu” ẩn đi ấy trong đoạn thơ, đắng như nước mắt ê chề, cháy như lửa thiêu một cuộc đời ê ẩm
Và sau này ta còn thấy nỗi đắng cay của Kiều khi phải chuốc rượu vợ chồng Thúc Sinh:
Khen rằng: “Hiếu tử đã nên”
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu Vợ chồng chén tạc chén thù
Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi.
“Lấy cảnh tả tình là thuật pháp xưa nay của thơ của văn Còn mượn tửu tả tình như
cụ Nguyễn, quả là không còn có thể viết hay hơn được nữa!”(Hồ Tĩnh Tâm, Chữ
“Tửu” trong truyện Kiều của Nguyễn Du).
chén rượu đưa tiễn xen lẫn với niềm nhớ nhung, biết bao ân tình của người ở lại:
Tiễn đưa một chén quan hà
Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình
Hay:
Chén đưa nhớ bữa hôm nay
Trang 8Chén mừng xin đợi ngày này năm sau.
Trong bữa tiệc đoàn viên của người Việt cũng không thể thiếu rượu Họ nâng chén để bày tỏ sự vui mừng khi gặp lại nhau Điều này cũng phản ánh rõ nét trong truyện Kiều Sau mấy mười năm lưu lạc, cuối cùng Kiều cũng về đoàn tụ với gia đình:
Tàng tàng chén cúc dở say Đứng lên Vân mới giãi bày một hai
Và trong đêm động phòng của Kiều và Kim Trọng, họ nâng chén rượu để kể về những kỷ niệm trước đây của hai người:
Động phòng dìu dặt chén mồi Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa
Hay:
Thêm nến giá nối hương bình Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.
“Chén quỳnh” trong ngày vui họp mặt đã kết thúc những chuỗi ngày đau khổ của Thúy Kiều và từ đây, cuộc đời nàng đã bước sang một trang mới
Tóm lại, chữ tửu trong Truyện Kiều xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh khác nhau như thề nguyền, đưa tiễn, đoàn viên Không dừng lại ở đó, con người còn tìm đến rượu như một người bạn để giải sầu Tất cả những điều đó thể hiện được một phần nào đó nét văn hóa của người Việt
2.2 Trong thơ chữ Hán:
Rượu không chỉ đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo, khiến con người dễ dàng chia sẻ với nhau những nỗi niềm sâu kín mà còn giúp làm vơi đi nỗi sầu Thế nên,
từ xưa tới nay, bình rượu và túi thơ luôn song hành với thi sĩ cũng là điều dễ hiểu Đặc biệt là với những con người đa sầu đa cảm, lúc nào cũng ôm nặng nỗi đau đời như Nguyễn Du Trong số 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, có 22 bài đề cập đến rượu Tuy tần số xuất hiện không nhiều nhưng những lần xuất hiện này của hình ảnh rượu cũng giúp người đọc phần nào hiểu được những niềm trăn trở, những tâm sự trong lòng Nguyễn Du
Trang 9Trong chùm thơ viết về rượu, có ba bài Nguyễn Du diễn tả thú vui uống rượu (Hành lạc từ – kì nhất, Hành lạc từ – kì nhị, Đối tửu) Rượu là một thứ nước cay nồng mang lại lạc thú cho con người và những dòng thơ của Nguyễn Du dường như khuyến khích con người tận hưởng niềm vui của cuộc sống:
Mỹ tửu lũy bách chi Nhân sinh vô bách tải Hành lạc đương cập kỳ
Vô vi thủ bần tiện Cùng niên bất khai mi (Rượu ngon uống hàng trăm chén Đời người không ai sống trăm tuổi Nên vui chơi cho kịp thì
Chớ nên giữ nếp nghèo hèn Quanh năm chẳng được mở mày mở mặt)
(Hành lạc từ – kỳ nhất)
Nguyễn Du cũng rất khâm phục vị thi tiên trong làng say – Lí Bạch:
Tự ngôn thần thị tửu trung tiên Bạc thị vinh danh đồng tệ lý
(Tự xưng ta là tiên trong làng rượu Xem nhẹ vinh hoa như chiếc giày rách)
(Đào hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích)
Ý thức về sự hữu hạn của cuộc đời và khuyên con người phải tận hưởng những gì mình đang có là tư tưởng hành lạc Tư tưởng này chúng ta cũng bắt gặp ở Nguyễn Công Trứ Nguyễn Công Trứ nói bằng cái giọng ngông khác hẳn giọng nghiêm túc của Nguyễn Du:
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
(Chơi xuân kẻo hết xuân đi)
Thơ hành lạc của Nguyễn Công Trứ không chỉ nói về thú uống rượu mà còn có thú hát ả đào, thú đánh tổ tôm,…Con người trong thơ Nguyễn Công Trứ là con
Trang 10người hưởng lạc thực sự và nó khác xa với con người trong thơ Nguyễn Du Điều đó gợi cho chúng ta nhiều nghi vấn khi cho rằng Nguyễn Du triết lí về hưởng lạc, là con người hành lạc Phải chăng một khi cái hùng tâm tráng chí khi rơi vào bờ vực thất vọng thì con người muốn lấp chỗ trống bằng những thú vui trần thế? Và hành lạc chỉ là cách nói để khuất lấp nỗi sầu? Thật vậy, xem lại toàn bộ thơ của Nguyễn
Du, chúng ta thấy con người trong thơ chưa bao giờ là con người hưởng thụ Có một nỗi buồn lẩn khuất đằng sau những dòng chữ Uống rượu là để giải sầu, để vơi
đi nỗi sầu Rượu trở thành người bạn không thể thiếu trong những lúc cô độc, con người không thể chia sẻ với ai
Nhờ rượu mà lòng người được ấm lên một chút:
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt Đăng tiền đẩu tửu khơi suy nhan (Cạnh gối có bó sách để nâng đỡ bộ xương bệnh Trước đèn uống chén rượu cho vẻ mặt suy yếu tươi lên)
(Tạp ngâm kì nhị)
Trong những cuộc vui, thấp thoáng bóng dáng một con người băn khoăn do
dự và sau cùng là đưa cái nguyên nhân tuổi già để hạn chế sự hưởng lạc:
Dục điển túc sương mưu nhất túy Nại hà đầu dĩ bạch như ngân (Muốn gán chiếc áo cừu long chim túc sương đổi lấy một cuộc chơi
Nhưng tóc trên đầu đã bạc trắng thì biết làm thế nào!)
(Quảng tế ký thắng)
Rượu trở thành một người bạn thân thiết của Nguyễn Du Nhà thơ từng nói:
Thôn cư bất yếm tần cô tửu Thượng hữu nang trung tam thập tiền (Ở thôn quê thích được mua rượu luôn Trong túi vẫn còn ba mươi đồng tiền)