Sáng tạo là một phần ko thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta, khỏi phải chỉ có những người làm nghệ thuật mới phải thường xuyên sáng tạo mà những người ở những ngành nghề khác nhau cũn
Trang 1MỤC LỤC
I Giới thiệu 2
II Phân tích tư duy sáng tạo 3
1 Thế nào là sự sáng tạo 3
2 Năm cấp độ của tư duy sáng tạo 4
3 Ba nguyên tắc hàng đầu với sự sáng tạo 5
III Phương pháp SCAMPER 8
1 Sơ lược về phương pháp SCAMPER 8
2 Vài nét về phương pháp SCAMPER 10
2.1 Phép thay thế - Substitute 10
2.2 Phép kết hợp – Combine 11
2.3 Phép thích ứng – Adapt 11
2.4 Phép điều chỉnh – Modify 12
2.5 Phép thêm vào – Put 13
2.6 Phép loại bỏ - Eliminate 13
2.7 Phép đảo ngược – Reverse 14
IV Phân tích sự phát triển của điện thoại di động dựa trên phương pháp SCAMPER 15
2.2 Phép kết hợp – Combine 19
2.3 Phép thích ứng – Adapt 19
2.4 Phép điều chỉnh – Modify 19
2.5 Phép thêm vào – Put 20
2.6 Phép loại bỏ - Eliminate 21
2.7 Phép đảo ngược – Reverse 21
V Tài liệu tham khảo 22
Trang 2Đó chính là sự sáng tạo Thường thì sự sáng tạo là một điều gì đó mới mẻ táo bạo và khác thường Khi gặp khó khăn, bạn dể trở thành một người khờ khạo
Có một ranh giới thật nhỏ giữa việc có một suy nghĩ hết sức sáng tạo và việc hành động như một người ngu xuẩn nhất trên đời Vậy, đâu là địa ngục? hãy suy nghĩ thật kỹ Sáng tạo là một phần ko thể thiếu trong cuộc sống của chúng
ta, khỏi phải chỉ có những người làm nghệ thuật mới phải thường xuyên sáng tạo mà những người ở những ngành nghề khác nhau cũng va chạm với nó trong cuộc sống hằng ngày Nghĩ sáng tạo là nhìn một vấn đề, một câu hỏi… theo những cách khác với thông thường Tức là nhìn mọi thứ từ các góc độ, tầm nhìn khác nhau, “nhìn” theo những cách không bị hạn chế bởi thói quen, bởi phong tục, bởi tiêu chuẩn…
Nhưng một câu hỏi được đặt ra là liệu sự sáng tạo có một khuôn mẫu hay không? Câu trả lời là có, có những nguyên tắc và quy luật cho sáng tạo Để sử dụng và duy trì khả năng nhận thức rõ sự vật này của trí não, bạn nên hiểu một vài nguyên tắc suy nghĩ sáng tạo cơ bản Những nguyên tắc này tạo nên một nền tảng về thái độ hoặc tâm lý của tất cả các phương pháp khái quát ý tưởng Bạn sẽ hiểu rõ vấn đề hơn nếu bạn có thể nghĩ một cách sáng tạo hơn,
và bạn sẽ khái quát lên được những ý tưởng có tính sáng tạo cao hơn khi bạn
áp dụng những nguyên tắc về cách suy nghĩ sáng tạo này Tuy nhiên, để có
Trang 3thể nghĩ ra một ý tưởng đuợc coi là thực sự sáng tạo là một điều không đơn giản và cũng không dễ dàng Do đó, bạn càng hiểu biết về cách thức tư duy sáng tạo bao nhiêu thì bạn sẽ suy nghĩ sáng tạo hơn bấy nhiêu
Não của chúng ta là một kho chứa những ý tưởng Những gì ta biết chính là những gì ta đã được học và đã trải nghiệm Ý tưởng đều nằm trong đó cả Tất
cả những gì ta phải làm chỉ là lấy chúng ra mà thôi Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể bàn đến tất cả những ý tưởng trong đầu ta mà không đề cập đến những quan điểm và phương pháp trí tuệ thích hợp Không có cách nào giúp
ta có thể gợi nhớ được mọi thứ Hơn nữa, chúng ta sẽ không bao giờ nghĩ về một ý tưởng nhất định nếu ta không phụ thuộc vào những nguồn kích thích sự sáng tạo khác nhau Bộ óc của chúng ta là những công cụ liên kết không giới hạn, chúng có thể chứa được rất nhiều ý tưởng giống như chúng là những cơ
sở dữ liệu chứa những ý tưởng
II Phân tích tư duy sáng tạo
1 Thế nào là sự sáng tạo
Sáng tạo (Creativity) là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có tính mới và tính có ích, lưu ý là phải “có ích”, còn việc tạo ra cái gì mới mà không có ích thì cũng không được gọi là sáng tạo Mới và có ích ở đây có nghĩa so với cái trước đó, cái sau phải có lợi hơn, tiến bộ hơn cái trước
Để đánh giá một hoạt động có phải là sáng tạo hay không, ta có thể áp dụng chương trình 5 bước như sau:
Bước 1: Chọn hoạt động tiền thân (sản phẩm/dịch vụ trước đó)
Bước 2: So sánh hoạt động hiện tại với hoạt động tiền thân
Bước 3: Tìm tính mới của hoạt động hiện tại
Bước 4: Trả lời câu hỏi “tính mới có tác dụng gì? Trong phạm vi nào”
Trang 4 Bước 5: Kết luận
2 Năm cấp độ của tư duy sáng tạo
2.1 Cấp 5: “Nhận ra nhu cầu cần có cách tiếp cận mới” là cấp độ thấp nhất tương ứng với khi người nhân viên biết
Vui vẻ đón nhận ý tưởng mới
Xem xét lại cách tiếp cận truyền thống và tìm các giải pháp có thể có
Nhận ra lúc nào cần một cách tiếp cận mới, tham khảo thông tin để hướng về cách tiếp cận mới
2.2 Cấp 4: “Thay đổi các cách tiếp cận hiện có” là cấp độ cao hơn, xuất hiện
khi các nhân viên biết
Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của các cách tiếp cận hiện có
Thay đổi và làm cho các cách tiếp cận hiện có thích hợp hơn với nhu cầu
Nhận diện được các giải pháp khác nhau dựa vào những gì đã biết
Thấy được một giải pháp tối ưu sau khi cân nhắc những điểm mạnh và điểm yếu của các cách tiếp cận khác
2.3 Cấp 3: “Đưa ra cách tiếp cận mới” là cấp độ 3, tương xứng với lúc các
nhân viên biết:
Tìm kiếm các ý tưởng hoặc giải pháp đã có tác dụng trong các môi trường khác để áp dụng chúng tại doanh nghiệp của mình
Vận dụng các giải pháp đang có theo cách mới lạ hơn nhằm giải quyết vấn đề với hiệu quả cao hơn
Nhìn thấy được các triển vọng tốt khi tiếp tục vận dụng các giải pháp đang có theo vài cách mới lạ khác
Trang 52.4 Cấp 2: Cao hơn nữa, họ tiến đến cấp độ 2 là “Tạo ra khái niệm mới” khi
có được khả năng:
Tổng hợp các khái niệm cần thiết để định hình một giải pháp mới
Tạo ra các mô hình và phương pháp mới cho doanh nghiệp
Nhận diện được các giải pháp linh hoạt và thích hợp cũng như xác định được các tiêu chuẩn về chuyên môn và về tổ chức tương ứng với giải pháp mới
2.5 Cấp 1: “Nuôi dưỡng sự sáng tạo”, nhưng năng lực này chỉ có ở rất ít
chuyên gia quản trị, bao gồm:
Có khả năng phát triển một môi trường nuôi dưỡng tư duy sáng tạo, luôn kích thích mọi người thi đua tìm tòi các giải pháp sáng tạo
Khuyến khích mọi người thử nghiệm ý tưởng mới khác hẳn cách làm truyền thống
Hỗ trợ cho việc thử nghiệm ý tưởng mới nhằm biến ý tưởng thành hiện thực
Như vậy, cùng hướng đến tư duy sáng tạo, nhưng mỗi cá nhân trong doanh nghiệp có thể thuộc về cấp độ này hay cấp độ khác Việc quan sát để biết cấp độ tư duy sáng tạo của đội ngũ nhân viên và tạo điều kiện để những người thuộc cấp độ từ 4 đến 2 phát huy năng lực của họ
là nhiệm vụ và cũng là thách thức không nhỏ đối với các nhà quản trị doanh nghiệp Khi vượt qua được thách thức đó, chính nhà quản trị đã
tự bồi dưỡng để dần đạt được cấp độ 1
3 Ba nguyên tắc hàng đầu với sự sáng tạo
1 Hoạt động sáng tạo làm tăng khả năng sáng tạo Khi bạn trở nên tích cực trong việc sáng tạo, bạn có được khả năng sáng tạo hơn Nhiều người rất thích
Trang 6có khả năng sáng tạo, nhưng họ đã không bao giờ thực hiện hoạt động sáng tạo Khi chúng tôi đóng băng, chúng ta ngừng tạo ra Shackleton thực hành thường xuyên, sáng tạo, cho mình và cho phi hành đoàn của ông Vì vậy, khi các vấn đề thể hiện bản thân, ông và phi hành đoàn của ông không bao giờ từ
bỏ khả năng của họ để đến với giải pháp sáng tạo.Sáng tạo có thể được nhìn thấy giống như một cơ hội: Các bạn sử dụng nó, mạnh mẽ hơn nó được
2 Cuốn sách quy tắc không còn quy định Mọi người đều muốn cung cấp cho bạn những cuốn sách quy tắc David Kelley đã đúng khi ông nói, "Điều quan trọng nhất mà tôi đã học được từ các công ty lớn là sáng tạo mà bị dập tắt khi tất cả mọi người đã nhận thực hiện theo các quy tắc Và Thomas Edison, có thể là nhà phát minh vĩ đại nhất, sẽ nói với mọi người đến thăm phòng thí nghiệm của ông, không phải là không có quy tắc ở đây! Chúng tôi đang cố gắng để hoàn thành một cái gì đó.Cấu trúc và quy tắc phục vụ chúng ta tốt, nhưng Pháp gia có thể bị nghẹt thở tinh thần sáng tạo của chúng tôi đến cái chết của nó Hãy tưởng tượng nếu Shackleton đã theo 'quy tắc' Câu chuyện chắc chắn đã có một kết thúc khác
3 Sáng tạo luôn luôn tìm thấy một cách Hãy tưởng tượng mình bị mắc kẹt trong tình trạng tương tự Nó sẽ rất dễ dàng chỉ đơn giản là nhìn vào các cặp
vợ chồng đầu tiên của tùy chọn, nhận ra họ thực sự không phải là lựa chọn và chờ đợi để bị hư mất Thay vào đó,, Shackleton bắt đầu sáng tạo Ông bắt đầu nghĩ về những điều mà dường như không thể Ông không có lựa chọn khác hơn là để xem xét tất cả các lựa chọn không thể hay không - bởi vì nó là một trường hợp của cuộc sống hay cái chết Hầu hết thời gian trong đời sống của các tổ chức của chúng tôi, chúng tôi không phải đối mặt với cuộc sống và cái chết và vì vậy chúng tôi không theo đuổi sáng tạo đủ dài để cho nó tìm thấy một đường cho chúng ta
Trang 7Peter Drucker đã từng nói rằng cách tốt nhất để dự đoán tương lai là tạo ra nó Chúng tôi, giống như Shackleton và người đàn ông của mình, có thể tạo ra tương lai chúng tôi mong muốn nếu chúng ta cho phép mình bắt đầu suy nghĩ theo những cách mà chúng tôi đã không nghĩ trước đây, nếu chúng ta tự cho phép mình mơ ước của cách thức mới để làm những việc
Trong thị trường cạnh tranh có nhịp độ nhanh của chúng tôi, rất ít tài nguyên
có giá trị hơn cho các tổ chức hơn so với sáng tạo, và điều này đặc biệt đúng trong cuộc khủng hoảng Đó là khi thực sự lãnh đạo hoặc là tăng hoặc giảm,
và thật không may, sáng tạo thường thấy mình nuốt phải bằng cách cấp bách
Ai có thời gian để suy nghĩ bên ngoài hộp khi hộp được sụp đổ xung quanh bạn? Shackleton, tuy nhiên, đã thấy vượt ra ngoài vấn đề hình ảnh lớn Ông nhận ra tầm quan trọng của sự sáng tạo trong việc giữ anh ta và phi hành đoàn của ông còn sống và hoạt động như một nhóm khi họ có ít lợi nhuận cho các lỗi trong cái lạnh buốt và cô lập của Nam Cực
Chỉ cần không phải là một kỹ năng, sáng tạo cũng là một thái độ trong cuộc sống của mình cho phép anh ta để tìm giải pháp cho những trở ngại mà họ gặp phải Khi những người khác đã có thể đông lạnh - theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng - Shackleton tập trung sáng tạo trên còn sống sót sau cuộc khủng hoảng
Vì vậy, sử dụng sáng tạo của bạn, để cho nó trở nên mạnh mẽ hơn Vứt bỏ 'cuốn sách quy tắc, và để cho sự sáng tạo giúp bạn tìm thấy một cách, cũng giống như nó đã làm cho Sir Ernest Shackleton
Trang 8III Phương pháp SCAMPER
1 Sơ lược về phương pháp SCAMPER
Phương pháp sáng tạo SCAMPER được giáo sư Michael Mikalko phát triển, SCAMPER là ghép các chữ cái đầu của nhóm từ sau: Substitute ( thay thế), Combine (kết hợp), Adapt (thích nghi), Modify (hiệu chỉnh), Put (thêm vào), Eliminate (loại bỏ) và Reverse (đảo ngược)
Phương pháp sáng tạo SCAMPER dễ lĩnh hội, dễ vận dụng nhưng khá hữu hiệu nên ngày càng được sử dụng phổ biến rộng rãi, nhất là trong các doanh nghiệp
Hiện nay, có khá nhiều phương pháp sáng tạo khác nhau nhưng không có phương pháp nào vượt trội trong mọi tình huống, trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên, phương pháp sáng tạo SCAMPER tỏ ra có nhiều ưu điểm trong việc phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Hai trọng tâm sáng tạo trong doanh nghiệp là sáng tạo trong phát triển đổi mới sản phẩm và sáng tạo trong tiếp thị kinh doanh sản phẩm
Trang 9Bản đồ tư duy của phương pháp SCAMPER
Trang 102 Vài nét về phương pháp SCAMPER
2.1 Phép thay thế - Substitute
Nội dung: Thay thế thành tố hiện có của hệ thống bằng thành tố khác.Với 1
sản phẩm, bạn hãy quan sát thành phần tạo nên chúng và thử suy nghĩ xem liệu các thành phẩm này có thể được thay thế bằng nguyên vật liệu nào khác? Trong một quá trình làm việc, liệu vấn đề nhân lực thay thế sẽ là ai? Có nên
thay địa điểm? Đối tượng?
Các câu hỏi có thể đặt ra:
Có thể thay thế hay hoán đổi bộ phận nào trong hệ thống?
Có thể thay thế nhân sự nào?
Qui tắc nào có thể được thay đổi?
Có thể dùng nguyên liệu, vật liệu nào khác?
Có thể dùng qui trình / thủ tục nào khác?
Có thể dùng ý tưởng này tại địa điểm khác?
…
Ví dụ:
Trang 112.2 Phép kết hợp – Combine
Nội dung: Kết hợp thành tố của các hệ thống khác nhau để tạo ra hệ thống
mới Bạn hãy quan sát xem có thể biến tấu thêm gì, kết hợp thêm được gì để tạo ra 1 sản phẩm mới, đề cao khả năng hợp lực của từng tính năng
Các câu hỏi có thể đặt ra:
Nguyên vật liệu cần là gì?
Các tính năng? Quy trình? Nhân lực?
Cái gì có thể kết hợp lại? Sẽ kết hợp khâu nào? Ở đâu?
Ví dụ:
2.3 Phép thích ứng – Adapt
Nội dung: Thích ứng hệ thống trong một bối cảnh khác Nghĩ xem khi thay
đổi, các tính năng này có phù hợp không?
Các câu hỏi có thể đặt ra:
Đối tượng ta đang xem xét giống với cái gì khác?
Có cái gì tương tự với đối đối tượng ta đang xem xét nhưng trong một tình huống khác?
Cái gì tôi có thể copy, mượn hay đánh cắp?
Ý tưởng nào ngoài lĩnh vực của tôi có thể hợp nhất?
Quá trình nào có thể được thích ứng?
Trang 12Ví dụ:
2.4 Phép điều chỉnh – Modify
Nội dung: Điều chỉnh qui mô thành tố của hệ thống Tăng và giảm kích cỡ,
thay đổi hình dáng, thuộc tính…
Các câu hỏi có thể đặt ra:
Yếu tố nào có thể điều chỉnh lớn hơn?
Yếu tố nào có thể cao hơn, to hơn hay mạnh hơn?
Yếu tố nào có thể lặp lại? Tôi có thể tạo ra nhiều bản sao?
…
Ví dụ:
Trang 132.5 Phép thêm vào – Put
Nội dung: Thêm thành tố mới vào hệ thống Có thể áp dụng cho cách dùng
khác? Mục đích khác? Lĩnh vực khác?
Các câu hỏi đặt ra:
Tôi có thể lấn sân sang thị trường nào?
Thị trường nào có thể tiêu thụ hàng của tôi?
Ví dụ:
2.6 Phép loại bỏ - Eliminate
Nội dung: Loại bỏ thành tố khỏi hệ thống Loại bỏ và đơn giản hoá các thành
phần, nghĩ xem chuyện gì xảy ra nếu bạn loại đi hàng loạt các quy trình, sản phẩm, vấn đề và cơ hội, nghĩ xem bạn sẽ làm gì với tình huống này?
Câu hỏi có thể đặt ra: :
Bộ phận nào có thể loại bỏ mà không làm thay đổi tính năng hệ thống?
Qui tắc nào có thể hạn chế hoặc loại bỏ?
Bộ phận nào không mang tính cốt lõi hay không cần thiết?
…
Ví dụ:
Trang 142.7 Phép đảo ngược – Reverse
Nội dung: Đảo ngược trật tự các thành tố của hệ thống Bạn có thể lật ngựợc
vấn đề? Cách suy nghĩ này sẽ giúp bạn nhìn rõ mọi góc cạnh của vấn đề cũng như như cơ hội thấy điểm mới cho vấn đề
Câu hỏi có thể đặt ra:
Chuyện gì xảy ra nếu tôi làm theo theo hướng khác?
Nếu tôi lật ngược trât tự cách làm cũng như cách sử dụng?
Có thể hoán đổi giữa yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực?
…
Ví dụ:
Trang 15IV Phân tích sự phát triển của điện thoại di động dựa trên phương pháp SCAMPER
1 Quá trình phát triển của điện thoại di động và các cột mốc
Martin Cooper khi làm việc tại công ty Motorola và ông được giao nhiệm vụ phát triển nguyên mẫu điện thoại di động mang tên DynaTAC Sau đó vào ngày 03/04/1973 cuộc gọi đầu tiên từ điện thoại di động đã được thực hiện giữa Cooper và đối thủ của ông là Joel Engel làm tại Bell Labs, đơn vị cũng tham gia phát triển di động đầu tiên Ông thực hiện cuộc gọi khi đang đi bộ trên đại lộ số 6 thuộc thành phố New York
10 năm sau, Motorola DynaTAC chính thức được bán ra thị trường, nó có tổng cộng 20 phím số với kích thước lớn, một ăng-ten dài làm từ cao su và cho thời gian thoại chỉ 30 phút Để sạc đầy pin cho 30 phút gọi, bạn phải mất khoảng 10 tiếng DynaTAC khi đó có giá khoảng 4000 USD nhưng nó cho thấy mức độ thành công và đánh dấu sự khởi đầu cho kỷ nguyên di động
1.2 Tin nhắn SMS (1993)
SMS ra đời là thành quả làm việc liên tục của rất nhiều kỹ sư Matti Makkonen đề xuất ý tưởng nhưng Friedhelm Hillebrand mới là người tạo ra định dạng tin nhắn 160 ký tự như ngày nay Tin nhắn SMS đầu tiên có nội dung "giáng sinh an lành", được gửi từ một chiếc PC đến một điện thoại chạy