Đề tài : GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT VIỆC BIẾN ĐỔI ĐƠN GIẢN BIỂU THỨC CHỨA CĂN THỨC BẬC HAI I/ LỜI NểI ĐẦU 1.1/ Lý do chọn tài : Bước vào giai đoạn mới của cỏch mạng, thực hiện chiến lược p
Trang 1Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Họ và tờn : Nguyễn Thanh Phong.
Chức vụ : Giỏo viờn Đơn vị cụng tỏc: Trường THCS Tõn Hiệp A5.
Đề tài : GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT
VIỆC BIẾN ĐỔI ĐƠN GIẢN BIỂU THỨC CHỨA CĂN THỨC BẬC HAI I/ LỜI NểI ĐẦU
1.1/ Lý do chọn tài :
Bước vào giai đoạn mới của cỏch mạng, thực hiện chiến lược phỏt triển kinh tế - xó hội của Đảng, đất nước ta sẽ tăng cường hơn nữa khả năng hợp tỏc, cạnh tranh và hội nhập vào thị trường khu vực và quốc tế Để làm được điều đú, nhõn tố quyết định sự thành cụng là phẩm chất và năng lực của con người Việt Nam, là trỡnh độ dõn trớ, nguồn lực và nhõn tài của đất nước
Để thực hiện được những yờu cầu cú tớnh chiến lược nờu trờn ngành giỏo dục cần phải tiếp tục củng cố và phỏt triển đội ngũ giỏo viờn, nõng cao năng lực và phẩm chất nhà giỏo, tạo sự chuyển biến căn bản và toàn diện về nội dung - phương phỏp giảng dạy, học tập theo tinh thần đổi mới hiện nay
Dạy học mụn toỏn thực chất là dạy hoạt động toỏn Học sinh là chủ thể của hoạt động học nờn giỏo viờn cần phải tổ chức cỏc hoạt động học như thế nào để khơi gợi hứng thỳ, cuốn hỳt cỏc em tham gia cỏc hoạt động học tập nhằm củng cú kiến thức cũ, tỡm tũi phỏt hiện, giải quyết cỏc tỡnh huống đế từ
đú tiếp nhận kiến thức mới một cỏch tự giỏc, tớch cực
í thức được trỏch nhiệm người giỏo viờn trong thời kỳ đổi mới, điều tụi quan tõm và suy nghĩ là làm thế nào để đem đến cho học sinh của mỡnh một phong cỏch học tập mới, thoải mỏi và tự tin, kớch thớch hơn nữa niềm say mờ, sỏng tạo, tớnh tự học, tự tỡm tũi nghiờn cứu nhằm tạo ra những học sinh cú phẩm chất tốt đẹp, cú năng lực, bản lĩnh đỏp ứng được những đũi hỏi của xó hội
Là một giỏo viờn được phõn cụng giảng dạy mụn toỏn tụi nhận thấy rằng mụn toỏn cú một đặc thự riờng khiến cho nú được mệnh danh là “ Mụn thể thao của trớ tuệ ” Nhưng lõu nay người ta thường khụng dạy cho học sinh một “toỏn học” đang vận động phỏt triển mà dạy cho học sinh một “toỏn học”
đó hỡnh thành xong xuụi, biến học sinh thành người tham quan lõu đài toỏn học chứ khụng đặt họ vào
vị trớ người cảm xỳc, suy nghĩ, thiết kế và thi cụng ra lõu đài đú
1 2/ Lịch sử vấn đề
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ thăm lớp cỏc giỏo viờn trong trường , tụi nhận thấy học sinh cũn gặp nhiều khú khăn trong việc giải cỏc bài toỏn rỳt gọn biểu thức cú chứa căn thức bậc hai, lớ do là cỏc
em thực hiện chưa tốt việc biến đổi biểu thức cú chứa căn thức bậc hai
Nhằm nõng cao chất lượng giảng dạy, giỳp học sinh cú thỏi độ tớch cực hơn trong học tập, cảm thụ được cỏi hay, cỏi đẹp của mụn toỏn và thể hiện kỹ năng giải từng loại toỏn Do đú tụi đó thực hiện đề tài
“Giúp học sinh học tốt việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai” trong chương trỡnh
toỏn lớp 9
1.3/ Phạm vi đề tài :
Đề tài được thực hiện ở Đ 6 chương I mụn Đại số lớp 9, đề tài chỉ đề cập đến hai loại biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai đú là :
- Đưa thừa số ra ngoài dấu căn
- Đưa thừa số vào trong dấu căn
Trang 2Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
Thời gian thực hiện : năm học 2008 – 2009
II/ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
2.1/ Thực trạng tình hình :
2.1.1/ Đặc điểm :
Trường Tân Hiệp A5 nằm trên đia bàn khá đặc thù về địa lý : giáp ranh giữa hai huyện Tân Hiệp
và Châu Thành với diện tích gần 24 km2 người dân sống chủ yếu bằng nghề nông thậm chí có gia đình không có ruộng đất phải làm thuê, làm mướn
Những năm gần đây tình hình giáo dục trong địa bàn cũng tương đối biến chuyển tốt Người dân
đã có những động thái tích cực quan tâm đến giáo dục
Hệ thống trường đang được đầu tư mạnh mẽ Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình công tác và rất quan tâm đến sự tu dưỡng, rèn luyện của các em
Trường học đang được mở rộng cả quy mô đến chất lượng
2.1.2Thuận lợi :
Được sự quan tâm sâu sát của ban giám hiệu, tổ chức công đoàn, đoàn đội và nhất là tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn cũng như kinh nghiệm công tác của các đồng nghiệp trong nhà trường
Trong những năm gần đây vấn đề dạy - học môn toán đã và đang đổi mới nhất là đổi mới mạnh
mẽ về phương pháp dạy học Dạy học tính tư duy logic, suy luận chặt chẽ, tính khoa học, yêu cầu thẩm
mỹ trong cách trình bày gọn gàng ngăn nắp của toán học là một nhiệm vụ quan trọng và cũng mang tính cấp thiết của xã hội nhất là trong thế giới đang bùng nổ về khoa học công nghệ
Chương trình sách giáo khoa đã có những bước chuyển mình tích cực rõ rệt, có nhiều đổi mới về nội dung cũng như các kênh thông tin ( kênh hình, kênh chữ) và có nhiều hơn các bài tập mang tính thực tiễn cao giúp các em không tiếp thu kiến thức đơn thuần, giáo điều, xa rời thực tế, xuất phát đúng
từ quan điểm nhận thức : “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Bản thân trường đang chuẩn bị công nhận trường chuẩn nên bước đầu đã được đầu tư một số trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động giảng dạy trong nhà trường
2 2/ Một số khó khăn :
2.2.1/ Đối với giáo viên :
- Số năm công tác còn ít, chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và quản lý học sinh
- Mới được phân công giảng dạy lớp 9 được hai năm, nên hệ thống kiến thức chưa thật rõ ràng
2.2.2/ Đối với học sinh:
Số học sinh yếu trong lớp còn chiếm một tỉ lệ cao, nên trong quá trình
giảng dạy giáo viên thường giành nhiều thời gian hướng dẫn các em các bước để giải một bài toán, nên không còn thời gian để hướng dẫn các em đi khai thác sâu bài toán
Bên cạnh một số em có thái độ học tập tốt vẫn còn một số học sinh chưa tích cực, thờ ơ trong học tập Các em đi học đôi khi chỉ vì áp lực của gia đình và xã hội, riêng bản thân các em chưa có động
cơ, ý thức học tập để vươn lên
Một số học sinh gia đình khó hhăn thì ngoài giờ học các em còn phải lao động phụ giúp gia đình Bên cạnh đó, các trò chơi điện tử ( game online), phim ảnh, quán karaoke, bida… chực chờ lôi kéo các em, tác động không nhỏ lên ý thức, thái độ học tập của học sinh Một số em mê chơi sẵn sàng cúp tiết, bỏ học…
2.2.3/ Phụ huynh học sinh:
Môn toán là môn học dễ kiểm tra qua vở ghi, bài kiểm tra của học sinh nên được nhiều phụ huynh quan tâm và nhắc nhở con em mình học tập
Tuy nhiên vẫn còn một số gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nên không có nhiều thời gian quan tâm đến việc học của con em
2.2.4/ Đối với nhà trường :
Cơ sở vật chất của nhà trường đã được nâng lên rõ rệt, tuy nhiên lượng sách tham khảo dành cho giáo viên và học sinh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập
Cơ sở vật chất (bàn ghế ) chưa phù hợp với việc dạy – học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập ( mà cụ thể là hoạt động nhóm ) của học sinh
2.3/ Những hạn chế, khó khăn khi giải quyết vấn đề trong thực tế
- Một sổ học sinh ( học sinh yếu ) thường xuyên nghỉ học nên các “ mắt xích ” kiến thức không liên
Trang 3Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
tục Không có nền tảng để tiếp thu kiến thức mới
- Các em học bài ở nhà chưa thật tốt, một số em chỉ học vẹt nên việc áp dụng các kiến thức đã học trên lớp vào bài tập còn gặp nhiều khó khăn
- Chưa có nề nếp trong việc chuẩn bị kiến thức cho tiết học sau Các em chỉ xem đại khái, qua loa nên việc tiếp thu kiến thức trên lớp chưa thật sự đạt hiệu quả Mà theo phương pháp học tập tích cực thì học sinh là người tự nghiên cứu để phát hiện vấn đề, giáo viên dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề ấy
- Lên lớp chưa tích cực tiếp thu, ít chịu suy nghĩ, tham gia các hoạt động để tự chiếm lĩnh tri thức Chưa chịu khó tìm tòi cách giải quyết vấn đề, cách giải các bài tập
- Học sinh mới làm quen với căn thức bậc hai nên các thao tác chưa nhuần nhuyễn Một số em thì không nắm được phần lý thuyết cơ bản (định lí, định nghĩa )
Khảo sát thực tế từ học sinh :
2007-2008 87 11≈12,6% 20≈23% 29≈33,4% 20≈23% 7≈8%
III/ Giải pháp thực hiện đề tài :
3.1/ Biện pháp thực hiện đề tài
3.1.1/ Kế hoạch thực hiện đề tài
Để tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã vận dụng năng lực của bản thân và các kinh nghiệm học hỏi được từ các bạn đồng nghiệp để đề ra kế hoạch giải quyết các vấn đề dã nêu ra ở trên :
3.1.1.1/ Đối với học sinh
- Chuẩn bị dụng cụ, phương tiện học tập, thực hiện các yêu cầu mà giáo viên đã giao ở phần củng cố hay dặn dò ở tiết trước
- Cần phải phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong mỗi tiết học
3.1.1.2/ Đối với giáo viên
- Phối hợp với GVCN, GVBM nhắc nhở một số học sinh thường xuyên bỏ học Có kế hoạch giúp đỡ, động viên các em học sinh yếu, kém
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, bài tập, phương tiện học tập có liên quan có liên quan tới bài học ở tiết sau để nhắc học sinh chuẩn bị ngay phần củng cố hoặc
phần hướng dẫn về nhà trong mỗi tiết học
- Chuẩn bị các phương tiện giảng dạy nghiêm túc, có hệ thống
- Trong mỗi tiết dạy, luôn dành thời gian kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
3.1.2/ Biện pháp thực hiện
Để giúp học sinh học tốt việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai ( mà cụ thể là đưa thừa số ra ngoài dấu căn, đưa thừa số vào trong dấu căn) nên thực hiện một số biện pháp sau :
3.1.2.1/ Hướng dẫn học sinh học bài và chuẩn bị bài ở nhà
Trong phần củng cố ở mỗi tiết học, giáo viên dành thời gian để giúp học sinh :
- Tự củng cố và ghi nhớ các đơn vị kiến thức trong tiết học Hoặc qua mỗi bài tập thì giúp học sinh nhớ lại đặc điểm, cách làm và các kiến thức đã được áp dụng trong bài toán
- Biết cách giải các bài tập về nhà, chuẩn bị các kiến thức cho bài sau bằng cách hệ thống lại kiến thức có liên quan đến căn thức bậc hai :
Giá trị tuyệt đối của một số :
0
a khi a
a a
a khi a
≥
= = − <
Hằng đẳng thức :
2
A = A
Công thức khai căn m của một số :
n
m a n =a m
Biết sử dụng bảng kê số để khai căn căn bậc hai của các số và học thuộc các số chính phương trong khoảng từ 1 đến 400
Trang 4Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
Biết cách khai phương một số biểu thức cơ bản
Số mũ Biểu thức có số mũ lẻ Biểu thức có số mũ chẵn
3 x3 = x x2 = x x
7 x7 = x x6 = x3 x
Chuẩn bị các đơn vị kiến thức có liên quan tiết sau bằng cách gợi và giải quyết vấn đề Ví dụ : Để chuẩn bị cho bài “ § 6 Biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai” tôi cho học sinh về nhà làm các bài tập sau ( đã phân loại cho cả 3 loại đối tượng học sinh ) :
Ví dụ 1 :
1.Tính : 2 ; −2 ; a
khi a ≥ 0 và khi a < 0
Giải : 2 = 2 ; −2 = - (- 2 ) = 2 ;
0 0
a khi a a
a khi a
≥
= − <
2.Tính : 12 ; 2 ( )2
7
−
; ( )2
2 1−
; ( )2
2− 5
; a2 Giải : 122 =12 12= ; ( )2
− = − =
2 1− = 2 1− = 2 1−
; ( )2 ( )
2− 5 = −2 5 = − −2 5 = 5 2−
vì 2= 4< 5
0
a khi a
a a
a khi a
≥
= = − <
Hai bài tập này, học sinh nhớ lại kiến thức về : GTTĐ và HĐT
2
A = A ,
Trang 5Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức mới là “ Đưa thừa số ra ngoài dấu căn ”
3.1.2.2/ Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong giải quyết vấn đề:
Một trong những yếu tố cuốn hút học sinh vào việc tìm tòi, phát hiện kiến thức, xây dựng bài và tìm tòi thêm các cách giải bài tập; tiếp nhận và sử dụng kiến thức một cách chủ động đó là nghệ thuật dẫn nhập vào bài của giáo viên Trong khi dẫn nhập vào bài mới giáo viên cần lưu ý một yếu tố đó
là “đảm bảo tính vừa sức” ; do đó, tùy từng đơn vị kiến thức, dạng bài học, đối tượng học sinh mà giáo viên có thể linh hoạt trong việc dẫn nhập vào bài
Ví dụ : Để dẫn dắt học sinh vào bài : “§ 6 Biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai ” tôi làm như sau :
Kiểm tra bài cũ : bao gồm các bài tập về nhà và các bài tập mà giáo viên đã dặn ở tiết trước ( đã viết
ớ trên ) Nhấn mạnh lại các kiến thức cần cho bài học như : ( ghi lên bảng)
Giá trị tuyệt đối của một số :
0 0
a khi a a
a khi a
≥
= − <
Hằng đẳng thức :
2
A = A
Các số chính phương trong khoảng từ 1 đến 400
Đặt vấn đề : Tính :
Đối với học sinh trung bình - yếu : a 3 22 ; b 54
Giải: Dựa vào phần kiểm tra bài cũ, ta thấy có thể lấy số 32 ra ngoài dấu căn
a
2
3 2= 3 2 3 2=
Qua câu a, để làm được câu b thì phải phân tích số 54 thành dạng tích mà trong đó có một số là
số chính phương Vậy ta phân tích : 54 = 9.6
b 54 = 9.6 = 9 6 = 3 62 =3 6
Đối với học sinh khá - giỏi : a 16a2 với a 0
b 63a b2 với a < 0 Giải: Ở câu a, muốn đưa 16a2 ra ngoài dấu căn thì phải phân tích 16a2 thành (4a)2
a 2 ( )2
16a = 4a = 4a =4.a =4a
vì a ≥ 0
Muốn đưa 63a2b ra ngoài dấu căn thì phải phân tích 63 thành dạng tích mà trong đó có một số là số chính phương Vậy ta phân tích : 63 = 9.7
b
63a b = 9.7a b = 3 7a b = 3a 7b=3 a 7b
Vì a < 0 nên a = −a Do đó 63a2 = −3 7a
Qua các ví dụ trên, giáo viên dẫn dắt học sinh đi đến trường hợp tổng quát :
Với các biểu thức A, B mà B ≥ 0 ta có : A B2 = A B
0, 0
A B khi A B
A B A B
A B khi A B
= =
− < ≥
3.1.2.3/Tạo động cơ học tập, khám phá cách giải bài tập
Trang 6Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
Học sinh là chủ thể của hoạt động học mà học thì không phải chỉ là sự lãnh hội kiến thức mà chính là sự biến đổi về nhận thức, trí tuệ và nhân cách Đối với toán học thì giải toán là hình thức chủ yếu của việc học toán
Từ cơ sở các kiến thức mà học sinh đã tiếp thu ở trên, giáo viên đưa ra bài toán sau : Rút gọn các biểu thức sau :
a 2 2+ 18− 32
b a b2 + a b4 − a b3 3 Với a > 0, b < 0
c
3
xy a b
ab xy với a, b, x, y > 0
Giải : Muốn rút gọn , ta phải biến đổi các căn thức thành các căn thức đồng
dạng bằng cách đưa các thừa số ra ngoài dấu căn, sau thực hiện các phép toán
( )
2 2 18 32 2 2 9.2 16.2
2 2 3 2 4 2
2 3 4 2 2
+ − = + −
= + −
= + − =
Tương tự, học sinh làm câu b) bằng cách đưa thừa số ra ngoài dấu căn, chú ý điều kiện của các biểu thức
a b+ a b− a b = a b+ a b− a ab b = a b+ a b−ab ab
Vì a > 0, b < 0 nên : a b a b ab ab= , = −ab ab
Vậy :
( )
2 2 2
a b a b ab ab
a b a b ab ab
a a b ab ab
+ −
= + +
= + +
Từ các kỹ năng có được từ câu a, b ; học sinh áp dụng giải câu c; phải phân tích các thừa số thành thành tích các thừa số trong đó có số chính phương
3
xy a b
ab xy với a, b, x, y > 0
Giải :
xy a b xy a a b xy a a b
ab xy = ab x y y = ab y xy
2 3 . 2 3 .
Vì a > 0, y > 0 nên a =a y, = y, ta có :
3
bxy
Giáo viên đặt vấn đề tiếp theo :
Trên đây, ta đã đưa các thừa số ra ngoài dấu căn Vậy muốn thừa số vào trong dấu căn ta sẽ thực hiện như thế nào ?
Học sinh nhận thấy : đưa thừa số vào trong dấu căn là phép toán ngược của phép toán đưa thừa
Trang 7Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
số vào trong dấu căn
VD : Đưa thừa số vào trong dấu căn
a 5 2 ; b 2 5− ;
c
21
x
xy với x > 0, y > 0 ;
d
39
x x
−
với x > 0, y > 0 Giải : a 5 2= 5 22 = 25.2 = 50
b −2 5= − 2 52 = − 4.5= − 20
Giáo viên dẫn dắt học sinh đến công thức tổng quát
Với các biểu thức A, B mà B ≥ 0 ta có :A B = A B2
Nếu A ≥ 0 và B ≥ 0 thì A B = A B2
Nếu A < 0 và B ≥ 0 thì A B= − A B2
Giáo viên mở rộng bài toán, giúp học sinh xác mối liên hệ mối quan hệ với các bài toán khác
Ví dụ : Đưa thừa số vào trong dấu căn
a
21
x
xy với x > 0, y > 0
Giải :
2
21 21.x 21.x x
xy = xy = y
b
39
x x
−
với x < 0 Giải :
2
39 39
39
x
− = − − = − −
3 2/ Kết quả
Qua thực tế áp dụng đề chuyên đề này vào trong qúa trình giảng dạy , tôi nhận thấy:
- Học sinh rất thích thú trong việc gỉai quyết các bài tập, tự giác, tích cực học tập
- Phát huy mạnh mẽ tính tự học, tự tìm tòi, tự nghiên cứu, năng lực tư duy của học sinh được nâng lên đáng kể
- Rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp như say mê , kiên trì, chính xác và sáng tạo khi giải quyết các bài toán
- Tạo được không khí học tập sôi nổi trong học sinh, tạo sự ganh đua lành mạnh trong học tập toán học , học sinh hiểu các bài toán sâu hơn, rộng hơn, áp dụng nâng cao đối với nhiều dạng toán khó Kết quả học tập được nâng lên đáng kể
* Kết quả cụ thể :
Tiết dạy chưa áp dụng
đề tài
Tiết dạy có áp dụng
đề tài
Số HS chưa hiểu bài
Số HS có hiểu bài
Số HS chưa hiểu bài
Số HS có hiểu bài 9A 43 12 ≈28% 31 ≈72% 5 ≈11,6% 38 ≈88,4% 9B 44 15≈34,1% 30 ≈65,9% 7 ≈15,91% 37 ≈84,09%
VI/ KẾT LUẬN :
4.1/ Tóm lược giải pháp
Trang 8Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
a/ Đối với giáo viên giảng dạy:
Xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết, cụ thể, thực hiện cách tổ chức, hướng dẫn học sinh có tính nhất quán Bài soạn phải thể hiện được phương pháp giảng dạy, chú trọng đến phần dẫn luận cho các em tự tìm ra kiến thức do đó các em dễ nhớ, nhớ lâu
Hướng dẫn học sinh học bài và chuẩn bị bài ở nhà để tạo nền tảng kiến thức co việc tiếp thu kiến thức mới
Giáo viên phải tổ chức tiết học sao cho học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo trong giải quyết vấn đề
Tạo không khí vui tươi, sôi nổi trong lớp học giúp học sinh có hứng thú, động cơ học tập Lưu ý
“ đảm bảo tính vừa sức ” khi đặt vấn đề
Luôn bám sát học sinh để tìm hiểu, tiếp nhận thông tin ngược từ các em để kịp thời sửa đổi phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đơn vị kiến thức
Phải thường xuyên nâng cao năng lực tự đánh giá, phân tích của học sinh
b/ Đối với học sinh : Giáo viên phải xây dựng cho học sinh nề nếp :
- Chuẩn bị bài ở nhà theo yêu cầu của giáo viên
- Có ý thức học tập nghiêm túc, tự xây dựng được kế hoạch học tập, rèn luyện ý thức hoạt động nhóm : tranh luận, thống nhất ý kiến nhưng vẫn có nề nếp tạo không khí lớp học sôi động, thoải mái
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức
Biết phân tích, đánh giá, tổng hợp các bài toán cơ bản thành các dạng bài toán cụ thể cho mình, giải tón có hệ thống, lập luận chặt chẽ, đầy đủ
4.2/ Phạm vi áp dụng của đề tài
Hai lớp 9 Trường THCS Tân Hiệp A5 năm học 2008 - 2009
4.3/ Bài học kinh nghiệm
Sau khi thực hiện đề tài này tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Thường xuyên tham khảo các tài liệu liên quan đến môn học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt các vấn đề một cách sâu, rộng , tổng quát Từ đó có phương pháp giảng dạy phù hợp hơn với từng đối tượng học sinh
- Thực tế giảng dạy cho thấy nếu giáo viên thực hiện tốt các bước giải bài tập toán Thường xuyên và liên tục hướng dẫn, yêu cầu học sinh khai thác và phát triển bài toán thì hiệu quả học tập của học sinh
có nhiều bước tiến mới Việc tổ chức giờ dạy trở nên sinh động, phát huy tốt khả năng tư duy , năng lực độc lập sáng tạo của các học sinh Song không ai có thể nghĩ rằng có thể đạt được các yêu cầu trên trong quá trình khai thác và phát triển bài toán trong một thời gian ngắn với toàn thể học sinh Do đó người gíao viên cần phải kiên trì hướng dẫn từng bước và liên tục thực hiện các yêu cầu đó, để phát huy hơn nữa hiệu quả của tiết dạy giải bài tập toán Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn toán trong nhà trường
4.4/ Kiến nghị
* Đối với cấp Phòng GD- ĐT :
Cần tăng cường cơ sở vật chất, các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của
giáo viên và học sinh
* Đối với nhà trường :
Nên tổ chức nhiều chuyên đề để giáo viên có điều kiện trao đổi với nhau các kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy
Đề tài này chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tôi rất mong được sự dóng góp của quý thầy cô để tôi có thêm nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, có cơ hội cống hiến nhiều hơn cho ngành
Tân Hiệp , Ngày 29 tháng 4 năm 2009
Ban thi đua nhà trường Người viết
Duyệt xét đánh giá xếp loại :
Tân Hiệp, ngày 25 tháng 04 năm 2009
Trưởng ban thi đua
Nguyễn Thanh Phong
Trang 9Việc biến đổi đơn giản biểu thức chứa căn thức bậc hai
Ý kiến của Hội đồng xét duyệt PGD & ĐT