Trong nhà trường phổ thông: môn Hoá học là môn khoa học thực nghiệm, một môn học chứa đựng nội dung phong phú, đa dạng. Nó gắn liền với các thí nghiệm. Nó có tiềm năng phát triển các phẩm chất đạo đức. Cho nên mục đích dạy học môn Hóa Học được đặt ra là: Làm cho học sinh nắm vững kiến thức và có kỹ năng thực hành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường; Làm cho học sinh phát triển năng lực trí tuệ; Hình thành cho học sinh các phẩm chất tốt đẹp. Trước đây trong giảng dạy môn hoá học, người giáo viên thường sử dụng phương pháp thuyết giảng truyền thống có xu hướng lấy giáo viên là trung tâm, truyền đạt thông tin một chiều, thông báo kiến thức có sẵn, dễ dẫn đến sự thụ động của học sinh trong quá trình học tập. Nhiều giáo viên dạy học nhưng chưa tâm huyết còn chậm đổi mới phương pháp giảng dạy chỉ cốt dạy cho học sinh học để thi, chứ không phải để làm việc, việc dạy học xa rời thực tiễn, chưa coi trọng thực hành, bệnh thành tích còn nặng nề.
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN CAM KẾT
I Tác giả
Họ và tên: Chu Thị Nhung
Ngày, tháng, năm sinh: 23/08/1980
Đơn vị công tác: Trường THCS Tam Hưng
Điện thoại: 0313957211 Di động: 01653193559
E- mail: Nhung80.edu@gmail.com
II Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dung
Tên đề tài: Đổi mới phương pháp giảng dạy: Bài40 – Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- Nhiên liệu
III Cam kết
Tôi xin cam kết đề tài này là của cá nhân tôi Nếu xảy ra sự tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ nội dung đề tài Tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo phòng giáo dục về tính trung thực của bản cam kết này
Trang 2DANH SÁCH CÁC ĐỀ TÀI ĐÃ VIẾT
1 Phương pháp giảng dạy bài lập CTHH - Hoá 8 2007 A
3 Giảng dạy các tiết thực hành có hiệu quả 2009 A
5
Bước đầu hình thành kỹ năng tính theo phương
trình hoá học cho học sinh lớp 8 qua bài: tính theo
PTHH
6 Nâng cao chất lượng nâng tiết 49- luyện tập
chương IV: Hiđrocacbon Nhiên liệu
7 Đổi mới phương pháp giảng dạy:
Bài 16- Tính chất hóa học của kim loại
8
Đổi mới phương pháp giảng dạy:
Bài 40-Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên
liệu
2014
Trang 3IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ 7-8
Trang 4ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG:
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY: BÀI 40-DẦU MỎ VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
VÀ BÀI 41- NHIÊN LIỆU
I TÓM TẮT:
Trong nhà trường phổ thông: môn Hoá học là môn khoa học thực nghiệm, một mônhọc chứa đựng nội dung phong phú, đa dạng Nó gắn liền với các thí nghiệm Nó có tiềmnăng phát triển các phẩm chất đạo đức Cho nên mục đích dạy học môn Hóa Học được đặt
ra là: Làm cho học sinh nắm vững kiến thức và có kỹ năng thực hành ngay từ khi còn ngồitrên ghế nhà trường; Làm cho học sinh phát triển năng lực trí tuệ; Hình thành cho học sinhcác phẩm chất tốt đẹp
Trước đây trong giảng dạy môn hoá học, người giáo viên thường sử dụng phươngpháp thuyết giảng truyền thống có xu hướng lấy giáo viên là trung tâm, truyền đạt thông tinmột chiều, thông báo kiến thức có sẵn, dễ dẫn đến sự thụ động của học sinh trong quá trìnhhọc tập Nhiều giáo viên dạy học nhưng chưa tâm huyết còn chậm đổi mới phương phápgiảng dạy chỉ cốt dạy cho học sinh học để thi, chứ không phải để làm việc, việc dạy học xarời thực tiễn, chưa coi trọng thực hành, bệnh thành tích còn nặng nề
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật Đặc biệt ngành hoá học đã phát triển và đạt được những thành tựu to lớn Quá trình dạy học môn Hóa Học phải nhằm tạo ra con người xã hội cần Đó là con người có tri thức, có tay nghề cao, có năng lực thực hành tốt, luôn tự chủ, năng động sáng tạo Đào tạo những con
người tự chủ, năng động sáng tạo, con người có kiến thức văn hoá khoa học kĩ thuật, có kĩ năng nghề nghiệp, có ý thức vươn lên, có năng lực tự học, có thói quen học tập suốt đời
Chính vì thế người giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy đặc biệt là sử dụngphương pháp bàn tay nặn bột vào trong những bài dạy có tính thực tiễn, bài dạy có thínghiệm Bởi vì phương pháp "Bàn tay nặn bột" là phương pháp dạy học khoa học dựa trên
cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.Nguyên lý căn bản của phương pháp "Bàn tay nặn bột" là dạy học cho học sinh dựa trênhoạt động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá thực tiễn Trong phương pháp này, dưới sự hướngdẫn của giáo viên, chính học sinh khám phá thực tiễn, tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm đểrút ra kiến thức và hình thành kĩ năng theo yêu cầu (tiếng Anh là "Learning by doing") Vìvậy phương pháp bàn tay nặn bột là một trong những phương pháp dạy học tích cực ở mônKhoa học: Cải thiện khả năng làm việc nhóm; Nâng cao năng lực phát hiện và giải quyếtvấn đề; Đề cao thực hành, thực tiễn, …
Giải pháp của tôi là sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" vào giảng dạy một sốbài trong môn hóa học Trong phạm vi của đề tài tôi xin được giới thiệu phương pháp bàn
tay nặn bột vào giảng dạy bài: “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu”
thay vì chỉ sử dụng phương pháp cũ Nghiên cứu được tiến hành trên hai lớp tương đương9A1 và 9A2 năm học 2012-2013 trường THCS Tam Hưng Lớp 9A1 là lớp thực nghiệm và
lớp 9A2 là lớp đối chứng Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy bài“ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” Kết quả cho thấy tác động đã có
ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh: Lớp thực nghiệm 9A1 đã đạt kết quả họctập cao hơn so với lớ 9A2 đối chứng Điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm có giátrị trung bình là 8,4; điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng là 7,08 Kết quả kiểmchứng t-test cho thấy p < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớpthực nghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng minh rằng sử dụng phương pháp "Bàn tay
nặn bột" trong dạy học “ Bài 40-Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” làmnâng cao kết quả học tập của học sinh
Trang 5II GIỚI THIỆU
Khi dạy học bài “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” nếu GV
vẫn chỉ dùng các phương pháp dạy học cũ thì học sinh khó tiếp thu bài học và chán nản không muốn học, không phát huy được khả năng tự học, tính sáng tạo, khả năng làm việc nhóm cho HS Là giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy nhiều năm tôi thấy nếu giáo viên
biÕt c¸ch tæ chøc thùc hiÖn tốt “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" thì kiến thức học sinh tiếp thu được sẽ
nhẹ nhàng và sâu sắc hơn Học sinh được phát huy khả năng sáng tạo, rèn luyện tác phong làm việc, nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách khoa học, phát huy tính độc lập, tự chủ, tự giác của học sinh trong học tập Tiến trình dạy học của phương pháp "Bàn tay nặn bột" pháttriển đồng thời khả năng thực nghiệm, quan sát, suy luận, lập luận và kiến thức khoa học ở học sinh Hoạt động học tập thep phương pháp "Bàn tay nặn bột" tạo ra không khí năng động trong lớp học; trong học sinh luôn có câu hỏi thường trực để tìm tòi, khám phá; học sinh luôn tìm kiếm sự logic, lời giải thích Tham gia hoạt động dạy học theo phương pháp
"Bàn tay nặn bột" còn giúp các em vượt qua được sự nhút nhát, bị động; các em tự tin vào bản thân, tự tin khi nói trước công chúng, năng động trong công việc Học sinh học được cách lắng nghe, cách phê bình, cách thông cảm, giúp đỡ người khác và tôn trọng quy tắc chung Dạy học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến
thức một cách chủ động mà còn giúp hình thành nhân cách cho học sinh Học sinh được rèn
kĩ năng thí nghiệm, hứng thú học tập, yêu thích bộ môn hóa học hơn góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn
1 Giải pháp thay thế
Giáo viên bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, thiết kế dạy “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” theo phương pháp "Bàn tay nặn bột": GV thiết kế tổ chức,
điều khiển các hoạt động của HS sao cho HS tự: đề xuất được các tình huống; Nêu các giả
thuyết, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; Đối chiếu cách làm thí nghiệm và
kết quả với các nhóm khác; Rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu Như vậy
học sinh sẽ được tự học, tự nhận thức, tự khám phá tìm tòi các tri thức khoa học một cách chủ động Học sinh được làm việc tích cực, HS hoạt động hợp tác theo nhóm nhỏ phù hợp với nhiệm vụ được giao Giáo viên sử dụng câu hỏi, bài tập như là những vấn đề cần giải quyết để mở rộng, khắc sâu, tổng hợp kiến thức Khi nghiên cứu đề tài này tôi muốn đánh
giá được hiệu quả của việc thiết kế “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” theo phương pháp dạy học mới "Bàn tay nặn bột".
2 Vấn đề nghiên cứu
Việc thiết kế dạy học “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên” theo phương pháp
"Bàn tay nặn bột" có giúp học sinh trường THCS Tam Hưng biết được khái niệm, thành phần, trạng thái tự nhiên của dầu mỏ, khí thiên nhiên và khí mỏ dầu và phương pháp khai thác chúng; Một số sản phẩm chế biến từ dầu mỏ không? HS có biết được Dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồn nhiên liệu và nguyên liệu quý trong công nghiệp không? HS có biết đọc, trả lời câu hỏi, tóm tắt được thông tin về dầu mỏ, khí thiên nhiên và ứng dụng của chúng không? HS có biết vận dụng sử dụng có hiệu quả một số sản phẩm dầu mỏ và khí thiên nhiên?
Việc thiết kế dạy học “ Bài 41- nhiên liệu” HS có biết được khái niệm về nhiên
liệu, các dạng nhiên liệu phổ biến (rắn, lỏng , khí.) không? HS có hiểu và biết cách sử dụngnhiên liệu (gas, dầu hỏa, than ) an toàn có hiệu quả, giảm thiểu ảnh hưởng không tốt tớimôi trường không? HS có biết tính nhiệt lượng tỏa ra khi đốt cháy than, khí metan, và thểtích khí cacbonic tạo thành? Có phát huy được khả năng tự làm việc, tính sáng tạo, kíchthích được sự say mê nghiên cứu khoa học cho học sinh không?
Trang 63 Giả thuyết nghiên cứu
Dạy học “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên” theo phương pháp "Bàn tay nặn
bột" sẽ giúp học sinh biết được khái niệm, thành phần, trạng thái tự nhiên của dầu mỏ, khíthiên nhiên và khí mỏ dầu và phương pháp khai thác chúng; Một số sản phẩm chế biến từdầu mỏ HS biết được Dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồn nhiên liệu và nguyên liệu quýtrong công nghiệp HS biết đọc, trả lời câu hỏi, tóm tắt được thông tin về dầu mỏ, khí thiênnhiên và ứng dụng của chúng HS biết vận dụng sử dụng có hiệu quả một số sản phẩm dầu
mỏ và khí thiên nhiên
Dạy học “Bài 41- nhiên liệu” theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ giúp học sinh biết
được khái niệm về nhiên liệu, các dạng nhiên liệu phổ biến (rắn, lỏng , khí.)HS hiểu và biếtcách sử dụng nhiên liệu (gas, dầu hỏa, than ) an toàn có hiệu quả, giảm thiểu ảnh hưởngkhông tốt tới môi trường.HS biết tính nhiệt lượng tỏa ra khi đốt cháy than, khí metan, vàthể tích khí cacbonic tạo thành.Phát huy được khả năng tự làm việc, tính sáng tạo, kíchthích được sự say mê nghiên cứu khoa học trong học sinh
Giáo viên là người xây dựng dự án học tập cho học sinh và hướng dẫn học sinh thực thi từng bước theo tiến trình sư phạm Các hoạt động giáo viên đề ra cho học sinh được tổ chứctrong các giờ học, gắn với chương trình và dưới sự giám sát của giáo viên
III PHƯƠNG PHÁP:
1 Khách thể nghiên cứu.
- Giáo viên giảng dạy: cô Chu Thị Nhung- trường THCS Tam Hưng
- Học sinh: học sinh lớp 9 trường THCS Tam Hưng năm học 2012-2013 có tỉ lệ tương đồng
về giới tính có ý thức học tập, tất cả các em ở hai lớp này đều tích cực, chủ động.Về thành
tích học tập của năm học trước, hai lớp tương đương nhau về điểm số của tất cả các mônhọc
Bảng 1 Giới tính của HS lớp 9 trường THCS Tam Hưng.
Số HS các nhóm
2 Thiết kế nghiên cứu.
- Tôi chia làm hai lớp 9A1 và 9A2.Chọn lớp 9A1 làm lớp thực nghiệm, lớp 9A2 là lớp đối chứng Tôi dùng bài kiểm tra chung đề toàn trường bài học kì 1 lớp 9 làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác nhau, do đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T- test để kiểm chứng sự chênh lệch trung bình về điểm số của hai lớp trước khi tác động
Kết quả như sau:
Bảng2 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Trang 7- Ta thấy p = 0,28> 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch về điểm số trung bình của hai lớp làkhông có ý nghĩa, hai lớp được coi là tương đương.
Tôi lựa chọn thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động với nhóm tương đương
Bảng3 Thiết kế nghiên cứu
Thực nghiệm
(lớp (9A1) 01 Dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột 03
Đối chứng
(lớp 9A2) 02 Dạy học theo phương pháp thông thường 04
Ở thiết kế này tôi dùng phép kiểm chứng t-test độc lập
3 Quy trình nghiên cứu:
a Sự chuẩn bị bài của giáo viên:
- Ở lớp 9A2- lớp đối chứng: Giáo viên giảng dạy bài: “ Bài 40-Dầu mỏ và khí thiên
nhiên; Bài 41- nhiên liệu” theo các phương pháp thông thường.
- Ở lớp 9A1- lớp thực nghiệm: Giáo viên giảng dạy“ Bài 40: Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41: nhiên liệu” theo phương pháp "Bàn tay nặn bột"
b Tiến hành dạy thực nghiệm:
- Bảng 4 Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm
Thứ ngày Môn/Lớp Tiết theo
Thứ tư 6/03/13 Hóa học 9 51 Bài 40-Dầu mỏ và khí thiên nhiênThứ bảy ngày 9/3/2013 Hóa học 9 52 Bài 41: nhiên liệu
4 Đo lường và thu thập dữ liệu
- Bài kiểm tra trước tác động do tổ bộ môn ra đề thi chung cho cả hai lớp 9A1 và 9A2( xem phụ lục)
- Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi dạy “ Bài 40-: Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” do tổ bộ môn ra đề kiểm tra (xem phụ lục).
- Tiến hành kiểm tra và chấm bài: việc chấm bài được giáo viên khác thực hiện
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ:
Bảng 5 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Chênh lệch giá trị trung
Như trên đã chứng minh: kết quả hai lớp trước tác động là tương đương Sau tácđộng kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng t-test cho kết quả
p = 0,000006, đây là kết quả rất có ý nghĩa, tức là sự chênh lệch kết quả điểm trung
bình lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng không phải do ngẫu nhiên mà do kết quả củatác động
Giá trị SMD = theo bảng tiêu chí Cohen cho thấy mức độ ảnh
hưởng của phương pháp "Bàn tay nặn bột" với việc giảng dạy “ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên;Bài41 nhiên liệu” là đạt hiệu quả cao
Trang 8Hình 1 Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứngNhư vậy giả thuyết của đề tài đã được kiểm chứng
Bàn luận:
- Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm có điểm trung bình là 8,40,
của lớp đối chứng là 7,08 Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp thực nghiệm vàđối chứng có sự khác biệt rõ rệt Lớp thực nghiệm có điểm cao hơn lớp đối chứng
- Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là 1,32 Điều này có nghĩa mức
độ ảnh hưởng của biện pháp tác động là lớn
- Phép kiểm chứng t-test điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp là
p = 0,000006 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không
phải do ngẫu nhiên mà do kết quả tác động
Hạn chế: - Nghiên cứu sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" khi giảng dạy “ Bài
40-Dầu mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41- nhiên liệu” là một giải pháp tốt nhưng để dạy học có
hiệu quả thì HS phải có ý thức tự giác cao trong quá trình học tập, phải có ý thức tìm hiểutrước yêu cầu của giáo viên, phải tích cực suy nghĩ, phát biểu đề xuất câu hỏi Giáo viênphải nắm vững kiến thức mới khéo léo tổ chức định hướng cho học sinh Về phía nhàtrường phải có phương tiện hiện đại máy chiếu đa năng
V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
- Kết luận: Việc thiết kế, sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" khi dạy “ Bài 40- Dầu
mỏ và khí thiên nhiên; Bài 41-nhiên liệu” cho HS lớp 9- trường THCS Tam Hưng đã
nâng cao kết quả học tập môn hóa của học sinh
- Khuyến nghị: để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tốt giáo viên cần phải tích cựchọc tập, ứng dụng phương pháp giảng dạy mới đặc biệt sử dụng phương pháp "Bàn tay nặnbột" vào những bài dạy phù hợp với phương pháp Mỗi giáo viên đều phải tích cực tự họcbằng tất cả tâm huyết nỗ lực của người thầy, phải có sự nỗ lực cao và có những cố gắngkhông mệt mỏi của bản thân Nhà trường cần có phòng thực hành và trang bị đầy đủ cácdụng cụ, hóa chất thí nghiệm
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1 Bài tập trắc nghiệm hoá học 9- Tác giả Nguyễn Xuân Trường
2 Chuẩn kiến thức kĩ năng- bộ giáo dục và đào tạo ban hành
3 Câu hỏi và bài tập kiểm tra hoá học 9- Tác giả Phạm Tuấn Hùng- Phạm Đình Hiến
4 Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS- Bộ giáo dục và đào tạo
5 Phương pháp “ bàn tay nặn bột” trong dạy học các môn khoa học- Vụ giáo dục trung học
6 Sách giáo khoa hoá học lớp 9- Nhà xuất bản ban hành
7 Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Trang 9VII PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI
1 Phụ lục 1: Giáo án
1.1 Thiết kế giảng dạy“ Bài 40- Dầu mỏ và khí thiên nhiên” theo phương pháp “bàn tay nặn bột”.
I MỤC TIÊU:
1 Kiến thức: HS biết được
- Khái niệm, thành phần, trạng thái tự nhiên của dầu mỏ, khí thiên nhiên và khí mỏdầu và phương pháp khai thác chúng; Một số sản phẩm chế biến từ dầu mỏ
- Ứng dụng: Dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồn nhiên liệu và nguyên liệu quýtrong công nghiệp
2 Kĩ năng: HS biết đọc, trả lời câu hỏi, tóm tắt được thông tin về dầu mỏ, khí thiên
- Sưu tầm tư liệu về dầu mỏ và khí thiên nhiên
III TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1 Kiểm tra bài cũ:
Kể tên các hiđrocacbon đã học và nêu những ứng dụng chủ yếu của chúng?
2 Vào bài:
GV chiếu clip về ngành dầu khí Việt Nam
HS xem clip về ngành dầu khí Việt Nam
Gv: giới thiệu thế nào là dầu khí
GV: Các em đã biết được những kiến thức nào về dầu mỏ
HS: các nhóm thảo luận viết những thông tin đã biết về dầu mỏ
HS: báo cáo theo nhóm
HS: nêu câu hỏi đề xuất về dầu mỏ ?
(Nếu HS không nêu được GV gợi ý để HS đưa ra một số câu hỏi có thể là những câu hỏi sau)
Dầu mỏ và khí thiên nhiên có ở đâu?
Khai thác dầu mỏ như thế nào?
Tại sao dầu mỏ lại là nguồn tài nguyên rất quý đối với mỗi quốc gia?
HS: Dự đoán kết quả đề xuất
Giáo viên vào bài: Tiết học hôm nay, chúng ta sẽ nghiên cứu bài 40 để tìm hiểu kĩ hơn về dầu mỏ kiểm tra các kiến thức đã biết của các em và trả lời các câu hỏi đề xuất của các em về dầu mỏ
3 Nội dung bài giảng:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
Hoạt động1: Tính chất vật lí của dầu mỏ. I Dầu mỏ
Trang 10GV: Phát mẫu dầu mỏ, mẫu dầu mỏ và
nước
HS: Quan sát mẫu dầu mỏ, lắc nhẹ mẫu dầu
mỏ và nước Nhận xét về trạng thái, màu
sắc, tính tan trong nước của dầu mỏ?
GV chuyển ý: Vậy trong tự nhiên dầu mỏ có
ở đâu và có thành phần như thế nào?
Hoạt động 2: Trạng thái tự nhiên, thành
phần của dầu mỏ
GV: Trong tự nhiên, dầu mỏ có ở đâu?
GV: chiếu hình 4,16-sgk- 126
HS: quan sát, kết hợp với nghiên cứu thông
tin trong SGK trả lời câu hỏi sau:
1 Cấu tạo của mỏ dầu?
2 Dầu mỏ được khai thác như thế nào?
HS: lên bảng chỉ trên tranh
HS: nhận xét bổ xung
GV: Nhận xét
GV: Tại sao lúc đầu dầu có thể tự phun lên?
HS nhắc lại trạng thái tự nhiên, thành phần
của dầu mỏ, cách khai thác
GV: chiếu một số hình ảnh về cách khai thác
dầu trên mặt đất và trên biển
GV mở rộng: Trong quá trình khai thác dầu
mỏ ta còn thu được cả khí mỏ dầu, vì vậy
mà khí mỏ dầu còn được gọi là khí đồng
hành tuy nhiên trong quá khứ loại khí này
thường bị đốt bỏ, kể cả tới năm 2003 hàng
ngày có đến 10-13 tỷ feet khối khí trên toàn
thế giới bị đốt bỏ Ngày nay khí đồng hành
đã được tận dụng mang lại hiệu quả kinh tế
và làm giảm được ô nhiễm môi trường trong
quá trình khai thác dầu khí
GV: quốc gia nào có nhiều dầu mỏ nhất trên
thế giới?
GVgiới thiệu thêm một số thông tin khác về
dầu mỏ
GV chuyển ý: Dầu mỏ khai thác được từ
lòng đất gọi là dầu thô không sử dụng được
ngay Muốn sử dụng được phải qua quá
trình chế biến Dầu mỏ được chế biến như
thế nào, các sản phẩm chính thu được là gì?
1 Tính chất vật lí
SGK/126
2 Trạng thái tự nhiên, thành phần của dầu mỏ.
-Trạng thái tự nhiên: có trong các
mỏ dầu
-Thành phần: Là hỗn hợp phức tạpcủa nhiều loại hiđrocacbon vànhững lượng nhỏ các hợp chấtkhác
- Khai thác: khoan mỏ dầu
Trang 11Hoạt động3: Các sản phẩm chế biến từ
dầu mỏ.
HS: xem clip về chưng cất dầu mỏ
GV: qua thông tin trên cho cô biết dầu thô
được chế biến bằng phương pháp nào?
HS: phương pháp chưng cất
HS: quan sát hình 4.17/SGK, kết hợp với
hộp mẫu dầu mỏ thảo luận nhóm về các nội
dung sau:
1 Chưng cất dầu mỏ ta thu được những sản
phẩm gì?
2 Các sản phẩm này có ứng dụng gì trong
thực tế?
HS báo cáo, nhận xét
GV ghi bảng
GV: vì sao khi chưng cất dầu mỏ ở những
nhiệt độ khác nhau ta lại thu được những sản
phẩm khác nhau?
GV: trong các sản phẩm trên xăng là sản
phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng
thực tế lượng xăng thu được khi chưng cất
chỉ chiếm một lượng nhỏ.Vì vậy để tăng
lượng xăng người ta dùng phương pháp
crackinh để chế biến dầu nặng là các dầu
điezen, mazut thành xăng và các sản phẩm
khí như metan, etilen nhờ vậy mà lượng
xăng thu được chiếm khoảng 40% khối
lượng dầu mỏ
GV chuyển ý: Cùng với dầu mỏ thì khí thiên
nhiên cũng là một nguồn tài nguyên rất quý
giá Vậy khí thiên nhiên có ở đâu, thành
phần, ứng dụng như thế nào chúng ta cùng
tìm hiểu phần II
Hoạt động 4 Tìm hiểu về khí thiên nhiên
HS hoàn thành bài tập sau:
*Cho các từ sau: nước biển, etylen, metan,
lòng đất, mỏ khí, khoan, cuốc, mỏ dầu Em
hãy điền từ thích hợp vào chỗ chấm:
Khí thiên nhiên có trong các
(1) nằm dưới (2)
Thành phần chủ yếu của khí thiên nhiên là khí (3) khai thác bằng cách
(4) xuống mỏ khí Khí thiên nhiên được sử dụng làm (5).,
(6) trong đời sống và trong công nghiệp HS báo cáo, nhận xét GV: chiếu hình 4.18/sgk HS: quan sát và cho biết khí thiên nhiên và 3 Các sản phẩm chế biến từ dầu mỏ.
II Khí thiên nhiên
SGK/ 127
Trang 12khí mỏ dầu có đặc điểm gì giống nhau?
HS: thành phần chủ yếu đều là khí Metan
GV: vậy ứng dụng của khí đồng hành là gì?
HS: Được sử dụng làm nhiên liệu, nguyên
liệu trong đời sống và công nghiệp
GV chuyển ý: Qua đài báo, ti vi các em đã
biết được những gì về dầu mỏ và khí thiên
nhiên ở Việt Nam Chúng ta tìm hiểu phần
III
Hoạt động 5 Tìm hiểu về dầu mỏ và khí
thiên nhiên ở VIệt Nam
Gv: tổ chức trò chơi rung chuông vàng để
khai thác vốn hiểu biết của học sinh
Câu hỏi phần thi rung chuông vàng:
1 Dầu mỏ và khí thiên nhiên của nước ta tập
trung chủ yếu ở đâu? (GV chiếu hình ảnh)
2 ưu điểm nổi bật của dầu mỏ nước ta là gì?
3 Kể tên những mỏ dầu và khí ở Việt Nam
(GV chiếu hình ảnh)
3 Trữ lượng dầu mỏ và khí thiên nhiên dự
đoán có khoảng bao nhiêu?
4 Kể tên nhà máy lọc dầu ở Việt Nam?
GV chiếu hình ảnh 1 số nhà máy lọc dầu
GV: giáo dục ý thức học tập và hướng
nghiệp cho HS
5 Tên bài hát ca ngợi ngành dầu khí ?
Gv: Khai thác,vận chuyển và sử dụng không
cẩn thận dầu mỏ rất dễ gây ra các tai nạn
GV: chiếu hình ảnh cháy, nổ khí ga
GV:Vậy có bao nhiêu bạn đã biết sử dụng
A Phun nước vào ngọn lửa
B Dùng chăn ướt trùm lên ngọn lửa