667 Sự phát triển con người & nguồn nhân lực
Trang 1Lời nói đầu
Trớc xu thế mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới cũng nh trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc vấn để phát triển nguồn nhân lực ở nớc ta đang đối mặt với nhiều thử thách gay gắt để đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra Trong suốt thời gian dài, với khái nhiệm thành công của những năm kháng chiến chống Mỹ nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chỉ cần kích thích tính tích cực của ngời lao động bằng sự động viên tính thần bằng lời kêu gọi lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội là đủ thêm vào đó do quan niệm ấu chỉ về xã hội chủ nghĩa, do hiểu sai và do đó vận dụng sai quy luật qua hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, có thời kỳ chúng ta đã cho rằng chỉ cần tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, nhanh chóng thiết lập sở hữu công cộng đối với t liệu sản xuất là sẽ nhanh chóng có đợc kết quả tích cực trong kinh tế xã hội
Thực tiễn đã diễn ra không nh chúng ta nghĩ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây và nớc ta đã chứng tỏ rằng
dủ về cơ bản có công hữu hoá đợc t liệu sản xuất dù có xây dựng đợc một nền công nghiệp nặng với các mức độ khác nhau dù đã đa đợc các kỹ thuật mới thậm chí hiện đại vào sản xuất đi chăng nữa thì tất cả những cái đó vẫn cha trực tiếp dẫn đến chỗ nâng cao đợc hiệu quả sản xuất cùng với những cái đó điều hết sức quan trọng thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xí nghiệp là nhân lực Trớc hết là mức độ lành nghề và thái
độ của ngời lao động đối với công việc của mình Khi ngời lao động không còn tha thiết với công việc nữa thì đó là dấu hiệu của sự khủng hoảng chính thái độ thiếu hăng hái sản xuất của ngời lao động là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trì trệ, sa sút trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 Trớc tình trạng sa sút và trì truệ này chúng ta đã ít nhiều lúng túng không biết cái nào thật sự là động lực và do vậy không biết phải
tập trung tác động vào đâu để cho đúng để có thể khơi dậy tính tích cực ấu vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo chiều hớng chúng ta mong muốn Tất cả tình hình đó đã buộc chúng ta phải suy nghĩa phải tìm cho ra khâu then chốt cùng với những phơng hớng mà khi tác động vào đấy
có thể khơi dậy, nuôi dỡng phát huy tính tích cực của con ngời nhằm thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Từ đầu những năm 80 chúng ta buộc phải thừa nhận tầm quan trọng của các động lực khác ngoài động lực chính trị Tinh thần đặc biệt là tầm quan trọng của lợi ích Từ đó đến nay, nhất là từ sau đại hội VI của Đảng với đờng lối đổi mới, việc tìm tòi những yếu tố kích thích tích cực của con ngời và thông qua đó tạo nên động lực thực sự của sự phát triển kinh tế xã hội đợc quan tâm nhiều hơn Đã có không ít bài báo, cuốn sách, luận án đề cập đến lợi ích với tính cách là động lực Tuy nhiên phần lớn các công trình đều tập trung vào lợi ích kit còn vai trò của các động lực khác mới chỉ đợc nghiên cứu rất ít nhất là việc vạch ra hệ thống các động lực của sự phát triển kinh tế xã hội thì cha đợc nghiên cứu bao nhiêu Mặt khác ngay trong số các loại lợi ích thì lợi ích chính trị, t t-ởng văn hoá v.v nhất là mối quan hệ giữa các loại lợi ích còn có ít công trình đề cập đến Ngoài ra trong sự nghiệp đổi mới hiện nay điều rất quan trọng là với sự lợi ích kinh tế phải xác định đợc những yếu tố những động
Trang 2lực quan trọng khác mà khi tác động vào nó chúng ta có thể khơi dậy đợc tính this cực không chỉ của từng cá nhân mà còn của cả cộng đồng
Cùng với những điều trên đây còn một vấn đề tối quan trọng là phải
sử dụng tính tích cực của con ngời nh thế nào cho đúng bởi vì tính tích cực của con ngời có thể tác dụng xây dựng, cũng có thể kìm hãm thậm chí phá hoại sự vận động theo hớng tiến bộ của xã hội Vì vậy điều quan trọng chỉ
là ở chỗ làm thế nào phát huy tính tích cực của con ngời mà điều quan không kém mà còn là ở chỗ làm thế nào để sử dụng đợc tính tích cực ấy một cách đúng đắn để thúc đẩy, quá trình vận động của xã hội theo hớng tiến bộ
Không nằm ngoài những vấn đề nêu trên bài tiểu luận này của em mục đích nho nhỏ là góp phần thúc đẩy tính tích cực của con ngời trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc vì thời gian hạn chế nên bài viết của em không có tham vọng tìm hiểu sâu sa đợc vấn đề đó mà chỉ là một số
ý kiến nhỏ nh nhận thức, nhiệm vụ và phát huy nguồn nhân lực của con
ng-ời Vì thế em đã chọn đề tài “Sự phát triển con ngời và nguồn nhân lực ”
Đây là đề tài đầy tay của em nên trong quá trình viết còn rất nhiều hạn chế song là kết quả của sự nổ lực và cố gắng của bản thân em trong quá trình học tập tại trờng đặc biệt là có sự chỉ bảo tận tình của cô giáo qua bài viết này em xin đợc gửi lời cảm ơn kính trọng tới thầy em luôn mong những ý kiến góp ý bổ xung cho bài viết cúng nh sự giúp đỡ của thầy giáo trong thời gian tới
Một lần nữa em chân thành cảm ơn!
Trang 3Phần II: Nội dung Chơng I: Cơ sở lý luận
Trong cuộc sống của mỗi con ngời hay cũng nh của toàn xã hội, khái niệm về vật chất và ý thức dờng nh không bao giờ có thể tách rời giữa chúng có mối quan hẹe biện chứng với nhau, vật chất dữ vai trò quyết định với ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua sự chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con ngời
Vậy vật chất là gì? ý thức là gì? Giữa chúng có mối quan hệ nh thế nào đối với “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc”
Tim hiểu về con ngời (nguồn nhân lực) vậy con ngời trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nh thế nào? phải phát huy nguồn lực con
ng-ời trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nh thế nào vào bài viết tiểu luận này
I Khái niệm vật chất, ý thức, con ngời
a Theo Lê Nin khái niệm vật chất đợc định nghĩa nh sau:
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
đ-ợc đem cho con ngời trong cảm giác đđ-ợc cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
b ý thức:
ý thức là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc ngời
và là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con ngời, ý thức xuất hiện phải có hai nguồn gốc tự nhiên và hai nguồn gốc xã hội
c Khái niệm con ngời:
Từ xa xa và cho đến bây giờ vẫn tồn tại một cách hiểu con ngời nh là một tồn tại thần bí, có lúc ngời ta lại coi con ngời nh là “cây sậy biết nói” Hiểu nh vậy thì chỉ thấy (hoặc nhấn mạnh) khả năng nói dờng nh quyết
định cuộc đời Có khi ta thấy không hiểu nổi chính mình, nên có giả định rằng, hình nh trong mỗi ngời trần mắt thịt mà ta trông thấy lại có một con ngời bé xíu con ngời thần linh, mặt ta khong trông thấy, con ngời “tý hon” này điều khiển con ngời mà ta thấy đợc chỉ là một thân xác, giống nh muôn
Trang 4loại trên trái đất Còn cái phần khó hiểu kia thuộc về con ngời “tý hon” vô hình, đầy ma lực kỹ, suy ngẫm sâu, điểm qua các thành tựu triết học tâm
lý vv dần dần thấy rằng chẳng làm gì có con ngời “tý hon” trong con
ng-ời thân xác mọi thứ do con ngng-ời làm ra cũng từ con ngng-ời thân xác này cả Những thân xác con ngời, vẫn theo các tác giả này, đâu có khác gì mấy so với các loại động vật bậc cao, cũng vẫn phải ăn uông, sinh đẻ, sống chết, thế là họ đa ra lý thuyết “con ngời bản năng”., con ngời là một phần tồn tại sinh vật, hoặc có ngời cho con ngời từ lúc hình thành tế bào trứng đến lúc hai tuổi là tồn tại sinh vật, và theo đây mọi sự sống của con ngời, mọi thứ
do con ngời tạo ra, đều bắt nguồn từ bản năng Đúng là con ngời có bản năng, nhng bản năng ở con ngời khác, khác về chất so với bản năng cả động vật Quan sát hàng ngày về cách ăn, cách ở, cách bảo tồn và phát triển loài v v cũng đủ giúp chúng ta hiểu một chân lý triết học, bản năng của con ngời đã đợc ý thức hoá Thật khó có thể chấp nhận lý thuyết “con ngời bản năng” tổng quát hơn, triết học mác xít quan niệm “trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà các quan hệ xã hội ” và “tổng hoà” Thứ nhất, bản chất con ngời không phải là cái gì có sẵn, hay là cái gì nhất thành bất biến, mà bản chất con ngời là cái gì đó đợc hình thành nên hay bộc lộ ra trong cuộc sống của nó Trong cuộc sống bằng hoạt động của bản thân, con ngời mới chịu tác động của các quan hệ xã hội và nhờ đó con
ng-ời hội nhập vào các quan hệ đó Toàn bộ tồn tại khách quan chung quanh con ngời tác động vào con ngời thông qua các quan hệ xã hội (quan hệ sản xuất,quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, quan hệ cộng đồng, quan hệ nhóm….), hoặc d.), hoặc dới hình thức các quan hệ xã hội mà tác động vào con ngời Ngợc lại, con ngời có tác động trở lại vào tồn tại khách quan (môi trờng tự nhiên, môi trờng sinh sống, gia đình, các quan hệ, thể chế xã hội, v v )
Con ngời bao giờ cũng cùng với những ngời khác (nhóm, cộng đồng, giai cấp, dân tộc v v ) lao động, học tập, vui chơi, đấu tranh, xây dựng chính trong quá trình học tập lao động….), hoặc d này con ngời thiết lập nên các mối quan hệ xã hội
II ý thức của con ngời đối với sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá.
Con ngời Việt Nam đi vào thế kỷ XXI trong bối cảnh chung nh thế, cần tự xây dựng cho mình một hệ thống giá trị, một thang giá trị một thớc
đo gí trị nh thế nào, để có thể vừa góp phần tốt nhất vào sự nghiệp xây dựng
Trang 5đất nớc, vừa phát huy nhiều nhất những tiềm năng của bản thân, đạt những tiến bộ đáng kể Muốn vậy, xã hội cần có một hệ thống những định hớng giá trị chung phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nớc trong thời kỳ mới, làm chuẩn mực để từng con ngời xây dựng hệ giá trị thích hợp với mình
Hớng vào yêu cầu này, xuất phát từ bối cảnh chung nói trên cũng nên nếu thêm một vài nội dung cần thiết liên quan đến vấn đề “con ngời Việt Nam mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội ” nói chung và
đặc biệt liên quan đến vấn đề định hớng giá trị xã hội giúp cho con ngời Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt mới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nớc
1 Từ nhận thức về đờng lối đổi mới và kết quả đổi mới trong 10 năm qua (1986-1996)con ngời đã hình thành nên có ý thức.
Kể từ cuối thập kỷ 70 tức vài năm sau khi thống nhất đất nớc, nớc ta lâm vào tình trạng khó khăn kéo dài và dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội
Báo cáo tại Đại hội VIII 6-1996 đã nêu, trớc tình hình bế tắc nghiêm tọng đó đại hội VI(12/1986) nhận định rằng , những nhợc điểm của mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, lúc đó về căn bản cha đợc khắc phục và đã
đề ra những đờng lối đổi mới toàn diện mở ra bớc ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xí nghiệp ở nớc ta về con đờng phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá trong báo cáo trên, đã nhận định nhìn tổng quát công cuộc
đổi mới 10 năm qua đã thu đợc những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ đó Đại hội VII đề ra 5 năm (1991-1995) đã hoàn thành về cơ bản quan hệ sản xuất đã đợc điều chỉnh phù hợp hơn với tính chất, trình độ và yêu cầu phát triển của sức sản xuất, giải phòng và phát huy tiềm năng trong nớc, tạo thuận lợi khai thác bên ngoài nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa tiếp tục đợc xây dựng một cách đồng bộ hơn và có hiệu quả hơn, có thể nói đó là sự đánh giá về sự thành công trong công cuộc đổi mới t duy kinh tế đợc thực tiễn chứng minh là hợp quy luật Báo cáo nhấn mạnhk
- Nớc ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội nhng một số mặt còn cha vững chắc
- Nhiệm vụ đề ra cho chặng đờng đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
Trang 6- Con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta ngày càng đợc xác định
rõ hơn
Một kết quả nữ vô cùng quan trọng của 10 năm đổi mới, là những chuyển biến tích cực về mặt xã hội, những tiến bộ nổi rõ về sự quan tâm
đến con ngời nh: Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân đợc cải thiện, trình độ dân trí và mức hởng thụ văn hoá của nhân dân đợc nâng lê Sự nghiệp giáo dục, đào tạo chăm sóc sức khoẻ, các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục, thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hoá giá đình
và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ Ngời lao
động phát huy đợc quyền làm chủ và tính năng động sáng tạo, chủ động hơn trong tìm việc làm tăng thu nhập, tham gia các sinh hoạt chung của cộng đồng hơn xã hội lòng tin của nhân dân vào chế độ và tiến độ của đất nớc vào Đảng và Nhà nớc đợc nâng cao
Trong quá trình xây dựng nững định hớng giá trị cho con ngời Việt Nam đi vào thế kỷ XXI những đánh giá về 10 năm đổi mới và những mục tiêu, phơng hớng, nhiệm vụ của nhân dân ta trong thời ký mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, đợc trình bày trong đại hội VIII thực
sự là một nguồn phong phú về trí tuệ và cảm súc hết sức quý bán để chúng
ta nghiên cứu và vận dụng
Cũng tại văn kiện hội nghị VIII cho ta thấy “Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc nhằm mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng và văn minh vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội Muốn tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo phát huy nguồn lực con ngời yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh bền vững
2 Từ nhận thức về sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, dẫn đến hình thành
ý thức của con ngời về sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất n-ớc.
Trong 10 năm đổi mới, thấy rõ xu hớng phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, phân hoá giai cấp
- Xu hớng biến động cơ cấu xã hội đang diễn ra nhanh chóng, sâu rộng, đa dạng và không đồng đều giữa các ngành kinh tế, các vùng đất nớc
Đó là xu hớng phù hợp với quy luật phát triển, biểu hiện tính năng động xã hội và gắn liền với sự phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, phân hoá giai
Trang 7cấp nhng cũng chứa đựng nguy cơ phân cch, đẩy một bộ phận dân c nghèo khổ ra lề của cuộc sống, tạo nên những xu thế xung đột xã hội gia tăng
Xu hớng biến động của cơ cấu xã hội tỏng quá trình đổi mới là sự chuyển dịch ngày càng lớn, ngày càng nhah chóng, sấu sắc về cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu dan c, cơ cấu giao cấp và ngay trong bản thân từng tầng lớp xã hội, từng giai cấp Nhiều ngành nghề mới ra đời, nhiều lĩnh vực sản xuất mới xuất hiện, nhiều ngành kinh doanh phi sản xuất phát triển, cùng với xu thế đo thị hoá, thị trấn hoá thu hút dân c đến sinh động, đã tạo ra xu thế thay đổi thành phần nghề nghiệp, thành phần dân c trên các địa bàn, thành phần gia cấp, một bộ phận ngày càng tăng những ngời từ thành phần này chuyển sang thành phần khác để hoạt động theo hớng đạt nhiều u thế hơn
Xu hớng này có ý nghĩa quan trọng, làm tăng nhanh năng lực và hiệu quả sản xuất nhng đồng thời cũng làm này sinh các vấn đề mới về thiếu công bằng xã hội, cần đợc giải quyết thoả đáng
Vấn đề công bằng xã hội, nh một động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, cần đợc nghiên cứu một cách cơ bản hơn, để ra đợc những tiêu chí phù hợp với thực tiễn, với xu thế của công cuộc đổi mới, góp phần giải quyết một số vấn đề quan trọng nẩy sinh bởi sự phân hoá giày nghèo, thí dụ: công bằng xã hội không chỉ dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao
động, mà còn cần phải theo vốn đóng góp vào sản xuất, kinh doanh và còn theo những cống hiến khác
III Cơ sở vật chất trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
1 Phát triển yếu tố con ngời (nguồn nhân lực)
* Phát triển con ngời toàn diện, trong sự hội nhập của con ngời vào xã hội và trong sự phát huy cá nhân con ngời, trên bình diện tinh thần, đạo
đức và vật chất
Quá trình phát triển ngời phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của những giá trị nhân văn, nhân đạo
Nguyên tắc nhân văn, nhân đạo chỉ đạo các con đờng phát triển Phát triển ngời tựu trung là gia tăng giá trị cho con ngời, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất
* Cụ thể hơn, con ngời đợc xem xét nh một tài nguyên, một nguồn lực, cho nên phát triển ngời hoặc phát triển nguồn lực con ngời trở thành
Trang 8một lĩnh vực nghiên cứu hết sức cần thiết trong hệ thống phát triển các loại nguồn lực, nh vật lực, tài lực, nhân lực, trong đó phát triển nguồn lực giữ vai trò trung tâm Cũng theo hớng này,khái niệm hai loại vốn của Ngân hàng thế giới: vốn con ngời và vốn vật chất, trong đó sự phát triển vốn con ngời quyết định sự phát triển của vốn khác
Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc theo Đại hội VIII, lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Quan điểm này đặt ra cho lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực phát triển nguồn nhân lực ở nớc ta nhiều nhiệm vụ to lớn và mới mẻ Nh trên đã nói, phát triển nguồn nhân lực đợc hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con ngời, trên các mặt nh đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực….), hoặc d làm cho con ngời trở thành những ngời lao động có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng đợc những yêu cầu to lớn của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, của sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
Với ý nghĩa này, theo “Chơng trình phát triển của Liên hiệp quốc”.,
có năm nhân tố “phát năng” của sự phát triển nguồn nhân lực: là giáo dục
và đào tạo, sức khoẻ và dinh dỡng, môi trờng, việc làm và sự giải phóng con ngời Những nhân tố phát năng này gắn bó với nhau và tuỳ thuộc lẫn nhau, những giáo dục - đào tạo là cơ sở của tất cả các nhân tố khác, là nhân tố thiết yếu để cải thiện sức khoẻ và dinh dỡng, để duy trì một môi trờng có chất lợng cao, để mở rộng và cải thiện lao động, và để duy trì sự đáp ứng về kinh tế và chính trị nhằm giải phóng con ngời, từ đó giáo dục đào tạo là cơ
sở cho sự phát triển bền vững Bởi vậy cũng không lạ gì khi tất cả các nớc
đều hết sức nhấn mạnh đến chính sách giáo dục trong quá trình thiết kế những kế hoạch gia tăng tốc độ phát triển
* Vai trò nguồn nhân lực, ngày nay đợc nhận thức nh yếu tố năng
động nhất Từ quản lý một doanh nghiệp, một tổ chức, đến quản lý một quốc gia mà cọi nhẹ phát triển nguồn nhân lực, thì doanh nghiệp đó, tổ chức đó, quốc gia đó thế nào cũng trì trệ, đối ngoại thì không đủ sức cạnh tranh, không thích ứng đợc với những biến động nhanh chóng, mà đối nội thì năng suất lao động, hiệu suất công tác đều giảm sút Quản lý một đất
n-ớc, theo kinh nghiệm của nhiều nớc phát triển, của những nớc công nghiệp mới – NIC, cho thấy ở thời đại này, sự chăm lo đầy đủ đến con ngời là bảo
Trang 9đảm chắc chắn nhất của sự phồn vinh, thịnh vợng, sự đầu t vào con ngời là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển
Cùng ý tởng nói trên, tháng 6 năm 1991, đại hội VII Đảng cộng sản Việt Nam đề ra: Con ngời Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội Có thể nếu một số phát biểu khác nh: “Sự phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu cuối cùng và cao nhất của quá trình phát triển” Các thị trờng chỉ là phơng tiện Sự phát triển con ngời mới là mục
đích
* Khái phát triển nguồn lực cần đợc hiểu đầy đủ hơn trong ý tởng quản lý nguồn nhân lực Bao gồm 3 mặt phải quản lý: phát triển nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực, và nuôi dỡng môi trờng cho nguồn nhân lực
Nh vậy để có thể phát huy có hiệu quả nguồn nhân lực con ngời, vấn
đề về phát triển nguồn nhân lực trong chiến lợc công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải đợc tiến hành và quản lý trên cả ba mặt chủ yếu, một cách gắn bó
và đồng bộ: Đào tạo, sử dụng, việc làm, trong đó tính định hớng Việt Nam hoá, hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải đợc đảm bảo bởi vai trò quản lý Nhà nớc đối với thị trờng việc làm, với chế độ sử dụng, với quy hoạch đào tạo đội ngũ nhân lực ở tầm
vĩ mô Cho đến nay vai trò này còn cha thật rõ cho nên rất hạn chế hiệu quả của phát triển nguồn nhân lực
2 Giáo dục đào tạo con ngời (nguồn nhân lực)
Đại hội VIII chỉ rõ: Phơng hớng chung của lĩnh vực giáo dục - đạo tạo trong năm năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên,
có việc làm, khắc phục những yếu kém trong giáo dục đào tạo
Giáo dục - đào tạo, cơ sở của phát triển nguồn nhân lực, là con đờng cơ bản để phát huy nguồn lực con ngời, phải đáp ứng yêu cầu nhân lực của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình
độ, về năng lực phẩm chất, phải giúp ngời học có tính cơ động cao, dễ thích nghi với những chuyển biến nhanh chóng của kinh tế thị trờng, của thị tr-ờng việc làm, thị trtr-ờng sức lao động
Theo hớng này, những nghiên cứu về nhà trờng, về giáo dục - đào tạo
đã nêu một số điểm sau đây cần lu ý
Trang 10* Trong những năm đổi mới vừa qua, đã có một số nhận thức mới về
vị trí, vai trò của giáo dục - đào tạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội theo đờng lỗi đổi mới ….), hoặc d
- Giáo dục - đào tạo là một bộ phận của kết cấu hạ tầng xã hội, cần
đ-ợc tăng đầu t, đồng bộ với kết cấu hạ tầng kỹ thuật, không thể coi giáo dục chỉ là phúc lợi xã hội
- Giáo dục đào tạo nhân lực, chuẩn bị con ngời đi vào thị trờng sức lao động, trong chính sách “tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trờng ”., phải
tổ chức tốt thị trờng sức lao động, khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu t mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho ngời lao động, phát triển dịch vụ việc làm, thông tin tốt về việc làm
Giáo dục - đào tạo chuẩn bị con ngời cho sự phát triển bền vững trên các lĩnh vực, cho lợi ích hiện tại và cho lợi ích tơng lai, dựa vào phát triển nội sinh (có coi trọng ngoại lực, với tính thần để phát triển nội lực, dựa vào nội lực để phát triển ), giáo dục đào tạo là con đờng cơ bản nhất để phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
* Về hai đặc tính của giáo dục - đào tạo
Trách nhiệm của Nhà nớc và xã hội đối vói giáo dục,
- Giáo dục có hai đặc tính, xét về mặt lợi ích đem lại cho ngời học, cho xã hội, là:
+ Giáo dục cần có sự chi phí, đầu t cho giáo dục là đầu t “lợi ích tơng lai” (gần xa), không hởng thụ ngay lập tức đợc “lợi ích đầu t cho giáo dục
có tác dụng nh là đầu t cho phơng tiện sản xuất ”., một loại phơng tiện sản xuất ra sản phẩm có tính vô hình, sản phẩm không phải thuộc loại tiêu dùng
mà thuộc loại “tạo tiềm năng” Đó là ý nghĩa của t tởng “giáo dục đi trớc một bớc”
+ Giáo dục đem lại cho toàn xã hội lợi ích chung, lợi ích cho toàn xã hội, gọi là lợi ích “lan toả” để xã hội cũng đợc hởng, không chỉ đối với những ngời chi phí, đầu t cho giáo dục, mà kể cả những ngời không trực tiếp chi gì cho giáo dục (những ngời này đợc hởng môi trờng lễ phép, trật
tự, vệ sinh v v của tre đợc đi học, hởng môi trờng xã hội văn minh, lành mạnh, v v do dân trí đợc nâng cao, hởng cuộc sống có chất lợng hơn, do kinh tế xã hội nhớ và dân trí, nhân lực, nhân tài mà phát triển ) Đó là ý nghĩa của quan niệm “sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp công cộng”