Trước xu thế mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới cũng như trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vấn để phát triển nguồn nhân lực ở nước ta đang đối mặt với nhiều thử thách gay gắt để đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra. Trong suốt thời gian dài, với khái nhiệm thành công của những năm kháng chiến chống Mỹ nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chỉ cần kích thích tính tích cực của người lao động bằng sự động viên tính thần bằng lời kêu gọi lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội là đủ thêm vào đó do quan niệm ấu chỉ về xã hội chủ nghĩa, do hiểu sai và do đó vận dụng sai quy luật qua hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có thời kỳ chúng ta đã cho rằng chỉ cần tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, nhanh chóng thiết lập sở hữu công cộng đối với tư liệu sản xuất là sẽ nhanh chóng có được kết quả tích cực trong kinh tế xã hội. Thực tiễn đã diễn ra không như chúng ta nghĩ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nước ta đã chứng tỏ rằng dủ về cơ bản có công hữu hoá được tư liệu sản xuất dù có xây dựng được một nền công nghiệp nặng với các mức độ khác nhau dù đã đưa được các kỹ thuật mới thậm chí hiện đại vào sản xuất đi chăng nữa thì tất cả những cái đó vẫn chưa trực tiếp dẫn đến chỗ nâng cao được hiệu quả sản xuất cùng với những cái đó điều hết sức quan trọng thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xí nghiệp là nhân lực. Trước hết là mức độ lành nghề và thái độ của người lao động đối với công việc của mình. Khi người lao động không còn tha thiết với công việc nữa thì đó là dấu hiệu của sự khủng hoảng chính thái độ thiếu hăng hái sản xuất của người lao động là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trì trệ, sa sút trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80. Trước tình trạng sa sút và trì truệ này chúng ta đã ít nhiều lúng túng không biết cái nào thật sự là động lực và do vậy không biết phải tập trung tác động vào đâu để cho đúng để có thể khơi dậy tính tích cực ấu vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo chiều hướng chúng ta mong muốn. Tất cả tình hình đó đã buộc chúng ta phải suy nghĩa phải tìm cho ra khâu then chốt cùng với những phương hướng mà khi tác động vào đấy có thể khơi dậy, nuôi dưỡng phát huy tính tích cực của con người nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Từ đầu những năm 80 chúng ta buộc phải thừa nhận tầm quan trọng của các động lực khác ngoài động lực chính trị. Tinh thần đặc biệt là tầm quan trọng của lợi ích. Từ đó đến nay, nhất là từ sau đại hội VI của Đảng với đường lối đổi mới, việc tìm tòi những yếu tố kích thích tích cực của con người và thông qua đó tạo nên động lực thực sự của sự phát triển kinh tế xã hội được quan tâm nhiều hơn. Đã có không ít bài báo, cuốn sách, luận án đề cập đến lợi ích với tính cách là động lực. Tuy nhiên phần lớn các công trình đều tập trung vào lợi ích kit còn vai trò của các động lực khác mới chỉ được nghiên cứu rất ít nhất là việc vạch ra hệ thống các động lực của sự phát triển kinh tế xã hội thì chưa được nghiên cứu bao nhiêu. Mặt khác ngay trong số các loại lợi ích thì lợi ích chính trị, tư tưởng văn hoá.. v.v..nhất là mối quan hệ giữa các loại lợi ích còn có ít công trình đề cập đến. Ngoài ra trong sự nghiệp đổi mới hiện nay điều rất quan trọng là với sự lợi ích kinh tế phải xác định được những yếu tố những động lực quan trọng khác mà khi tác động vào nó chúng ta có thể khơi dậy được tính this cực không chỉ của từng cá nhân mà còn của cả cộng đồng.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trước xu thế mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới cũng như trongquá trình tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vấn để phát triểnnguồn nhân lực ở nước ta đang đối mặt với nhiều thử thách gay gắt để đápứng những yêu cầu mới đặt ra Trong suốt thời gian dài, với khái nhiệmthành công của những năm kháng chiến chống Mỹ nhiều khi chúng ta nghĩrằng chỉ cần kích thích tính tích cực của người lao động bằng sự động viêntính thần bằng lời kêu gọi lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội là đủ thêmvào đó do quan niệm ấu chỉ về xã hội chủ nghĩa, do hiểu sai và do đó vậndụng sai quy luật qua hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, có thời kỳ chúng ta đã cho rằng chỉ cần tiến hành cảitạo quan hệ sản xuất cũ, nhanh chóng thiết lập sở hữu công cộng đối với tưliệu sản xuất là sẽ nhanh chóng có được kết quả tích cực trong kinh tế xãhội
Thực tiễn đã diễn ra không như chúng ta nghĩ quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nước ta đãchứng tỏ rằng dủ về cơ bản có công hữu hoá được tư liệu sản xuất dù cóxây dựng được một nền công nghiệp nặng với các mức độ khác nhau dù đãđưa được các kỹ thuật mới thậm chí hiện đại vào sản xuất đi chăng nữa thìtất cả những cái đó vẫn chưa trực tiếp dẫn đến chỗ nâng cao được hiệu quảsản xuất cùng với những cái đó điều hết sức quan trọng thậm chí có ý nghĩaquyết định đối với sự phát triển của xí nghiệp là nhân lực Trước hết là mức
độ lành nghề và thái độ của người lao động đối với công việc của mình.Khi người lao động không còn tha thiết với công việc nữa thì đó là dấuhiệu của sự khủng hoảng chính thái độ thiếu hăng hái sản xuất của ngườilao động là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trìtrệ, sa sút trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta vào cuối những năm
70 và đầu những năm 80 Trước tình trạng sa sút và trì truệ này chúng ta đã
ít nhiều lúng túng không biết cái nào thật sự là động lực và do vậy khôngbiết phải
tập trung tác động vào đâu để cho đúng để có thể khơi dậy tính tích cực ấuvào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo chiều hướng chúng tamong muốn Tất cả tình hình đó đã buộc chúng ta phải suy nghĩa phải tìmcho ra khâu then chốt cùng với những phương hướng mà khi tác động vàođấy có thể khơi dậy, nuôi dưỡng phát huy tính tích cực của con ngườinhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Từ đầu những năm 80 chúng tabuộc phải thừa nhận tầm quan trọng của các động lực khác ngoài động lựcchính trị Tinh thần đặc biệt là tầm quan trọng của lợi ích Từ đó đến nay,
Trang 2nhất là từ sau đại hội VI của Đảng với đường lối đổi mới, việc tìm tòinhững yếu tố kích thích tích cực của con người và thông qua đó tạo nênđộng lực thực sự của sự phát triển kinh tế xã hội được quan tâm nhiều hơn.
Đã có không ít bài báo, cuốn sách, luận án đề cập đến lợi ích với tính cách
là động lực Tuy nhiên phần lớn các công trình đều tập trung vào lợi ích kitcòn vai trò của các động lực khác mới chỉ được nghiên cứu rất ít nhất làviệc vạch ra hệ thống các động lực của sự phát triển kinh tế xã hội thì chưađược nghiên cứu bao nhiêu Mặt khác ngay trong số các loại lợi ích thì lợiích chính trị, tư tưởng văn hoá v.v nhất là mối quan hệ giữa các loại lợiích còn có ít công trình đề cập đến Ngoài ra trong sự nghiệp đổi mới hiệnnay điều rất quan trọng là với sự lợi ích kinh tế phải xác định được nhữngyếu tố những động lực quan trọng khác mà khi tác động vào nó chúng ta cóthể khơi dậy được tính this cực không chỉ của từng cá nhân mà còn của cảcộng đồng
Cùng với những điều trên đây còn một vấn đề tối quan trọng là phải
sử dụng tính tích cực của con người như thế nào cho đúng bởi vì tính tíchcực của con người có thể tác dụng xây dựng, cũng có thể kìm hãm thậm chíphá hoại sự vận động theo hướng tiến bộ của xã hội Vì vậy điều quantrọng chỉ là ở chỗ làm thế nào phát huy tính tích cực của con người mà điềuquan không kém mà còn là ở chỗ làm thế nào để sử dụng được tính tích cực
ấy một cách đúng đắn để thúc đẩy, quá trình vận động của xã hội theohướng tiến bộ
Không nằm ngoài những vấn đề nêu trên bài tiểu luận này của emmục đích nho nhỏ là góp phần thúc đẩy tính tích cực của con người trongquá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì thời gian hạn chế nênbài viết của em không có tham vọng tìm hiểu sâu sa được vấn đề đó mà chỉ
là một số ý kiến nhỏ như nhận thức, nhiệm vụ và phát huy nguồn nhân lực
của con người Vì thế em đã chọn đề tài “Sự phát triển con người và nguồn nhân lực” Đây là đề tài đầy tay của em nên trong quá trình viết còn
rất nhiều hạn chế song là kết quả của sự nổ lực và cố gắng của bản thân emtrong quá trình học tập tại trường đặc biệt là có sự chỉ bảo tận tình của côgiáo qua bài viết này em xin được gửi lời cảm ơn kính trọng tới thầy emluôn mong những ý kiến góp ý bổ xung cho bài viết cúng như sự giúp đỡcủa thầy giáo trong thời gian tới
Một lần nữa em chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong cuộc sống của mỗi con người hay cũng như của toàn xã hội,khái niệm về vật chất và ý thức dường như không bao giờ có thể tách rờigiữa chúng có mối quan hẹe biện chứng với nhau, vật chất dữ vai trò quyếtđịnh với ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua sự chỉ đạo hoạtđộng thực tiễn của con người
Vậy vật chất là gì? ý thức là gì? Giữa chúng có mối quan hệ như thếnào đối với “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệphoá - hiện đại hoá đất nước”
Tim hiểu về con người (nguồn nhân lực) vậy con người trong sựnghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá như thế nào? phải phát huy nguồnlực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất như thếnào vào bài viết tiểu luận này
I KHÁI NIỆM VẬT CHẤT, Ý THỨC, CON NGƯỜI
a Theo Lê Nin khái niệm vật chất được định nghĩa như sau:
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quanđược đem cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chéplại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
b Ý thức:
Ý thức là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ ócngười và là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người,
ý thức xuất hiện phải có hai nguồn gốc tự nhiên và hai nguồn gốc xã hội
Trang 4c Khái niệm con người:
Từ xa xưa và cho đến bây giờ vẫn tồn tại một cách hiểu con ngườinhư là một tồn tại thần bí, có lúc người ta lại coi con người như là “cây sậybiết nói” Hiểu như vậy thì chỉ thấy (hoặc nhấn mạnh) khả năng nói dườngnhư quyết định cuộc đời Có khi ta thấy không hiểu nổi chính mình, nên cógiả định rằng, hình như trong mỗi người trần mắt thịt mà ta trông thấy lại
có một con người bé xíu con người thần linh, mặt ta khong trông thấy, conngười “tý hon” này điều khiển con người mà ta thấy được chỉ là một thânxác, giống như muôn loại trên trái đất Còn cái phần khó hiểu kia thuộc vềcon người “tý hon” vô hình, đầy ma lực kỹ, suy ngẫm sâu, điểm qua cácthành tựu triết học tâm lý vv dần dần thấy rằng chẳng làm gì có conngười “tý hon” trong con người thân xác mọi thứ do con người làm ra cũng
từ con người thân xác này cả Những thân xác con người, vẫn theo các tácgiả này, đâu có khác gì mấy so với các loại động vật bậc cao, cũng vẫn phải
ăn uông, sinh đẻ, sống chết, thế là họ đưa ra lý thuyết “con người bảnnăng”, con người là một phần tồn tại sinh vật, hoặc có người cho con người
từ lúc hình thành tế bào trứng đến lúc hai tuổi là tồn tại sinh vật, và theođây mọi sự sống của con người, mọi thứ do con người tạo ra, đều bắt nguồn
từ bản năng Đúng là con người có bản năng, nhưng bản năng ở con ngườikhác, khác về chất so với bản năng cả động vật Quan sát hàng ngày vềcách ăn, cách ở, cách bảo tồn và phát triển loài v v cũng đủ giúp chúng
ta hiểu một chân lý triết học, bản năng của con người đã được ý thức hoá.Thật khó có thể chấp nhận lý thuyết “con người bản năng” tổng quát hơn,triết học mác xít quan niệm “trong tính hiện thực của nó, bản chất conngười là tổng hoà các quan hệ xã hội ” và “tổng hoà” Thứ nhất, bản chấtcon người không phải là cái gì có sẵn, hay là cái gì nhất thành bất biến, màbản chất con người là cái gì đó được hình thành nên hay bộc lộ ra trongcuộc sống của nó Trong cuộc sống bằng hoạt động của bản thân, con
Trang 5người mới chịu tác động của các quan hệ xã hội và nhờ đó con người hộinhập vào các quan hệ đó Toàn bộ tồn tại khách quan chung quanh conngười tác động vào con người thông qua các quan hệ xã hội (quan hệ sảnxuất,quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, quan hệ cộng đồng, quan hệnhóm….), hoặc dưới hình thức các quan hệ xã hội mà tác động vào conngười Ngược lại, con người có tác động trở lại vào tồn tại khách quan (môitrường tự nhiên, môi trường sinh sống, gia đình, các quan hệ, thể chế xãhội, v v ).
Con người bao giờ cũng cùng với những người khác (nhóm, cộngđồng, giai cấp, dân tộc v v ) lao động, học tập, vui chơi, đấu tranh, xâydựng chính trong quá trình học tập lao động… này con người thiết lập nêncác mối quan hệ xã hội
II Ý THỨC CỦA CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ.
Con người Việt Nam đi vào thế kỷ XXI trong bối cảnh chung nhưthế, cần tự xây dựng cho mình một hệ thống giá trị, một thang giá trị mộtthước đo gí trị như thế nào, để có thể vừa góp phần tốt nhất vào sự nghiệpxây dựng đất nước, vừa phát huy nhiều nhất những tiềm năng của bản thân,đạt những tiến bộ đáng kể Muốn vậy, xã hội cần có một hệ thống nhữngđịnh hướng giá trị chung phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trongthời kỳ mới, làm chuẩn mực để từng con người xây dựng hệ giá trị thíchhợp với mình
Hướng vào yêu cầu này, xuất phát từ bối cảnh chung nói trên cũngnên nếu thêm một vài nội dung cần thiết liên quan đến vấn đề “con ngườiViệt Nam mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội ” nói chung
và đặc biệt liên quan đến vấn đề định hướng giá trị xã hội giúp cho con
Trang 6người Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt mới phục vụ sự nghiệp công nghiệphoá - hiện đại hoá đất nước.
1 Từ nhận thức về đường lối đổi mới và kết quả đổi mới trong 10 năm qua (1986-1996)con người đã hình thành nên có ý thức.
Kể từ cuối thập kỷ 70 tức vài năm sau khi thống nhất đất nước, nước
ta lâm vào tình trạng khó khăn kéo dài và dẫn đến khủng hoảng kinh tế xãhội
Báo cáo tại Đại hội VIII 6-1996 đã nêu, trước tình hình bế tắcnghiêm tọng đó đại hội VI(12/1986) nhận định rằng , những nhược điểmcủa mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, lúc đó về căn bản chưa được khắcphục và đã đề ra những đường lối đổi mới toàn diện mở ra bước ngoặttrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xí nghiệp ở nước ta về con đường pháttriển công nghiệp hoá hiện đại hoá trong báo cáo trên, đã nhận định nhìntổng quát công cuộc đổi mới 10 năm qua đã thu được những thành tựu tolớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ đó Đại hội VII đề ra 5 năm (1991-1995) đã hoàn thành về cơ bản quan hệ sản xuất đã được điều chỉnh phùhợp hơn với tính chất, trình độ và yêu cầu phát triển của sức sản xuất, giảiphòng và phát huy tiềm năng trong nước, tạo thuận lợi khai thác bên ngoàinền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục đượcxây dựng một cách đồng bộ hơn và có hiệu quả hơn, có thể nói đó là sựđánh giá về sự thành công trong công cuộc đổi mới tư duy kinh tế đượcthực tiễn chứng minh là hợp quy luật Báo cáo nhấn mạnhk
- Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội nhưng một số mặtcòn chưa vững chắc
Trang 7- Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn
bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sangthời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
- Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xácđịnh rõ hơn
Một kết quả nữ vô cùng quan trọng của 10 năm đổi mới, là nhữngchuyển biến tích cực về mặt xã hội, những tiến bộ nổi rõ về sự quan tâmđến con người như: Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cảithiện, trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng
lê Sự nghiệp giáo dục, đào tạo chăm sóc sức khoẻ, các hoạt động văn hoánghệ thuật, thể dục, thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hoágiá đình và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ.Người lao động phát huy được quyền làm chủ và tính năng động sáng tạo,chủ động hơn trong tìm việc làm tăng thu nhập, tham gia các sinh hoạtchung của cộng đồng hơn xã hội lòng tin của nhân dân vào chế độ và tiến
độ của đất nước vào Đảng và Nhà nước được nâng cao
Trong quá trình xây dựng nưững định hướng giá trị cho con ngườiViệt Nam đi vào thế kỷ XXI những đánh giá về 10 năm đổi mới và nhữngmục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của nhân dân ta trong thời ký mới, thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, được trình bày trong đại hộiVIII thực sự là một nguồn phong phú về trí tuệ và cảm súc hết sức quý bán
để chúng ta nghiên cứu và vận dụng
Cũng tại văn kiện hội nghị VIII cho ta thấy “Đảng đã quyết định đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm mục tiêu dân giàunước mạnh xã hội công bằng và văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xãhội Muốn tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thắng lợi phải phát triểnmạnh giáo dục đào tạo phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản của sựphát triển nhanh bền vững
Trang 82 Từ nhận thức về sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, dẫn đến hình thành
ý thức của con người về sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Trong 10 năm đổi mới, thấy rõ xu hướng phân tầng xã hội, phân hoágiàu nghèo, phân hoá giai cấp
- Xu hướng biến động cơ cấu xã hội đang diễn ra nhanh chóng, sâurộng, đa dạng và không đồng đều giữa các ngành kinh tế, các vùng đấtnước Đó là xu hướng phù hợp với quy luật phát triển, biểu hiện tính năngđộng xã hội và gắn liền với sự phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, phânhoá giai cấp nhưng cũng chứa đựng nguy cơ phân cưch, đẩy một bộ phậndân cư nghèo khổ ra lề của cuộc sống, tạo nên những xu thế xung đột xãhội gia tăng
Xu hướng biến động của cơ cấu xã hội tỏng quá trình đổi mới là sựchuyển dịch ngày càng lớn, ngày càng nhah chóng, sấu sắc về cơ cấu nghềnghiệp, cơ cấu dan cư, cơ cấu giao cấp và ngay trong bản thân từng tầnglớp xã hội, từng giai cấp Nhiều ngành nghề mới ra đời, nhiều lĩnh vực sảnxuất mới xuất hiện, nhiều ngành kinh doanh phi sản xuất phát triển, cùngvới xu thế đo thị hoá, thị trấn hoá thu hút dân cư đến sinh động, đã tạo ra
xu thế thay đổi thành phần nghề nghiệp, thành phần dân cư trên các địabàn, thành phần gia cấp, một bộ phận ngày càng tăng những người từ thànhphần này chuyển sang thành phần khác để hoạt động theo hướng đạt nhiều
ưu thế hơn Xu hướng này có ý nghĩa quan trọng, làm tăng nhanh năng lực
và hiệu quả sản xuất nhưng đồng thời cũng làm này sinh các vấn đề mới vềthiếu công bằng xã hội, cần được giải quyết thoả đáng
Vấn đề công bằng xã hội, như một động lực của sự phát triển kinh tế
xã hội, cần được nghiên cứu một cách cơ bản hơn, để ra được những tiêuchí phù hợp với thực tiễn, với xu thế của công cuộc đổi mới, góp phần giảiquyết một số vấn đề quan trọng nẩy sinh bởi sự phân hoá giày nghèo, thí
Trang 9dụ: công bằng xã hội không chỉ dựa trên nguyên tắc phân phối theo laođộng, mà còn cần phải theo vốn đóng góp vào sản xuất, kinh doanh và còntheo những cống hiến khác.
III CƠ SỞ VẬT CHẤT TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ
- HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC.
1 Phát triển yếu tố con người (nguồn nhân lực)
* Phát triển con người toàn diện, trong sự hội nhập của con ngườivào xã hội và trong sự phát huy cá nhân con người, trên bình diện tinh thần,đạo đức và vật chất
Quá trình phát triển người phải quán triệt bản chất và ý nghĩa củanhững giá trị nhân văn, nhân đạo
Nguyên tắc nhân văn, nhân đạo chỉ đạo các con đường phát triển.Phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trịtinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất
* Cụ thể hơn, con người được xem xét như một tài nguyên, mộtnguồn lực, cho nên phát triển người hoặc phát triển nguồn lực con ngườitrở thành một lĩnh vực nghiên cứu hết sức cần thiết trong hệ thống pháttriển các loại nguồn lực, như vật lực, tài lực, nhân lực, trong đó phát triểnnguồn lực giữ vai trò trung tâm Cũng theo hướng này,khái niệm hai loạivốn của Ngân hàng thế giới: vốn con người và vốn vật chất, trong đó sựphát triển vốn con người quyết định sự phát triển của vốn khác
Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo Đại hội VIII,lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững
Quan điểm này đặt ra cho lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực pháttriển nguồn nhân lực ở nước ta nhiều nhiệm vụ to lớn và mới mẻ Như trên
đã nói, phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho
Trang 10con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực…làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực vàphẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự nghiệpphát triển kinh tế – xã hội, của sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Với ý nghĩa này, theo “Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc”,
có năm nhân tố “phát năng” của sự phát triển nguồn nhân lực: là giáo dục
và đào tạo, sức khoẻ và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóngcon người Những nhân tố phát năng này gắn bó với nhau và tuỳ thuộc lẫnnhau, những giáo dục - đào tạo là cơ sở của tất cả các nhân tố khác, là nhân
tố thiết yếu để cải thiện sức khoẻ và dinh dưỡng, để duy trì một môi trường
có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện lao động, và để duy trì sự đápứng về kinh tế và chính trị nhằm giải phóng con người, từ đó giáo dục đàotạo là cơ sở cho sự phát triển bền vững Bởi vậy cũng không lạ gì khi tất cảcác nước đều hết sức nhấn mạnh đến chính sách giáo dục trong quá trìnhthiết kế những kế hoạch gia tăng tốc độ phát triển
* Vai trò nguồn nhân lực, ngày nay được nhận thức như yếu tố năngđộng nhất Từ quản lý một doanh nghiệp, một tổ chức, đến quản lý mộtquốc gia mà cọi nhẹ phát triển nguồn nhân lực, thì doanh nghiệp đó, tổchức đó, quốc gia đó thế nào cũng trì trệ, đối ngoại thì không đủ sức cạnhtranh, không thích ứng được với những biến động nhanh chóng, mà đối nộithì năng suất lao động, hiệu suất công tác đều giảm sút Quản lý một đấtnước, theo kinh nghiệm của nhiều nước phát triển, của những nước côngnghiệp mới – NIC, cho thấy ở thời đại này, sự chăm lo đầy đủ đến conngười là bảo đảm chắc chắn nhất của sự phồn vinh, thịnh vượng, sự đầu tưvào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển
Cùng ý tưởng nói trên, tháng 6 năm 1991, đại hội VII Đảng cộng sảnViệt Nam đề ra: Con người Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển kinh tế – xã hội Có thể nếu một số phát biểu khác như: “Sự
Trang 11phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu cuối cùng và cao nhất của quá trìnhphát triển” Các thị trường chỉ là phương tiện Sự phát triển con người mới
là mục đích
* Khái phát triển nguồn lực cần được hiểu đầy đủ hơn trong ý tưởngquản lý nguồn nhân lực Bao gồm 3 mặt phải quản lý: phát triển nguồnnhân lực, sử dụng nguồn nhân lực, và nuôi dưỡng môi trường cho nguồnnhân lực
Như vậy để có thể phát huy có hiệu quả nguồn nhân lực con người,vấn đề về phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược công nghiệp hoá, hiệnđại hoá phải được tiến hành và quản lý trên cả ba mặt chủ yếu, một cáchgắn bó và đồng bộ: Đào tạo, sử dụng, việc làm, trong đó tính định hướngViệt Nam hoá, hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực phát triểnnguồn nhân lực nhất thiết phải được đảm bảo bởi vai trò quản lý Nhà nướcđối với thị trường việc làm, với chế độ sử dụng, với quy hoạch đào tạo độingũ nhân lực ở tầm vĩ mô Cho đến nay vai trò này còn chưa thật rõ chonên rất hạn chế hiệu quả của phát triển nguồn nhân lực
2 Giáo dục đào tạo con người (nguồn nhân lực)
Đại hội VIII chỉ rõ: Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục đạo tạo trong năm năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầucông nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanhniên, có việc làm, khắc phục những yếu kém trong giáo dục đào tạo
-Giáo dục - đào tạo, cơ sở của phát triển nguồn nhân lực, là conđường cơ bản để phát huy nguồn lực con người, phải đáp ứng yêu cầu nhânlực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá về cơ cấu ngành nghề, cơcấu trình độ, về năng lực phẩm chất, phải giúp người học có tính cơ độngcao, dễ thích nghi với những chuyển biến nhanh chóng của kinh tế thịtrường, của thị trường việc làm, thị trường sức lao động
Trang 12Theo hướng này, những nghiên cứu về nhà trường, về giáo dục - đàotạo đã nêu một số điểm sau đây cần lưu ý.
* Trong những năm đổi mới vừa qua, đã có một số nhận thức mới về
vị trí, vai trò của giáo dục - đào tạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hộitheo đường lỗi đổi mới …
- Giáo dục - đào tạo là một bộ phận của kết cấu hạ tầng xã hội, cầnđược tăng đầu tư, đồng bộ với kết cấu hạ tầng kỹ thuật, không thể coi giáodục chỉ là phúc lợi xã hội
- Giáo dục đào tạo nhân lực, chuẩn bị con người đi vào thị trườngsức lao động, trong chính sách “tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường ”,phải tổ chức tốt thị trường sức lao động, khuyến khích mọi thành phần kinh
tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làmcho người lao động, phát triển dịch vụ việc làm, thông tin tốt về việc làm
Giáo dục - đào tạo chuẩn bị con người cho sự phát triển bền vữngtrên các lĩnh vực, cho lợi ích hiện tại và cho lợi ích tương lai, dựa vào pháttriển nội sinh (có coi trọng ngoại lực, với tính thần để phát triển nội lực,dựa vào nội lực để phát triển ), giáo dục đào tạo là con đường cơ bản nhất
để phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
* Về hai đặc tính của giáo dục - đào tạo
Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối vói giáo dục,
- Giáo dục có hai đặc tính, xét về mặt lợi ích đem lại cho người học,cho xã hội, là:
+ Giáo dục cần có sự chi phí, đầu tư cho giáo dục là đầu tư “lợi íchtương lai” (gần xa), không hưởng thụ ngay lập tức được “lợi ích đầu tư chogiáo dục có tác dụng như là đầu tư cho phương tiện sản xuất ”, một loạiphương tiện sản xuất ra sản phẩm có tính vô hình, sản phẩm không phải