1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

412 Thực trạng, phương hướng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực con người ở Việt Nam hiện nay

28 1,7K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng, phương hướng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực con người ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Lê Thanh Nhung
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 173,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

412 Thực trạng, phương hướng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực con người ở Việt Nam hiện nay

Trang 1

1.2 Vai trò của con người với sự phát triển kinh tế xã

II Vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội ởViệt Nam hiện nay

2.1 Vai trò con người trong lĩnh vực kinh tế

2.2 Vai trò con người trong lĩnh vực chính trị

2.3 Vai trò con người trong lĩnh vực xã hội

2.4Vai trò con người trong lĩnh vực văn hoá

III Thực trạng, phương hướng xây dựng và phát triển nguồn lực con ngườinước ta hiện nay

Trang 2

mở rộng những mối quan hệ kinh tế quốc tế như thương mại , đầu tư, vay nợ

… ra phạm vi toàn cầu đang thúc đẩy hình thành nên thị trường thế giới ngàycàng thống nhất với những ‘luật chơi” chung Quá trình tự do hoá thương mại

và đầu tư cũng phát triển mạnh, thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá phát triển mạnh

cả về chiều rộng và chiều sâu Tổ chức Thương mại thế giới WTO với 152nước thành viên (tính đến ngày 16 tháng 5 năm 2008), điều chỉnh đến 94-97%thương mại thế giới là biểu hiện của tự do hoá thương mại toàn cầu Bên cạnh

đó, xu thế khu vực hoá sự phát triển của các liên kểt kinh tế- thương mại khuvực ASEAN, NAFTA, APEC,EU… và các các hiệp định thương mại tự do(FTA) song phương làm sâu sắc thêm xu thế toàn cầu

Hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành một xu thế khách quan trong thếgiới ngày nay khi làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ Hội nhập kinh tế quốc tế của các nền kinh tế chuyển đổi (trong đó cóViệt Nam) là quá trình thực hiện tư do hoá thương mại và thực hiện cải cáchtoàn diện theo hướng mở cửa thị trường Từ đó đem lại nhiều cơ hội kinh tếnhư hàng hoá xuất khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn, thu hút được nhiềuvốn đầu tư nước ngoài hơn và nhiều lợi ích gián tiếp khác đi liền với cạnhtranh quốc tế gay gắt và tăng dần hiệu quả kinh tế theo quy mô

Trong bối cảnh đó,các nước trên thế giới đều tiến hành hội nhập kinh tếquốc tế, phát huy lợi thế so sánh, sức mạnh nội tại của mình cũng như tranhthủ vốn, công nghệ, thị trường hay áp dụng những mô hình quản lý tiên tiến,xây dựng hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế để phục vụ cho quátrình phát triển kinh tế của mình Không nước nào có thể đứng ngoài quá trìnhhội nhập nếu không muốn tự tách mình khỏi trào lưu phát triển chung vàkhông muốn mình dơi vào hố sâu tụt hậu Và Việt Nam cũng đã chọn chomình con đường hội nhập bình đẳng để cùng phát triển cùng thế giới

Nếu như toàn cầu hoá luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực thì hội nhậpkinh tế quốc tế luôn mang theo mình những cơ hội và thách thức to lớn Mộttrong những vấn đề được đề cập nhiều nhất là nguồn nhân lực

Trang 3

Nguồn lực con người là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự pháttriển của mọi nền kinh tế Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳngđịnh:” nguồn lực con người là là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăngtrưởng kinh tế nhanh chóng và bền vững”,” con người và nguồn nhân lực lànhân tố quyết định sự phát triển của đẩt nước trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá …” Đại hội Đảng lần thứ X cũng nhấn mạnh :” Phát triển mạnh;kết hợp chặt chẽ các hoạt động công nghệ và khoa học với giáo dục và đàotạo để thực hiện phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức.Như vậy, thời đạinào cũng cần đến nhân tài, hội nhập kinh tế thế giới càng sâu sắc thì vấn đềphát triển nguồn nhân lực càng trở nên bức thiết.

Để hiểu rõ hơn về tầm quan trọng cũng như những phương hướng xâydựng nguồn nhân lực ở Vịêt Nam trong quá trình hội nhập hiện nay, em xinđược phép đưa ra quan điềm của mình về thực trạng nguộn nhân lực của nước

ta trong đề tài "Thực trạng, phương hướng xây dựng và phát triển nguồn

nhân lực con người ở Việt Nam hiện nay".

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ PHẢT TRIỂN

NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I.NGUỒN LỰC CON NGƯỜI –NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ -XÃ HÔI

1.CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI TRONG TRIẾT

Là động vật cao cấp, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩmcủa quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Con người phảitìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên nhưthức ăn, nước uống, hang động để ở Đó là con người đấu tranh với tự nhiên,với thú dữ để sinh tồn.Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từvượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong nhiều công trình nghiêncứu của Đacyun Các giai đoạn mang tính sinh học trong đời sống con người.Như vậy, con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cánhân con người đang sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệcuả nó với tự nhiên.Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trìnhtâm-sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của

cá nhân con người

Tuy nhiên điều khẳng định là mặt tự nhiên không phải là yếu tố duynhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa conngười với thế giới loài vật là mặt xã hội Trong lịch sử đã có những quan niệmkhác nhau phân biệt con người với loại vật, như con người là động vật sửdụng công cụ lao động, là” một động vật có tính xã hội” hoặc con người làđộng vật có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện vì chỉ nhấn mạnhmột khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu rađược bản chất xã hội ấy

Trang 5

Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác- Lênin đã nhận thứcvấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính thực hiện xãhội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất

Mác và Ănghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người:”

có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chungbằng bất cứ cái gì cũng đựơc.Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệtvới súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra chính đời sống vật chất củamình

Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cảibiến toàn bộ giới tự nhiên:” con vật chỉ tái sản xuất ra nó, còn con người thìtái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”

Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất, hoạt độngsản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người.Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất

và tinh thần, phục vụ đời sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ và

tư duy, xác lập quan hệ xã hội.Bởi vậy, đồng thời hình thành nhân cách cánhân trong cộng đồng xã hội

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người luôn luôn bị tự quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác,nhưng thống nhất với nhau, hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sựphù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đôir chất, về di chuyền…quy định phương diện và hành động trên nền tảng sinh học của con người nhưhình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hộiquy định quan hệ xã hội giữa con người với con người

Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động,tạo nên thể thống nhất hoànchỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mốiquan hệ sinh hhọc và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinhhọc và nhu cầu xã hội trong đời sống hàng ngày như ăn, mặc, ở, nhu cầu táisản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mĩ và hưởng thụ các giá trịtinh thần

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệgiữa mặt sinh học và mặt xã hội,cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hộitrong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên củacon người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất phân biệt con người với loàivật Nhu cầu sinh học phải được “nhân hoá” để mang giá trị văn minh conngười, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu

Trang 6

cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quện vào nhau để tạothành con người viết hoa, con người tự nhiên-xã hội.

1.2.Trong hiện thực của nó, bản chất con người là tổng thể của những mối quan hệ xã hội.

Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, conngười vượt lên thế giới loài vầt trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệvới tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người.Cả

ba quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, bao trùm tất cả các mốiquan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, Mác đã nêu lênluận đề nổi tiếng Luận cương về Phoi-Bắc:”bản chất con người là một cáitrừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bảnchất con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội”

Luận đề trên khẳng định rằng,không có con người trừu tượng, thoát lymọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xácđịnh, sống trong một điệu kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhấtđịnh Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, conngười tạo ra giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và

tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó con người mới bộc

lộ toàn bộ bản chẩt của mình

Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghiã

là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người,trái lại, điều đó muốn nhấnmạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới động vật trước hết là ở bản chất

xã hội và đấy cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trướcMác không thấy được bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái bản chất

ấy với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duynhất , do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đadạng của mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xãhội

1.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thể giới tự nhiên, không có lịch sử thì không tồn tại conngười.Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử,của sự tiến hoá lâu dài củagiới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là con người luôn là chủ thể củalịch sử-xã hội.Mác đã khẳng định” cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằngcon người là sản phẩm của hoàn cảnh và của giáo dục…cái học thuyết ấyquên rằng chính con người làm thay đổi hoàn cánh và bản thân nhà giáo dục

Trang 7

cũng cần phải giáo dục” Trong tâc phẩm Biện chứng của tự nhiên,Ănghencũng cho rắng :” Thú vật cũng có lích sử phát triển dần dần của chúng cho tớitrạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng tạo ra

và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đódiễn ra mà chúng không hề biết và không phải lý do ý muốn củachúng.Ngược lại con người càng cách xa con vật bao nhiêu, hiểu theo nghĩahẹp bao nhiêu thì con người lại càng tự mình tạo ra lịch sử của mình một cách

có ý thức

Như vậy với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn,tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận độngphát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào điều kiện có sẵn trong

tự nhiên.Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làmphong phú giới tự nhiên để cải tạo tự nhiên theo hướng phục vụ ngày càngđầy đủ cho nhu cầu của mình

Trong quá trình cải biến giới tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử củamình.Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời cũng là chủ thể của lịch

sử của chính bản thân loài người.Hoạt động lao động sản xuất vừa là điềukiện cho sự tồn tại của con người vừa là phương thức để biến đổi đời sống và

bộ mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con ngườithông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấplên cao,phù hợp với mục tiêu và nhu cầu của con người.Không có hoạt độngcủa con người thì không tồn tại quy luật xã hội, và do đó không có sự tồn tạicủa toàn bộ lịch sử xã hội loài người

Không có con người trừu tượng, chung chung mà chỉ có con người cụthể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội Do đó bản chấtcon người trong mối liên hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận độngbiến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp Bản chất con người không phải làmột hệ kín mà nó là một hệ thống mở tương ứng với điều kiện tồn tại kháchquan của con người Mặc dù “tổng hoà các quan hệ” con người có vai trò tíchcực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bảnchất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sựvận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng với sự vận động vàbiến đổi của bản chất con người

Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phảilàm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đóchính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo

Trang 8

hướng tích cực, theo hướng phát triển nhằm đạt được những giá trị có tínhmục đích tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thông qua đó con ngườitiếp nhận hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt đồng thực tiễn,quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ vànăng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt động vậtchất Đó là biện chứng về mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất

kỳ giai đoạn nào trong lịch sử của xã hội loài người

1.4 Quan niệm về con người xã hội chủ nghĩa:

Con người xã hội chủ nghĩa bao gồm cả những con người từ xã hội để lại

và cả những con người sinh ra trong xã hội mới Con người sống dưới chế độ

xã hội chủ nghĩa mang những nét đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, song vẫncòn chịu ảnh hưởng không ít những tư tưởng, tác phong, thói quen của xã hội

cũ Cho nên, quá trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là quá trìnhdiễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ vàcái lạc hậu.Con người xã hội chủ nghĩa vừa là chủ thể trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội, vừa là sản phẩm của quá trình đó Một mặt, trong laođộng sản xuất, đấu tranh xã hội, con người tạo ranhững điều kiện cơ sở vậtchất ngày một tốt hơn, phục vụ con người ngày một chu đáo hơn, cuộc sốngcủa con người ngày càng đầy đủ hơn, môitrường xã hội ngày càng trong sạch,ngày càng nhân văn hơn, do vậy, càng có những điều kiện để xây dựng nênnhững phẩm chất của con người xã hội chủ nghĩa Mặt khác, cũng chính trongquá trình lao động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội mà con người cải tạo chínhbản thân mình, tự rèn luyện khắc phục những hạn chế, thiếu sót của bảnthân.Mỗi thời kỳ lịch sử, trên cơ sở của sự phát triển lực lượng sản xuất, củatrình độ phát triển xã hội, cần phải xác định mô hình con người cần xây dựng.Toàn bộ mọi hoạt động của xã hội, hệ thống luật pháp, những chính sách kinh

tế - xã hội, mục tiêu của giáo dục - đào tạo phải hướng vào mục tiêu đó, hìnhthành những phẩm chất con người theo bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa.Một khi con người đã hình thành với những phẩm chất tốt đẹp đó lại trở thànhchủ thể tự giác để phát triển xã hội theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, Mác đã khẳng định rằng bản chất con người là sự tổng hoà cácmối quan hệ xã hội trên nền tảng sinh học của nó, con người không phải là cái

gì đồng nhất tuyệt đối về bản chất mà là sự đồng nhất bao hàm của hai yếu tốđối lập:

Thứ nhất: con người với tư cách là sản phẩm của giới tự nhiên

Trang 9

Thứ hai: con người với tư cách là sự phát triển tiếp tục của giới tựnhiên.

Mác đã nhìn nhận vấn đề con người một cách toàn diện cụ thể và xembản chất con người không phải một cách chung chung, trừu tượng mà trongtính hiện thực cụ thể trong qúa trình phát triển Con người là một bộ phận củagiới tự nhiên nhưng trong mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên conngười hoàn toàn khác với con vật Về mặt thực tiễn tính con người biểu hiện

ra chính là cái tính phổ biến, nó biến toàn bộ thế giới tự nhiên thành thân thể

vô cơ của con người

Con người có tính xã hội và nó có trước, bởi bản thân hoạt động sản xuấtcủa con người là hoạt động mang tính xã hội Trong hoạt sản xuất con ngườikhông thể tách ra khỏi xã hội Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho conngười khác với bẩt cứ sinh vật nào khác

Vậy bản chất con người không là cái gì đó đã kết thúc,đã hoàn thiện mộtlần là xong mà là sự hình thành bản chất con người là quá trình con ngườikhông ngừng hoàn thiện khả năng tồn tại của mình trước lực lượng tự phátcủa tự nhiên và xã hội vì:

- Nhu cầu tự nhiên là cơ sở vật chất phát sinh nhu cầu xã hội

- Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là sự tổng hoà các quan

hệ xã hội trên cơ sơe nền tảng tự nhiên của con người

- Nhu cầu tự nhiên của con người không phải là đại lượng không đổi mà

nó trở nên ngày càng tăng theo sự tăng tiến của nền văn minh vật chất và tinhthần chính vì vậy bản chất con người cũng không phải là sự hình thành mộtlần là xong mà nó là quá trình con người không ngừng tự hoàn thiện mình

2.VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI:

Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lựckhoa học - công nghệ, nguồn vốn, nguồn lực con người Song để các nguồnlực này kểt hợp với nhau, phát huy tác dụng mọi nguồn lực thì nguồn lực conngười là yếu tố vô cùng quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất tạo ra độnglực cho sự phát triểni thì nguồn lực con người là quyết định nhất, bởi lẽ nhữngnguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực con ngườiđược phát huy.Vì sao trong thời đại tiến bộ khoa học như hiện nay, khi màhướng phát triển theo công nghệ tự động hoá ngày càng được áp dụng thìcũng không thể tách rời nguồn lực con người? Bởi lẽ:

Trang 10

Vì chính bàn tay và khối óc của con người đã tạo ra những máy mócthiết bị đó, những sản phẩm đó là đại diện cho mức độ hiểu biết và chế ngự tựnhiên của con người Ngay cả những thiết bị máy móc hiện đại như robot nếuthiếu lập trình, kiểm tra, điều khiển, bảo dưỡng thì nó chỉ đơn thuần là khốivật chất Chỉ khi nào có sự tác động của con người thì chúng mới có thể pháthuy ứng dụng và hoạt động được.

Chúng ta biết rằng, điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lý, nguồn vốn có vaitrò rất lớn trong sự phát triển của một quốc gia.Song những yếu tố đó ở dướidạng tiềm năng, tự chúng là những khách thể bất động.Chúng chỉ trở thànhnhân tố "khởi động", và phát huy tác dụng khi kết hợp với nguồn lực conngười.Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực conngười ngày càng đa dạng và phong phú và có khả năng nội sinh không baogiờ cạn Ngược lại nguồn lực con người càng được sử dụng, lại càng đượcnâng cao chất lượng và hiệu quả Các lĩnh vực khoa học khác nhau, có thểhiểu nguồn lực theo những cách khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực làmột hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mốiquan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó Từcách hiểu như vậy, nguồn lực con người là những yếu tố ở trong con người cóthể huy động, sử dụng để thúc đẩy sự phát triển xã hội Hiện nay có nhiềukhái niệm khác nhau về nguồn lực con người Ngân hàng Thế giới cho rằng:nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người(thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp,v.v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất,kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó Qua các ý kiến khác nhau có thểhiểu, nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinhthần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội, v.v tạo nên năng lựccủa con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách làchủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội Nóitới nguồn lực con người là nói tới số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Sốlượng nguồn lực con người được xác định trên quy mô dân số, cơcấu độ tuổi,

sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dâncưgiữacác vùng, các miềncủa đất nước, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội Chất lượng nguồn lực con người là một khái niệm tổng hợpbao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý,mức độ thành thạo trong công việc, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương

Trang 11

đất nước, ý thức giai cấp, ý thức về trách nhiệm cá nhân với công việc, với giađình và xã hội, giác ngộ và bản lĩnh chính trị, v.v và sự kết hợp các yếu tố đó.Trong các yếu tố trên thì phẩm chất đạo đức và trình độ học vấn là quan trọng nhất, nó nói lên mức trưởng thành của con người, quy định phươngpháp tư duy, nhân cách, lối sống của mỗi con người Số lượng và chất lượngnguồn lực con người có quan hệ với nhau một cách chặt chẽ Nếu số lượngnguồn lực con người quá ít sẽ gây khó khăn cho phân công lao động xã hội và

do vậy, chất lượng lao động cũng bị hạn chế Chất lượng nguồn lực con ngườinâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vịsản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã hội,đồng thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thểngười trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội Xã hội muốn phát triểnnhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con người có chất lượngngày càng cao Muốn thực hiện được điều đó, cần có sự quan tâm ngay trongquá trình đào tạo, trong quá trình sử dụng và phân công lao động xã hội Suy cho cùng, phát triển kinh tế-xã hội là nhằm mục tiêu phục vụ lợi íchcon người ngày một tốt hơn,xã hội ngày càng văn minh hơn Trong khi đónhu cầu của con người ngày càng phong phú, đa dạng và thường xuyên tănglên cả về số lượng chất lượng, đáp ứng được nhu cầu về tinh thần điều đó đãtác động đến phát triển kinh tế xã hội

Lịch sử loài người hàng triệu năm qua đã chứng minh con người pháttriển như ngày nay đã trải qua thời kỳ lao động sáng tạo không ngừng, quatừng giai đoạn phát triển con người lại tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệmcàng gia tăng sức mạnh của mình để chế ngự tự nhiên, tăng thêm động lựccho sự phát triển kinh tế-xã hội

Như vậy” động lực mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự pháttriển mà con người muốn đạt tới chính nằm trong chính bản thân con người”.Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố quan trọng nhất của sựphát triển kinh tế- xã hội

II VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NHGIỆP

XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Chủ nghĩa xã hội có được xây dựng thành công hay không, tuỳ thuộcvào việc chúng ta có phát huy tốt nguồn lực con người hay không? Khi ViệtNam bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xãhội chủ nghĩa”Để làm rõ hơn quan điểm trên của Người, chúng ta cần nghiên

Trang 12

cứu vai trò nguồn lực con người trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống

kinh tế, chính trị xã hội"Thế giới thay đổi rất nhanh, khó có một ngành sản xuất nào chiếm vị trí mũi nhọn lâu dài”.

“Khi tất cả là khả biến thì phải có bất biến đối phó.Cái bất biến chính là nhân lực cấp cao Không có gì vĩnh viễn cả, chỉ có nguồn nhân lực cấp cao mãi mãi tồn tại”(đồng chí Trương Đình Tuyển đã nói)

1 Vai trò của nguồn lực con người trong lĩnh vực kinh tế

Trong bất cứ xã hội nào, người lao đồng cũng là yếu tố quan trọng nhấttrong lực lượng sản xuất Trong xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện rất thuận lợi

đó là con người được làm chủ tư liệu sản xuất,nếu như con người được đàotạo một cách chu đáo những kiến thức quản lý kinh tế sẽ có điều kiện khaithác một cách có hiệu các tiềm năng.Nhật Bản là một quốc gia khan hiếm tàinguyên thiên nhiên nhưng là một nước phát triển nhất khu vực châu Á.Tại saovậy? đó chính là nguồn nhân lực có học vấn, tay nghề cao cùng với bản chấtlao động cần cù vì thế mà họ đã làm nên nước Nhật to đẹp ngày nay

“lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, làngười lao động”.như V.I.Lênin đã từng nói.Trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội, người lao động đã trở thành những người làm chủ đất nước, làmchủ trong quá trình tổ chức quản lý sản xuất Điều này đã tạo ra những điềukiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con người để phát triển kinh tế nhanh,bền vững

2.Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực chính trị.

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng nhà nướcchuyên chính vô sản, Hồ Chí Minh nhiều lần lưu ý rằng, nước ta phải đi đếndân chủ thực sự, "Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, đểnâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự" Ở đây khái niệmdân chủ thực sự khi mà cả nhà nước và nhân dân cùng thấy được quyền lợi vànghĩa vụ của mình.Khi mà quyền lợi của mọi người trong xã hội được đảmbảo "thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng khôngsợ"

Xét nguồn lực con người trên phương diện chính trị, khi mà người dân

có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọnnhững người có đức có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựngnhà nước vững mạnh Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thựctiễn, thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự

Trang 13

nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ được dân mến,dân tin, dân ủng hộ

Có thể khẳng định rằng nguồn lực con người là yếu tố rất quan trọngtrong việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân do dân vìdân

3 Vai trò của nguồn lực con người trong lĩnh vực văn hoá

Nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ trong đời sống văn hoá xãhội Quần chúng nhân dân lao động là những người góp phần xây dựng nênnhững công trình văn hoá, những người sáng tạo ra những tác phẩm nghệthuật

Một khi con người có tri thức, có hiểu biết và các hình thức nghệ thuật,

sẽ tham gia sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật.Trong điều kiện giao lưuquốc tế ngày càng mở rộng, mỗi con người chúng ta có điều kiện tiếp cận vớinền văn hoá nhiều nước trên thế giới Con người có văn hoá cũng là nhữngngười có nghĩa vụ bảo tồn những di sản văn hoá tinh thần của đất nước, củanhân loại.Chúng ta cần thấy rõ vấn đề đó là chúng ta hoà nhập chứ không

“hoà tan” Chúng ta tiếp nhận những giá trị tốt đẹp của dân tộc khác, loại bỏnhững yếu tố không phù hợp để làm giàu cho nền văn hóa của dân tộc mìnhcũng như làm giàu đời sống tinh thần

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tríthức, tạo điều kiện cho họ cống hiến hết khả năng trí tuệ cho đất nước, cho sựphát triển của xã hội

4 Vai trò của nguồn lực con người trong lĩnh vực xã hội

Những vấn đề xã hội bao gồm: Vấn đề lao động việc làm, thực hiện côngbằng xã hội, xoá đó giảm nghèo … muốn giải quyết được tốt những vấn đềtrên chúng ta cần phát huy tốt vao trò của nguồn lực con người

Muốn giải quyểt tốt vấn đề lao động việc làm, đòi hỏi chúng ta phải nângcao chất lượng nguồn nhân lực con người từ nâng cao sức khoẻ, trình độ họcvấn, tay nghề, nâng cao chất lượng quản lý, tới ý thức chính trị cho người laođộng

Chính sách xoá đói giảm nghèo là một chính sách lớn của Đảng và Nhànước ta hiện nay.Chính sách này chỉ phát huy hiệu quả khi chính những ngườinghèo thấy được trách nhiệm của mình, cố gắng nỗ lực phấn đấu vươn lên,đồng thời được sự đồng tình ủng hộ của toàn xã hội

Như vậy con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất,

mà còn là chủ thể của qúa trình sản xuất tinh thần của con người Sự phối hợp

Trang 14

giữa các thành viên trong cộng đồng sẽ tạo ra sức mạnh to lớn trong việc pháthuy nguồn lực con ngưòi để nhận thức, cải tạo xã hội và tự nhiên.

Nguồn lực con người luôn tồn tại tiềm tàng trong mỗi con người Việckhai thác đó lại tuỳ thuộc từng quốc gia từng chế độ xã hội và chính sách xãhội

Nguồn lực con người có thể nói là nguồn tài nguyên không bao giờ cạn,

là nguồn tài nguyên cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của conngười Nểu nguồn tài nguyên này không được sử dụng, không phát huy được

là lãng phí lớn nhất Nước ta là một nước nghèo, kinh tễ còn kém phát triển

do đó việc ưu tiên phát triển nguồn nhân lực là quốc sách hàng đầu và cầnđược phát huy tối đa

III THỰC TRẠNG,GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY

1 THỰC TRẠNG

Ở Việt Nam, phát triển con người cũng đã được biết từ lâu như là mộtkhái niệm rất cơ bản trong “ tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” năm 1948 nổitiếng.Ở đây trình bày thành tựu phát triển con người theo nội hàm và cáchlượng hoá chung của thế giới: Của cải đích thực của một quốc gia là conngười của quốc gia đó Và mục đích là tạo ra một môi trường thuận lợi chocon người được hưởng cuộc sống trọn vẹn, khoẻ mạnh và sáng tạo

Vào thập niên 80 của thế kỷ 20.Chương trình phát triển của Liên HợpQuốc (UNDP) đã đưa ra khái niệm này làm chỉ tiêu phát triển của từng nướchay vùng lãnh thổ, và quan tròng hơn là đã xác đình cụ thể tiêu chí và đưa racách tính toán rất chính xác từng tiêu chí, để đánh giá và sếp hạng trình độphát triển các nước trong LHQ theo tiêu chí phát triển con người gồm mộttiêu chí theo thu nhập quốc dân(GDP)và hai tiêu chí về năng lực conngười(giáo dục và sức khoẻ) nhấn mạnh ý tưởng coi con người là nguồn lực

vô tận, là nhân tố quyết định, là mục tiêu của sự phát triển, phê phán nhữngquan điểm phiến diện, như chú trọng phát triển, nhưng vô tình hoặc cố ý bỏquên con người, nhìn con người như công cụ, là phương tiện của sự pháttriển,v.v

Từ năm 1990 đến nay, UNDP hằng năm công bố báo cáo phát triển conngười.Báo cáo Việt Nam được xuất bản năm 2001, với chủ đề “đổi mới vì sựphát triển con người” đã được đánh giá rất cao

Trong vòng 15 năm qua chỉ tiêu về phát triển con người Việt Nam đãngày càng được cải thiện đạt được những thành tựu to lớn

Ngày đăng: 06/04/2013, 17:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG SỐ LIỆU HDI VIỆT NAM - 412 Thực trạng, phương hướng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực con người ở Việt Nam hiện nay
BẢNG SỐ LIỆU HDI VIỆT NAM (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w