Xã hội dân sự với tư cách là không gian xã hội cho sự phát triển con người
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN PHONG
XÃ HỘI DÂN SỰ VỚI TƯ CÁCH LÀ KHÔNG GIAN
XÃ HỘI CHO SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI, năm 2014
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN PHONG
XÃ HỘI DÂN SỰ VỚI TƯ CÁCH LÀ KHÔNG GIAN
XÃ HỘI CHO SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số : 62.22.03.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Văn Đức
HÀ NỘI, năm 2014
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Tuấn Phong
Trang 4Chương 2 BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI
332.1 Quan niệm của Mác về bản chất con người
33
2.1.1 Tiếp cận chỉnh thể
35 2.1.2 Tiếp cận chỉnh thể và khái niệm bản chất loài của C.Mác
41
2.1.3 Đặc trưng của sự phát triển con người
462.2 Không gian xã hội và sự phát triển con người
60
Chương 3 PHÁT TRIỂN XÃ HỘI DÂN SỰ
Trang 5VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
63
3.1 Xã hội dân sự với tư cách là một không gian xã hội
633.2 Cộng đồng chính trị và sự phát triển con người trong đời sống
Hi Lạp cổ đại
và sự phát triển con người 76
3.3.1 Xã hội dân sự, kinh tế thị trường và phát triển con người
91 Kết luận chương 3
97
Chương 4 TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO
SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM
100 4.1 Tiền đề tư tưởng cho sự phát triển con người và phát triển xã hội tại Việt Nam
101
4.1.1.Tu thân Nho giáo và sự phát triển con người
105
4.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người và
phát triển xã hội
110 4.2 Định hướng chính trị cho sự phát triển xã hội dân sự tại Việt nam
116
4.2.1 Định hướng chính trị của Việt Nam
116
Trang 64.2.2 Phát triển xã hội dân sự và phát huy quyền làm chủ của nhân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trên khắp thế giới, hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự
ngày càng góp phần quan trọng vào những nỗ lực nhằm đạt được Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên hiệp Quốc đề ra Các tổ chức xã hội dân
sự phối hợp với các chính phủ cùng hoạt động theo lộ trình tiến tới xây dựngmột thế giới mà ở đó không còn nghèo đói, tất cả trẻ em được học hành, sứckhoẻ của người dân được nâng cao, môi trường được duy trì bền vững và mọingười được hưởng tự do, công bằng và bình đẳng và đặc biệt là khuyến khíchsự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách củacác quốc gia Trong bối cảnh quốc tế như vậy và với tư cách là một thành viêntích cực của cộng đồng quốc tế Việt Nam đang chủ động hội nhập quốc tếmạnh mẽ và toàn diện với thế giới Trong tiến trình hội nhập quốc tế đó ViệtNam đang đứng trước những cơ hội và thách thức hết sức lớn lao Để có thểtận dụng được thời cơ, vượt qua thách thức nhằm chủ động hội nhập với thếgiới thì bên cạnh việc xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh và một nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa năng động, thì sự hìnhthành và phát triển một xã hội dân sự phù hợp là một đòi hỏi tất yếu đối vớinước ta hiện nay
Ở Việt Nam, mặc dù xã hội dân sự vẫn còn là một khái niệm gây nhiềutranh cãi, nhưng nhìn nhận dưới góc độ thực tiễn dân sự, thực tiễn mang tínhtruyền thống ở các cấp độ và lĩnh vực xã hội khác nhau, hoạt động của các tổchức xã hội dân sự là những hoạt động diễn ra trong các không gian xã hội (cótổ chức chính thức hoặc bán chính thức) thông qua đó người dân tự liên kết lạiđể giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống cộng đồng và địa phươngmà không cần đến sự can thiệp của nhà nước Trong lịch sử phát triển của dân
Trang 8tộc thì các hình thức biểu hiện cụ thể của xã hội dân sự có thể nhận thấykhông những trong hoạt động có tổ chức của nhóm, hội, phường… mà còntrong các hoạt động không chính thức nảy sinh giữa những người dân cùngtồn tại trong một cộng đồng xã hội truyền thống Đó có thể được coi là nhữngthiết chế văn hóa đặc thù trong đời sống văn hóa của người Việt Nam màchúng ta cần tính đến trong việc nghiên cứu về nét đặc trưng của xã hội dân sựViệt Nam Trong giai đoạn hiện đại xã hội dân sự còn mang diện mạo cácđoàn thể, hiệp hội bao gồm các tổ chức ngoài nhà nước hoạt động theonguyên tắc tự nguyện, tự chủ, độc lập về tài chính với thiết chế tổ chức đadạng hướng tới mục tiêu vì sự phát triển của cộng đồng.
Xã hội dân sự tại Việt nam, như vậy, có thể tạm được hiểu là thực tiễndân sự bao gồm các hoạt động ngoài gia đình và mạng lưới các đoàn thể, hiệphội và các tổ chức ngoài nhà nước nhằm khai thác tiềm năng mọi nguồn nhânlực nhằm thúc đẩy xã hội phát triển Ở đây, không có sự tách biệt giữa nhànước và các tổ chức xã hội dân sự như thường thấy trong các định nghĩa về xãhội dân sự theo truyền thống của chủ nghĩa tự do của Phương Tây Rõ ràngrằng trong quá trình thực hiện công cuộc Đổi mới, hàng loạt các tổ chức mangdáng dấp của xã hội dân sự đã ra đời và có những đóng góp tích cực vào sựphát triển kinh tế xã hội của cả nước hiện nay việc xây dựng xã hội dân sựlành mạnh và phù hợp ở Việt Nam là cần thiết, có tính chất tất yếu, phù hợpvới qui luật vận động, phát triển của đất nước Việc xây dựng thành công xãhội dân sự ở Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Hơn thế nữa trong bối cảnh phát triển của Việt Nam hiện nay đang cónhững điều kiện cơ bản và hiện thực để xây dựng xã hội dân sự, đó là nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của dân, do dân vì dân nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững
Trang 9của đất nước ta thì Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa và Xã hội dân sự lành mạnh và phù hợp lànhững nhân tố chủ đạo quyết định sự thành công của công cuộc Đổi mới, giúpchúng ta đạt tới mục tiêu bao trùm và thể hiện bản chất của xã hội xã hội chủ
nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Mục tiêu đó là bước tiến quan trọng để đạt tới một xã hội mà trong đó, như C.Mác đã nói, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" Bởi vì đối với chúng ta
phát triển con người không chỉ mục tiêu cụ thể của mỗi con người mà còn làmục tiêu tối thượng của cả hệ thống chính trị, của toàn bộ xã hội mà xã hộidân sự là một bộ phận quan trọng Tính bền vững của sự phát triển của xã hộithể hiện qua chính sách phát triển xã hội nhận được sự đồng thuận và ủng hộ
rộng rãi của nhân dân, phát huy được tối đa sự tham gia tích cực và chủ động
của người dân
Nhận thức được điều này Đảng Cộng Sản Việt Nam từ đại hội VIII đãnhấn mạnh sự cần thiết phải quán triệt quan điểm “lấy việc phát huy nguồnlực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền nhanh và bền vững” và
“Tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàndiện của con người Tư tưởng phát triển con người là nội dung xuyên suốt các
kỳ đại hội Đảng sau này Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020, như nhận xét của GS TS Nguyễn Xuân Thắng, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã “đưa ra một hệ quan điểm về phát triển Trong đó đặc biệt nhấnmạnh phát triển nhanh phải gắn liền với phát triển bền vững, khẳng định pháttriển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” và điều đáng lưu ý làChiến lược phát triển nhanh và bền vững đặc biệt coi trọng việc “phát huy tối
Trang 10đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêucủa sự phát triển” (V67, tr 6)1
Cũng cần phải nói rằng ở nước ta hiện nay, bên cạnh việc hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lậpmôi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính và xây dựng hệ thốngkết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệthống giao thông và hạ tầng đô thị lớn thì việc phát triển nhanh nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bảnnền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một trong ba khâu đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 -2020 Xã hội dân sự có thể đóng
vai trò to lớn trong việc thúc đẩy thực hiện các khâu đột phá đó, đặc biệt làkhâu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Tuy nhiên, việc xây dựng một xã hội dân sự mang tính đặc thù, phù hợpvới điều kiện lịch sử, văn hóa và đáp ứng được nhu cầu phát triển của Việt Namhiện nay cần phải dựa trên cơ sở các nghiên cứu lý luận một cách hệ thốngnhằm làm rõ bản chất của xã hội dân sự và quan trọng hơn là tạo cơ sở cho việc
chủ động định hướng sự phát triển của xã hội dân sự nhằm khác phục những
hạn chế và bất cập đồng thời phát huy tính tích cực của các hoạt động của các tổchức xã hội dân sự hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của đất nước
Trên phương diện lý luận, từ quan niệm duy vật biện chứng về sự pháttriển lịch sử loài người của Mác, xã hội dân sự có thể được quan niệm như làmột không gian xã hội của và cho sự phát triển con người, một không gian xãhội thể hiện tính sáng tạo và chủ động của con người trong tiến trình hiện thựchóa và nhận thức bản chất xã hội của mình Tiếp cận Mác xít về sự phát triểncon người và phát triển văn hóa còn cho chúng ta thấy rằng chính tính sáng
1 Trong chú thích của chúng tôi V là viết tắt tài liệu tiếng Việt E là viết tắt tài liệu tiếng Anh trong danh sách
Trang 11tạo và chủ động của con người đã tạo ra sự đa dạng của các không gian xã hộitrong lịch sử phát triển Vì vậy xã hội dân sự, với vai trò là một không gian xãhội, một bộ phận hữu cơ cấu thành của một toàn thể hữu cơ sống động và phát
triển, không phải là một khái niệm bất biến mà nội hàm và chức năng của xã
hội dân sự luôn biến đổi cùng với sự hình thành và phát triển của các bối cảnhvăn hóa và lịch sử cụ thể do chính con người tạo ra nhằm đáp ứng những mụcđích phát triển cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau của lịch sử vănhóa và lịch sử nhân loại Trong quan niệm của chúng tôi vì thế xã hội dân sự
là một khái niệm mở, luôn biến động trong mối tương quan với sự phát triển
của bản chất con người Biện chứng giữa sự phát triển của xã hội dân sự và sự
phát triển của con người thể hiện bản chất xã hội của con người: với tư cách
là ‘sản phẩm’ của một nền văn hóa, một không gian xã hội cụ thể thì conngười bị quy định bởi các không gian xã hội, “các hoàn cảnh xã hội” cụ thể
nhưng mặt khác cũng chính con người với tư cách là những chủ thể xã hội là
nhân tố kiến tạo ra các điều kiện cần thiết cho sự biến đổi và phát triển của cáckhông gian xã hội, “các hoàn cảnh xã hội” và chính trong hoạt động chủ độngvà sáng tạo của con người các không gian xã hội, “các hoàn cảnh xã hội” mới
có thể biến đổi và phát triển
Nhìn nhận xã hội dân sự như là một khái niệm mở sẽ có thể giúp chúng
ta hiểu được tính sáng tạo và chủ động của con người trong việc hiện thực hóabản chất của mình trong những bối cảnh và điều kiện văn hóa lịch sử khácnhau Trong bối cảnh phát triển lịch sử xã hội đặc thù của Việt Nam chúng tôimuốn khẳng định rằng Việt Nam đã có những tiền đề tư tưởng quan trọng chosự phát triển một xã hội dân sự phù hợp, đáp ứng được những mục tiêu nhânvăn của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng Nói cụ thểhơn, theo quan điểm của chúng tôi thì tư tưởng tu thân của Nho giáo và đặcbiệt là tư tưởng phát triển con người và phát triển xã hội của Chủ tịch Hồ Chí
Trang 12Minh, người đã kế thừa một cách sáng tạo và có chọn lọc tinh hoa văn hóa củaPhương Đông và các tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính là những nền
tảng tư tưởng quan trọng cho sự hình thành và phát triển xã hội dân sự xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam Hơn thế nữa, các tư tưởng
về phát triển con người và phát triển xã hội của Hồ Chí Minh đã được Đảngcộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển sáng tạo trong các chiến lược pháttriển kinh tế-xã hội của đất nước, đặc biệt là trong giai doạn tiến hành côngcuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến nay
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Xuất phát từ cách tiếp cận mang tính triết học về phát triển con người và xãhội dân sự, mục đích mà chúng tôi đặt ra trong luận án này là luận giải xã hội
dân sự với tư cách là không gian xã hội của (và cho) sự phát triển con người
Để thực hiện mục tiêu này, trong khuôn khổ luận án chúng tôi sẽ tậptrung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ nội dung và phân tích mối liên hệ giữa các khái niệm cơ bản
như chất con người, phát triển con người nhằm chỉ ra tính đặc thù trong sự
phát triển con người
- Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự trong một sốgiai đoạn tiêu biểu của lịch sử phát triển xã hội phương Tây nhằm chỉ ra mối
liên hệ biện chứng giữa thực tiễn phát triển của xã hội dân sự và phát triển
con người
- Tìm hiểu và phân tích nền tảng tư tưởng cho sự phát triển con người vàxã hội tại Việt Nam để làm sáng tỏ tính đặc thù của mô hình xã hội dân sự xãhội chủ nghĩa trong vai trò là không gian xã hội cho sự phát triển con ngườitại Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Trang 13Đối tượng nghiên cứu của luận án là các khái niệm bản chất con người, pháttriển con người, không gian xã hội và xã hội dân sự.
Phạm vi nghiên cứu trong luận àn này là khái niệm xã hội dân sự trong mốiliên hệ với sự phát triển con người Chúng tôi tiếp cận xã hội dân sự từ khíacạnh phát triển con người Xã hội dân sự chỉ được xem xét trong giới hạn làkhông gian xã hội cho sự phát triển con người Các khía cạnh và các cách tiếpcận khác về xã hội dân sự sẽ chỉ được chúng tôi đề cập đến trong sự liên quanđến phát triển con người
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý thuyết
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử về sự phát triển con người và xã hộinhư là một sự phát triển lịch sử - tự nhiên, sự vận dụng sáng tạo của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong việc tiếp thu chủ nghĩa Mác và tư tưởng truyền thốngphương Đông về phát triển con người và phát triển xã hội Chúng tôi cho rằngviệc nghiên cứu về phát triển con người và xã hội dân sự, đặc biệt là việc địnhhướng xã hội dân sự đến sự phát triển con người ở nước ta cần phải xuất phát từquan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xãhội và phát triển con người, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây
dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận mà chúng tôi sử dụng là các nguyên lý, các cặpphạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Hai nguyên lý
cơ bản của phép biện chứng duy vật sẽ được áp dụng trong việc nghiên cứu sựphát triển con người để chỉ ra rằng sự phát triển con người chân thực là tiếntrình phát triển ngày một hoàn thiện hơn bản chất con người Các nguyên lýnày còn cho thấy tính thống nhất trong đa dạng của tiến trình phát triển con
Trang 14người với tư cách là tiến trình phát triển bản chất con người Tiếp cận chỉnhthể và nhận thức duy vật lịch sử còn cho chúng ta thấy vai trò sáng tạo và chủđộng của con người trong tiến trình phát triển bản chất của mình Tính sángtạo và chủ động của con người lý giải cho tính đa dạng của các hình thái xuấthiện của xã hội dân sự, nét đặc trưng và bản sắc văn hóa của xã hội dân sự
5 Đóng góp mới của luận án
Tiếp cận từ góc độ triết học chính trị tới các khái niệm bản chất conngười và xã hội dân sự, luận án đã phân tích và làm sáng tỏ được những vấnđề mang tính lý luận sau đây:
- Luận án đã làm sáng tỏ khái niệm xã hội dân sự từ quan điểm triết họcMác về bản chất con người và phát triển con người
- Luận án đã làm sáng tỏ vai trò của xã hội dân sự đối với sự phát triểncon người trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội dân sự
- Luận án đã chỉ ra nền tảng tư tưởng cho sự phát triển của xã hội dân sựvới tư cách là không gian phát triển con người trong điều kiện phát triển củaViệt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án muốn chỉ ra sự cần thiết phải có những sự nhìn nhận và đánh giá đầyđủ hơn di sản lý luận của triết học Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Việc nghiên cứu nghiêm túc và khách quan các tư tưởng của C.Mác và HồChí Minh về bản chất con người và phát triển con người sẽ có thể giúp chúng
ta có những quan niệm sâu sắc về mục tiêu phát triển của đất nước, về vị trí,vai trò của xã hội dân sự trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.Tiếp cận xã hội dân sự từ khía cạnh phát triển con người còn giúp chúng ta cósự đánh giá đầy đủ hơn về những mặt tích cực cũng như mặt hạn chế của xãhội dân sự để trên cơ sở đó đề ra những định hướng chính trị quan trọng để
Trang 15phát huy tiềm năng của xã hội dân sự vì mục tiêu phát triển toàn diện conngười Việt Nam.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy và học tập những vấn đề thuộc đề tài phát triển con người, xã hội dân sự.Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu mang tính đốichiếu về phát triển con người và về xã hội dân sự từ các góc nhìn của các khoahọc xã hội khác
7 Kết cấu của luận án
Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bàiviết của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, nộidung chính của luận án bao gồm 4 chương, 10 tiết và kết luận các chương
Trang 16Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu xã hội dân sự
Xã hội dân sự là một đối tượng nghiên cứu tương đối mới mẻ ở ViệtNam Mặc dù vậy, trong thời gian gần đây, trên các tạp chí lý luận đã xuất
hiện một số công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung khái niệm xã hội dân sự, đặc điểm và tính chất hoạt động của xã hội dân sự ở Việt Nam Nhiều học
giả đã tập trung vào nội dung lịch sử khái niệm xã hội dân sự, đặc điểm, cấutrúc hoạt động của Xã hội dân sự ở Việt Nam và trên thế giới Các sách
chuyên khảo bao gồm Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay của các tác giả Thang Văn
Phúc và Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia (năm
2007), Xã hội dân sự - Một số vấn đề chọn lọc của Vũ Duy Phú (chủ biên),
Đặng Ngọc Dinh, Trần Chí Đức, Nguyễn Vi Khải, Nxb Tri thức (năm 2008),
Dương Xuân Ngọc (2009), Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính Quốc gia, Đinh Công Tuấn (Chủ biên) (2010), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về XHDS ở liên minh Châu Âu, Nxb Khoa học Xã hội; Tống Đức Thảo (2011), Trào lưu Xã hội dân sự ở một số nước Phương tây hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia,…
Trên các tạp chí chuyên ngành cũng xuất hiện nhiều công trình nghiêncứu khá chuyên sâu về xã hội dân sự từ các góc nhìn khác của các nghànhkhoa học xã hội khác nhau Đó là các công trình của các tác giả như: Đỗ
Trung Hiếu Một số vấn đề về xã hội công dân, Tạp chí Triết học, năm 2002, Phạm Hồng Thái Bàn về xã hội công dân Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 11/2004, Bùi Việt Hương, Xã hội công dân trong lịch sử tư tưởng chính trị
Trang 17phương Tây, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4/2006; Nguyễn Như Phát Tìm hiểu khái niệm xã hội dân sự, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2006; Phan Hữu Thư Bước đầu tìm hiểu khái niệm xã hội dân sự tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/2006, Bùi Quang Dũng Xã hội dân sự: khái niệm và các vấn đề, Tạp chí Triết học, năm 2006, Vũ Văn Nhiêm, Vài nét về Xã hội dân sự trong lịch sử và kinh nghiệm đối với nước ta, Tạp chí Khoa học Pháp luật số 1/2007; Nguyễn Thanh Tuấn , Xã hội dân sự từ kinh điển Mác Lênin đến tư tưởng Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 12/2007; Tương Lai, Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội dân sự, Tạp chí Khoa học Pháp luật, số 4/2007, Bùi Quang Dũng, Xã hội dân sự: khái niệm và các vấn đề, Tạp chí Triết học số 2 (189)/2008; Trần Tuấn Phong, Xã hội công dân và Xã hội dân sự từ Aritxtot đến Hêghen, Tạp chí Triết học số 2/2009; Nguyễn Đình Tường, Quan niệm của Hêghen về Xã hội công dân, Tạp chí Triết học số 4/2009; Trần Hữu Quang, Một số quan niệm cổ điển về Xã hội dân sự, Tạp chí
Khoa học Xã hội, số 7/2009…
Bên cạnh việc làm rõ nội dung, đặc điểm và tính chất của xã hội dân sựở Việt Nam một số công trình đã tập trung làm rõ mối quan hệ của các hìnhthức xã hội dân sự với nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường Các tác giảđã chỉ ra vai trò tích cực cũng như những hạn chế của các hình thức tổ chức xãhội dân sự đối với sự phát triển của Việt Nam; quan hệ giữa nhà nước và xãhội dân sự Việt Nam trong lịch sử và hiện đại, mối liên hệ giữa nhà nước vớixã hội dân sự và vấn đề cải cách hành chính; mối liên hệ giữa xã hội, cá nhânvà nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay, v.v Đó là các công trình như: Phạm Xuân Sơn Xã hội công dân và một số vấn đề về xã hội công dân ở nước ta, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Đà Nẵng, 2001; Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; Nguyễn Thanh Bình Vai trò của hội, tổ
Trang 18chức phi chính phủ trong đổi mới và phát triển đất nước, Tạp chí Lý luận chính trị, năm 2004; Thang Văn Phúc Vai trò của các Hội trong đổi mới và phát triển đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, GS.TS Võ Khánh Vinh Mối liên hệ giữa xã hội – cá nhân – nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2003,
Lê Văn Quang, Văn Đức Thanh, Quan hệ giữa Nhà nước và Xã hội dân sự Việt Nam lịch sử và hiện tại, NXB Chính trị Quốc gia 2003; Đào Trí Úc, mối liên hệ giữa nhà nước với xã hội dân sự và vấn đề cải cách hành chính, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2004; Hoàng Ngọc Giao, Xã hội Dân sự vớinhà nước và thị trường, kỷ yếu 30 năm thành lập khoa luật Đại học Quốc gia
Hà Nội; Trần Ngọc Hiên, Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự nước ta; Lê Văn Quang Quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự Việt Nam: lịch sử và hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Đặng Kim Sơn Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng ứng dụng cho Việt Nam, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Đào Trí
Úc Mối liên hệ giữa nhà nước với xã hội dân sự và vấn đề cải cách hành chính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2004; Nguyễn Thanh Bình Xây dựng nhà nước pháp quyền từ sự hình thành xã hội công dân, Tạp chí Cộng sản số 9/2004; Trần Hậu Thành Một số vấn đề lý luận về quan hệ nhà nước, xã hội và công dân trong nhà nước pháp quyền, Tạp trí Triết học, số 6/2005, Phạm Ngọc Trầm, Nhà nước pháp quyền, Xã hội dân sự với vấn đề về quyền và nghĩa vụ công dân, Tạp chí Triết học số 4/2006; Nguyễn Duy Quý, Về xã hội dân sự; Nguyễn Thu Linh, Phát triển bền vững và sự tham gia của xã hội dân sự; Nguyễn Minh Phương, Vai trò của xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học, số 2/2006, Đinh Ngọc Vượng, Xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; Hà Thị Mai Hiên, Xã hội dân sự và cá nhân trong Nhà nước Pháp quyền, trong kỷ yếu hội thảo “Xã hội dân sự ở Việt
Trang 19Nam và những khía cạnh Nhà nước pháp quyền”, 2006 , Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam của Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình Bôn (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia (năm 2008), Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền (Sách tham khảo) của Hồ Bá Thâm và Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia (năm 2009), Về quá trình dân chủ hoá XHCN ở Việt Nam (Sách chuyên khảo) của Lê Minh Quân, Nxb Chính trị quốc gia (năm 2011), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay của Lê Minh Thông, Nxb Chính trị quốc gia (năm 2011).
Tác giả Hoàng Ngọc Giao thì cho rằng xã hội dân sự là môi trườngquan hệ với đặc điểm chủ yếu là không vì mục đích lợi nhuận, vận hành theonguyên tắc tự nguyện và bên ngoài hệ thống quyền lực công cộng
Trong một công trình nghiên cứu công phu thì các tác giả Thang VănPhúc và Nguyễn Minh Phương cho rằng xã hội dân sự là một trong những lĩnhvực cơ bản của đời sống xã hội, tập hợp các mối quan hệ tự nguyện, tự quảncủa người dân, liên kết con người với nhau thành các tổ chức, không vì mụcđích lợi nhuận, độc lập tương đối với nhà nước và thị trường nhằm thỏa mãncác nhu cầu và lợi ích nhất định của cá nhân hoặc cộng đồng
Theo quan điểm của tác giả Dương Xuân Ngọc thì xã hội dân sự là tổngthể các quan hệ và các tổ chức, các mạng lưới xã hội được hình thành và hoạtđộng theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, tự trang trải vềkinh phí, trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý, phối hợp với nhà nước để kiểmxoát và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy phát triển kinh tế, từngbước hoàn thiện và phát huy vai trò của xã hội dân chủ, nhằm duy trì, bảo đảmsự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của nhà nước và xã hội, hiện thựchóa quyền lợi của mỗi cá nhân và cộng đồng
Trang 20Từ khía cạnh luật học tác giả Võ Khánh Vinh quan niệm rằng xã hộidân sự là một hệ thống các quan hệ và thiết chế xã hội đa dạng, phong phú ởnhiều mức độ, có mối liên hệ lẫn nhau không thông qua (không phụ thuộcvào) Nhà nước của cá nhân tự do và có toàn quyền tồn tại và hoạt động trongđiều kiện kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền.
Tác giả Nguyễn Mạnh Cường có xu hướng đồng nhất xã hội dân sự vớilĩnh vực công, lĩnh vực của công chúng hay lĩnh vực thứ ba của một quốc gia,bổ sung cho nhà nước và khu vực kinh doanh, bao gồm tất cả các tổ chức,nhóm, hội, mạng lưới nhân dân thiết lập nên Nó mang tính phi chính phủ, tựnguyện và phi lợi nhuận
Nhiều các công trình nghiên cứu thực trạng xã hội dân sự và đánh giában đầu về các yếu tố hình thành, phát triển xã hội dân sự Việt Nam trongkhuôn khổ các chương trình nghiên cứu cấp quốc gia và chương trình hợp tácvới nước ngoài đã được nghiệm thu và xuất bản thành sách Đó là các công
trình như "Các tổ chức nhân dân trong thị trường kinh tế" trình bày các kết quả của KX.05.10 dự án mang tên "Vị trí và đặc điểm hoạt động của tổ chức Thánh Lễ và xã hội trong Hệ thống chính trị "(biên tập: Nguyễn Việt Vương,
xb 1994) Trong những năm 2000, Viện Xã hội học đã tiến hành một số
nghiên cứu liên quan đến chủ đề Khảo sát năm 2001 "Hệ thống chính trị cơ sở
- Xem từ nhân dân” thu thập dữ liệu về nông thôn của người dân sự hiểu biết
và ý kiến về hệ thống chính trị ở cấp làng, xã, bao gồm cả xã hội tổ chứcchính trị (Trịnh Duy Luân, 2002) Bắt đầu vào năm 1999 và kết thúc vào năm
2002, một nhóm quốc tế của các nhà nghiên cứu, trong một sự hợp tác giữaViện Xã hội học, Đại học Freiburg và Đại học Tự do Berlin, tiến hành nghiêncứu kết hợp các kỹ thuật định tính và định lượng về tổ chức dân sự tại Hà Nộivà Hồ Chí Minh (dự án COHH)
Trang 21Cũng cần phải nói ra là hầu hết các công trình này đều đề cập đến xãhội dân sự từ góc độ văn hóa, xã hội học, lịch sử, kinh tế hay luật học có rất
ít công trình tiếp cận đầy đủ từ góc độ triết học Đề tài nghiên cứu cấp Bộ
“Cơ sở triết học và thực tiễn của việc xây dựng xã hội dân sự” do PGS TS.
Phạm Văn Đức, Viện Triết học chủ nhiệm (2007-2009) là số ít đề tài nằmtrong số đó khi tiếp cận khái niệm xã hội dân sự từ góc độ triết học, đặc biệt làtừ góc độ lịch sử triết học
Trong đề tài này các tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ, chi tiết vềtình hình nghiên cứu Xã hội dân sự trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt là lịch
sử phát triển của khái niệm này dưới góc độ triết học (sự phát triển quan điểmvề xã hội dân sự trong quan điểm của các triết gia phương Tây tiêu biểu từAristotle đến C Mác cũng như các cách tiếp cận và quan điểm hiện đại củachủ nghĩa cộng đồng, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cộng hòa ) Đề tài này còn
có những nghiên cứu một số mô hình xã hội dân sự thực tiễn ở một số nơitrên thế giới như: Anh, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore Đề tài đãvạch ra nội dung, bản chất, những đặc trưng và những điều kiện để xây dựngxã hội dân sự, nhằm góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho việc xây dựng vàphát triển xã hội dân sự trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Một đề tài cấp Nhà nước nữa được nghiệm thu là “Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, đề tài đã làm sáng tỏ nhiều vấn
đề từ cơ sở, tiền đề đến thực trạng hình thành, phát triển xã hội dân sự ViệtNam Đặc biệt, đề tài đã luận giải mô hình xã hội dân sự định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam bao gồm những đặc điểm cơ bản, nội dung hoạt động,vai trò, chỉ ra những hạn chế và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện mô hìnhnày trong tương lai
Trang 22Bên cạnh những bài báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu còn cócác hội nghị, hội thảo về xã hội dân sự Các cuộc hội thảo này đã phần nàothu hút được sự quan tâm của giới học giả và công chúng, góp phần làm sáng
tỏ nhiều vấn đề còn băn khoăn về xã hội dân sự nói chung và xã hội dân sựViệt Nam nói riêng
- “Các tổ chức xã hội dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung
ương tổ chức vào ngày 16 tháng 5 năm 2007
- “Xã hội dân sự: khái niệm và các hướng tiếp cận nghiên cứu" do liên
chi đoàn TNCS HCM Viện Xã hội học và Viện Nhà nước và Pháp luật đãphối hợp tổ chức ngày 14/8/2007 Hội thảo mới chỉ dừng lại ở chỗ cung cấpnhững khái niệm cơ bản nhất về xã hội dân sự mà chưa đi sâu vào việc phântích các nội dung cụ thể của nó
- “Xã hội dân sự: những vấn đề lịch sử, lý luận và kinh nghiệm nước ngoài” do chương trình Pháp quyền Châu Á (Konrad Adenauer Stiftung -
KAS) và Viện Khoa học xã hội Việt Nam đồng tổ chức ngày 28 và 29 tháng 2năm 2008 Hội thảo đã trình bày những vấn đề về lý luận chung của xã hộidân sự, kinh nghiệm xây dựng, phát triển xã hội dân sự tại Philipin, indonesia,Singapore, Thái Lan… và bài học cho Việt Nam
- “Xã hội dân sự của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế và phát triển bền vững” do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương ( CIEM)
phối hợp với Viện Nghiên cứu Châu Á của các nước Bắc Âu ( NIAS) tổ chứcngày 4 tháng 4 năm 2008 Hội thảo tập trung vào một số chủ đề chính về Xãhội dân sự: các diễn ngôn quốc tế về xã hội dân sự; quan điểm quốc tế và phântích vai trò của xã hội dân sự ở Việt Nam; vai trò của xã hội dân sự trong sựphát triển của các nước phúc lợi Bắc Âu: lịch sử, kinh nghiệm, và thách thức;quan điểm quốc tế và phân tích vai trò của xã hội dân sự ở Trung Quốc; xã hội
Trang 23dân sự trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam: cái nhìn từtrong nước
- “Quan hệ giữa kinh tế thị trường - nhà nước pháp quyền - xã hội dân sự: Thực tiễn thế giới và vấn đề này ở Việt Nam” do Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 10 tháng 01 năm 2008 Mụcđích của hội thảo là làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố kinh tế thịtrường - nhà nước pháp quyền - xã hội dân sự trên cả bình diện lý luận và thựctiễn trên thế giới và Việt Nam…
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phát triển con người
Ở Việt nam có thể nhận thấy rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam từ đại hộiVIII đã nhấn mạnh sự cần thiết phải quán triệt quan điểm “lấy việc phát huynguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền nhanh và bềnvững” và “Tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự
do, toàn diện của con người Tư tưởng phát triển con người là nội dung xuyên
suốt các kỳ đại hội Đảng sau này Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
10 năm 2011-2020, như nhận xét của GS TS Nguyễn Xuân Thắng, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã “đưa ra một hệ quan điểm về phát triển Trong đó đặcbiệt nhấn mạnh phát triển nhanh phải gắn liền với phát triển bền vững, khẳngđịnh phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” và điềuđáng lưu ý là Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đặc biệt coi trọng việc
“phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủyếu và mục tiêu của sự phát triển” (V67, tr.6)
Trong các công trình nghiên cứu về phát triển con người thì, như nhậnxét của GS.TS Hồ Sỹ Quý, khái niệm phát triển con người mặc dù đã đượcbiết đến là một khái niệm triết học cơ bản, đặc biệt là trong triết học C.Mác và
tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh, nhưng nó chỉ được đặc biệt chú ý đếncùng với sự xuất hiện của Báo cáo Phát triển Người (HDR) do Liên Hiệp
Trang 24Quốc công bố vào những năm 1990 “Của cải đích thực của một quốc gia làcon người của quốc gia đó Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi tr-ường thuận lợi cho phép con người đợc hưởng cuộc sống dài lâu, khoẻ mạnhvà sáng tạo Chân lý giản đơn nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người taquên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính” (V20, tr 80-81) Cũng theo GS.TS Hồ Sỹ Quý thì nội dung chủ yếu của khái niệm nàygồm: 1), là quá trình tăng cường năng lực cho sự lựa chọn của con người 2),là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn cho mọi người Khái niệm này có thể đượcgiải thích như sau:
1 Phát triển con người là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn của từng ngườivà của từng cộng đồng Ở đâu con người có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, thìở đó điều kiện phát triển con người sẽ tốt hơn
2 Phát triển con người là quá trình tăng cường các năng lực lựa chọn cho từngngười và từng cộng đồng Ở đâu con người có năng lực lựa chọn cao hơn, thìở đó trình độ phát triển con người cũng cao hơn Các năng lực của con ngườicần được tăng cường bao gồm các năng lực sinh thể (mà trước hết là sứckhỏe) và các năng lực tinh thần (mà trước hết là tri thức) Các cơ hội cho hoạtđộng của con người cần được mở rộng bao gồm các hoạt động lao động vànghỉ ngơi Mở rộng các hoạt động được hiểu theo nghĩa là con người có khảnăng sử dụng ngày càng tốt hơn năng lực sinh thể và năng lực tinh thần củamình trong công việc và trong nghỉ ngơi
3 Quá trình mở rộng cơ hội và tăng cường năng lực lựa chọn chính là môitrường làm cho khả năng sáng tạo, sống khỏe mạnh, được học hành và trườngthọ của con người tăng lên (V25, tr.80-81)
Ở Việt nam quan điểm phát triển con người còn được triển một cách cóhệ thống trong các công trình của tác giả Phạm Minh Hạc Tác giả Phạm Minh
Hạc là chủ nhiệm của ba chương trình quốc gia “ Con người – mục tiêu và
Trang 25động lực phát triển kinh tế xã hội ” (1991-1995); “Phát triển văn hóa, xây dựng con người toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ” (1996-200); “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001-2005)…Theo ý kiến của ông thì phát
triển con người chính “là phát triển các lực lượng bản chất của con người,phát triển các năng lực vật chất và năng lực tinh thần, nhân cách, trí tuệ, thểchất và trong quá trình sống, con người (chủ thể) chuyển dần thành tâm lực,trí lực, thể lực (các giá trị cá thể, giá trị nhân cách), tức là nhân lực có hiệuquả cho cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng đồng Phát triển người lànâng cao chất lượng sống, tạo nên một động lực quyết định nhất trong nội lựccủa con người, của cộng động, của dân tộc” (V49, tr 31)
Con người văn hóa và quyền phát triển do Mai Quỳnh Nam (chủ biên)
là sản phẩm tập hợp từ những nghiên cứu của cán bộ và cộng tác viên củaViện Nghiên cứu con người Trong quyển sách này các khái niệm con ngườivà phát triển con người được đề cập đén trong mối liên hệ với phát triển vănhóa và quyền con người Phát triển con người được các tác giả chú ý đếntrong mối liên hệ với phát triển nguồn nhân lực
Mối liên hệ giữa phát triển con người và văn hóa cũng được đề cập nhiều,
tiêu biểu là các tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người và phát triển văn hóa do Đặng Xuân Kỳ chủ biên Trong bối cảnh hội nhập quốc
tế vấn đề con người và văn hóa Việt Nam được đề cập đến trong công trình
Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế do Hoàng
Chí Bảo chủ biên…
1 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về xã hội dân sự
Lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm xã hội dân sự đã đượccác nhà triết học, xã hội học, chính trị học, luật học nổi tiếng trên trên thế giới
Trang 26đề cập đến trong lịch sử tư tưởng phương Tây Đa số họ tập trung vào nghiêncứu từ những khía cạnh như: lịch sử tư tưởng xã hội dân sự, khái niệm, cácđặc điểm, nguyên tắc hoạt động của nó và các giá trị, hạn chế; mối quan hệgiữa xã hội dân sự với nhà nước của tự nhiên (trạng thái tự nhiên), xã hộichính trị, xã hội, các lý thuyết kinh tế và trong quá trình chuyển đổi dân chủcũng được đề cập đến2
Trong các tác giả cổ đại phương Tây phải kể đến Aristotle là người đặtnhững nền tảng quan trọng nhất cho sự phát triển của triết học phương Tâynói chung và triết học chính trị phương Tây nói riêng Mặc dù trong hệ thốngtriết học Aristotle không có khái niệm xã hội dân sự nhưng những nền tảngquan trọng cho sự hình thành khái niệm xã hội dân sự có thể được nhận thấy
trong khái niệm thành bang (Polis) của ông Trong tư tưởng của Aristotle
không hề có sự đối lập giữa “chính trị (nhà nước)” với “xã hội dân sự” Tất cả
2
Có thể kể đến các công trình tiêu biểu trong lịch sử triết học chính trị như Aristotle Nicomachean
Ethics, translated by Terence Irwin (Indianapolis: Hackett Publishing Company, 1985), Aristotle The Politics, Hobbes T., Leviathan, ed by Richard Tuck, Cambridge, New York: Cambridge University Press,
1996, Locke J., Two Treaties of Government, New York: Mentor, 1965, Oakeshott M., Hobbes on Civil
Association, Oxford: Basil Blackwell, 1975, Hume D., Political Essays, ed by K Haakonssen, Cambridge:
Cambridge University Press, 1994, Hume D., A Treatise of Human Nature, Oxford: Oxford University Press,
2000, Ferguson A., An Essay on the History of Civil Society, Edinburgh, 1966Trans Carnes Lord University
of Chicago Press 1984, , Kant I., Political Writings, ed H Reiss, Cambridge: Cambridge University Press,
1995, Kant I., The Metaphysics of Morals, trans M Gregor, Cambridge: Cambridge University Press, 1991, Kant I., The Metaphysical Elements of Justice, J Ladd, Indianapolis, Hegel, G.W.F, Philosophy of Right,
trans T.M Knox, London: Oxford University Press 1967 Các tác phẩm của các tác giả hiện đại phải kể
đếnAvineri S., Hegel’s Theory of the Modern State, Cambridge: Cambridge University Press, 1995, Avineri, S., The Social and Political Thought of Karl Marx, Cambridge: Cambridge University Press, 1968, Cohen J.L., Arato A., Civil society and Political theory, Cambridge, The MIT Press, 1992, Ehrenberg J., Civil
Society: the Critical History of an Idea, New York, London: New York University Press, 1999, Gellner E., Conditions of Liberty Civil Society and Its Rivals, London: Hamish Hamilton, 1994, Hann C.M., Dunn (eds), Civil Society: Challenging Western Models, London: Routledge, 1996, Held D., Models of Democracy,
Cambridge: Polity Press, 1999, , Hunt G., ‘The Development of the Concept of Civil Society in Marx’, History of Political Thought, Vol VIII No 2, 1987 1965, Keane J., Civil Society Old Images, New Visions, Oxford: Polity Press, 1998, Keane J., Democracy and Civil Society, London: Verso, 1988, , Schecter D.,
Sovereign States or Political Communities? Civil Society and Contemporary Politics, Manchester and New
York: Manchester University Press, 2000, Seligman A.B., The Idea of Civil Society, Princeton: Princeton University Press, 1992Waszek N., The Scottish Enlightenment and Hegel’s Account of ‘Civil Society’,
Dordrecht, London: Kluwer Academic1988, Manuel Mejido C, 2007, Toward a typology of civil society
actors, Program paper N.30,UNRISD; Cohen J vaf ACarato A 1992, Political Theory and Civil society,Cambridge, MA, MiT press; Honneth Axel (1993), Conceptions of Civil society, Radical Philosophy
64/summer; Hall J(ed) Civil society: Theory, History, Comparision, Polity Press, 1995; George F.Mclean (1996), Civil society and social reconstruction Vol.16/george Mclean-Washington D.C: The council for
reasearch in values and philosophy.
Trang 27các công dân, tùy theo năng lực của mình, cùng nhau chia sẻ những lo lắng, cùngquan tâm và hành động có trách nhiệm đối với cái thiện chung của toàn thể.Quan niệm của Aristotle về cộng đồng chính trị đã loại trừ vai trò của phụ nữ với
tư cách một công dân của Polis Ông còn coi chế độ nô lệ là một cái gì đó tự
nhiên Dân chủ và bình đẳng chỉ tồn tại trong sinh hoạt của những người đàn ôngtrưởng thành và tự do Còn trong gia đình thì sự độc đoán và bất bình đẳng đượccoi là cái gì đó hiển nhiên… Những quan điểm mang tính kỳ thị về giới và chủngtộc của Aristotle đã bị các triết gia nữ quyền sau này phê phán kịch liệt
Tư tưởng về xã hội dân sự đã được phát triển đáng kể trong tư tưởngT.Hobbes lẫn J.Locke Hai ông đều có xuất phát điểm nghiên cứu về xã hộidân sự từ trạng thái tự nhiên của con người, nơi mà tự do, độc lập, bình đẳngcủa mỗi cá nhân không chịu bất kỳ sự kiềm toả và áp lực nào từ trên xuốngthông qua các thể chế Cùng có chung cơ sở xuất phát nghiên cứu là conngười trong trạng thái tự nhiên, nhưng hai nhà triết học này lại đưa ra cáchhiểu và lý giải khác nhau về bản chất của trạng thái tự nhiên Trong quan niệmcủa T.Hobbes và J.Locke, sự hình thành xã hội dân sự đánh dấu bước pháttriển của xã hội loài người từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội dân sự,đánh dấu bước chuyển của con người từ trạng thái không văn minh sang xãhội văn minh Xã hội dân sự tạo lập trên cơ sở khế ước xã hội chính là mộthình thức tổ chức đời sống xã hội của con người, là một sản phẩm do conngười tạo ra trên cơ sở nhận thức các luật tự nhiên Xã hội dân sự là một sựlựa chọn tự nguyện của con người nhằm đảm bảo một trật tự và an ninh xãhội, tạo điều kiện cho các cá nhân theo đuổi hạnh phúc của mình Nhà nướcvà xã hội dân sự xuất hiện đồng thời và tồn tại phụ thuộc lẫn nhau Nhà nướcbảo vệ sự tồn tại của mình cũng có nghĩa là bảo vệ hòa bình và thịnh vượngchung cho cả xã hội dân sự và ngược lại Do đó, có thể nói, xã hội dân sựtrong quan điểm của T.Hobbes và J.Locke, về thực chất, là trạng thái tươngđồng với nhà nước; nói cách khác, không có sự phân biệt, đối lập giữa xã hộidân sự và nhà nước hay xã hội chính trị Đó là một trạng thái xã hội có tổ
Trang 28chức, có nhà nước nhằm duy trì trật tự xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng.Điểm khác biệt quan trọng giữa J.Locke và T.Hobbes là xã hội dân sự lập rakhông những chỉ để đảm bảo an ninh trật tự, mà còn nhằm duy trì và bảo vệchế độ tư hữu Học thuyết chính trị của T.Hobbes và J.Locke còn nhiều điểmhạn chế mang tính thời đại Tuy nhiên, tư tưởng của các ông đã có ảnh hưởng,đóng góp to lớn cho sự phát triển của triết học chính trị nói chung và kháiniệm xã hội dân sự nói riêng Nhiều tư tưởng của T.Hobbes và J.Locke, chođến nay, vẫn còn ảnh hưởng to lớn trong lý luận chính trị cũng như đời sốngchính trị hiện thực.
Trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật, nếu chỉ có duy nhất một lầnMontesquieu dùng từ “xã hội dân sự” thì tính từ “dân sự” lại được ông liên kếtvới rất nhiều từ ngữ khác: luật dân sự, chính quyền dân sự, tự do dân sự, nô lệdân sự, quan lại dân sự, lợi ích dân sự, sự vụ dân sự, hoạt động dân sự, sứcmạnh dân sự, những bất đồng dân sự, viên chức dân sự, tổ chức tư pháp dânsự, nhà nước dân sự, trạng thái dân sự, v.v Như vậy, rất nhiều lĩnh vực hoạtđộng của xã hội được Montesquieu coi là có tính dân sự (có liên quan vàthuộc về công dân); những lĩnh vực không có tính dân sự là các lĩnh vực tôngiáo, quân đội và hình sự
Trong quan điểm của Montesquieu thì xã hội dân sự và đời sống dân sựtương đương nhau Xã hội dân sự bao trùm toàn bộ các lĩnh vực chính trị,kinh tế và những lĩnh vực khác của đời sống xã hội nằm ngoài thẩm quyềncủa nhà thờ và một vài thiết chế đặc biệt, như quân đội hay những kẻ bị loại rangoài xã hội (những người phạm tội hình sự) Quan niệm như vậy về xã hộidân sự rất khác so với quan niệm hiện đại
Một trong những nét đặc trưng phân biệt quan điểm của các nhà Khaisáng Pháp nói chung và Montesquieu nói riêng với quan điểm hiện đại về xãhội dân sự, đó là Montesquieu cùng các nhà Khai sáng Pháp, dù hữu thần hay
vô thần, đều có định hướng đặt tôn giáo ra khỏi lĩnh vực dân sự của đời sốngxã hội Đóng góp lớn nhất của Montesquieu trong quan niệm về xã hội dân sự
Trang 29là những luận giải của ông về vấn đề luật pháp, pháp quyền và phân quyềntrong xã hội dân sự.
J.J Rousseau đã kế thừa những quan điểm khác nhau của các nhà triếthọc theo trường phái “pháp quyền tự nhiên” – T.Hobbes, J.Locke về trạng tháitự nhiên, sự hình thành xã hội, khế ước xã hội, xã hội dân sự, nhà nước.Những quan điểm về xã hội dân sự của J.J.Rousseau được ông thể hiện trongcác tác phẩm: Về sự bất bình đẳng, Bàn về tinh thần pháp luật Đặc biệt, vấnđề xã hội dân sự được J.J Rousseau trình bày rõ ràng, súc tích trong tác phẩm
Bàn về khế ước xã hội Trong các tác phẩm này, ông đã nhìn thấy sự khác biệt
giữa xã hội dân sự nảy sinh cùng với chế độ tư hữu và nhà nước được thiết lậptrên cơ sở khế ước xã hội giữa những con người với nhau Trong quan điểmcủa J.J.Rouseau về xã hội dân sự, chúng ta có thể nhận thấy những yếu tố tiềm
ẩn chỉ rõ sự khác biệt giữa xã hội dân sự thành lập trên cơ sở thuần túy phục
vụ lợi ích kinh tế và bảo vệ tư hữu (dựa trên lòng tự yêu mình) với nhà nướcđược xây dựng trên cơ sở ý chí chung (dựa trên lòng trắc ẩn) nhằm phát triểntoàn diện con người Những tư tưởng này được thể hiện rõ nét hơn trong kháiniệm xã hội dân sự (khía cạnh đạo đức) của I.Kant và đặc biệt là của Hegel(khái niệm đời sống đạo đức)
Sự phát triển của xã hội dân sự ngày càng được nhận thức và phản ánhđầy đủ hơn Một bước tiến rất đáng ghi nhận về khái niệm xã hội dân sự có
thể thấy trong hệ thống triết học chính trị của Hegel Trong tác phẩm Triết học pháp quyền của mình Hegel đã coi xã hội dân sự như là một mắt xích
trong cấu trúc hữu cơ của đời sống đạo đức (ethical life) Đời sống đạo đứcbao gồm 3 yếu tố là gia đình, xã hội dân sự và nhà nước Đây cũng là 3 giaiđoạn thiết yếu trong sự phát triển của tự do Đời sống đạo đức trong tính toànthể của nó chính là nơi bản chất con người được nhận thức và được triển khai
cụ thể Các trạng thái khác nhau của đời sống đạo đức thể hiện mức độ nhậnthức, mức độ phản tỉnh của con người về bản chất của mình Đời sống đạo
Trang 30đức là sự hiện thực hóa bản chất con người trong lịch sử, nó là một tiến trìnhlịch sử thống nhất và có mục đích.
Quan điểm của C.Mác về xã hội dân sự được kế thừa và phát triển từnhững quan điểm của các nhà triết học trong lịch sử, đặc biệt là Hegel Trongquan niệm của C.Mác, khái niệm “xã hội dân sự” gắn liền với sự hình thànhvà phát triển của xã hội tư sản Theo quan điểm của C.Mác, xã hội dân sự cómột quá trình phát triển với nhiều hình thái khác nhau và xã hội tư sản đượcxem là hình thái điển hình nhất của xã hội dân sự hiện đại Như vậy, theoquan điểm của C.Mác, sự phát triển của xã hội dân sự cũng gắn liền với sựphát triển của các hình thái kinh tế - xã hội
Đến những năm cuối thập kỷ 90, xã hội dân sự được xem như là mộtliều thuốc trong bối cảnh sự phát triển của phong trào chống toàn cầu hóa vàchuyển đổi của nhiều nước dân chủ Xã hội dân sự ngày càng được kêu gọi đểbiện minh cho tính hợp pháp của nó và các thông tin dân chủ Do vai trò tolớn đó mà Liên Hiệp Quốc đã lập ra một ủy ban cấp cao về xã hội dân sự
Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa các nhà nghiên cứu nước ngoài cònbàn nhiều đến việc phát triển Xã hội dân sự toàn cầu: Xã hội dân sự toàn cầuxuất hiện do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và sự biến đổitrong nhận thức của xã hội Một xã hội bền vững toàn cầu được thành lập trênsự tôn trọng với thiên nhiên, nhân quyền, kinh tế, công lý vì một nền văn hóacủa hòa bình Ngày nay, các thuật ngữ xã hội dân sự hiện đang được sử dụngbởi các nhà phê bình và các nhà hoạt động như là một tham chiếu đến toàncầu hóa3 Điều này, là bởi vì nó được xem như hành động vượt ra ngoài ranh
3Phải kể đến các công trình nghiên cứu như: Một số tác giả như: H.Adheir, regina List, et all Global civil
society; Chandhoke Nieera (2002) – The Limits of Global civil society in Global civil society 2003,Oxford
University Press; Robison M, White G (ed) 1998 Democratic development state: politics and institutional
densign, Oxford Universty press Adher M 2001; White G 1994, civil society, Democratization and development, Democratization, Vol 1, N 3; Diamond L 1994: Toward democatics consolidations, Journal
of democracy, Vol 4, N3; Lester M S, S Worjecks S, Regina L 2003, Global civil society: an overview;
Lester Salamon, H.Adheir, regina List, et all Global civil society: Dimensions of the non profit sector, John
Trang 31giới và trên khắp vùng lãnh thổ khác nhau Tuy nhiên, khi xã hội dân sự, cóthể được định nghĩa bao gồm và được tài trợ, chỉ dẫn của các doanh nghiệp,các tổ chức – những người hỗ trợ toàn cầu hóa thì đây là một sử dụng tranhchấp Vì sự phát triển nhanh chóng của xã hội dân sự trên quy mô toàn cầusau sự sụp đổ của hệ thống cộng sản là một phần của chiến lược tân tự do liênkết với sự đồng thuận của Mỹ Một số nghiên cứu cũng đã được xuất bản, đểđối phó với các vấn đề chưa được giải quyết về việc sử dụng thuật ngữ nàytrong kết nối với các tác động và sức mạnh khái niệm của hệ thống viện trợquốc tế Bên cạnh đó, xã hội dân sự toàn cầu cũng được nhìn nhận như mộthiện tượng xã hội mở rộng phạm vi của giá trị, nó ngày càng giữ vai trò lớnhơn trong các quốc gia.
Tựu trung lại các quan điểm hiện đại về xã hội dân sự có thể nhóm thành
3 nhóm chính: Quan điểm của thuyết tự do và tân tự do, quan điểm của tiếpcận cộng đồng và quan điểm của tiếp cận cộng hòa
Theo quan điểm của thuyết tự do và tân tự do, xã hội dân sự có thể được
xem là một thực thể tồn tại độc lập và có phần đối lập với nhà nước Theoquan điểm này, các công dân tự do thông qua nhiều cách thức khác nhau để tổchức các hiệp hội phục vụ lợi ích của họ, xã hội dân sự như vậy trở thành
“lĩnh vực thứ ba” tách biệt với nhà nước và thị trường Có thể dễ dàng xác
định thị trường bao gồm các công ty và tổ chức kinh doanh hoạt động vì mụcđích lợi nhuận, còn nhà nước bao gồm chính phủ, các tổ chức hành chính,đoàn thể chính trị nhưng rất khó có thể xác định một cách rõ ràng về thànhphần của “lĩnh vực thứ ba” này Với quan điểm của chủ nghĩa tự do và tân tự
do, lĩnh vực thứ ba này bao gồm tất cả những gì còn dư lại trong xã hội sau
society: an overview, 2003; Anheir K, H and Carlson L, et all 1999, Global civil society, Dimensions of non profits sector, Baltimor; EUISS, the European Commission/DG Research and UNU-CRIS, the role of civil society in global governance, Bỉ 1/10/2010; Robert W Cox, (1999) Civil society at the turn of the millenium: Prospects for an alternative world order, cambridge university press
Trang 32khi đã lược bớt đi lĩnh vực của nhà nước và thị trường Do đó, những ngườitheo chủ nghĩa tự do và tân tự do quy xã hội dân sự về các lĩnh vực (hoạtđộng) không vì lợi nhuận và không (thuộc về) nhà nước (not-for-profit andnon-governmental fields) Cơ sở lý luận của quan điểm này là những quanniệm về con người như những cá nhân tự do, tồn tại như những nguyên tử độclập với xã hội Chủ nghĩa tự do cho rằng xã hội là tập hợp của những cá nhântự do theo đuổi lợi ích cá nhân của mình, và thông qua các khế ước xã hội đểcộng tác với nhau nhằm đạt được mục tiêu riêng của mình Vai trò của nhànước là tối thiểu và được lập ra chỉ là để bảo vệ các quyền tự do cá nhân và tàisản cá nhân Thị trường tự điều tiết các quan hệ và giao dịch của các cá nhân
sẽ hữu hiệu hơn nếu nhà nước càng ít can thiệp vào Có thể nhận thấy tưtưởng A Smith với lý thuyết về “bàn tay vô hình” là một trong những cơ sở lýluận của chủ nghĩa tự do về xã hội dân sự
Trong khi chủ nghĩa tự do đề cao tự do và lợi ích cá nhân, nhấn mạnhvai trò và vị thế của cá nhân trong mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, cũngnhư trong việc hình thành các mối liên kết xã hội, thì chủ nghĩa cộng đồngchú trọng đến công ích và lợi ích cộng đồng, chỉ ra nét đặc thự và tầm quantrọng của truyền thống văn hóa trong sự hình thành và phát triển nhân cáchcủa cá nhân cũng như trong tiến trình tạo dựng và phát triển mối liên kết bềnvững của đời sống cộng đồng và xã hội Bởi lẽ, những cái chung được chia sẻvà bắt nguồn trong các giá trị văn hóa, trong ngôn ngữ, tập quán sinh hoạt vàcác kỹ năng xã hội đặc thù là những khởi đầu quan trọng để các thành viêntrong một cộng đồng dễ dàng tìm được tiếng nói chung, cùng liên kết với nhaunhằm hướng tới sự phát triển chung Như vậy, truyền thống văn hóa, vốn xãhội của cộng đồng chính là một trong những cơ sở vững chắc để tạo nên cácmối liên kết xã hội và đoàn kết xã hội Đó không những là cơ sở cho sự hìnhthành và phát triển của những cái “tôi” riêng biệt mà quan trọng hơn, màcũng là nền tảng cho sự phát triển của cái “chúng ta”
Trang 33Tuy nhiên, do quá coi trọng tính đặc thù và đa dạng văn hóa của cáccộng đồng trong cách tiếp cận xã hội dân sự, chủ nghĩa cộng đồng cũng dễ rơivào thái cực của chủ nghĩa tương đối văn hóa hoặc chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.Tính đa dạng và đặc thù văn hóa không có nghĩa là “loại bỏ các giá trị vàchuẩn mực (nhân loại) phổ quát” Điều quan trọng ở đây là “chúng ta cần phảibàn đến các giá trị và quy chuẩn để có thể đạt được sự đồng thuận về cácchuẩn mực tối thiểu cho cấu trúc và hoạt động của xã hội dân sự”.
Bên cạch các quan điểm của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cộng đồng vềxã hội dân sự, quan điểm của chủ nghĩa cộng hòa cũng là một cách tiếp cậngây được nhiều sự chú ý, đặc biệt là trong giới học giả của các nước châu Âu.Nếu trong cách tiếp cận của chủ nghĩa tự do khía cạnh kinh tế (lĩnh vực tư)của xã hội dân sự được đặc biệt nhấn mạnh, còn chủ nghĩa cộng đồng chú ýđến khía cạnh văn hóa truyền thống và tập tục đạo đức như là cơ sở cho sựliên kết xã hội, thì trong cách tiếp cận của chủ nghĩa cộng hòa, khía cạnhchính trị, xã hội (lĩnh vực công) của xã hội dân sự được đặt lên hàng đầu Cóthể nhận thấy rằng, chủ nghĩa cộng đồng và chủ nghĩa cộng hòa là hai trào lưu
tư tưởng phê phán chủ nghĩa tự do (và chủ nghĩa tự do mới) trong việc đề caoquá mức vai trò của quyền lợi cá nhân và tự do cá nhân cũng như việc khẳngđịnh tính phổ quát của mô hình tự do dân chủ Trong quan điểm của chủ nghĩacộng hòa về xã hội dân sự, những khái niệm pháp quyền hay hành lang (bộkhung) pháp lý, lĩnh vực công, tính tích cực của công dân trong việc tham giavào các hoạt động chính trị, xã hội được đặc biệt chú trọng
Theo quan điểm này chủ nghĩa cộng hòa, xã hội dân sự được nhìn nhận
như một tiến trình, bao gồm các mạng lưới dân sự và các hoạt động dân sự, thậm chí cả các tập quán và thái độ dân sự Nói khác đi, cách tiếp cận của
thuyết cộng hòa chuyển cách nhìn về xã hội dân sự từ chỗ chỉ chú trọng vàoviệc phát hiện ra các tổ chức trong “lĩnh vực thứ ba” sang phân tích ý nghĩadân sự của các tiến trình xã hội Bởi vì, chỉ trong các quá trình giao tiếp, các
Trang 34cá nhân mới nhận biết được (ý nghĩa) những hoạt động của họ, mới hiểu được
họ đang làm gì trong hành động của mình và vì vậy, mới nhận dạng được ýnghĩa đặc trưng của các loại hành động (hoạt động) khác nhau Trong cáchtiếp cận và quan điểm của chủ nghĩa cộng hòa ta có thể thấy rằng:
Thứ nhất, nhấn mạnh thực tiễn dân sự xuất hiện ở mọi lĩnh vực Theo
cách tiếp cận này, các cấu trúc dân sự và hoạt động (hành động) dân sự tồn tạiở mọi lĩnh vực, khu vực và địa hạt của xã hội Các cấu trúc dân sự xuất hiệntrong các khung cảnh xã hội khác nhau, trong khu vực của thị trường hay nhànước và thậm chí cả trong các tổ chức do nhà nước quản lý
Thứ hai, chú trọng tới giá trị của tất cả các hiệp hội Cách tiếp định
hướng tiến trình không chỉ để ý đến các tổ chức hay nhóm hợp thức điển hìnhtheo kiểu phương Tây (các tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận), mà còn
chú trọng tới các tổ chức và nhóm không chính thức, phi chính thức hay bán chính thức
Thứ ba, tính tới tính lịch sử - cụ thể của các hoạt động dân sự Một
trong những lợi thế của cách tiếp cận định hướng tiến trình là ở chỗ, nó chútâm đến yếu tố văn hóa cụ thể (nhạy cảm văn hóa) trong phân tích xã hội dânsự Khi so sánh sự phát triển của xã hội dân sự ở các nước hay khu vực khácnhau của Đông Nam Á, điều đặc biệt quan trọng là cần phải tính tới ý nghĩadân sự đặc thù của các quá trình giao tiếp được quy định bởi bối cảnh văn hóa,xã hội và lịch sử cụ thể Hoàn cảnh xuất hiện cũng như vai trò của xã hội dânsự tại các nước trong vùng Đông Nam Á là khác nhau
Tuy nhiên, khi nói đến tính đặc thù văn hóa thì điều đó không có nghĩa làxã hội dân sự không có những tiêu chí chung, muốn hiểu thế nào thì hiểu Tráilại, tính đặc thù văn hóa hoàn toàn không loại bỏ sự hiện diện của các giá trịvà chuẩn mực (nhân loại) phổ quát Theo quan điểm của thuyết cộng đồng vàcộng hòa có thể đưa ra 3 chỉ số chung không phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa
Trang 35của quốc gia, của địa phương và vùng, đó là: 1 các hoạt động dân sự mangtính tự nguyện và tự tổ chức; 2 các hoạt động này sẽ không phục vụ lợi nhuậncá nhân mà vì lợi ích của xã hội và 3 các cấu trúc dân sự phải minh bạch với
tất cả mọi người dân và có thể dễ tiếp cận đối với mọi người Tuy nhiên, đây
chỉ là những chỉ số chung, khi nghiên cứu các vùng, miền khác nhau cần bổsung thêm các nét đặc thù về văn hóa
Ngoài những cách tiếp cận nói trên, còn có những cách hiểu khác về xãhội dân sự Chẳng hạn: “xã hội dân sự”, “xã hội văn minh” được dùng để đốilập với “xã hội không dân sự”, “xã hội không văn minh”; “xã hội dân sự”được dùng để đối lập với “xã hội chính trị”, “xã hội quân sự”, “xã hội độctài”, “xã hội toàn trị”; “xã hội dân sự” được giải thích là “xã hội tư bản”; xãhội dân sự là xã hội mà ở đó lĩnh vực các công việc và lợi ích tư (lợi ích cánhân) không chịu sự tác động trực tiếp của các thiết chế nhà nước, là xã hộimà ở đó hoạt động sống của con người mang tính tự chủ, không phụ thuộcmột cách trực tiếp vào Nhà nước
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phát triển con người
Trong các nghiên cứu nước ngoài hiện đại về phát triển con người thìphải kể đến các công trình của A Sen, M Hag, U Kirdar, M Nussbaum 4,Nếu như trước kia khái niệm phát triển bị đồng nhất với khái niệm tăngtrưởng thì gần đây phát triển được nhìn nhận một cách thực tế hơn với tăngtrưởng chỉ là biểu hiện hình thức của bản thân phát triển, còn phát triển chínhlà sự nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trên cơ sở phát huy đượccác năng lực tiềm tàng của con người Trong quan điểm của Sen, khái niệm
4
Có thể tham khảo các nghiên cứu của A Sen 1999 Development as Freedom Oxford, Oxford University
Press 2009 The Idea of Justice , Harvard University Press & Allen Lane The UN And The Bretton Woods
Institutions : New Challenges For The Twenty-First Century ( Edited By Mahbub Ul Haq [Et Al.] (1995) Reflections on Human Development (1996) Oxford University Press 1st edition (1996) M Nussbaum Hiding From Humanity: Disgust, Shame, and the Law Harvard University Press 2004
Trang 36phát triển con người được phân tích một cách rõ nét trên tinh thần là trung tâmcủa phát triển và là động lực cũng như mục tiêu của phát triển A Sen, tác giảtập trung vào việc làm rõ các loại quyền tự do với tư cách là phương tiện củaphát triển của con người và lý giải về mối quan hệ của chúng: Các quyền tự
do về chính trị; Các quyền tự do về kinh tế; các cơ hội về mặt xã hội; Các đảmbảo về tính minh bạch công khai; và Con người được bảo vệ an toàn Ông đặcbiệt quan tâm tới việc làm sao để khẳng định được các quyền trên vì mục tiêuphát triển con người trong hiện thực và đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khinhững nghịch lý của phát triển ngày càng trở nên sâu sắc Sự nghèo đói, bấtbình đẳng, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh…là những biểu biện củanghịch lý đó và là nguồn gốc của sự tước đoạt tự do của con người
A Sen với cách tiếp cận năng lực về phát triển con người nhấn mạnhđến năng lực của con người Năng lực không chỉ quan trọng cho bản thân mỗingười, mà sự phát triển năng lực con người còn là nhân tố quan trọng gópphần đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững Bởi vì nhận thấy rằng dân sốkhỏe mạnh và có giáo dục phục vụ rất hiệu quả cho mục tiêu tăng trưởng kinhtế Phát triển năng lực con người với tư cách là phát triển tiềm năng tiềm tàngnơi con người, nó có liên quan chặt chẽ với chất lượng sống của con người,hạnh phúc của con người
Trang 37Kết luận chương 1
Có thể nói rằng những công trình nghiên cứu và các bài viết về xã hội dânsự tại Việt Nam được viết dưới nhiều góc độ, nhiều cách tiếp cận khác nhauvà đề cập đến từng khía cạnh về Xã hội dân sự nói chung và thực tiện hoạtđộng xã hội dân sự Việt Nam nói riêng Trong đó, có nhiều ý kiến xác đáng,bổ ích và luận giải tương đối rõ về sự cần thiết phải phát triển xã hội dân sự.Song, đa số đều trình bày một cách ngắn gọn, chưa làm cho người đọc thấyđược sự hệ thống Hầu hết những nghiên cứu về Xã hội dân sự ở nước ta mớidừng lại ở chỗ những bài báo, rất ít những công trình đồ sộ mang tính khoahọc chuyên sâu Bên cạnh đó, ngay giữa các tác giả, quan điểm về xã hội dânsự cũng chưa thống nhất, hay việc trả lời các câu hỏi như: Việt Nam có xã hộidân sự chưa? Nếu có, đặc trưng, bản chất như thế nào? v.v cũng còn nhiềuý kiến tranh luận và cần được làm sáng tỏ
Nhìn chung có thể nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu mang tính hệthống về xã hội dân sự chưa được nhiều và tiếp cận phát triển con người từkhía cạnh triết học cũng không được đề cập đến một cách đầy đủ Trong nhiềucông trình nghiên cứu thì xã hội dân sự thường được xem xét như một lĩnhvực riêng biệt, tách rời ra khỏi kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền Docác câu hỏi về nguồn gốc và bản chất của xã hội dân sự ít được đề cập đến,hoặc không được đề cập đến một cách đầy đủ và hệ thống nên nhiều tác giả đãnhìn nhận xã hội dân sự một cách tĩnh tại và không nhận thấy rõ mối nhữngđặc thù văn hóa xã hội trong sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự.Hơn thế nữa mối liên hệ giữa xã hội dân sự và phát triển con người khôngđược đề cập một cách có hệ thống
Để phần nào khắc phục được những thiếu sót nêu trên và trên cơ sở tiếp thunhững thành tựu đạt được của các tác giả đi trước nghiên cứu về xã hội dân sựvà phát triển con người, trong luận án này chúng tôi muốn đưa ra một cách
Trang 38tiếp cận triết học về xã hội dân sự Tiếp cận triết học về xã hội dân sự củachúng tôi sẽ cố gắng làm rõ bản chất và vai trò của xã hội dân sự, và đặc biệtlà chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn mối liên hệ giữa xã hội dân sự và pháttriển con người, cụ thể hơn, chúng tôi hướng đến việc nghiên cứu xã hội dânsự trong vai trò là không gian xã hội cho sự phát triển con người
Trang 39
Chương 2 BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
2.1 Quan niệm của C.Mác về bản chất con người
Quan niệm của C.Mác về bản chất con người là cơ sở lý luận quantrọng để nhận thức sự phát triển con người và phát triển xã hội loài người Bảnchất con người theo quan niệm của C.Mác là nền tảng cho tính thống nhất hữu
cơ của toàn bộ sự phát triển lịch sử loài người bởi vì “Toàn bộ lịch sử khônglà gì khác mà là một sự biến đổi liên tục của bản chất conngười”5 Trong quanniệm của C.Mác thì lịch sử nhân loại chính là tiến trình hiện thực hóa bản chất
con người, đồng thời cũng chính là lịch sử hình thành và phát triển tính chủ thể của con người Tiến trình hiện thực hóa này do con người chủ động thực hiện và được diễn ra liên tục trong những bối cảnh văn hóa xã hội rất đa dạng
của con người Các bối cảnh văn hóa xã hội được thiết lập ra trong tiến trình
này vừa là những không gian xã hội do những thế hệ người tạo dựng nên
trong tiến trình phát triển bản chất của mình đồng thời là điều kiện và tiền đềquan trọng cho những thế hệ người sau tiếp tục sự nghiệp phát triển bản châtcon người Không gian xã hội có thể được hiểu theo nghĩa rộng rộng với tưcách nền văn hóa, hoặc theo các nghĩa hẹp hơn với tư cách là một xã hội đặcthù cụ thể, một cộng động người cụ thể với tư cách là không gian của (và cho)sự phát triển con người Không gian xã hội theo nghĩa hẹp này có thể đượchiểu là một bộ phận cấu thành của một (toàn thể) không gian xã hội rộng hơnvới cấu trúc phức tạp hơn Khái niệm không gian xã hội trong mối liên hệ vớibản chất con người và phát triển con người có nội dung rất phong phú
Trang 40Đứng trên quan niệm duy vật lịch sử C.Mác đã phát hiện ra các quyluật vận động phát triển khách quan của xã hội loài người C.Mác đã đi đếnkết luận rằng: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là mộtquá trình lịch sử-tự nhiên”(V43,t 23, tr 21) Bởi vì trong cách hiểu củaC.Mác quá trình lịch sử tự nhiên cũng chính là quá trình phát triển bản chấtcủa con người Các hình thái kinh tế xã hội khác nhau có thể được hiểu lànhững trạng thái khác nhau trong toàn bộ tiến trình thống nhất của phát triểncon người, chúng là những trạng thái, “thời điểm” của một sự phát triển tuântheo quy luật tự nhiên nội tại diễn ra trong lịch sử loài người Lịch sử pháttriển con người được hiểu như là một tiến trình thống nhất và biện chứng củamột chỉnh thể hữu cơ Điều này cũng được V I Lên nin nhìn nhận trong quanđiểm về xã hội và phát triển xã hội “Xã hội là một cơ thể sống đang phát triểnkhông ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy mócvà do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũngđược), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cáchkhách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất địnhvà cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xãhội đó” (V45, t.1, tr 198)
Để có thể làm rõ hơn luận điểm về xã hội dân sự với tư cách là khônggian xã hội của (và cho) sự phát triển con người, cho sự hình thành và pháttriển tính chủ thể của con người, trong chương này của luận án chúng tôimuốn làm rõ nội hàm các khái niệm như bản chất con người, sự phát triển conngười, không gian xã hội và mối liên hệ biện chứng giữa các khái niệm này.Điểm xuất phát của chúng tôi là quan niệm của C.Mác về bản chất con người.Nhưng trước khi đi vào phân tích quan điểm của C.Mác về bản chất con ngườivà phát triển con người thì chúng tôi muốn đề cập đến tiếp cận chỉnh thể, làcách tiếp cận mang tính hệ thống về con người và phát triển con người