1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lạm phát - thực trạng và biện pháp khắc phục.doc

33 837 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm phát - thực trạng và biện pháp khắc phục
Tác giả Nguyễn Xuân Đạt
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Thu Ngân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề án chuyên ngành
Năm xuất bản Năm 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 361 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lạm phát - thực trạng và biện pháp khắc phục

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

Phần I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT 4

1.1 Khái niệm và phân loại lạm phát: 4

1.1.1 Các khái niệm: 4

1.1.2 Phân loại lạm phát: 4

1.2 Nguyên nhân lạm phát: 7

1.2.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ: 7

1.2.2 Lạm phát theo thuyết Keynes (Lạm phát cầu kéo) 8

1.2.3 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy: 8

1.2.4 Lạm phát dự kiến: 9

1.2.4 Các nguyên nhân khác: 10

1.3 Những tác động của lạm phát: 11

1.3.1 Đối với lĩnh vực sản xuất: 11

1.3.2 Đối với lĩnh vực lưu thông: 11

1.3.3 Đối với lĩnh vực tiền tệ tín dụng: 11

1.3.4 Đối với chính sách kinh tế tài chính Nhà nước: 12

Phần II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NAY 13

2.1 Thực trạng: 13

2.2 Lịch sử của lạm phát: 22

2.3 Đặc trưng lạm phát ở Việt Nam: 23

2.4 Những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam: 24

Phần III: CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 26

3.1 Các quan điểm và cách khắc phục lạm phát: 26

3.2 Giải pháp chống lạm phát ở nước ta: 26

KẾT LUẬN 33

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU



Trong nền kinh tế thị trường đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt hiện nay, lạm phát đang là một vấn đề bất cập nhất mà cả thế giới quan tâm Nó không chỉ như một bóng ma ám ảnh làm kinh hoàng tất cả các siêu cường kinh tế trên thế giới mà nó còn là mối đe dọa nguy hiểm của sự phát triển kinh tế xã hội mọi quốc gia Bởi lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động Mà nguyên nhân sâu sa của lạm phát là do các chính sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước.

Cụ thể ở nước ta lạm phát hiện là mối bận tâm của Chính phủ, bởi lẽ nó là một trong những thước đo mức ổn định của nền kinh tế, có tác động đến sản lượng đầu ra của nền kinh tế và các biến vĩ mô khác Tỷ lệ lạm phát cao trong thời gian gần đây đặt ra nhiều câu hỏi về nguyên nhân của lạm phát, và chắc chắn theo suy nghĩ của nhiều nhà kinh tế và công chúng, nguyên nhân của lạm phát trong những năm gần đây không giống với nguyên nhân lạm phát của những năm 1980 và đầu những năm 1990, mặc dù “ lạm phát luôn luôn và ở mọi nơi đều

là do hiện tượng tiền tệ” Một nguyên nhân nữa mà không thể không thể đề cập đến, từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài

mà nguồn gốc của nó là do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài, dẫn đến việc làm phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, tổn hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế - xã hội.

Và để khắc phục những hậu quả do lạm phát gây ra, Nhà nước và Chính phủ cần phải đưa ra một số các giải pháp đồng bộ nhằm kiềm chế mức độ lạm phát tiền tệ trong nước Các nhà kinh tế, các doanh nghiệp muốn thu lợi nhuận cao và đứng vững trên thị trường phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn

đề của nền kinh tế mới, để có thể nhạy bén trước tình hình kinh tế trong và ngoài nước.

Trang 3

Kết cấu của đề án bao gồm các nội dung sau:

Trang 4

- Trong bộ “Tư bản” nổi tiếng của mình C.Mác viết: “Việc phát hànhtiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ cácđại diện tiền giấy của mình” Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do nhanước phát hành vào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trịcủa tiền giấy giảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện.

- Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra

và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: “Lạm phát là sựtăng lên của mức giá trung bình theo thời gian”

- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát Nó chính là GNP danhnghĩa/GNP thực tế Trong thực tế nó được thay bằng chỉ số giá tiêu dùng hoặc chỉ

số giá bán buôn Ip = ∑ ip.d

ip: chỉ số giá cả của từng loại nhóm hàngd: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng

1.1.2 Phân loại lạm phát

● Theo mức độ lạm phát ta có các loại lạm phát sau:

- Thiểu phát: trong kinh tế học được coi là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp.Hiện không có chỉ tiêu chính xác để đo tỷ lệ này Rất dễ nhầm lẫn với giảm phát –tình trạng ngược lại của lạm phát

- Lạm phát thấp: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phátdưới 10% một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trongthời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổnđịnh Sự ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi không cao,không xảy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hóa với số lượng lớn…

Trang 5

Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động,

họ chỉ trông chờ vào thu nhập Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoảnthu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh

- Lạm phát cao (lạm phát phi mã): Mức lạm phát tương ứng với tốc độtăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phátphi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát Việt Nam và hầu hết các nước chuyểnđổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặtvới lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách

Nhìn chung lạm phát thì phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽgây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bịmất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giaodịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản vàchuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toáncho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải

- Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ caovượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệtăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảmmạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thịtrường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn Tuy nhiên,siêu lạm phát rất ít khi xảy ra

Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang pháttriển thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và trầmtrọng hơn

Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% mộtnăm, lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%,siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm

● Theo các nguyên nhân dẫn đến lạm phát ta có các loại lạm phát sau:

- Lạm phát do cầu kéo: Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu caohơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Trong khi đó,chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu vềtiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó có lạm phát

Trang 6

- Lạm phát do cầu thay đổi: Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm

đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có ngườicung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng màkhông thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi

đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên,nghĩa là lạm phát

- Lạm phát do chi phi đẩy: Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chiphí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợinhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh

tế cũng tăng

- Lạm phát do cơ cấu: Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền côngdanh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, khôngthể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảmbảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm.Lạm phát nảy sinh vì điều đó

- Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơntổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sảnphẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạmphát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng

- Lạm phát do nhập khẩu: Sản phẩm không tự sản xuất trong nướcđược mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoàităng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trongnước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hìnhthành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên

- Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ươngmua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước;hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước)khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát

- Lạm phát sinh ra lạm phát: Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dựtính duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêudùng hiện tại Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát

Trang 7

1.2 Nguyên nhân lạm phát

1.2.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ

Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá có nhiều nguyên nhân dẫnđến lạm phát Chẳng hạn thời tiết không thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp,giá lương thực tăng lên Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá cả hàng tiêu dùngtăng lên Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặthàng cũng tăng Tăng lương đẩy giá lên cao Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăngliên tục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách

- Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mứccung tiền

- Theo học thuyết Keynes, lạm phát xảy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch

vụ trong nền kinh tế (do cầu kéo)

- Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản xuất (chiphí đẩy)

Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗinguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau

Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỷ lệ lạm phát, màdựa vào đó Ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp Trong việcchống lạm phát, các Ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cung tiền

Tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách:

` - Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiệnkinh doanh tốt)

- Hoặc các Ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng

Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí

Về mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng Nếucung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tănggiá Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm In tiền

để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng

Ví dụ:

Năm 1966 - 1967 chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho nhữngchi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ 3% (năm1967) đến 6% (năm 1970)

Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức cânbằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng

Trang 8

không đổi Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với

tỷ lệ tương ứng Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ Đây là lý do tại sao Ngânhàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này

1.2.2 Lạm phát theo thuyết Keynes (Lạm phát cầu kéo)

Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu vềhàng hoá, dịch vụ Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là nhữngnhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm,nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộnghoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuấtkhông đáp ứng được sự gia tăng của cầu Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấpđầy Lạm phát do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó Chẳnghạn ở Mỹ sử dụng công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm pháttrong tương lai ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng

1.2.3 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy

Lạm phát chi phí đẩy vừa là lạm phát, vừa làm suy giảm sản lượng , tăngthêm thất nghiệp nên còn gọi là lạm phát "đình trệ" Hình thức của lạm phát nàyphát sinh ra từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang ngườitiêu dùng Điều này chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi ngườitiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn

Ví dụ:

Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ.Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tănglên Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thìgiá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơntrước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo thành vòng xoáy lượnggiá

Một yếu tố chi phí chính khác là giá cả nguyên vật liệu đặc biệt là dầu thô.Trong năm 1972 - 1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng

từ 4,6% đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới

Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuống mứcthấp chưa từng thấy

Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn đượcchuyển cho người tiêu dùng nội địa Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội

tệ yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác Ngoài ra yếu tố tâm lý dân chúng, sựthay đổi chính trị, an ninh quốc phòng…Song nguyên nhân trực tiếp vẫn là số

Trang 9

lượng tiền tệ lưu thông vượt quá số lượng hàng hóa sản xuất ra Việc tăng đột ngộtcủa thuế (VAT) cũng làm tăng chỉ số.

Chi tiêu quá khả năng cung ứng

- Khi sản lượng vượt tiềm năngđường AS có độ dốc lớn nên khi cầu tăng mạnh, AD – AD1

giá cả tăng Po – P1

Chi phí tăng đẩy giá lên cao

1.2.4 Lạm phát dự kiến

Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có

xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó Giá cả trong trường hợp này tăng đềumột cách ổn định Mọi người thể dự kiến được trước nên còn gọi là lạm phát

Trang 10

`

Trong lạm phát dự kiến AS & AD dịch chuyển lên trên cùng, độ sản

lượng vẫn giữ nguyên, giá cả tăng lên theo dự kiến

1.2.4 Các nguyên nhân khác

- Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh nghĩa

tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt

Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tăng

mức độtiền gửi vào Ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua

về mọi loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường

hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao

- Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các Chính phủ có thể

in thêm tiền để trang trại, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây

ra lạm phát Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi

phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt Kiểu lạm phát xoáy

ốc này thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát Tuy nhiên, Chính phủ có thể tài

trợ thâm hụt bằng cách vay dân thông qua bán tín phiếu Lượng tiền danh nghĩa

không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo

dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc lẫn lãi) sẽ lớn đến mức cần phải in tiền để

trang trải thì khả năng có lạm phát mạnh là điều chắc chắn

Trang 11

- Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách thuế,chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phíđầu vào, nguyên nhân do nước ngoài.

1.3 Những tác động của lạm phát

Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhauđối với nền kinh tế Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế mà lạmphát được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác động củanó

1.3.1 Đối với lĩnh vực sản xuất

Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu rabiến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất Sự mấtgiá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh Hiệu quả kinhdoanh - sản xuất ở một vài danh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động vềkinh tế Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ cónguy cơ phá sản rất lớn

1.3.2 Đối với lĩnh vực lưu thông

Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hànghoá Các nhà doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông.Thậm chí khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sảnxuất sẽ gặp phải rủi ro cao Do có nhiều người tham giâ vào lĩnh vực lưu thôngnên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn Tiền ở trong tay những người vừa mới bánhàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệtăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng

1.3.3 Đối với lĩnh vực tiền tệ tín dụng

Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và Ngân hàng bị thuhẹp Số người gửi tiền vào Ngân hàng giảm đi rất nhiều Về phía hệ thống Ngânhàng, do lượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu củangười đi vay, cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suấttiền gửi không làm an tâm những người hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗitrong tay Về phía người đi vay, họ là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồngtiền một cách nhanh chóng Do vậy, hoạt động của hệ thống Ngân hàng không cònbình thường nữa Chức năng kinh doanh tiền bị hạn chế,các chức năng của tiền tệkhông còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải hìnhthức tiền mặt

Trang 12

1.3.4 Đối với chính sách kinh tế tài chính Nhà nước

Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá,khi lạm phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến độngcủa giá

cả làm cho thị trường bị rối loạn Người ta khó phân biệt được những doanhnghiệp làm ăn tốt và kém Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đónhà nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội

bị cắt giảm các ngành, các lĩnh vực dự định đựơc chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn

bị thu hẹp lại hoặc không có gì Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì cácmục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thựchiện được

Trang 13

Phần II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI

- Năm 2008 đã đi vào lịch sử kinh tế Việt Nam như một năm đầy biếnđộng và sóng gió trên tất cả các thị trường Từ thị trường trong nước đến thịtrường nước ngoài, từ thị trường hàng hóa dịch vụ thông thường, cao cấp đến thịtrường tài chính và thị trường bất động sản Nhìn lại chặn đường một năm giúp tarut ra nhiều bài học quí giá cho những chặng đường phát triển tiếp theo

Tình hình lạm phát ở giai đoạn nay sẽ được thể hiện cụ thể hơn thôngqua các số liệu dưới đây:

- Lạm phát, sau hai năm liên tục ở vào mức cao (9,5% năm 2004 và8,4% năm 2005) tưởng chừng như đã có dấu hiệu suy giảm khi chỉ còn 6,6% trongnăm 2006 Tuy nhiên, áp lực tăng giá lại bùng phát ngay từ đầu năm 2007 Trong

6 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,2% Nếu so với tháng 6 năm 2006,thì chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,8%

- Theo thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê, tính đến cuối tháng10/2007, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã lên đến hơn 9,3% so với cùng kìnăm trước và khoảng 8,12% so với đầu năm.Bảng dưới đây sẽ cho chúng ta thấy

rõ diễn biến tưng giá trong thời gian vừa qua

Trang 14

Bảng 2.1: Tình hình tăng giá đến cuối tháng 10/2007

Trang 15

(Nguồn: mức tăng giá từ Thời báo Kinh tế Việt Nam, ngày 29/10/2007)

- Từ bảng này, chúng ta thấy mức tăng CPI bắt nguồn chủ yếu từ việc

gia tăng giá lương thực và thực phẩm Đây là nguyên nhân giải thích tới hơn 60%

trong tổng mức tăng CPI Kế đó là sự gia tăng của nhóm nhà ở, điện nước và vật

liệu xây dựng, đóng góp 12% Các nhóm mặt hàng khác có mức tăng trung bình

khoảng 5-6%, và do tỷ trọng trong tổng tiêu dùng nhỏ (dưới 10%) nên mức đóng

góp của mỗi nhóm chỉ khoảng trên dưới 3% Nhưng nhìn chung, mặt bằng giá của

tất cả các mặt hàng đều tăng khoảng 5%, ngoài hai nhóm đề cập đầu tiên là tăng

hơn 10% Điều này cho thấy có một sự tăng giá chung trên toàn bộ các mặt hàng,

chứ không đơn thuần là xuất hiện cục bộ ở một hai mặt hàng rồi lan tỏa ra các mặt

hàng khác Vì thế theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là vấn

đề có nhiều dấu hiệu của nguyên nhân tiền tệ đằng sau hiện tượng lạm phát hiện

nay

Xem xét tình hình lạm phát của năm 2007 ta thấy con số 12 là con số được

lặp lại nhiều lần khi nói đến lạm phát trong những ngày cuối năm 2007 Theo ước

tính mới nhất của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam

vào tháng 12/2007 đã tăng 12,6% so với tháng 12/2006 Đây là mức tăng giá tiêu

dùng cao nhất trong vòng 12 năm qua Đúng là giá lương thực – thực phẩm và giá

dầu thế giới đã tăng cao trong năm 2007 do hai nhóm hàng hóa này đều là những

sản phẩm ngoại thương chủ đạo của Việt Nam và đồng thời chiếm tỷ trọng lớn

trong cơ cấu CPI, đây chắc chắn là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát

cao ở Việt Nam trong suốt năm nay Nhưng nếu xem 2 nguyên nhân trên là chính

thì các nước trong khu vực như Thái Lan hay Trung Quốc cũng phải chịu sức ép

tương tự như nước ta, trong khi đo năm 2007 tỷ lệ lạm phát ở nước ta lên đên hai

con số thì Trung Quốc chỉ là 6,5% và Thái Lan là 2,9% Điều này có thể được lí

giải như sau:

- Chi phí sản xuất tăng cao: Trước bối cảnh lạm phát toàn cầu gia tăng

đã tác động làm giá hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam gia tăng

mạnh mẽ như xăng dầu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu - là những nguyên nhiên

vật liệu đầu vào chính của sản xuất Mặc dù Chính phủ đã cố gắng kiểm soát giá

xăng dầu, nhưng từ đầu năm 2007 đến hết Quý I/08 giá xăng dầu đã phải điều

chỉnh tăng 4 lần, tính chung giá xăng dầu đã tăng tới 38%, giá thép tăng 91%, giá

Trang 16

điện tăng 7,6%; giá than tăng 30%; giá xi măng tăng 15%; giá phân bón tăng 58%.Điều này đã tác động làm chi phí sản xuất tăng cao.

- Giá lương thực, thực phẩm tăng cao: biến đổi khí hậu toàn cầu trên thếgiới không những tác động đến nhiều quốc gia mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởngnặng nề Chỉ trong tháng 10/2007, miền Trung phải hứng chịu 5 cơn bão liên tiếp,trong khi đó dịch bệnh trong chăn nuôi, trồng trọt như cúm gia cầm, lợn tai xanh,

lở mồm long móng ở lợn, vàng lùn ở lúa cùng với rét đậm, rét hại khiến cho nguồncung lương thực - thực phẩm bị sụt giảm

- Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ liên tục mở rộng từ

2001-2006 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đó là nguyên nhân rất quan trong gây sức

ép rất lớn làm gia tăng lạm phát trong thời gian qua

- Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh: bắt đầu từ cuốinăm 2006 khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mạithế giới (WTO), cùng với những cải cách về cơ chế chính sách và môi trường đầu

tư đã tạo điều kiện cho các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng mạnh.Năm 2007 luồng vốn FDI tăng 20,3 tỷ USD vốn đăng ký, cao hơn nhiều so vớimức 10,2 tỷ USD của năm 2006, đặc biệt là luồng vốn đầu tư gián tiếp gia tăngmạnh mẽ khoảng trên 6 tỷ, gấp 5 lần con số của năm 2006 mà chủ yếu đổ vào thịtrường chứng khoán, trái phiếu đặc biệt là đổ vào IPO các doanh nghiệp nhà nướclớn Đứng trước bối cảnh này, NHNN đã phải cung ứng một lượng lớn tiền VND

để mua ngoại tệ vào nhằm mục tiêu ổn định và phá giá nhẹ tỷ giá để hỗ trợ xuấtkhẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và điều này làm cho tổng phương tiện thanhtoán tăng cao, tác động làm lạm phát gia tăng

Bảng 2.2: Chỉ số CPI 10 tháng đầu năm 2008

Ngày đăng: 20/09/2012, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình tăng giá đến cuối tháng 10/2007 - Lạm phát - thực trạng và biện pháp khắc phục.doc
Bảng 2.1 Tình hình tăng giá đến cuối tháng 10/2007 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w