1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT Ở NƯỚC TA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

19 491 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Biện Pháp Chống Lạm Phát Ở Nước Ta Từ Năm 2001 Đến Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 296 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT Ở NƯỚC TA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

Trang 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT

1/ Định nghĩa và phân loại lạm phát

1.1/ Định nghĩa

Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hêt các loại hàng hoá tăng lên đồng loạt

Đặc trưng của lạm phát:

- Hiện tượng tăng giá quá mức của lương tiền trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá

- Mức giá cả chung tăng lên

Để tính mức độ lạm phát các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá Chỉ số giá thường được

sử dụng là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Ngoài ra, người ta còn sử dụng những chỉ số giá khác như: chỉ số giá cả sản xuất, chỉ số giảm lạm phát GNP

1.2/ Phân loại

Dựa vào tỷ lệ tăng giá, các nhà kinh tế phân lạm phát ra làm ba mức độ khác nhau:

- Lạm phát vừa phải: khi giá cả hàng hoá tăng chậm ở mức một con số hàng năm (dưới 10% một năm)

- Lạm phát cao: khi giá cả hàng hoá tăng ở hai con số hàng năm (từ 10% - 100% một năm)

- Siêu lạm phát: khi giá cả hàng hoá tăng ở mức độ ba con số hàng năm trở lên

2/ Nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Qua nghiên cứu, có các quan điểm như sau:

2.1/ Lạm phát do cầu kéo

Khi nền kinh tế đạt tới hay vượt quá sản lượng tiềm năng, việc tăng mức cầu dẫn tới lạm phát được gọi là lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu

Số cầu tăng là do:

- Tổng khối lượng tiền lưu hàng tăng: do thiếu hụt ngân sách, vay mượn nước ngoài

- Tốc độ lưu thông tiền tệ tăng: do hệ thống chính trị khủng hoảng, kinh tế suy thoái làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ tiền tệ nhà nước bị xói mòn, từ đó gây tâm lý chạy trốn đồng tiền mất giá

2.2/ Lạm phát do chi phí đẩy

Khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, đó là lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí tăng lên vì:

Trang 2

- Tốc độ tăng tiền lương cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động.

- Các cuộc khủng hoảng về nhiên nguyên vật liệu cơ bản như: dầu mỏ, sắt thép 2.3/ Lạm phát do những nguyên nhân liên quan đến sự thiếu hụt mức cung

Khi nền kinh tế đạt mức toàn dụng (nghĩa là các yếu tố sản xuất: nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị… gần như đã khai thác tối ưu), mức cung hàng hoá và dịch vụ trên thị trường có khuynh hướng giảm Bên cạnh đó, tình trạng tắt nghẽn của thị trường cũng làm giới hạn mức cung hàng hoá Do đó khiến cho khối lượng hàng hoá không đáp ứng tốt nhu cầu tăng lên của thị trường làm cho giá cả tăng lên

Khi nền kinh tế chưa đạt tới mức toàn dụng nhưng nếu cơ cấu kinh tế tổ chức bất hợp

lý thì cũng không cho phép tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ đầy đủ để thoả mãn nhu cầu ngày càng gia tăng của thị trường Trường hợp cũng làm nảy sinh hiện tượng lạm phát 2.4/ Lý thuyết ca tụng lạm phát của J.M.Keynes

J.M.Keynes đã có công vạch rõ tác động của việc in thêm tiền vào kinh tế:

Khi nền kinh tế chưa đạt mức toàn dụng, nếu nhà nước mạnh dạn phát hành thêm tiền để gia tăng đầu tư thì sẽ thu được kết quả tích cực:

- Chống được khủng hoảng kinh tế

- Giảm thiểu được tình trạng thất nghiệp

Trường hợp này, lạm phát được nhà nước chủ động sử dụng như là một công cụ để kích thích tăng trưởng kinh tế

Khi nền kinh tế đã toàn dụng, nếu nhà nước vẫn tiếp tục in thêm tiền đưa vào nền kinh tế, khối hàng hoá và dịch vụ không gia tăng của khối cung tiền Khi đó, lạm phát không

có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế

Ngoài những nguyên nhân trên còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn tới lạm phát như: các chính sách nhà nước, chiến tranh, thiên tai,…

3/ Tác động của lạm phát

Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tuỳ theo mức độ của nó Nếu là lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể nếu là lạm phát cao thương gây những tác hại nặng nề cho nền kinh tế và đời sống Tuy nhiên, nếu lạm phát đó được dự báo, tiên đoán trước thì không gây gánh nặng lớn kinh tế vì người ta có thể có những giải pháp để đối phó Nếu lạm phát không dự đoán trước dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế

 Trang 2 

Trang 3

Một số tác động của lạm phát:

3.1/ Tác động phân phối lại thu nhập và của cải

Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá

cả các loại tài sản nói chung đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống Ngược lại, những người làm công an lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại 3.2/ Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm

Như đã nói ở trên, trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chính phủ và nhân dân

Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến Theo “Lý thuyết trao đổi về lạm phát” của nhà kinh tế học A.W.Phillips thì một nước có thể mua môt mức để thất nghiệp thấp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn

3.3/ Các tác động khác

Trong lĩnh vực lưu thông, kho vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hoá thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn

Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá hối đoái

Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động của nhập khẩu

Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng

Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của những khoản công phí Tuy nhiên, lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước thu được trong những trường hợp nhất định



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT Ở NƯỚC TA TỪ NĂM

2001 ĐẾN NAY 1/ Thực trạng lạm phát ở nước ta

Trang 4

Tỉ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn

2001-2007

-0.4

4

3.2

12.6

-1

1

3

5

7

9

11

13

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

%

Tốc độ tăng GDP và CPI 2001-2006

-0.8

4

3

9.5

8.17 7.34

7.8

8.3

-1

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

2001 2002 2003 2004 2005 2006 Năm

%

GDP CPI

Lạm phát hiện nay ở Việt Nam là một hiện tượng có nguyên nhân tiền tệ, bắt nguồn

từ phản ứng thiếu đồng bộ của hai chính sách vĩ mô là tăng trưởng tiền tệ - tín dụng và ổn định tỷ giá, dẫn đến hậu quả làm thặng dư cung tiền

Theo thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê, tính đến cuối tháng 10/2007, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã lên đến hơn 9.34% so với cùng kỳ năm trước, và khoảng 8,12% so với đầu năm.

Qua diễn biến kinh tế và một số động thái chính sách của Việt Nam hiện nay, có đối chiếu trên những khía cạnh tương tự với một số nước trong khu vực, đi đến kết luận rằng

 Trang 4 

Trang 5

tình trạng lạm phát hiện nay ở Việt Nam là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua.

Hiện tượng kinh tế đặc thù được lưu ý ở đây là sự tăng trưởng mạnh mẽ của kiều hối (bao gồm một phần rất lớn và ngày càng tăng tiền gửi của người đi xuất khẩu lao động), kết hợp với sự tăng trưởng của dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam Một sự kết hợp nữa là trong năm 2006, quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển của thị trường chứng khoán đã đạt những bước phát triển lớn, khiến Việt Nam trở thành một địa điểm hấp dẫn và dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy mạnh vào nước ta Theo ước lượng không chính thức, có khoảng hơn 5 tỷ USD kiều hối đã được gửi về, và khoảng 1 đến 2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp đã được chuyển vào trong nước trong năm 2006 và những tháng đầu năm 2007

Các chính sách kết hợp không đồng bộ, bao gồm hai chính sách lớn sau:

(1) chính sách tăng trưởng cung tiền và tín dụng theo đà của các năm trước

(2) chính sách neo tỷ giá ổn định theo đồng USD thông qua can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại hối

Một đặc điểm vĩ mô quan trọng bậc nhất của Việt Nam gần đây có lẽ là sự gia tăng nhanh chóng của dòng tiền gửi về từ nước ngoài, trong đó một phần rất lớn từ người đi lao động, tạm gọi tất cả các khoản tiền gửi kiểu này là kiều hối Xét trên phương diện quy mô to lớn tương đối của dòng kiều hối, thì Việt Nam chỉ đứng sau Philippines là nước trong khu vực đã có truyền thống xuất khẩu lao động từ lâu, và có những đặc điểm kinh tế khá tương đồng Do đó, sau đây chúng ta sẽ sử dụng trường hợp Philippines để đối chiếu với tình trạng

ở Việt Nam

Một số chỉ tiêu vĩ mô của Philippines, 2002-2006

Thâm hụt thương mại (%GDP) -7.2 -7.4 -6.6 -5.9 -7.7

Cân đối tài khoản vãng lai

Cân đối tài khoản vốn (%GDP) 1.4 0.9 -1.8 1.6 -0.4

Thay đổi dự trữ ngoại tệ (%GDP) -2.1 -1.3 -0.6 -3.2 -3.2

Tỷ giá danh nghĩa (trung bình kỳ) 51.6 54.2 56.0 55.1 49.8

Trang 6

REER (trung bình kỳ) 96.2 89.1 86.2 92.3 101.4

Nguồn: IMF (2007)

Một số chỉ tiêu vĩ mô của Việt Nam, 2002-2006

Thâm hụt thương mại (%GDP) -3.0 -6.4 -5.0 -1.6 -0.6

Cân đối tài khoản vãng lai

Thay đổi dự trữ ngoại tệ

Tỷ giá danh nghĩa (trung bình

REER (trung bình kỳ, 1990

Nguồn: IMF (2006b), *: Dấu (-) nghĩa là thay đổi tăng

Từ hai bảng trên, chúng ta có thể nhận thấy Philippines hàng năm nhận một lượng kiều hối nhiều hơn Việt Nam rất nhiều kể cả tương đối (so với GDP) lẫn tuyệt đối (vì GDP của Philippines lớn hơn của Việt Nam khoảng 1.5 lần) Tuy nhiên, xét trên mối tương quan với GDP, thâm hụt thương mại của Philippines tương đối trầm trọng, cộng với các kh oản trả lãi vay nước ngoài tương đối lớn, nên có thể nói dòng kiều hối chủ yếu được dùng để tài trợ cho khoản thâm hụt này trong tài khoản vãng lai Kết quả là bất chấp lượng kiều hối khổng lồ chuyển về mỗi năm, cán cân vãng lai chỉ thặng dư khoảng từ 2% đến dưới 3% GDP Bên cạnh đó, thặng dư cán cân tư bản của Philippines tương đối thấp, và có khuynh hướng da o

 Trang 6 

Trang 7

động quanh mức zero Kết quả là sức ép mua lại ngoại hối của cơ quan tiền tệ ở Philippines, trong trường hợp nước này muốn can thiệp để ổn định tỷ giá, chỉ bắt đầu xuất hiện từ năm

2005, với mức tăng dự trữ ngoại hối thêm hơn 3% GDP mỗi năm

Trong khi đó, ở Việt Nam, tuy tỷ trọng kiều hối không lớn như ở Philippines, nhưng thâm hụt thương mại chưa nghiêm trọng như ở nước này, nên cán cân vãng lai được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, và kể từ năm 2005 có khuynh hướng thặng dư (nhưng còn ở mức thấp hơn nhiều so với Philippines) Tuy nhiên, đặc điểm quan trọng của Việt Nam là cán cân tư bản luôn có thặng dư rất đáng kể, đã dẫn tới khả năng dư thừa ng oại hối thậm chí lớn hơn ở Philippines Để giữ tỷ giá neo tương đối ổn định vào đồng USD, cơ quan tiền tệ Việt Nam đã liên tục mua lượng ngoại hối thặng dư trên thị trường Kết quả là

dự trữ ngoại tệ mỗi năm đã tăng lên rất mạnh, chẳng hạn như năm 2005 tăng thêm 4% GDP, còn năm 2006 gần 5% GDP

Như vậy, có thể nói một đặc điểm quan trọng của Việt Nam gần đây là sự tăng trưởng nhanh chóng của cả hai dòng tiền từ bên ngoài là kiều hối và đầu tư nước ngoài Các con số cập nhật gần đây (chưa chính thức) cho thấy trong nửa cuối năm 2006 và quý I năm 2007, dòng tiền này còn được bồi đắp thêm nhờ dòng vốn đầu tư gián tiếp, hướng tới thị trường chứng khoán Việt Nam và chuẩn bị cho các khoản mua cổ phần từ các doanh nghiệp nhà nước chuẩn bị được cổ phần hoá

Kết quả là, để giữ cho đồng Việt Nam không lên giá quá nhanh, cơ quan tiền tệ Việt Nam đã mua vào (theo các tuyên bố trên báo chí) khoảng hơn 7 tỷ USD (14% GDP) Chính sách này

đã làm tăng nhanh lượng cung tiền trong nền kinh tế Điều này được coi là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng lạm phát hiện nay

Trang 8

Thặng dư ngoại tệ

trên thị trường

ngoại hối

Sức ép tăng giá đồng Việt Nam

Giảm cạnh tranh

về giá của hàng xuất khẩu

Giảm cầu về hàng xuất khẩu,

do ó là tổng cầuđ

Ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nội địa thông qua hiệu ứng số nhân, lạm phát không

rõ rệt, giá nhập khẩu giảm, nhưng sản xuất trong nước giảm

Can thiệp vào thị

trường ngoại hối

T ng lượng tiền Việt trong lưu thôngă Sức ép lạm phát

Ảnh hưởng đến đời sống

xã hội và sản xuất nội địa, giảm khả năng cạnh tranh quốc tế Lạm phát tăng sau đó là giảm sản lượng

Các chính sách chống lạm phát

Ảnh hưởng đến khu vực ngân hàng-tài chính tiền tệ (lợi nhuận ngân hàng giảm, lãi suất tăng)

Kiềm chế lạm phát, không giảm xuất khẩu, không giảm sức cạnh tranh Giảm sản lượng, thu hẹp tổng cầu,

t ng thâm hụt ngân sáchă

Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là: Vì sao, ở một số nền kinh tế khác, cụ thể là Trung Quốc, cơ quan tiền tệ cũng phải đối mặt với lượng thặng dự ngoại tệ hằng năm rất lớn (chủ yếu từ thặng dư thương mại), trong khi vẫn giữ vững quyết tâm can thiệp để neo đồng nội tệ ổn định vào USD, lại không xuất hiện tình trạng lạm phát cao như ở Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xem xét chính sách tiền tệ gần đây của Trung Quốc và đối chiếu nó với tình hình Việt Nam

 Trang 8 

Tăng trưởng M2 (%) 14.4 16.8 19.6 14.6 17.6

Tăng trưởng tín dụng (%) 6.4 30.7 19.6 10.9 13.6

Tăng trưởng tiền dự trữ

Tăng trưởng dự trữ

Dự trữ ngoại hối/GDP

Trang 9

Tăngtrưởng tiền tệ và tín dụng ở Trung Quốc, 2001-2006

Nguồn: IMF (2006) Thay đổi cuối kỳ Riêng REER và CPI là trung bình kỳ

Bảng trên cho thấy mức tăng CPI ở Trung Quốc trong những năm vừa qua ở mức rất

“lý tưởng”, trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn hầu như ở mức hai con số Cần lưu ý ngay rằng, nước này cũng phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến “chi phí đẩy,” như là giá cả các mặt hàng thiết yếu và năng lượng trên thế giới tăng không khác gì, thậm chí có thể lớn hơn, so với Việt Nam

Tăng trưởng tiền tệ và tín dụng ở Việt Nam, 2001-2006

Tăng trưởng tín dụng (%) 21.4 22.2 28.4 41.6 31.7 21.4

Tăng trưởng tiền dự trữ

Tăng trưởng dự trữ

Dự trữ ngoại hối/GDP

Tỷ giá danh nghĩa 1507

0

1536

Nguồn: IMF (2006b) Thay đổi cuối kỳ Riêng REER là trung bình kỳ

Thực tiễn cho thấy kết quả cuối cùng là Trung Quốc đã không trải qua lạm phát cao, trong khi Việt Nam luôn phải gánh chịu lạm phát cao (trên 6%) liên tiếp kể từ năm 2004 Thêm vào đó, tăng trưởng ở Trung Quốc vẫn được giữ ở mức cao hơn Việt Nam, thặng dư thương mại lớn (dự trữ ngoại hối đã tăng ngoạn mục từ mức 16.5% năm 2001 lên 36.6% GDP vào năm 2005), và giá trị đồng nội tệ ổn định (tỷ giá danh nghĩa chỉ giảm khoảng 2.5% trong giai đoạn 2001-2005) Như vậy, có cơ sở để nhận định rằng Việt Nam đã thực hiện chính sách can thiệp tăng dự trữ ngoại tệ nhưng không đồng thời thắt chặt tiền tệ, nên đã dẫn tới lạm phát cao Trong khi đó, Trung Quốc đã thực hiện thắt chặt tiền tệ rất có chủ ý để

Trang 10

kết hợp hài hoà với chính sách giữ ổn định đồng Nhân dân tệ, và đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát

Nói tóm lại, trường hợp Trung Quốc cho thấy bài học đáng giá rằng kiểm soát tăng trưởng tiền tệ và tín dụng vẫn là phương tiện căn bản, quan trọng và hữu hiệu hàng đầu giúp kiểm soát lạm phát Một bài học nữa có thể rút ra, là sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô có ý nghĩa quan trọng Cụ thể trong trường hợp này, khi cơ quan tiền tệ đã xác định có kế hoạch mua vào một lượng ngoại tệ lớn, thì nó cũng đồng thời phải tiến hành kế hoạch thắt chặt cung tiền một cách đồng bộ

2/ Kinh nghiệm chống lạm phát

Giải pháp chống lạm phát của một số nước trên thế giới:

Trong năm 2007, do chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt là sự tăng giá liên tục với mức độ lớn của các loại hàng hóa như dầu mỏ, lương thực, dầu thực vật, đã dẫn đến tình trạng lạm phát với mức độ khác nhau ở các nước trên thế giới Để ứng phó với tình trạng này, giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế, chính phủ các nước cũng đã thực thi hàng loạt các biện pháp để kiềm chế lạm phát

Nga: Sử dụng tổng hợp các biện pháp để kiềm chế lạm phát:

Năm 2007, tỉ lệ lạm phát ở Nga là 8,7% Để kiểm soát giá cả, đặc biệt là giá lương thực tăng vọt, ngay từ năm 2007, Chính phủ Nga đã đưa ra hàng loạt các biện pháp:

- Nâng cao tỉ lệ lãi suất gửi ngân hàng, kiểm soát việc lưu thông lượng tiền lớn quá lớn, tăng thêm dự trữ vàng

- Tung ra thị trường 1,5 triệu tấn lương thực dự trữ nhằm giảm bớt áp lực tăng giá lương thực

- Tăng cường điều tiết xuất nhập khẩu, nâng thuế xuất khẩu lúa và hạt mạch từ 0% lên 10 và 30%, giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng như sữa, rau quả, dầu ăn từ 15% xuống 5%, đồng thời xóa bỏ những hạn chế việc nhập khẩu thịt hộp đến từ Trung Quốc, Mỹ và Brazil

- Trực tiếp can thiệp về giá cả, thông qua việc chính phủ thỏa hiệp giá cả hàng hóa với các hãng sản xuất, kinh doanh hàng hóa lớn trong nước đồng thời hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp liên quan

- Tấn công các hành vi vi phạm giá cả, sử dụng biện pháp trừng phạt kinh tế và xử lý hành chính với các doanh nghiệp vi phạm việc nâng giá

- Nâng cao mức lương hưu cơ bản và tuyên bố vào nửa cuối năm 2008 tiếp tục tăng lương để giải quyết khó khăn trong sinh hoạt của người hưu trí

 Trang 10 

Ngày đăng: 23/04/2013, 08:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy mức tăng CPI ở Trung Quốc trong những năm vừa qua ở mức rất - THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT Ở NƯỚC TA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
Bảng tr ên cho thấy mức tăng CPI ở Trung Quốc trong những năm vừa qua ở mức rất (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w