1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤCTÌNH TRẠNG TRÂU, BÒ CHẾT HÀNG LOẠT TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI MỘTSỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

42 844 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 89,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG TRÂU, BÒ CHẾT HÀNG LOẠT TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI MỘTSỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Trâu, bò là loài động vật phân bố khắ

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG TRÂU, BÒ CHẾT HÀNG LOẠT TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI MỘT

SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

       Trâu, bò là loài động vật phân bố khắp trên thế giới, chúng có mặt ở các vùng tự nhiên vàsinh thái khác nhau trên trái đất, chúng có khả năng tự kiếm thức ăn cao Tuy nhiên, do tầm vóc,khối lượng lớn nên trâu bò đòi hỏi lượng thức ăn lớn Mỗi ngày, một con trâu bò có thể sử dụngtới 30 - 50 kg thức ăn (Orskov, 1994) Vì vậy, để phát triển chăn nuôi trâu bò cần có diện tích bãichăn thả và trồng cây thức ăn cho chúng Khác với những loài vật ăn thịt và động vật ăn tạp, dạdày trâu bò có 4 túi (dạ cỏ, tổ ong, lá sách, múi khế) để phù hợp với sự tiêu hóa thức ăn có nhiềuchất thô xơ như cỏ, rơm, xác thực vật Tiêu hóa ở dạ cỏ chiếm vị trí rất quan trọng trong quá trìnhtiêu hóa ở trâu bò vì hầu như thành phần chủ yếu của thức ăn trâu bò (rơm, cỏ) được tiêu hóa ởđây Dạ cỏ  vừa có dung tích lớn nhất (200 - 250 lít) lại có  hệ thống vi sinh vật cộng sinh rất pháttriển, chúng gồm nhóm động vật nguyên sinh (Protozoa), vi khuẩn (Bacteria), nấm (Philips,2001).   Protozoa có số lượng khoảng 1 triệu con/1g thức ăn dạ cỏ, có khả năng sinh sản rấtnhanh (4 - 5 thế hệ/ngày), chúng có khả năng công phá vỡ màng xenlulo (màng xơ khó tiêu hóanhất của tế bào thực vật) Từ đó, giải phóng ra các thành phần dinh dưỡng bên trong như tinh bột,đường, các protit… Chúng sử dụng một phần cho sự phát triển bản thân chúng, mặt khác giúp vikhuẩn phát triển Vi khuẩn tiếp tục  phân giải xenlulo, hemixenlulo  thành các sản phẩm đườngmạch ngắn như disaccarit, polysaccarit  và sau đó tiếp tục biến thành các axít béo bay hơi, axítlactic Nhóm vi khuẩn lactic, streptococcus cũng góp phần chuyển hóa chất bột đường Quá trìnhphân giải chất xơ của dạ cỏ sẽ tạo thành sản phẩm là các axít béo bay hơi (Axít acetic/60 - 70%,Axít propionic/15 - 20 %, axít butyric /10-15 %), các thể khí như CO2, CH4, H2, O2, NH3…Cácaxít béo bay hơi chính là nguồn cung năng lượng cho các hoạt động của cơ thể trâu bò và là chấtbéo của sữa bò

        Sự có mặt của hệ thống vi sinh vật còn giúp trâu bò sử dụng được nguồn  Nitơ phi proteinnhư carbamid,  muối amon tạo thành protid của chính bản thân vi sinh vật, xác vi sinh vật lại lànguồn cung chất đạm cho trâu bò ở phần sau đường tiêu hóa Các hoạt động trên chỉ có thể diễn

ra thuận lợi khi dạ cỏ: Có độ pH thích hợp: từ 6,4 - 7 Nếu pH giảm (do thiếu lượng Bicarbonatenatri trong nước bọt, do khẩu phần có nhiều thức ăn tinh  hệ thống vi khuẩn lên men axít lactichoạt động mạnh làm pH dạ cỏ chuyển sang axít) sẽ ức chế sự phân giải chất xơ, giảm khả năngtiêu hóa Chính vì vậy trong nuôi dưỡng, thức ăn của trâu bò cần có độ ẩm cao 70 - 80% và phảicho  uống đầy đủ nước sạch, có nhiệt độ từ 38 - 410C. Chính vì vậy trong điều kiện rét lạnhkhông cung cấp đủ nước và nhiệt độ nước quá lạnh cũng như cung cấp quá nhiều tinh bột và thiếuthức ăn thô xanh trong khẩu phần thì trâu bò cũng sẽ bị ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và pháttriển

Trâu bò có ngưỡng chịu đựng tương đối cao đối với biến động của nhiệt độ môi trường trongtrường hợp đáp ứng tốt các nhu cầu khác của chúng (Preston, 1995) Đối với trâu bò trưởng

Trang 2

thành, các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng: ngưỡng chịu đựng với nhiệt độ là từ 5 - 350C;

bê nghé là từ 10 - 380C Nhiệt độ thích hợp nhất đối với trâu bò cho quá trình trao đổi chất là từ

18 - 220C Nghiên cứu trên bò sữa của Christopherson và cs chỉ ra rằng giới hạn nhiệt độ tối ưu

từ -5°C đến 210C (Christopherson và Young, 1986) Tuy nhiên nó cũng có thể tồn tại trong điềukiện - 370C một thời gian ngắn (Widowski, 1998) Khi nhiệt độ môi trường xuống -18°C thì trâu

bò sẽ bị stress nặng ngay cả trong điều kiện đầy đủ thức ăn, không dịch bệnh Nếu nhiệt độ -12°C(MacDonald và Bell 1958) sẽ ảnh hưởng đến sản lượng sữa Khi nhiệt độ môi trường xuống thấp,trâu bò sẽ tăng cường trao đổi chất để duy trì nhiệt độ cơ thể Khi đó khả năng tiêu thụ thức ăncủa trâu bò sẽ tăng lên, nhu động dạ cỏ tăng dẫn đến thức ăn bị chuyển nhanh khỏi dạ cỏ và cácchất chứa trong dạ cỏ bị mất nước nhanh chóng (Westra & Christopherson, 1976; Gonyou và cs,1979) Để duy trì thân nhiệt, trâu bò phải huy động nguồn năng lượng từ các nguồn trong cơ thể,bắt đầu từ các nguồn gluxit, nếu thiếu sẽ phải lấy từ các nguồn lipid rồi đến protein để sản sinhnăng lượng Khi đó các cơ quan tổ chức sẽ bị tổn thương, hệ thống men trao đổi chất bị rối loạn,trâu bò có biểu hiện: niêm mạc nhợt nhạt, run rẩy, phù thũng, gầy yếu và chết Lúc này các loạithức ăn cung cấp năng lượng hết sức quan trọng đối với trâu bò để chúng duy trì quá trình traođổi chất Các loại thức ăn cần được chế biến để nâng cao giá trị dinh dưỡng và tính ngon miệng,làm tăng khả năng thu nhận đồng thời giúp chúng chống chịu với thời tiết khắc nghiệt (Skerman  &Riveros, 1990)

Các tác giả Bailey, 2005; Franzluebbers & Stuedemann, 2006; Rinehart , 2006 đã tiến hành cácnghiên cứu trong các hệ thống chăn nuôi trâu, bò với quy mô lớn và nhỏ để tìm ra các biện phápkhắc phục, các kỹ thuật phù hợp nhằm cải thiện năng suất và tình trạng dịch bệnh cũng như tìnhtrạng trâu, bò chết trong điều kiện môi trường nhiệt độ cao, thấp trong mùa đông lạnh và mùa hènóng Kết quả chỉ ra rằng cần có một chiến lược tổng thể để giải quyết vấn đề bao gồm: chăn nuôi

có kiểm soát, có thức ăn đầy đủ, cải thiện về số lượng và chất lượng thức ăn, cải thiện việc sửdụng phụ phẩm cây trồng, cho ăn bổ sung với nghé và bê vào những thời điểm quan trọng củanăm và cải thiệt điều kiện chuồng trại tốt hơn sẽ khắc phục được yếu tố stress do nhiệt độ

Young (1981) cho rằng trong điều kiện lạnh có thể gây ra những thay đổi nội tiết và thích ứng củatrâu bò dẫn đến giảm hiệu quả tiêu hóa Mader (2003) đã có nghiên cứu để tìm ra các biện pháplàm giảm thiểu khó khăn trong chăn nuôi bò ở mùa giá lạnh Để khắc phục những bất lợi về thờitiết thì nhân tố cốt lõi là đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc tốt

Khi thời tiết lạnh giá kết hợp với thiếu thức ăn sẽ làm giảm khả năng chống chịu của trâu bò Cácnhà khoa học đã đưa ra một số chỉ tiêu để đánh giá mức độ ảnh hưởng của thời tiết đến khả năngchống chịu của trâu bò, bao gồm nồng độ hormone glucocorticoid Ngoài ra còn một số các chỉtiêu khác sẽ bị  ảnh hưởng như tần số hô hấp, nhịp tim, khối lượng và tình trạng cơ thể (Collinsand Weiner, 1968); Christison and Johnson, 1972; Ingram và cs., 1980; Gould và Siegel, 1985;McGlone và cs., 1987, Morrow-Tesh và cs., 1994); Zulkifli và cs., 1994; Hicks và cs., 1998;Ishizaki and Kariya, 1999; Wolfensen và cs., 2000)

Các nghiên cứu khác cũng cho thấy, trong điều kiện lạnh giá, khả năng tiêu hóa và sử dụng thức

ăn của trâu bò cũng giảm rõ rệt, cụ thể trong điều kiện lạnh giá, trâu bò có thể tăng mức thu nhậnthức ăn lên từ 20 - 40% (Graham và cs., 1982) để bù đắp lượng nhiệt sản sinh ra cho duy trì thânnhiệt Do đó việc cung cấp đầy đủ thức ăn và phòng chống mất nhiệt bằng phương pháp cải tiếnđiều kiện nuôi nhốt đóng vai trò quan trọng trong phòng chống rét cho trâu bò, đặc biệt là bênghé và trâu bò già

Kinh nghiệm đúc kết qua các nghiên cứu trong các hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ ở Indonesia

Trang 3

(Lisson và cs, 2010) đã chỉ ra rằng các khó khăn cần khắc phục để trách tình trạng ảnh hưởng củanhiệt độ thấp đến chăn nuôi trâu bò là: kết hợp tốt các giải pháp kỹ thuật đồng bộ nhưng chúngphải phù hợp với đặc điểm lý sinh của con vật Tương tự như vậy, nghiên cứu của Devendra(2000) cũng cho rằng từ các kiến thức sẵn có về sinh lý vật nuôi, điều kiện tự nhiên, thời tiết, sốliệu nguồn cấp thức ăn hàng năm, các yêu cầu cung cấp thức ăn chăn nuôi, báo cáo đánh giámức độ dư thừa thức ăn nông nghiệp và điều kiện kinh tế của người chăn nuôi sẽ xây dựng đượcchiến lược có hiệu quả để đối phó với tình trạng trâu bò chết rét một cách bền vững trong hệ thốngnông nghiệp.

 

* Các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan

1 Bailey, D W (2005) "Identification and Creation of Optimum Habitat Conditions forLivestock." Rangeland Ecology & Management 58(2): 109-118

2 Collins, K J.  and J S Weiner 1968 Endocfinological aspects  of  exposure  to  high environmental temperatures Physiol Rev.  48:785

3 Devendra, C (2000) "Strategies for Improved Feed Utilisation and Ruminant ProductionSystems in the Asian Region" Asian-Aus J.Anim.Sc 13 Supplement July 2000 B: 51-58

4 Franzluebbers, A J and Stuedemann, J A (2006) "Pasture and cattle responses to fertilizationand endophyte association in the southern Piedmont, USA." Agriculture, Ecosystems &Environment 114(2-4): 217-225

5 Gould, N R and H S Siegel 1985 Effects of corticotropin and heat on corticosteroid -bindingcapacity and serum corticosteroid in white rock chickens Poult Sci 64:144-148

6 Mader, T L (2003) "Environmental stress in confined beef cattle." J Anim Sci 81(14_suppl_2):E110-119

7 Lisson, S et al (2010) "A participatory, farming systems approach to improving Bali cattleproduction in the smallholder crop-livestock systems of Eastern Indonesia." Agricultural Systems103: 486 - 497

8 Preston T R 1995 Tropical Animal Feeding - A Manual for Research Worker FAO AnimalProduction and Health Paper 126 Rome. 

9 Rinehart, L (2006) "Cattle Production: Considerations for Pasture-Based Beef and DairyProducers." ATTRA Publication #IP305.( http://attra.ncat.org/attra-pub/cattleprod.html)

10 Young, B A (1981) "Cold Stress as it Affects Animal Production." J Anim Sci 52(1): 163

154-11 Ørskov E R 1994 Recent advances in understanding of microbial transformation in ruminants.Livestock Production Science Volume 39: 53-60

12 Weiss W 1994 Estimation of digestibility of forages by laboratory methods In Fahey Jr G F(ed.) Forage Quality, Evaluation, and Utilization Madison Wisconsin USA pp 644-681

        13 Singh, A., Jaiswal, R.S., Chauhan, S.S., Thakur, T.C., Singh, V., Joshi, Y.P.result1Impact of feeding urea ammoniated paddy straw on utilization of nutrients, blood metabolites andcost effectiveness on crossbred lactating cows  Indian Journal of Animal Sciences 77 (7), pp 595-598

 

10.2 Trong nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở Việt Nam,liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánhgiá tổng quan

Trang 4

* Nghiên cứu về nguyên nhân gây chết trâu bò trong vụ đông

          Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam đã chỉ ra rằng: Trâu bò là loài vật nuôi có khả năngthích nghi cao, chịu đựng kham khổ tốt và ít bệnh tật, do vậy rất dễ nuôi và ít rủi ro (Tô Du, 2004).Tuy nhiên, trong những điều kiện khắc nghiệt về thời tiết (nhiệt độ dưới 100C trong mùa đông), thểtrạng gia súc không tốt (gầy gò, lao tác quá sức), nguồn thức ăn hạn chế, ký sinh trùng và dịchbệnh tiềm tàng thì khả năng chịu đựng của trâu bò rất kém trong mùa đông (Trần Văn Tường,Nguyễn Hưng Quang, 2004; Trần Huê Viên, 2005; Nguyễn Văn Bình và Trần Văn Tường, 2006).Một nguyên nhân gây chết là do dịch bệnh xảy ra vào đúng mùa đông lạnh nhiều khi trâu bò vừa

bị rét vừa không đủ nguồn thức ăn dẫn đến tình trạng trâu bò chết (Đặng Xuân Bình và cs, 2010).Theo thông báo của Cục chăn nuôi Quốc gia, trong 2 năm 2008 và 2010 là những năm trâu bòchết nhiều do rét Tại thời điểm 17/2/2008, tổng số các loại trâu bò đã bị chết rét, chết đói trongđợt rét đậm tại các tỉnh phía Bắc là 51.962 con, trong đó chủ yếu là bê, nghé non (chiếm 75%);

bò, trâu già (25%) Tính tới 22/01/2011 số trâu bò chết rét (Từ Thừa Thiên Huế trở ra) lên tới24.249 con Nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết rét đậm và rét hại (nhiệt độ dưới 50C) và cáctỉnh này trâu bò thường bị bùng phát dịch lở mồm long móng (FMD) kết hợp với thiếu nguồn thứcăn

Theo Nguyễn Văn Quang và cs, 2010; Nguyễn Hưng Quang, Thào Mí Chá, 2010, trong thực tếsản xuất, không phải tất cả các nông hộ đều giải quyết tốt việc cung cấp thức ăn cho đàn gia súccủa mình Kết quả điều tra tại các tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy có tới gần 70% số hộ thiếu thức

ăn cung cấp cho trâu bò trong cả 12 tháng, trong đó đặc biệt là những tháng mùa khô mức độthiếu hụt nguồn thức ăn lên đến 60 - 80%; còn trong mùa mưa mức độ thiếu hụt chỉ khoảng 20 -40% Đáng chú ý là 100% số hộ chăn nuôi được điều tra cho tấy trâu bò thiếu thức ăn ít nhất 6tháng/năm đặc biệt vào mùa khô lạnh Chính vì lý do này mà tình trạng trâu bò chết rét càng diễn

ra nghiêm trọng trong những năm có mùa đông lạnh giá

Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Quang và cs (2010) thì lượng thức xanh được các hộ bổ sung vàokhẩu phần ăn cho gia súc nhai lại đạt mức thấp, trung bình từ 4,3 - 4,6 kg/con/ngày Việc thiếuthức ăn này là do điều kiện nguồn cung cấp thức ăn dự trữ không có nên nó ảnh hưởng rất lớn tớitình trạng quản lý trâu bò trong vụ đông

 Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Huyền và cs (2010) ở các tỉnh vùng núi phía Tây Bắc Việt Nam chỉ

ra rằng các hộ dân nghèo nhất thường không nuôi trâu, bò hoặc chỉ nuôi số lượng ít nhằm phục

vụ cày kéo Hộ dân chăn nuôi bò chủ yếu là các hộ có những lợi thế về vốn, lao động và nguồnthức ăn cho trâu bò Các hộ kinh tế khá có nguồn thức ăn đáp ứng đủ cho trâu, bò trong mùa thiếuthức ăn xanh Do đó những gia súc chết rét trong vụ đông lại tập trung vào những hộ nghèo lànhững hộ có số con trâu bò ít, cho nên thiệt hại về kinh tế là rất lớn và có ảnh hưởng sâu sắc chocác hộ nông dân nghèo

 

* Các biện pháp  khắc phục tình trạng trâu bò chết trong vụ đông xuân

Nhằm hạn chế tối đa tình trạng trâu bò chết trong vụ đông thì chúng ta cần rất nhiều các biệnpháp đồng bộ để giải quyết Theo tác giả Nguyễn Khắc Hiệp (2010) cần tiến hành các biện phápsau: i) Hướng dẫn bà con lùa đàn trâu, bò còn thả ngoài rừng về và nhốt trong chuồng có sự chechắn gió để hạn chế mất nhiệt cho trâu, bò Nếu có thể, trùm, phủ chăn cho trâu bò được ấmthêm ii, Trâu bò cần được ăn uống đầy đủ để có sức khoẻ tốt chống chịu với thời tiết giá rét Nhànước và các cấp chính quyền hỗ trợ cho bà con trong việc cung cấp thức ăn khô cho trâu, bò trongnhững ngày giá rét (có thể mua rơm khô cung cấp cho bà con ở miền núi cao, khó có điều kiện

Trang 5

cung cấp thức ăn khô đầy đủ cho trâu, bò trong những ngày rét đậm) iii, Cho trâu bò ăn nhữngthức ăn có tính bổ dưỡng để chống chịu với rét như nấu cháo các loại ngũ cốc có thể và có hoàmột tỷ lệ đường cần thiết cho trâu, bò ăn để tăng sức khoẻ, khả năng chống chịu rét cho trâu, bòtrong những ngày giá rét Trong thức ăn của trâu bò, cho ăn kèm những chất (có tính dược ấmnóng) để nâng cao sức chịu rét cho trâu, bò như gừng sống (Sinh khương) iv, Có thể dùng biệnpháp hơ (phương pháp cứu của Đông y), mồi lửa vào một số huyệt để tăng cường sức đề kháng,chịu lạnh cho trâu, bò.

Theo khuyến cáo của Cục Chăn nuôi Quốc gia, 2010 thì cần có một số biện pháp phòng chốngđói, rét cho trâu, bò trong mùa đông như sau: Trước khi vào mùa đông: Chuẩn bị chuồng trại đảmbảo diện tích đủ nuôi nhốt trâu, bò; củng cố lại nền chuồng, mái che, tường bao quanh, đảm bảonền chuồng luôn khô ráo trong mùa đông; che chắn chuồng nuôi đảm bảo đủ ấm, không bị giólùa, mưa hắt vào làm ẩm, ướt chuồng Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ, tiêu độc khử trùng chuồngtrại và khu vực xung quanh chuồng nuôi Chuẩn bị nguồn cây thức ăn cho trâu, bò đảm bảo diệntích cỏ hoặc cây thức ăn thô xanh khoảng 300 m2/con Tận dụng triệt để nguồn phế phụ phẩmnông nghiệp để chế biến, dự trữ thức ăn cho đàn trâu, bò, đặc biệt là rơm, thân, lá cây ngô trong

vụ thu đông (đảm bảo mỗi hộ chăn nuôi tối thiểu có 01 cây rơm) Khi mùa mưa, lượng thức ăn thôxanh nhiều, phải có kế hoạch ủ chua thức ăn thô xanh, dự trữ cho trâu, bò (bình quân 01 tấn thức

ăn ủ chua trở lên/01 con trâu, bò) hoặc trồng cây ngô dày với diện tích khoảng 500m2/con.Tăng cường chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo khẩu phần ăn đủ dinh dưỡng và sức khoẻcho đàn trâu, bò để chống rét, chống bệnh dịch Những con trâu, bò già, yếu cần có kế hoạchnuôi vỗ béo để bán giết thịt, hoặc phải có chế độ chăm sóc đặc biệt để giữ gìn sức khoẻ chống lạiđói, rét trong vụ đông - xuân Đối với bê, nghé cần có chế độ chăm sóc hợp lý để tăng cường sức

đề kháng với bệnh, dịch và giá rét trong vụ đông Thực hiện tiêm phòng các loại vắc xin phòngcác bệnh truyền nhiễm cho 100% số trâu, bò, bê, nghé trong diện phải tiêm phòng, tiêm định kỳ 2lần/năm (vụ xuân - hè, vụ thu - đông) hoặc tiêm phòng bổ sung cho trâu, bò chưa được tiêmphòng chính vụ, theo quy định của thú y Tổ chức tẩy ký sinh trùng đường máu, ký sinh trùngđường ruột cho trâu, bò, bê, nghé (tiên mao trùng, giun đũa cho bê, nghé, ) Định kỳ thực hiện vệsinh, tiêu độc, khử trùng, xử lý chất thải chăn nuôi để hạn chế dịch bệnh lây lan Tăng cường kiểmtra, giám sát chặt chẽ đàn trâu, bò để phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời khi bệnh, dịch xảyra

       Trong mùa đông, khi nhiệt độ dưới 120C người chăn nuôi cần thực hiện lùa trâu, bò vềchuồng, lán tạm, tuyệt đối không thả rông tự do ngoài đồng, ngoài bãi chăn thả, trên rừng quađêm Cho trâu, bò nghỉ làm việc và cho ăn đầy đủ dinh dưỡng, khẩu phần ăn từ 10 - 20 kg thứcăn/con/ngày, trong đó: 15 - 18 kg cỏ tươi xanh hoặc cỏ ủ chua, 3 - 4 kg rơm, 1 - 1,5 kg thức ăntinh, cho uống nước ấm pha muối loãng (20 - 30g muối/con/ngày) Chúng ta có thể dùng thêmmột số thuốc tăng sức đề kháng, thuốc phòng cước chân Thực hiện biện pháp chống rét cho trâu,

bò bằng cách dùng chăn, bao tải khoác cho trâu, bò, hoặc có thể dùng bóng điện, đốt than củi,trấu để sưởi ấm cho trâu, bò đặc biệt là trâu, bò già, bê, nghé (Nguyễn Khắc Hiệp, 2010)

* Các biện pháp giải quyết về thức ăn cho trâu bò trong vụ đông

Việt Nam có một khối lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp có thể làm thức ăn cho gia súc nhai lại

Số lượng gia súc nhai lại ở Việt Nam còn rất ít so với nguồn thức ăn sẵn có và nếu những nguồnthức ăn này được sử dụng tốt thì có thể tăng gấp đôi số lượng gia súc này mà không phải sử dụngđến nguồn thức ăn của các loài dạ dày đơn (Từ Quang Hiển và cs, 2002; Trần Văn Tường, 2004).Thế nhưng một thực tế hiện nay, trâu bò ở khu vực miền núi lại đang thiếu thức ăn trong các vụ

Trang 6

đông Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003): Nghiên cứu chế biến và sử dụng nguyên liệu là phụ phẩmnông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả chuyển hoáthức ăn cũng như tận dụng các nguồn thức ăn rẻ tiền sẵn có ở địa phương, đồng thời tăng khảnăng lựa chọn các loại nguyên liệu thức ăn khác nhau cho gia súc Chế biến và sử dụng nguyênliệu thích hợp góp phần tăng tỷ lệ sử dụng các loại nguyên liệu thức ăn khác nhau, đặc biệt là thức

ăn không truyền thống, tăng sử dụng các loại thức ăn địa phương và phụ phế phẩm góp phần hạgiá thành sản phẩm chăn nuôi, kích thích chăn nuôi phát triển

Bùi Văn Chính và Nguyễn Hữu Tào (1995) đã tiến hành nghiên cứu dùng biện pháp kiềm hoáđể chế biến và dự trữ thân cây ngô già làm thức ăn cho trâu bò; Lý Kim Bảng và Lê Thanh Bình(1988) nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật trong việc bảo quản thức ăn ủ xanh cho trâu bò Kết quảthí nghiệm cho thấy mẫu ủ sau 5 - 6 tháng có kết quả khá tốt, thức ăn ủ có hàm lượng axít lacticcao, thơm ngon hơn so với không ủ và đặc biệt là việc bảo quản thức ăn xanh này đảm bảo cungcấp đầy đủ thức ăn thô xanh trong mùa khô

Nghiên cứu xử lý rơm để tăng giá trị làm thức ăn cho trâu bò đã có rất nhiều tác giả quan tâm

Lê Xuân Cương và cs (1993) nghiên cứu tác dụng của rơm ủ urea đối với sức sản xuất của bòsữa và trâu cày Kết quả nghiên cứu trong 2 năm 1991 - 1992 đã cho thấy rằng thành phầndinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá, khả năng tổng hợp bằng hệ vi sinh vật dạ cỏ ở rơm ủ urea cao hơnrơm không ủ 2 - 4%; ăn rơm ủ làm tăng năng suất sữa và không ảnh hưởng đến chất lượngsữa

Về chế biến và sử dụng rơm làm thức ăn cho gia súc nhai lại, Nguyễn Xuân Trạch (2005) đãnghiêu cứu rất tỉ mỉ các giải pháp chế biến và hiệu quả của chúng được đánh giá bằng phươngpháp in sacco cũng như thí nghiệm sinh trưởng trên bò Nguyễn Thị Tịnh và cs (2000) cũngnghiên cứu đánh giá hiệu quả của một số công thức chế biến rơm cho bò và đánh giá bằngphương pháp in sacco Tác giả đã tiến hành đánh giá 4 công thức ủ gồm đối chứng (không ủ);rơm ủ 4% urea ở 14 và 21 ngày; rơm ủ 4% Ca(OH)2 ở 14 và 21 ngày; rơm ủ 2% urea + 2%Ca(OH)2 ở 14 và 21 ngày Kết quả cho thấy nhìn chung các phương pháp xử lý đều làm tăngchất lượng của rơm, trong đó xử lý rơm bằng 4% urea cho kết quả tốt nhất

Ngoài nghiên cứu chế biến, xử lý rơm lúa, còn có một số tác giả khác nghiên cứu chế biến sửdụng các loại phế phụ phẩm nông nghiệp khác làm thức ăn cho gia súc nhai lại Lã Văn Kính và

cs (1996) nghiên cứu các biện pháp chế biến, bảo quản quả điều, bã điều làm thức ăn cho bòsữa Vũ Chí Cương (2007) sử dụng phụ phẩm công nông nghiêp (lá và thân cây sắn, bã dứa )

để nuôi vỗ béo bò thịt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng thịt Các nghiên cứu trên đã được ápdụng tương đối hiệu quả và rộng rãi vào thực tiễn sản xuất Các phương pháp này sẽ là cơ sở chocác nghiên cứu sau này về bảo quản và chế biến thức ăn cho gia súc nhai lại trong những điểukiện và hoàn cảnh cụ thể

 

* Các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan

1 Bùi Văn Chính, Nguyễn Hữu Tào (1995), Nghiên cứu chế biến và sử dụng phụ phẩm nôngnghiệp và nguồn thức ăn sẵn có ở nông thôn, Tuyển tập những công trình nghiên cứu KHKT chănnuôi (1969-1995), Viện chăn nuôi

2 Lê Xuân Cương (1993) Chế biến cỏ thành thịt sữa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Thành phố HồChí Minh

3 Vũ Chí Cương (2007), Nuôi dưỡng bò sữa ở các trang trại gia đình miền Bắc Việt Nam NXBLao động - Xã hội

Trang 7

4 Tô Du (2004) Sổ tay chăn nuôi trâu bò ở gia đình NXB Lao động - Xã hội

5 Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung (2002), Giáo trình đồng cỏ cây thức

ăn gia súc NXB Nông nghiệp

6 Nguyễn Khắc Hiệp (2010), Một số biện pháp phòng chống đói, rét cho trâu, bò trong mùađông

7 Le Thi Thanh Huyen, Pera Herold, A Valle Zárate, (2010) Farm types for beef production andtheir economic success in a mountainous province of northern Vietnam in Agricultural Systems103: 137–145

8 Nguyễn Văn Quang, Hoàng Đình Hiếu, Nguyễn Duy Linh, Chung Tuấn Anh, Bùi Việt Phong, HồVăn Núng, Nguyễn Duy Phương, Ngô Đức Minh (2010), Đánh giá hiện trạng và đề xuất giảipháp phát triển chăn nuôi trâu bò phù hợp với điều kiện của huyện Sìn hồ và Than Uyên, tỉnh LaiChâu

 

9 Nguyễn Thị Tịnh, Lê Minh Lịch (2000), Nghiên cứu hiệu quả của các phương thức bổ sung urêkhác nhau trong khẩu phần ăn của bò, Báo cáo khoa học tại hội nghị khoa học Viện chăn nuôi,tháng 7/2000

10 Phạm Ngọc Thạch (2011), Kỹ thuật phòng chống rét cho trâu, bò

11 Trần Văn Tường (2004), Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò Trường Đại học Nông lâm TháiNguyên

12 Nguyễn Xuân Trạch (2003), Sử dụng phụ phẩm nuôi gia súc nhai lại NXB Nông nghiệp

13 Nguyễn Xuân Trạch (2005), Bài giảng chăn nuôi trâu bò Trường Đại học Nông nghiệp I Hànội

        1.2 Điều tra trực tiếp thực trạng chăn nuôi trâu bò, tình hình trâu bò chết rét tại hộ chănnuôi

            1.3 Xác định nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình trạng trâu, bò chết rét   

- Nội dung 2: Nghiên cứu khả năng sản xuất, chế biến dự trữ thức ăn xanh trong vụ đông xuânnhằm phát triển chăn nuôi trâu bò bền vững

2.1 Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số giống cỏ phù hợp với điều kiện sinh thái tại vùngnghiên cứu

2.2 Nghiên cứu chế biến dự trữ thức ăn xanh trong vụ đông xuân và đánh giá chất lượng sau chếbiến

- Nội dung 3: Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật (chăm sóc, thức ăn, chuồng trại, phòng bệnh)đảm bảo giảm thiểu thiệt hại 30 - 35% đối với trâu bò trong vụ đông xuân tại một số tỉnh miền núiphía Bắc

Trang 8

3.1 Nghiên cứu các biện pháp chăm sóc trâu bò, bê nghé để phòng chống rét trong vụ đông xuân.

3.1.1 Nghiên cứu các biện pháp chăm sóc  trâu bò trong vụ đông xuân

3.1.2 Nghiên cứu các biện pháp chăn sóc bê nghé trong vụ đông xuân

3.2 Nghiên cứu các giải pháp thức ăn cho trâu bò để phòng chống rét trong vụ đông  xuân.        3.2.1 Nghiên cứu sử dụng khẩu phần bổ sung thức ăn tinh cho trâu, bò trong vụ đôngxuân

        3.2.2 Nghiên cứu sử dụng thức ăn thô xanh bảo quản, chế biến cho trâu, bò trong vụđông xuân  

        3.3 Nghiên cứu lựa chọn kiểu chuồng trại chăn nuôi trâu bò để phòng chống rét trong vụđông  xuân

3.4 Nghiên cứu các biện pháp phòng bệnh cho trâu, bò trong vụ đông  xuân

3.4.1 Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh và cách phòng trừ một số bệnh truyền nhiễmtrên đàn trâu, bò, bê, nghé trong vụ đông xuân

3.4.2 Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh tiêu chảy và cách phòng trừ bệnh trên đàn bê nghé trong

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.     Phương pháp nghiên cứu 

2.1.1.     Nội dung 1: Điều tra thực trạng chăn nuôi trâu bò, tình hình trâu bò chết rét trong vụĐông - Xuân. 

- Thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra, đánh giá tại nông hộ bằng phương pháp điều tra, đánh giá có

sự tham gia của nông dân, đánh giá cho điểm kết hợp với phỏng vấn theo bộ câu hỏi trực tiếp các

hộ có trâu bò chết và không có trâu bò chết trong vụ Đông - Xuân từ 2008 - 2012 Tổng số mẫunghiên cứu (n) là 433 hộ Số liệu sau khi điều tra thu thập được xử lý trên phần mềm thống kêSPSS 21.0 và EVIEWS 6.0

- Thu thập thông tin thứ cấp: Tiến hành thu thập các thông tin thống kê cấp xã, huyện, tỉnh về tìnhhình và thực trạng trâu bò chết hàng loạt qua các năm 2008 - 2011

- Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để thu thập thông tin về tình hình chăn nuôi trâu bòcủa các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu Từ đó, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới nguyên nhân trâu

bò bị chết và sử dụng thang đo Likert để đo lường các yếu tố trên Phương pháp định lượng được

sử dụng để phân tích bao gồm đánh giá thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, trích rút cácnhân tố bằng phương pháp Phân tích Nhân tố khám phá (EFA)

- Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới việc trâu bò chết, nghiên cứu vận dụng môhình phương trình Binary Logistic (Logit), phương trình được mô tả như sau:

 

Trong đó: Biến phụ thuộc Y là biến hộ có trâu bò chết hay không (Y = 1 nếu hộ có trâu bò chết, Y =

0 nếu hộ không không có trâu bò chết) Các biến độc lập: Xi (i = 14); Pi là xác suất hộ có trâu bòchết (với Y =1)

Trang 9

2.1.2.     Nội dung 2: Nghiên cứu khả năng sản xuất, chế biến dự trữ thức ăn xanh trong vụ Đông

- Xuân nhằm phát triển chăn nuôi trâu bò bền vững

- Nghiên cứu thực trạng các loại cỏ, cây thức ăn tự nhiên trâu bò sử dụng trong năm trên bãi chănthả bằng cách:

+ Theo dõi, thu mẫu biến động số lượng loài, cá thể trên một đơn vị diện tích đồng cỏ, bãi chănthả thường xuyên tại các địa phương điểm hình nghiên cứu

+ Xác định tên khoa học và phân loại của các loại cỏ, cây thức ăn tự nhiên dựa trên khoá phânloại hiện hành của các tác giả Nguyễn Tiến Bân và cs (2001, 2003, 2005), Lê Khả Kế (1969,1975) (trích theo Hoàng Chung (2004) và Hoàng Chung và Giàng Thị Hương (2006) và một số tàiliệu liên quan đến phân loại

- Nghiên cứu thành phần cây thức ăn, phụ phẩm nông nghiệp được dùng làm thức ăn cho trâu bòbằng cách theo dõi, điều tra hỏi đáp nông hộ chăn nuôi trong vùng

- Nghiên cứu năng suất chính, phụ phẩm nông nghiệp bằng cách xác định ô thí nghiệm lấy mẫutrên điểm đánh giá đặc trưng của giống, vùng miền và cách thức gieo trồng Sau đó khoanh thànhhình vuông, chia theo đường chéo để tìm ra 5 ô lấy mẫu tại 4 góc và 1 điểm chính giữa giao nhaucủa 2 đường chéo Mỗi một ô lấy mẫu dùng thước đo 1 m2 diện tích Tiến hành thu hoạch toàn bộchính và phụ phẩm Phân loại, xử lý và định lượng bằng cân Sau đó dựa vào mục đích, thực tế sửdụng của từng loại mà tính toán khối lượng kg/1 m2 diện tích

- Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số giống cỏ phù hợp với điều kiện sinh thái tại vùngnghiên cứu bằng sơ đồ bố trí thí nghiệm sau:

+ 05 giống cỏ bao gồm cỏ Guatemala, cỏ Ghine TD58, cỏ Mulato 2, cỏ VA06, cỏ Stylo được bốtrí trồng vào 5 ô thí nghiệm tại các hộ gia đình diện tích mỗi ô 100 -150 m2 (3 lần lặp lại) tại haivùng (vùng cao: có độ cao 800 - 1000 m và vùng thấp có độ cao từ 30 - <100 m) có điều kiệnsinh thái khác nhau để khảo sát khả năng thích nghi của các giống cỏ trên đối với vùng

+ Các điều kiện về thổ nhưỡng và khí hậu thủy văn được phân tích đánh giá để có công thức bónphân phù hợp với yêu cầu của giống cỏ

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí khảo nghiệm các giống cỏ

TT

Giống cỏ

Vùng cao (m2)

Vùng thấp (m2)

Trang 11

+ Loại thức ăn ủ xanh: Cỏ voi/VA 06 ủ chua và thân lá cây ngô ủ chua

+ Quy mô: 02 hộ chăn nuôi; số lượng thức ăn ủ xanh 1 tấn/hộ

+ Các bước tiến hành ủ xanh thức ăn: Bước 1 Chuẩn bị nguyên vật liệu, dụng cụ: nguyên vật liệudùng để ủ xanh trong đề tài là thân cây ngô và cỏ voi/VA 06 Chuẩn bị dụng cụ: đào hố đất cótrải tấm nylon, yêu cầu hố sạch kín, không khí không lọt vào, hố đào ở vị trí trên cao tránh đọngnước và không cho nước chảy vào hố Hố ủ không để góc chết dễ đọng không khí, sử dụng loại

hố ủ 1 - 2 tấn Bước 2 Phương pháp ủ: Cỏ trước khi ủ được cắt ngắn 7 - 10 cm để dễ kèn chặt.Đáy hố lót một lớp rơm hoặc cỏ khô dày 15 - 20 cm Sau đó xếp thức ăn thành từng lớp dày 30 -

40 cm rồi nén chặt hết lớp này tới lớp khác cho tới khi đầy hố Phần trên phủ 1 lớp rơm hoặc cỏkhô dày 15 - 20 cm, rồi lấp đất dày 40 - 50 cm Đất lấp đắp hình mu rùa, xung quanh có rãnhthoát nước để tránh đọng nước

Trang 12

+ Các chỉ tiêu phân tích thành phần hoá học của mẫu thức ăn ủ xanh được phân tích qua các giaiđoạn ủ 30 - 90 ngày sau ủ về vật chất khô - được xác định theo Tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 4326

- 2001; hàm lượng protein thô - được xác định theo Tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 4328 - 2007;hàm lượng xơ tổng số - được xác định theo Tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 4329 - 2007; và giá trị

pH theo phương pháp thông thường

- Thức ăn chế biến bằng phương pháp ủ urê: bố trí 01 thí nghiệm với 2 lô thí nghiệm ủ rơm vàthân lá ngô với urê tại một trong ba xã vùng nghiên cứu phù hợp

+ Loại nguyên liệu ủ: rơm khô và thân lá cây ngô khô

+ Quy mô: 02 hộ chăn nuôi; số lượng thức ăn ủ urê 100 kg/hộ

+ Phương pháp ủ: Các nguyên liệu gồm rơm lúa/thân lá cây ngô đã phơi khô, urê và nước sạch.Các nguyên liệu được sơ chế, chuẩn bị đầy đủ và theo yêu cầu, sử dụng cân để định lượng cácnguyên liệu ủ theo các công thức tại bảng dưới Sau đó trộn đều các nguyên liệu, tưới nước đảmbảo ẩm độ 60% sau đó cho vào túi ủ Các thức ăn ủ urê được ủ trong túi nilon 2 lớp, lèn thật chặt

và buộc kín để đảm bảo yếm khí

+ Lấy mẫu thí nghiệm tại thời điểm sau khi ủ 7 và 14 ngày để đi phân tích vật chất khô; hàm lượngprotein thô; hàm lượng xơ tổng số tương tự như phân tích mẫu thức ăn ủ xanh cỏ như trên

+ Công thức ủ rơm và thân lá cây ngô với urê như sau:

Bảng 2.2 Công thức ủ rơm và thân lá cây ngô với urea

TT

Nguyên liệu

Công thức ủ rơm với urê

Công thức ủ thân lá ngô với urê

1

Rơm khô

100 kg

Trang 14

2.1.3.     Nội dung 3: Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật (chăm sóc, thức ăn, chuồng trại, phòngbệnh) đảm bảo giảm thiểu thiệt hại 30 - 35% đối với trâu bò trong vụ đông xuân tại một số tỉnhmiền núi phía Bắc. 

- Nghiên cứu các biện pháp chăm sóc trâu bò, bê nghé để phòng chống rét trong vụ đông  xuânbằng cách bố trí thí nghiệm theo dõi trong nông hộ chăn nuôi trâu bò với các phương thức chănnuôi như sau:

Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nghiên cứu các biện pháp chăn sóc

Trang 16

+ Thân ngọn cây sắn tươi được thu hoạch phần thân non chiếm 1/3 phần ngọn cây,  thu hoạch cả

lá sắn Củ sắn tươi sau khi thu hoạch rửa sạch đất bám và được băm nhỏ bằng tay

+ Các loại nguyên liệu thân ngọn cây sắn tươi, củ sắn tươi được băm nhỏ với kích thước khoảng0,5 - 1 cm; lõi ngô và ngô hạt được nghiền nhỏ dạng bột Các nguyên liệu không cần phơi khôsau khi băm, mà ủ tươi Tiến hành trộn đều các nguyên liệu với nhau theo tỷ lệ đã định, mỗi mẻtrộn từ 500 - 600 kg nguyên liệu tươi sau đó nén chặt vào các túi ủ Túi ủ dùng túi bạt dứa kíchthước 0,5 - 1,1 m; bên trong lồng hai lớp túi nilon cùng kích thước để đảm bảo điều kiện yếm khí

và tránh hư hại Các nguyên liệu được lèn thật chặt theo từng lớp, sau đó buộc kín miệng túi ủ sau

đó bảo quản trong điều kiện yếm khí bằng túi nilon Thời gian bảo quản và sử dụng sau khi chếbiến 14 ngày cho đến 90 ngày sau ủ

+ Bố trí thí nghiệm chế biến thức ăn theo sơ đồ như sau:

 

Trang 17

Bảng 2.4 Tỷ lệ phối trộn các công thức thức ăn bổ sung

Trang 21

+ Lấy mẫu các công thức thức ăn bổ sung để phân tích thành phần dinh dưỡng Phương pháp lấymẫu theo phương pháp TCVN 4325-2007.

+ Vật chất khô của các mẫu được xác định theo TCVN:  4326-2001; Hàm lượng protein thô đượcxác định theo TCVN: 4328-1-2007; Hàm lượng xơ tổng số được tiến hành theo TCVN: 4329-2007; Hàm lượng lipit được tiến hành theo TCVN: 4331-2001; Hàm lượng khoáng tổng số đượctiến hành theo TCVN: 4327-2007); Năng lượng thô của thức ăn được tính theo phương trình củaEwan, 1989 (NRC, 1998) như sau:

GE (Kcal/kgTA) = 4143 + (56*%EE) + (15*%CP) - (44*%Ash)

Ngày đăng: 05/06/2016, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w