Phân tích bài thơ: Đoạn 1 Từ câu 1 đến câu 14 Đoạn thơ đầu gồm 14 câu như những thước phim quay chậm tái hiện địa bàn chiến đấu của người lính Tây Tiến.. Đoạn thơ là sự phối kết hợp hài
Trang 1MỘT SỐ BÀI ÔN TẬP VĂN 12
- Địch đưa ra luận điệu khai hoá, bảo hộ -> yêu cầu LS: phải có hệ thống lý lẽ để bác bỏ, bóc trần luận
điệu xảo trá ấy của Pháp trước nhân dân tiến bộ TG
-> Lịch sử cần một tiếng nói vào thời điểm quan trọng ấy Đó là lý do ra đời của TNĐL Cuối thỏng
8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lónh tụ Hồ Chớ Minh soạn thảo bản Tuyờn ngụn Độc lập Và ngày 2/9/1945; tại quảng trường Ba Đỡnh, Hà Nội, Người thay mặt Chớnh phủ Lõm thời
nước Việt Nam Dõn chủ Cộng hoà, đọc bản Tuyờn ngụn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta,khai sinh ra nước Việt Nam Dõn chủ Cộng hũa, mở ra một kỷ nguyờn mới Độc lập, Tự do
2 Đối tượng và mục đích sáng tác:
* Đối tượng:
- Đồng bào cả nước và nhân dân thế giới
- Thực dân Pháp và các nước đồng minh với Pháp
* Mục đích:
- Khẳng định và tuyên bố độc lập
- Bác bỏ lý lẽ điêu toa, cướp nước của thực dân Pháp
-> Hai mục đích này có quan hệ chặt chẽ: Muốn tuyên bố độc lập phải bác bỏ được luận điệu của Pháp
và ngược lại
3 Nội dung và cách lập luận:
* Cơ sở pháp lý của nền độc lập của dân tộc Việt Nam:
- Trích dẫn tuyên ngôn: Đều là những chân lí kđ những quyền cơ bản của con người nói chung
- Mục đích, ý nghĩa của việc trích dẫn:
• Khẳng định hùng hồn: nhân dân Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, quyền bình đẳng vàquyền hạnh phúc như tất cả các dân tộc khác trên thế giới
• Từ quyền con người, Bác nâng lên kđ quyền tự do độc lập của các dân tộc, trong đó có dân tộcViệt Nam
Tiểu kết:
- Cách lập luận vừa khéo léo vừa kiên quyết, tạo sức thuyết phục cao:
• Khéo léo: Đồng tình, trân trọng tuyên ngôn của dân tộc Pháp và Mỹ (kẻ thù)
• Kiên quyết: Lấy chính lý lẽ của họ để thuyết phục (khóa miệng) họ - lấy gậy ông đập lưng ông
- Thể hiện rõ niềm tự hào dân tộc
* Cơ sở thực tiễn nền độc lập của Việt Nam dưới sự bảo hộ, khai hoá của Pháp:
- Về quân sự: bán nước ta hai lần cho Nhật
-> Nước ta không phải là thuộc địa của Pháp kể từ khi chúng bán nước ta cho Nhật Pháp hèn nhát,không bảo vệ được nhân dân ta khỏi thảm hoạ phát xít Nhật; phản bội đồng minh
Tóm lại: các luận điểm đưa ra nhằm tố cáo chính sách cai trị vô nhân đạo của Pháp ở VN: vơ vét của
cải, khủng bố giết chóc, bán nước,…Chúng không có quyền tiếp tục khai hoá, bảo hộ nước ta
+ Về phía nhân dân ta:
Trang 2- Nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật.
- Đứng về phía đồng minh đánh phát xít
* Tóm lại: Nhân dân ta chứ không phải Pháp, đã giành độc lập từ tay Nhật bằng chính sức lực và
xương máu của mình Nhân dân ta phải là chủ nhân chân chính của nước Việt Nam
+ Về phía các nước đồng minh:
- Đã công nhận nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở hội nghị Tê-hê-răng
-> Phải đương nhiên công nhận quyền của dân tộc Việt Nam
Tiểu kết:
- Thực dân Pháp không có quyền gì ở Việt Nam
- Chúng ta có quyền được hưởng độc lập, là chủ nhân chân chính, duy nhất của nước Việt Nam
- Các dẫn chứng đều là các sự thực lịch sử khách quan -> làm cho lập luận trở nên chặt chẽ, thuyếtphục, tạo tính chiến đấu mạnh mẽ cho tác phẩm
* Lời tuyờn bố với thế giới:
- Nước Việt Nam cú quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đó thành một nước tự do, độc lập
- Nhõn dõn đó và sẽ quyết tõm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy
4 Kết luận:
Vừa mang giá trị lịch sử vừa mang giá trị văn học
• Ghi dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc: khẳng định và tuyên bố chủ quyền, độc lập củaViệt Nam trước nhân dân thế giới; bác bỏ những quyền lợi của Pháp ở Việt Nam
• Tuyên ngôn độc lập như là một áng văn chính luận mẫu mực với hệ thống lập luận chặt chẽ,
giàu sức thuyết phục
TÂY TIẾN (Quang Dũng)
A Hoàn cảnh, xuất xứ:
1 Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến Đây là một đơn
vị thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Lào - Việt, đồngthời đánh tiêu hao địch và tuyên truyền đồng bào kháng chiến Địa bàn hoạt động của đoàn khárộng: từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa Lính TâyTiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có nhiều họcsinh, trí thức Sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn, gian khổ: trèo đèo, luồn rừng, lội suối, ănuống kham khổ, ốm đau không có thuốc men,…
2 Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về thành lập trung đoàn 52 Cuối
1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một
làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), ông viết bài thơ Nhớ Tây Tiến (Năm 1957, khi in lại Quang
Dũng bỏ chữ “nhớ”, có lẽ vì cho là thừa)
3 Bài Tây Tiến rút trong tập Mây đầu ô (NXB Tác phẩm mới, 1986)
B Phân tích bài thơ:
Đoạn 1 (Từ câu 1 đến câu 14)
Đoạn thơ đầu gồm 14 câu như những thước phim quay chậm tái hiện địa bàn chiến đấu của người lính
Tây Tiến Đó là thiên nhiên Tây Tiến, là những ngời lính Tây Tiến cùng những kỷ niệm ấm tình quân
dân
1 Nhà thơ nhớ về những miền đất trong nỗi nhớ “chơi vơi” “Chơi vơi” là nỗi nhớ không có hình,không có lượng, không ai cân đong đo đếm được, nó ám ảnh tâm trí con ngời Chữ “chơi vơi” hiệpvần với chữ “ơi” ở câu thơ trên khiến cho lời thơ thêm vang vọng
2 Trong nỗi nhớ “chơi vơi” ấy hiện lên cả một không gian xa xôi, heo hút, hiểm trở với những tên đất
xa lạ: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu
Trang 33 Câu thơ Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm với điệp từ “dốc” gối lên nhau cộng với từ láy tạo hình
“khúc khuỷu”, “thăm thẳm” làm sống dậy con đường hành quân hiểm trở, gập ghềnh, dài vô tận
Âm điệu câu thơ như cũng khúc khuỷu như bị cắt đoạn như đường núi khúc khuỷu, có đoạn lên caochót vót có đoạn xuống thăm thẳm Những câu thơ phần lớn là thanh trắc càng gợi cái trúc trắc, trụctrặc, tạo cảm giác cho độc giả về hơi thở nặng nhọc, mệt mỏi của người lính trên đường hành quân
Đây là cách nói thậm xưng thể hiện sự độc đáo của Quang Dũng Nếu chỉ thấy súng chạm trời thì tamới chỉ thấy được cái độ cao của dốc còn hình ảnh “súng ngửi trời” hàm chứa một ý nghĩa khác
Đó là vẻ tinh nghịch, chất lính ngang tàng như thách thức cùng gian khổ của người lính Tây Tiến.Câu thơ còn gợi cho ta cảm giác về độ cao, độ sâu không cùng của dốc Ta bắt gặp ý thơ này ở câu
thơ: Ngàn thước lên cao, ngàn thớc xuống Cả hai câu đều ngắt nhịp 4/3 ý thơ gấp khúc giữa hai
chiều cao thăm thẳm, sâu vòi vọi, dốc tiếp dốc, vực tiếp vực nhấn mạnh địa bàn hoạt động củanhững ngời lính vô cùng khó khăn, hiểm trở Vượt qua những khó khăn, hiểm trở đó đã là một kỳtích của những người lính
5 Vùng đất xa xôi hiểm trở với những nét dữ dội hoang dã:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mờng Hịch cọp trêu ngời Cảnh hiểm trở cheo leo nhưng đâu có tĩnh lặng thanh bình Với những từ oai linh, gầm thét thác n-
ước như một sức mạnh thiêng liêng, đầy quyền uy, đầy đe dọa, và những con hổ hoành hành ngangdọc coi mình là chúa tể của núi rừng làm cho cảnh càng thêm rùng rợn ghê sợ Các từ láy chiềuchiều, đêm đêm càng tô đậm cái hiểm nguy: rình rập người lính không chỉ ở mọi nơi, mà còn ở mọilúc trên con đường hành quân
6 Giữa những âm tiết toàn thanh trắc ấy chen vào câu thơ gần cuối đoạn thơ dài man mác toàn thanh
bằng: Nhà ai Pha Luông ma xa khơi Đây chính là hình ảnh thơ mộng mà hoang dã về thiên nhiên
Tây Tiến Câu thơ tạo nên nét thứ hai cho bức tranh về thiên nhiên Tây bắc: vừa hùng vĩ, hoang sơ,hiểm trở vừa đầy thơ mộng Cứ một nét bút gân guốc lại xen vào một nét bút mềm mại, trữ tình tạocho bức tranh về thiên nhiên Tây Tiến cân đối hài hòa
7 Nhắc lại những thử thách khắc nghiệt cũng là để nói đến sức chịu đựng bền bỉ của con người Từ
đây Quang Dũng vụt nhớ đến hình ảnh những đồng đội, dù can trường trong dãi dầu nhưng có khigian khổ đã vượt quá sức chịu đựng khiến cho người lính đã gục ngã, nhưng gục ngã trong tư thếhành quân Nói đến cái chết mà lời thơ cứ nhẹ như không, chẳng hề vương chút bi lụy QuangDũng không khoa trương tính cách anh hùng dũng cảm, cũng không nói đến cảnh bách chiến báchthắng Nhà thơ chỉ tả một tư thế: cái gian khổ ở trong đấy, cái anh hùng cũng ở trong đấy
8 Đang nói đến cái rùng rợn bí hiểm của rừng già nhà thơ bỗng nhớ lại một kỷ niệm ấm áp tình quândân
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Đoạn thơ ấm lại trong tình quân dân mặn nồng Hai câu cuối gieo vào tâm hồn độc giả một cảm xúc
ấm nóng của tình người Đây chính là chất lãng mạn bay bổng của đoạn thơ và nó tạo cho bức tranhmột nét vẽ thơ mộng, ấm áp
9 Đoạn thơ là sự phối kết hợp hài hòa giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn -> bức tranh của thiênnhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang dại, hiểm trở và người lính Tây Tiến với cuộc sống gian khổ, tinhthần anh dũng
Đoạn 2 Con người Tây Bắc duyên dáng và tài hoa và tâm hồn lãng mạn, trẻ trung của người lính Tây
Tiến
Cả đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên diễm lệ có sức hòa hợp diệu kỳ giữa thiên nhiên và con ngời.Đoạn này được xem là đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Quang Dũng
Câu mở đầu đoạn tạo cảm giác đột ngột bừng sáng Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa “Bừng lên”
vừa đột ngột, bất ngờ vừa thú vị Cả cảnh vật và lòng người đều bừng sáng lên Chất hào hoa trong
Trang 4bút pháp thể hiện của Quang Dũng đã bộc lộ ngay từ câu thơ đầu “Hội đuốc hoa” đây là cảnh thực.Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra dưới những cánh rừng, người đến dự đều cầm trên tay ngọn đuốc,gió thổi làm những ngọn đuốc lung linh phát ra những tia lửa Cảnh tượng này trong đêm quả thậtnhìn như hoa đuốc Cảm nhận của Quang Dũng vừa tinh tế vừa lãng mạn, câu thơ gợi sức liên t-ưởng, tưởng tượng cho ngời đọc
Kìa em xiêm áo tự bao giờ “Kìa em” lời chào đón đầy ngạc nhiên sung sớng đến ngỡ ngàng Lời
chào đón mang tính phát hiện Em lạ mà quen, quen mà lạ Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡcủa cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục
Khèn lên man điệu nàng e ấp Những âm thanh phát ra từ nhạc cụ của đồng bào Tây Bắc đối với
ngời lính Tây Tiến vừa lạ vừa có vẻ hoang dại mang tính sơ khai mà đậm bản sắc văn hóa dân tộc.Chính cái lạ ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiến gốc Hà Nội hào hoa Âm thanh kì
bí ấy hòa với vũ điệu em duyên dáng, e ấp, tình tứ Chính không khí của âm nhạc, vũ điệu ấy đã
chắp cánh cho tâm hồn những ngời lính Tây Tiến ngất ngây trước người và cảnh
Bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng ngời trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
Không gian dòng sông, bến bờ hoang dại giăng mắc một màu sương Những cây lau không còn vôtri vô giác mà có linh hồn Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa và lãng mạn mới cảm nhận đ-ược hồn lau đang bảng lảng dọc nẻo bến bờ Không gian nên thơ ấy làm nền cho người thơ xuất hiện:
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Câu thơ không tả mà gợi, gợi cái dáng mềm mại uyển chuyển của cô gái trên chiếc thuyền độc mộc.Cảnh rất thơ và người cũng rất tình Bởi vậy tác giả như ngây ngất đắm say trước cảnh và người ở đâycảnh như làm duyên với ngời
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Cảnh và ngời hòa quyện đồng điệu, tình tứ đến mê say trong cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng.Đoạn thơ bộc lộ chất trẻ trung, tài hoa, chất lãng mạn của Quang Dũng đến tuyệt vời
Đoạn 3: Người lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa
Chân dung người lính hiện lên ở khổ thơ thứ 3 có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lýtưởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh anh dũng Có thể nói cả bài thơ là một tượng đài đầy màu sắc bitráng về một đoàn quân trên một nền cảnh khác thường
Chân dung đoàn binh Tây Tiến được chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn Dọctheo hành trình, vẻ đẹp hào hùng kiêu dũng cứ lấp lánh dần lên, đến khi ngời lính Tây Tiến đốimặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật chói ngời, nét nào cũng sắc sảo lạ lùng và đầylãng mạn:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Chữ dùng của Quang Dũng ở đây thật lạ Nếu mở đầu đoạn thơ tác giả dùng từ “Đoàn quân” thì ởđây tác giả dùng “Đoàn binh” Cũng đoàn quân ấy thôi nhưng khi dùng “Đoàn binh” thì gợi hìnhảnh đoàn chiến binh có vũ khí, có khí thế xung trận át đi vẻ ốm yếu của bệnh tật Ba chữ “khôngmọc tóc” là đảo thế bị động thành chủ động Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng lâm tiều tuỵ bịrụng hết cả tóc Giọng điệu của câu thơ cứ y như là họ cố tình không mọc tóc vậy Nghe ngangtàng kiên bạc và thấy rõ sự bốc tếu rất lính tráng Các chi tiết “không mọc tóc, quân xanh màu lá”diễn tả cái gian khổ khác thường của cuộc đời người lính trên một địa bàn hoạt động đặc biệt Dichứng của những trận sốt rét rừng triền miên là “tóc không mọc” da xanh tái Nhưng đối lập vớingoại hình tiều tụy ấy là sức mạnh phi thường tự bên trong phát ra từ tư thế “dữ oai hùm” Vớinghệ thuật tương phản chỉ 2 dòng thơ Quang Dũng làm nổi bật vẻ khác thường của đoàn quân TâyTiến
Trang 5 Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
“Mắt trừng” biểu thị sự dồn nén căm uất đến cao độ như có khả năng thiêu đốt quân thù qua ánhsáng của đôi mắt Hình ảnh thơ làm nổi bật ý chí của đoàn binh Tây Tiến ở đây ngư ời lính TâyTiến được đề cập đến với tất cả thực trạng mệt mỏi, vất vả qua các từ “không mọc tóc”, “quânxanh màu lá” Chính từ thực trạng này mà chân dung người lính sinh động chân thực
Thế nhưng vượt lên trên khó khăn thiếu thốn, tâm hồn người lính vẫn cất cánh “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Câu thơ ánh lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến Ban ngày “Mắt trừng gửi mộng” giấc mộng chinh phu hướng về phía trận mạc nhưng khi bom đạn yên rồi giấc mộng ấy
lại hướng về phía sau, cũng là hướng về phía trước, phía tương lai hẹn ước Một ngày về trongchiến thắng để nối lại giấc mơ xa ý chí thì mãnh liệt, tình cảm thì say đắm Hai nét đẹp hài hòatrong tính cách của những chàng trai Tây Tiến
Quang Dũng đã dùng hình ảnh đối lập: một bên là nấm mồ, một bên là ý chí của những ng ờichiến binh:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
“Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh Những nấm mồ rải rác trênđường hành quân, nhng không thể cản được ý chí quyết ra đi của người lính Câu thơ sau chính làcâu trả lời dứt khoát của những con người đứng cao hơn cái chết Chính tình yêu quê hương đất n-ước sâu nặng đã giúp người lính coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Khi cần họ sẵn sàng hy sinh chonghĩa lớn một cách thanh thản bình yêu như giấc ngủ quên Câu thơ vang lên như một lời thề đúng
là cái chết của bậc trượng phu
áo bào thay chiếu anh về đất
Hình ảnh “áo bào” làm tăng không khí cổ kính trang trọng cho cái chết của người lính Hai chữ
“áo bào” lấy từ văn học cổ tái tạo vẻ đẹp của một tráng sĩ và nó làm mờ đi thực tại thiếu thốn giankhổ ở chiến trường Nó cũng gợi được hào khí của chí trai “thời loạn sẵn sàng chết giữa sa trờnglấy da ngựa bọc thây Chữ “về” nói được thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ của người tráng sĩ đi vàocái chết “Anh về đất” là hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng,người lính Tây Tiến trở về trong niềm chở che của đất mẹ quê hương, của đồng đội Trở về với nơi
đã sinh dưỡng ra mình Đoạn thơ kết thúc bằng khúc ca bi tráng của sông Mã
Dù đã ngã xuống trên đường hành quân nhưng hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng với đồng
đội, vẫn sống trong lòng đồng đội và thực hiện lý tưởng đến cùng Nói như Nguyễn Đình Chiểu:
Đề 1: Xét về phương diện nghệ thuật cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng là hai nét đặc sắc cơ
bản bao trùm bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng Hãy làm sáng tỏ điều đó qua phân tích bài thơ
Trang 6I Tìm hiểu đề
Để yêu cầu phân tích "Tây Tiến" theo định hướng làm sáng tỏ hai nét đặc sắc cơ bản bao trùm bài thơ
này là cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng Đề có những đòi hỏi rất cao đối với việc lập ý và
tìm dẫn chứng Để bài viết đi đúng hướng, cần giải thích qua các khái niệm cảm hứng lãng mạn và
âm hưởng bi tráng, sau đó, dựa vào nội hàm của các khái niệm mà triển khai ý và đưa vào những dẫn
chứng phù hợp Bài viết sẽ lạc đề, xa đề nếu đi vào phân tích bài thơ qua từng đoạn một mà khôngtheo một định hướng nào cả (dù cho việc phân tích ấy có được tiến hành kĩ lưỡng đến đâu thì cũngvậy")
II.Dàn bài
A Mở bài: Giới thiệu bài thơ Tây tiến và các nét đặc sắc của nó
B Thân bài:
1 Phân tích cảm hứng lãng mạn của bài thơ
a) Giải thích thế nào là cảm hứng lãng mạn : Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng bày tỏ mạch cảm xúctràn trề của cái tôi trữ tình, nói cách khác là cảm hứng thể hiện một cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và
có trí tưởng tượng phong phú, bay bổng Bài thơ mang cảm hứng lãng mạn thường tô đậm cái phithường, cái có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ Nó thường xuyên sử dụng thủ pháp đối lập
b) Những biểu hiện của cảm hứng lãng mạn ở bài "Tây Tiến":
- Cả bài thơ được bao bọc trong nỗi nhớ nồng nàn Từ "nhớ" được nhắc tới nhiều lần Tất cả các hìnhảnh trong bài thơ đều được sống động nhờ kí ức, cũng có nghĩa là nhờ nỗi nhớ
- Trí tưởng tượng của nhân vật trữ tình được thử sức vẫy vùng khiến cho cả bài thơ chứa đựng nhiều
so sánh, liên tưởng độc đáo: "sương lấp", "súng ngửi trời", "thác gầm thét", "Sông Mã gầm lên khúcđộc hành"
- Bài thơ có nhiều hình ảnh gây ấn tượng mạnh về vẻ đẹp vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng trữ tìnhcủa dải đất miền Tây Bắc Tổ quốc Hùng vĩ, dữ dội với dốc cao, thác dữ, mưa lớn Thơ mộng trữ tìnhvới mùi "thơm nếp xôi", với "hồn lau", "chiều sương", với "hoa đong đưa" trên dòng nước lũ Tất cảđều đạt tới mức độ tuyệt đỉnh
- Cảm hứng lãng mạn của bài thơ tăng lên khi nó đi sâu miêu tả bản tính lãng mạn, mộng mơ củanhững người lính Tây Tiến Họ say ngắm những vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên trên bước đườnghành quân, họ hào hứng tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng náo nhiệt, họ giữ trong tim hình ảnhnhững kiều nữ chốn đô thành
- Bài thơ sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập - một thủ pháp quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn Sự đốilập ở đây có nhiều cấp độ: đối lập về hình ảnh, đối lập về thanh điệu, đối lập ở các chuỗi vần, đối lập ở
từ ngữ, đặc biệt là đối lập trong những nét tính cách của người lính Tây Tiến
2 Phân tích âm hưởng bi tráng của bài thơ:
a) Giải thích thế nào là âm hưởng bi tráng Bi tráng là buồn đau mà không bi lụy, vẫn mạnh mẽ, rắnrỏi, gân guốc
b) Những biểu hiện của âm hưởng bi tráng ở bài "Tây Tiến":
- Bài thơ không ngần ngại nói tới những gian nan ghê gớm mà các chiến sĩ phải trải qua Dốc cao, vựcsâu, thú dữ, dịch bệnh luôn đe dọa Đặc biệt nhiều lần bài thơ nói đến cái chết
- Bên cạnh những chi tiết miêu tả cuộc sống gian khổ, bài thơ cũng chứa đựng nhiều chi tiết nói về sựcan trường, mạnh mẽ của những người lính Họ sẵn sàng đương đầu với thử thách, coi cái chết nhẹ tựalông hồng, quyết chí theo đuổi đến cùng lí tưởng chiến đấu vì Tổ quốc
- Hơi thơ cổ kính cùng việc nhấn mạnh cố ý vào nét trượng phu của người lính cũng góp phần làmtăng tính chất bi tráng của tác phẩm
Đề 2: Phân tích hình tượng người lính trong bài thơ Tây tiến.
1 Giới thiệu khái quát:
- Quang Dũng (1921-1988) là nghệ sĩ đa tài nhưng nổi bật là thơ Tây Tiến là bài thơ nổi bật nhất
trong đời thơ của ông nói về những kỷ niệm với trung đoàn Tây Tiến
- Trung đoàn Tây tiến thành lập năm 1947, hoạt động ở vùng biên giới Tây Bắc hoang vu, khắcnghiệt Đơn vị phần lớn là thanh niên Hà Nội: học sinh, sinh viên, trí thức… mà Quang Dũng là mộtthành viên
Trang 7- Cuối năm 1948, Quang Dũng rời xa Tây Tiến Cảm xúc về những kỉ niệm dâng trào, ông viết Nhớ Tây Tiến (in lần đầu năm 1949) sau đổi là Tây Tiến Bài thơ đặc biệt thành công trong việc khắc hoạ
hình tượng người lính
2 Hình tượng người lính Tây Tiến:
- Vẻ đẹp hào hùng:
+ Trong cuộc trờng chinh gian khổ: người lính ở đây là những trí thức, học sinh, sinh viên xuất thân
Hà Nội, chưa quen với gian lao, lại phải ném vào cuộc hành quân dài ngày, địa hình hiểm trở, khắcnghiệt, phải đối mặt với cái chết từ nhiều phía
+ Tư thế hành quân, dáng vẻ dữ dội khác thường của người lính (chú ý một số hình ảnh: gục lên súng mũ bỏ quên đời, đoàn binh không mọc tóc, xanh màu lá, dữ oai hùm, mắt trừng…)
+ Lí tưởng chiến đấu cao đẹp và tinh thần hi sinh cho Tổ quốc (đi sâu phân tích các hình ảnh: những
nấm mồ viễn xứ, chẳng tiếc đời xanh, chẳng về xuôi, âm thanh trầm hùng của sông Mã đưa tiễn những
người con hi sinh về đất mẹ
- Vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn:
+ Vẻ đẹp của tình người: gian khổ, ác liệt, hi sinh, người lính ở đây vẫn là những con người mơmộng, lãng mạn, quyến luyến tình người (tình cảm với cô gái Mai Châu mùa cơm mới, những cô gáixiêm áo rực rỡ vừa e lệ vừa tình tứ trong đêm hội đuốc hoa, dáng kiều thơm của cô gái Hà thành, dánghình sơn nữ trên con thuyền độc mộc)
+ Cảm xúc về thiên nhiên: tinh tế trong phát hiện và cảm nhận cái đẹp (một nếp nhà sàn thấp thoángtrong mưa, hồn lau nơi bờ suối, dáng hình sơn nữ buổi hoàng hôn, bông hoa đong đưa trên dòng nư-ớc…) Dễ say đắm trước những vẻ đẹp man sơ và khác lạ (dốc thăm thẳm, cồn mây heo hút, thác gầmthét, cọp trêu người…)
+ Tâm hồn lạc quan, yêu đời, nguyện dấn thân vào cuộc chiến đấu được thể hiện qua quan niệmlãng mạn về người anh hùng (coi cái chết nhẹ tựa lông hồng) và qua nếp sinh hoạt văn hoá ngay trongnhững ngày gian khổ, hi sinh (những đêm liên hoan văn nghệ trong rừng sâu)
- Nghệ thuật của ngòi bút Quang Dũng trong khắc hoạ hình tượng người lính:
+ Hình ảnh đặc sắc (đoàn binh không mọc tóc, xanh màu lá, giữ oai hùm), ngôn từ mới lạ và sự kết hợp của các từ cổ với các từ ngữ dân dã, đời thường (biên cương, viễn xứ, kiều thơm, chiếu, đất, bỏ quên đời, chẳng về xuôi) tạo được vẻ cứng cỏi ngang tàng của người lính gần với các tráng sĩ trong
văn học cổ mà vẫn hiện đại
+ Bút pháp hiện thực đan xen bút pháp lãng mạn, thủ pháp đối lập - tạo nên vẻ lãng mạn, bay bổngcủa người lính mà vẫn rất chân thực, tạo âm hưởng bi tráng cho bài thơ
3 Đánh giá:
- Thành công trong việc khắc hoạ hình tượng người lính xuất thân Hà Nội đã làm hoàn thiện gương
mặt người lính kháng chiến chống Pháp năm xưa, đặt Tây Tiến vào vị trí không thể thay thế trong thơ
ca về đề tài người lính
- Tài hoa, tấm lòng xúc động chân thành của Quang Dũng đã dựng nên tượng đài bất tử về ngườilính vô danh trong cuộc chiến đấu hi sinh cho Tổ quốc
Đề 3: Luyện viết: (20 phút) Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"
1 Giới thiệu đoạn thơ.
Tây Tiến là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Quang Dũng và của thơ ca Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp Tây Tiến viết về những kỷ niệm của một đoàn quân chiến đấu
ở vùng biên giới Việt - Lào Đây là một vùng rừng núi hoang vu với nhiều đèo cao, vực sâu, thú dữ…Thiên nhiên khắc nghiệt, hiểm trở nhng cũng rất hùng vĩ, nên thơ Đoạn thơ sau đã khắc hoạ rõ nétbức tranh thiên nhiên đặc sắc ấy, đoạn thơ nằm ở phần đầu bài thơ ( trích dẫn đoạn thơ)
2 Ba câu thơ đầu tái hiện vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ của thiên nhiên miền Tây Tổ Quốc Với bút pháp
lãng mạn, Quang Dũng đã miêu tả rừng núi nơi biên cương với vẻ đẹp vừa hoành tráng, dữ dội, hiểmtrở, vừa huyền bí, hoang sơ nhưng rất đỗi thân thương, gắn bó với người lính
Trang 8- "Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm" - một câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc gợi lên cảm giác góccạnh, gồ ghề, đầy nguy hiểm của thiên nhiên đồng thời cũng thể hiện được nỗi vất vả, gian nan củangười lĩnh Tây Tiến
- "Heo hút cồn mây súng ngửi trời" - câu thơ vừa mô tả được chiều cao của vách núi vừa thể hiện ược sự tinh nghịch, lạc quan của người chiến sĩ
đ "Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống" đ câu thơ thứ ba ngắt nhịp ở giữa gợi lên được sự gậpghềnh, khúc khuỷu và hiểm trở của thiên nhiên Ba câu thơ đầu tái hiện rõ nét những vất vả, gian truâncủa người chiến sĩ Tây Tiến trên con đường hành quân chiến đấu, chính những khung cảnh thiên nhiên
đã nâng cao tầm vóc của người chiến sĩ
3 Câu thơ cuối "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi" - Quang Dũng sử dụng toàn thanh bằng tạo nên
một hình ảnh gần gũi thân thuộc một dấu hiệu bình yên giữa mênh mông rừng núi hiểm trở, xa lạ Câuthơ đồng thời cũng thể hiện được tâm trạng thảnh thơi thở phào nhẹ nhõm của người lính khi lên tớiđỉnh dốc và nhìn thấy những bản làng thấp thoáng ẩn hiện
Đề 4: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
" Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Ao bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
I.Tìm hiểu đề : Bài thơ Tây Tiến ghi lại những nỗi nhớ thiết tha của Quang Dũng về một thời gian khổ
nhưng rất đỗi hào hùng, lẫm liệt của đoàn binh đặc biệt này Trong bốn đoạn của bài thơ, đoạn thơ trên(đoạn ba) có ý nghĩa quan trọng Đó là chân dung đoàn binh Tây Tiến được tả bằng ngòi bút giàu chấttạo hình, bằng cảm hứng lãng mạn, bi tráng Nếu nói rằng màu sắc thẩm mĩ đặc biệt của bài thơ TâyTiến chính ở cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng thì đoạn thơ này có lẽ là dẫn chứng tiêu biểunhất Đây cũng là định hướng cho sự cảm nhận của người bình giảng Nói cách khác, khi bình giảngđoạn thơ, cần làm nổi bật lên cảm hứng lãng mạn, âm hưởng bi tráng trong ngôn từ trong hình ảnh, nhịpđiệu
Về mặt phương pháp, căn cứ vào sự phát triển của nội dung cảm xúc, nên bình giảng đoạn thơ này theotừng cặp câu
II.Dàn bài
A Mở bài
- Khẳng định vị trí nổi bật của Tây Tiến trong dòng thơ ca viết về anh bộ đội của nền thơ kháng chiếnchống Pháp
Bài thơ hấp dẫn ta bởi dung hợp được những sắc màu thẩm mĩ đối lập
- Nhắc qua những nội dung của hai đoạn thơ trước để đi đến các nội dung cảm xúc ở đoạn 3 này: dựng
tả chân dung đoàn binh, biểu hiện đời sống tâm hồn, ngợi ca lí tưởng cao cả và sự hi sinh bi tráng củangười lính Tây Tiến
B Thân bài
1) Cặp câu thứ nhất : Chân dung đoàn binh Tây Tiến được dựng tả bằng nét bút vừa hiện thực, gân
guốc vừa lãng mạn hào hùng
Biện pháp nghệ thuật tương phản giữa ngoại hình gầy gò, xanh xao với sức mạnh tinh thần đã gây ấntượng khác thường của đoàn binh Tây Tiến
2) Cặp câu thứ hai: Sự biểu hiện chân thực đời sống tâm hồn mộng mơ của chàng trai Tây Tiến chứ
không “mộng rớt" "buồn rớt" như một thời nhiều người phê phán
3) Cặp câu thứ ba: Sự kết hợp hài hoà giữa bi (câu trước) và tráng (câu sau) để thành khúc ca bi tráng
về người lính Tây Tiến Tinh thần lãng mạn hào hùng, ý nguyện xả thân thanh thản và cao cả của mộtthế hệ qua các chữ "chẳng tiếc đời xanh”
4) Cặp câu thứ tư: Ca ngợi sự hi sinh bi tráng của người đồng đội Tây Tiến Hình ảnh "áo bào thay
chiếu" tạo âm hưởng cổ điển trang trọng Chữ "về đất" ca ngợi sự hi sinh thanh thản, vô tư Khúc
Trang 9"độc hành" của dòng sông Mã hoà vào nỗi sót đau, như tô đậm vẻ lẫm liệt cao cả của người lính TâyTiến Đoạn thơ khép lại bằng một âm thanh thơ như còn ngân dài, vang xa mãi.
C Kết bài: Đoạn thơ dựng nên bức tượng đài về đoàn binh Tây Tiến với những vẻ đẹp phong phú.
Nó là kết quả của một tình cảm mến yêu, tự hào, cảm phục sâu sắc, của một ngòi bút thi sĩ tài hoa
• Thấy được những nét đặc sắc của nghệ thuật thơ Chế Lan viên
B Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ bài thơ:
1 Tiếng hát con tàu (in trong tập ánh sáng và phù sa, xuất bản năm 1960) được gợi cảm hứng từ một
chủ trương lớn của Nhà nước vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi vàonhững năm 1958 - 1960 ở miền Bắc Nhng xét sâu hơn, bài thơ ra đời chủ yếu vì nhu cầu giãi bàytình cảm ân nghĩa của tác giả đối với nhân dân, đối với cuộc đời và cách mạng
2.Bài thơ ra đời khi chưa có đường tàu lên Tây Bắc Hình ảnh con tàu thực chất là hình ảnh biểu
tư-ợng, thể hiện khát vọng lên đường và niềm mong ước của nhà thơ được đến với mọi miền đất nước
Tiếng hát con tàu, như vậy, là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ - một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lý
tởng, vào cuộc đời Tâm hồn nhà thơ đã hóa thân thành con tàu, hăm hở làm cuộc hành trình đến vớiTây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân Đến với đất nước, nhân dân cũng là đến với cội nguồncủa cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ ca
C Kiến thức cơ bản
I.Giới thiệu chung
Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Trước cách mạng, tập thơ “Điêu tàn”của Chế Lan Viên xuất hiện giữa làng thơ như một “niềm kinh dị” bởi cái tôi cô đơn, chìm đắm trongsuy tư siêu hình Sau cách mạng, Chế Lan Viên đã làm một cuộc hành trình từ bỏ nỗi cô đơn để hòanhập với cuộc đời; ông gọi đó là hành trình “từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”, “từ chântrời của một người đến chân trời của tất cả”
“Tiếng hát con tàu” là tiếng hát của một tâm hồn trên hành trình ấy Đây cũng là một trong những
thành công tiêu biểu của phong cách Chế Lan Viên - phong cách triết luận, tâm tình Tác giả viết vềhành trình đi đến Tây Bắc, đến với nhân dân trong cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựngkinh tế ở miền núi mà như về với cội nguồn của cuộc sống, cội nguồn của thơ ca Cảm hứng ấy khiếnbài thơ không sa vào minh họa tuyên truyền phục vụ cho chủ trương chính sách, vượt qua sự kiện mộtthời để đến với muôn đời
II.Phân tích
1 Nhan đề và khổ thơ đề từ mang tính biểu tượng chứa đựng xúc cảm chủ đạo
Trong các tác phẩm, ta thường hay gặp những nhan đề, lời đề từ giàu nghĩa biểu tượng “Tiếng hátcon tàu” của Chế Lan Viên là một bài thơ như thế
Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn chưa có đường tàu lên Tây Bắc Vậy mà 40 năm trước đây, Chế LanViên đã vẽ ra hình ảnh con tàu và ca lên tiếng hát trên hành trình của nó Điều đó có vẻ phi thực tế DùChế Lan Viên viết theo lối tượng trưng hóa, không có nghĩa là nghệ thuật được phép bất chấp thực tế.Phải đặt bài thơ vào thời điểm ra đời mới hiểu và cắt nghĩa được chiều sâu ý tưởng trong biểu tượng
“con tàu Tây Bắc” của Chế Lan Viên Đó là thời kì trên khắp đất nước đang dấy lên những phong tràorầm rộ hành quân lên những miền xa xôi để xây dựng kinh tế mới, xây dựng cuộc sống mới Trongkhông khí náo nức ấy, Chế Lan Viên đã tìm đến hình tượng đoàn tàu hăm hở, khẩn trương để diễn tả
Trang 10cuộc hành trình của cá nhân mình và của toàn dân tộc trong sự chuyển mình lớn lao đó Con tàu ở đây
là biểu tượng cho khát vọng ra đi đến với nhân dân, đến với những miền xa xôi của đất nước; đồngthời cũng là đến với mơ ước, đến với những ngọn nguồn nghệ thuật
Còn Tây Bắc, ngoài nghĩa cụ thể của một vùng đất, còn gợi đến mọi miền xa xôi của Tổ quốc, nơi
có cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa tình của nhân dân, nơi ghi khắc những kỷ niệm kháng chiếnkhông thể nào quên Lời giục giã mời gọi lên Tây Bắc, ra đi cũng chính là trở về với chính lòng mình,tìm đến tâm hồn mình với những tình cảm sáng trong, nghĩa tình sâu nặng, gắn bó với nhân dân, đất n-
ớc Vì thế 4 câu thơ đề từ của bài (mà tác giả có ý định làm đề từ chung cho một chùm thơ) có tínhkhái quát rộng hơn vượt lên các sự việc cụ thể:
“Tây Bắc ? Có riêng gì Tây BắcKhi lòng ta đã hóa những con tàu,Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hátTâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu ?”
Lời đề từ vốn được coi như chiếc chìa khóa, mở vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Trường hợplời đề từ bài thơ này của Chế Lan Viên là như thế, khổ thơ đề từ được viết theo lối lý giải định nghĩa -một sự lý giải nghiêng về triết lí, biện chứng, mang đậm chất trí tuệ - phong cách Chế Lan Viên ở sứckhái quát gợi mở và đa nghĩa của ngôn từ
Cái độc đáo ở chỗ không phải đến với Tây Bắc chỉ là về với nhân dân, Tổ quốc mà là đến với chínhhồn mình Tây Bắc ở trong mình - Tây Bắc trở thành một hình tượng đa nghĩa như thế là vì nhà thơ đãdùng biện pháp tượng trưng biến một vùng đất cụ thể hạn hẹp thành một hình tượng có ý nghĩa kháiquát mang tính biểu tượng Nhà thơ đã tìm thấy mối liên hệ giữa mình và cuộc sống Mình là con tàuđang hăm hở đến với cuộc sống, đến với nhân dân, đến với những kỉ niệm trong 9 năm kháng chiến cónghĩa là trở về chính mình Tây Bắc, là tất cả Nó không còn là hình tợng mà trở thành biểu tượng,biểu tượng tập trung xúc cảm chủ đạo của bài thơ
2 Diễn biến tâm trạng của tác giả qua bài thơ
Bài thơ như bản giao hưởng tâm trạng với 3 chương khúc, từ “trăn trở” đến “hoài niệm” để rồi “lênđường” ! Từ cấu tạo phi tuyến tính này, tính ra “trăn trở” và “hoài niệm” đã chiếm tỉ trọng khá lớn(11/15 khổ thơ) Có thể coi đó là phần chuẩn bị, phần khởi động của con tàu, đối với Chế Lan Viênđây cũng là phần quan trọng nhất: tự vượt lên chính mình
ở khúc hát thứ nhất, những trăn trở dằn vặt nhận thức được diễn tả bằng hình thức phân thân: Nhàthơ tách đôi mình ra bằng đại từ “anh” để khách thể hóa chủ thể, tạo một cuộc đối thoại giả định:
“Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng ?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô ? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi ?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia
Cái lõi của đối thoại ở đây lại là độc thoại, là cuộc tự vấn hối thúc giục giã với hệ thống câu hỏi riếtróng: Anh đi chăng ? Anh có nghe ? Sao chửa ra đi ? Những câu hỏi cứ xoáy sâu vào chủ thể Giọngđiệu day dứt, tự gọt đến tận lõi tạo độ sâu đặc biệt cho cảm hứng trữ tình Khúc hát đầu lấy đà cho sựnhận thức, khởi động cảm xúc cho con tàu tâm hồn trước giờ lăn bánh vào cuộc hành trình lớn lao rấtđỗi thiêng liêng này
Khúc “hoài niệm” chiếm đến 9 khổ thơ giữa cội nguồn sâu xa của khát vọng lên đường là những kỉniệm kháng chiến Kỉ niệm bao giờ cũng nâng cánh cho ước mơ; quá khứ tươi đẹp bao giờ cũng giúpcon người vượt lên những ngáng trở hiện tại đến với tương lai Kỷ niệm kháng chiến không còn là kỉniệm mà còn là nguồn ánh sáng diệu kỳ soi đường chỉ lối vẫy gọi con người băng lên phía trước:
Trang 11“Ơi kháng chiến ! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau còn đủ sức coi đường”
Những con số “mười năm”, “nghìn năm” đó không đơn giản là những từ chỉ số Đó là biên độ lớnrộng của kí ức sống động, lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ Điều kì diệu nhất là kháng chiến tạo racuộc gặp gỡ lớn lao này:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ,
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
Nếu hiểu Chế Lan Viên từng tự đay nghiến mình một thời lỡ nhịp với nhân dân: “có thể nào quênmột thời thơ ấy, Tổ quốc ở trong lòng có cũng nh không, nhân dân quanh ta mà ta chẳng thấy, thơ xuôitay nh nớc chảy xuôi dòng, thì mới thấm thía hết giọng cảm động rng rng trong những câu thơ trên.Niềm hạnh phúc về với nhân dân đợc diễn tả bằng 5 phép so sánh, tạo thành chuỗi so sánh kép, thểhiện cường độ hành phúc trong chuỗi hình ảnh lấp lánh vô tận Tìm về với nhân dân là về với hạnhphúc của chính mình Từ những xúc động chung, quá khứ sống dậy thật cụ thể mang xu thế triết líkhái quát từ những nếm trải sâu sắc của nhà thơ cùng Tây Bắc
“Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ,
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương ?
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn !”
Hai câu đầu gợi nỗi nhớ về những miền đất xa xôi đã từng gắn bó thân thuộc với ngời cán bộ khángchiến Nỗi nhớ rất thực nhưng cũng mộng ảo nhờ chất nhạc chủ đạo của câu thơ 8 chữ, nhờ hình ảnhcủa “sương giăng, mây phủ” nơi đèo cao bản vắng Từ cái nền vững chắc của nhạc, hoạ và cảm xúc,hai câu sau tỏa sáng một triết lý về qui luật của đời sống tâm hồn: khi gắn bó hết mình với cuộc sốngngoài mình, tới một lúc nào đó sự sống bên ngoài sẽ chuyển hóa thành sự sống bên trong Khách thể
đã hòa nhập chủ thể: “đất hóa tâm hồn” Tâm hồn con ngời đợc trở nên phong phú, giàu có lại chính lànhờ gắn bó, tiếp nhận, chuyển hóa cái sự sống bao la muôn vẻ và vô tận của đời sống, mà trớc hết làđời sống của nhân dân, đất nớc Quy luật của đời sống tâm hồn cũng chính là qui luật của sáng tạonghệ thuật
Nhưng kết tinh cao độ bút pháp nghệ thuật và xúc cảm của tác giả là ở khổ thơ sau: “Anh bỗng nhớ em nh đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương
Một chùm hình ảnh so sánh liên tưởng đột ngột, táo bạo, giàu ấn tượng, đậm tính triết lí đã dọn ường cho một triết lí mới: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương Đó là quá trình biến hóa từ cái cụ thểnhưng xa xôi thành cái trừu tượng mà thân thiết: “đất lạ hóa quê hương” Phép màu của sự biến đổi này
đ-là tình yêu Phải chính nhờ tình yêu mà những câu thơ cô đúc như những châm ngôn triết lý khôngkhô khan giáo huấn, bởi nó xuất phát từ quy luật tình cảm, quy luật của trái tim và được cảm nhậnbằng chính trái tim
Kết hợp cảm xúc và suy tưởng, nâng xúc cảm tình cảm lên trong những suy ngẫm triết lý Đó làthành công của đoạn thơ này và cũng là ưu điểm của thơ Chế Lan Viên trong những bài thành côngnhất
Bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đường đầy lôi cuốn, sôi nổi, mê say, nhưng cũng tiếp tục phát triểnmạch suy tưởng của bài thơ lên một bước nữa
Tiếng gọi của đất nước của nhân dân của đời sống đã thành sự thôi thúc bên trong thành lời giục giãcủa chính lòng mình nên càng không thể chần chừ:
Trang 12“Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi
Tình em đang mong tình mẹ đang chờ”
Từ giục giã trở thành nỗi khát khao: “Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga” - “Mắt ta nhớ mặt người, tai
ta nhớ tiếng” Trong đoạn này, cùng với âm hưởng sôi nổi của cao trào cảm xúc là những hình ảnhphong phú, biến hóa sáng tạo, chủ yếu là hình ảnh biểu tượng và ẩn dụ Hình ảnh con tàu trên đoạnđầu được trở lại thành hình ảnh trung tâm cùng với những “mùa nhân dân giăng lúa chín” gợi nên cảmgiác đam mê ngây ngất Sự tỉnh táo lí trí ở phần đầu đến đây nhường chỗ cho cảm xúc lãng mạn, baybổng Đây là khổ thơ kết cũng là khổ thơ về đích Tây Bắc - Biểu tượng cho đất nước nhân dân, chongọn nguồn sáng tạo thơ ca, là cái ga tinh thần mà con tàu tâm hồn tác giả đang băng tới
3 Đặc sắc nghệ thuật
Nét đặc sắc nổi bật của nghệ thuật thơ trong bài này là sự sáng tạo hình ảnh Có những hình ảnh tảthực được quan sát từng chi tiết: “Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách”; có khi là những bức tranh toàncảnh: “bản sương giăng, đèo mây phủ” cho đến những quan sát rất tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm:
“lửa hồng soi tóc bạc”, “chim rừng lông trở biếc” Nhưng phong phú hơn cả là loại hình ảnh biểu ượng, hình ảnh ẩn dụ tượng trưng “con tàu, vầng trăng”, “vàng ta đau trong lửa”, “trái đầu xuân” cóthể nói câu thơ Chế Lan Viên được cấu tạo bằng hình ảnh, thường là xâu chuỗi liên kết thành chùm,hoặc tầng tầng lớp lớp Tác giả sử dụng nhiều biện pháp xây dựng hình ảnh, so sánh và ẩn dụ được sửdụng rộng rãi, đa dạng, sức liên tưởng và tưởng tượng rất mạnh mẽ, nhiều khi bất ngờ tạo ra những sosánh mới lạ
t-Chế Lan Viên từng cho rằng thơ cần có ý cho người ta nghĩ, cần có hình cho người ta thấy, cần cótình để rung động lòng người: “Thơ là đi giữa nhạc và ý Rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng dễ khôkhan, rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ say nhưng dễ nông cạn” “Tiếng hát con tàu” đã kết hợp được cả
ba yếu tố đó: Tình thơ thì vô cùng tha thiết, hình thơ thì vô cùng biến ảo, ý thơ thì sắc sảo suy tưởng.Tất cả kết lên khúc hát lên đường trên nền nhạc tâm tưởng Bài thơ đã đạt được sự nhuần nhuyễn giữacảm xúc và suy tưởng - một ưu điểm của thơ Chế Lan Viên trong tập “ánh sáng và phù sa”, cũng là củathơ ca muôn đời trong sự kết hợp hài hòa giữa ý - tình - hình - nhạc
- Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra Nhân sự kiện trọng
đại này, Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc.
- Bài thơ được trích trong tập Việt Bắc (1947 - 1954)
2 Lời Việt Bắc đối với người cán bộ cách mạng
Mở đầu là một câu hỏi ngọt ngào bâng khuâng:
Mình về mình nhìn sông nhớ nguồn
Tố Hữu đã khơi rất sâu vào nguồn mạch đạo lý ân nghĩa thủy chung của dân tộc để thể hiện tìnhcảm cách mạng Mười lăm năm ấy là trở về với cội nguồn những năm tiền khởi nghĩa sâu nặng biếtbao ân tình 4 câu thơ điệp lại 4 chữ mình, 4 chữ nhớ, 1 chữ ta hòa quyện 1 câu hỏi về thời gian (10năm ) một câu hỏi về không gian (nhìn cây ) Khổ thơ ngắn nhưng đã dồn góp lại cả một thời cáchmạng Tấm lòng người ở đã tỏ lộ giãi bày trong không gian, theo thời gian
Tiếng ai tha thiết nói gì hôm nay
Trang 13Quyến luyến không nỡ rời, xúc động nghẹn ngào nói không nên lời, tình cảm cồn cào bối rối ấy làmthay đổi cả nhịp thơ Tiết tấu 2/2 của nhịp lục bát bỗng xao động trong nhịp 3/3/2 diễn tả thật đắt tấmlòng người đi với người ở lại Dấu chấm lửng như khoảng trống khó lấp đầy, sự im lặng hàm chứa baoxao xuyến không lời.
Mình đi có nhớ những ngày Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa.
Có câu hỏi cụ thể : nhớ Tân Trào, Hồng Thái, trám bùi, măng mai; có câu hỏi trừu tượng: chiến khu, mối thù, lòng son ;phép tiểu đối 4/4 (hắt hiu lau xám > < đậm đà lòng son) Tất cả, đã giúp Tố
Hữu diễn tả thật đắt nỗi xao xuyến nhớ thương của người ở với người đi Đặc biệt câu thơ lục bát cuốikhổ:
Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào Hồng Thái, mái đình, cây đa
Ba chữ mình trong câu thơ 6 chữ đồng nhất tâm sự người đi, người ở đã tạo ra sự hô ứng đồng
vọng giữa người hỏi, người đáp, hòa thành bản hợp ca ngân vang những hòa âm tâm hồn 12 câu cấutạo thành 6 câu hỏi, mỗi câu thơ đều khắc khoải tâm tình da diết, khắc khảm vào lòng người đi những
kỉ niệm từ ngày đầu cách mạng Mái đình Hồng Thái, Cây đa Tân Trào được chuyển vế thành Tân Trào, Hồng Thái mái đình, cây đa mang đến cho ta một liên tưởng: Việt Bắc đã thật sự trở thành quê hương thứ hai của người cán bộ miền xuôi Bởi hình ảnh mái đình, cây đa ở đâu và khi nào cũng khơi
gợi trong tâm hồn người Việt hình ảnh quê hương
3 Lời người cán bộ cách mạng
Ta với mình, mình với ta … Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu Cách nói mình –ta của ca dao dân ca, điệp từ mình cùng với biện pháp nghệ thuật so sánh nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu khẳng định lòng thủy chung son sắt với cách mạng, với quê hương
kháng chiến của người cán bộ vê xuôi
Nhớ gì như nhớ người yêu … Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
- Hỡnh ảnh so sỏnh như nhớ người yêu thể hiện sự gắn bú tha thiết trong tỡnh cảm.
- Hỡnh ảnh gợi cảm đầy thi vị :bản khói cùng sương, bếp lửa, trăng lên đầu núi… gợi nhớ những nétmang đậm hồn người
Ta đi ta nhớ những ngày …Chày đêm nện cối đều đều suối xa
- Hình ảnh đắng cay ngọt bùi, thương nhau chia củ sắn lùi, bát cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng là hình
ảnh đậm đà giai cấp (Người Việt Bắc trong nỗi nhớ người về thật đáng yêu, đáng quý, nặng tỡnh nặngnghĩa, biết chia sẽ ngọt bùi
* Bức tranh tứ bình:
Ta về minh có nhớ ta … Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
a Đoạn này được xem là đặc sắc nhất Việt Bắc 10 câu lục bát thu gọn cả sắc màu 4 mùa, cả âm thanh
cuộc sống, cả thiên nhiên con người Việt Bắc
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Tố Hữu lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng : hoa - người Hoa là vẻ đẹp tinh tuý nhất của thiênnhiên, kết tinh từ hương đất sắc trời, tương xứng với con người là hoa của đất Bởi vậy đoạn thơ đượccấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên, câu bát nói tới con người Nói đến hoa hiển hiện hình người, nóiđến người lại lấp lóa bóng hoa Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau tỏa sáng bứctranh thơ Bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc
b Trước hết đó là nỗi nhớ mùa đông Việt Bắc - cái mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu, đến hôm nay vẫn
sáng bừng trong kí ức
Trang 14Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Câu thơ truyền thẳng đến người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ, trầm tĩnh của rừng già Cáimàu xanh ngằn ngặt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá Cái màu xanh chứa chất bao sứcmạnh bí ẩn “Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng” Màu xanh núi rừng Việt Bắc:
Nui giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tơi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn làm ấm cảkhông gian, ấm cả lòng người Hai chữ “đỏ tươi” không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứa đựng cảmột sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân
Có thể thấy cái màu đỏ trong câu thơ Tố Hữu như điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàng chốn rừngxanh đại ngàn, lấp lóa một niềm tin rất thật, rất đẹp Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng ấy, hìnhảnh con người xuất hiện thật vững trãi, tự tin Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi rừng, đứng trênđỉnh trời cùng tỏa sáng với thiên nhiên, “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
c Cùng với sự chuyển mùa (mùa đông sang mùa xuân) là sự chuyển màu trong bức tranh thơ: Màu
xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến Cả khônggian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Trắng cả không gian “trắng rừng”, trắng cả thời gian “ngày xuân” Hình ảnh này khá quen thuộc
trong thơ Tố Hữu, hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào trờng ca Theo chân Bác gợi tả mùa xuân
rất đặc trưng của Việt Bắc:
Ôi sáng xuân nay xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn người ở, thẫn thờ kẻ đi Người đikhông thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng Việt Bắc, và lại càng không thể không nhớ đếncon người Việt Bắc, cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc lao động thầm lặng
mà cần mẫn tài hoa:
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Hai chữ “chuốt từng” gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như bao yêu thương đợi chờ mongngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón Cảnh thì mơ mộng, tình thì đợm nồng.Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân vậy Tài tình như thế thật hiếm thấy
d Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua rừng phách - một loại cây rất thường gặp ở Việt Bắc hơn bất cứ nơi
đâu Chọn phách cho cảnh hè là sự lựa chọn đặc sắc, bởi trong rừng phách nghe tiếng ve ran, ngắm sắcphấn vàng giữa những hàng cây cao vút, ta như cảm thấy sự hiện diện rõ rệt của mùa hè Thơ viết mùa
hè hay xưa nay hiếm, nên ta càng thêm quí câu thơ của Tố Hữu:
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình
ở đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu - ấn tượng của thính giác đã đem lại ấn ượng thị giác thật mạnh Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây:Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh, những nụ hoa còn náu kín trong kẽ lá, khitiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông, đồng loạt tung phấn, cả
t-rừng phách lai láng sắc vàng Chữ đổ được dùng thật chính xác, tinh tế Nó vừa gợi sự biến chuyển
mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoa rừng phách khi có ngọn gió thoảng qua, vừathể hiện chính xác khoảng khắc hè sang Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh để gọi dậy màu sắc,dùng không gian để miêu tả thời gian Bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo
Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn: “Cô em gái hái măngmột mình” nghe ngọt ngào thân thơng trìu mến Nhớ về em, là nhớ cả một không gian đầy hương sắc.Người em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng Vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng ấy
Trang 15còn được tô đậm ở hai chữ “một mình” nghe cứ xao xuyến lạ, như bộc lộ thầm kín niềm mến th ươngcủa tác giả Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa
e Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao duyên trong
thời điểm chia tay giã bạn Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảm hoa trăng lunglinh huyền ảo
Dưới ánh trăng thu, tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình người Đại từ phiếm chỉ
“ai” đã gộp chung người hát đối đáp với mình làm một, tạo một hòa âm tâm hồn đầy bâng khuâng luluyến giữa kẻ ở, ngời đi, giữa con người và thiên nhiên
g Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riêng hòa kết
bên nhau tạo vẻ đẹp chung Đó là sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc Tiếng ve của mùa hè, tiếng hátcủa đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinh khôi của rừng mơ, vàng ửng củahoa phách Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật bình dị, thơ mộng trongcông việc lao động hàng ngày
4 Nhớ Việt Bắc kháng chiến, Việt Bắc anh hùng :
- Nhịp thơ sôi nổi náo nức gợi lên khung cảnh những ngày kháng chiến chống Pháp thật hào hùng nóđược vẽ bằng bút pháp tráng ca
- Hỡnh ảnh Việt Bắc sôi động trong những ngày chuẩn bị kháng chiến để đi đến thắng lợi cuối cùng
- Đoạn cuối: khẳng định vị trí quan trọng của VB lũng tin của toàn dân đối với BH ,khẳng định tìnhcảm thủy chung đối với quê hương cách mạng
- Điệp từ nhớ: với những sắc thái khác nhau theo
cấp độ tăng dần thể hiện tình cảm lưu luyến, nỗi nhớ da diết theo đó cũng được nâng cao
5 Kết luận:
Tiếng thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu đã mượn đợc hình thức cấu tứ giã bạn, kết cấu theo lối đốiđáp giao duyên và thể loại lục bát đậm đà tính dân tộc Nhờ vậy Tố Hữu đã thơ hoá sự kiện chính trịmột cách hiệu quả không ngờ Những câu thơ cân xứng trầm bổng, ngọt ngào vừa thể hiện đư ợc tìnhcảm đối với cách mạng, vừa nói được vấn đề rất to lớn của thời đại, vừa chạm được vào chỗ sâu thẳmtrong tâm hồn dân tộc: truyền thống ân nghĩa, thủy chung Việt Bắc đã đạt tới tính dân tộc, tính đạichúng Đó là sức sống trường tồn của bài thơ
- Tác phẩm thơ: Đất ngoại ô”, “Mặt đường khát vọng”,…
- Thơ của Nguyễn Khoa Điềm đậm đà, bỡnh dị, hồn nhiờn, giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thểhiện tâm tư của người thanh niên trí thức tham gia tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và thốngnhất đất nước
* Đất nước cảm nhận từ phương diện văn húa:
Đất nước có đó lõu rồi từ những ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất nước gắn liền với mĩ tục thuần phong, với cổ tích truyền thuyết Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn - Đất
Trang 16nước lớn lên khi dân mỡnh biết trồng tre mà đánh giặc – Tóc mẹ thì bới sau đầu – Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
Đất nước gắn bó với những cái bỡnh dị thõn thuộc quanh ta: Cỏi kốo, cỏi cột thành tờn /Hạt gạo phải một nằng hai sương xay, gió giần, sàng
Túm lại: có từ rất lâu, Đất Nước là những gì gắn bó, gần gũi, thân thiết với cuộc sống, với mỗi conngười chúng ta
* Đất nước cảm nhận từ phương diện không gian địa lí:
- Đất nước là nơi ta hũ hẹn, là nơi anh đến trường là nơi em tắm, là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm,…
- Đất nước gắn liền với dân ca con chim phượng hoàng bay về hũn nỳi bạc…, con cỏ ngư ông móng nước biển khơi, gắn liền với huyền thoại “Trăm trứng” thiêng liêng:
Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Túm lại: Đất Nước không chỉ có biên giới với núi bạc, với biển khơi mà Đất Nước chính là những
không gian sinh tồn của bao thế hệ người Việt, là nơi rất gần gũi, là nơi con người sinh sống, yêuthương nhau
* Đất nước cảm nhận từ phương diện thời gian lịch sử:
- ĐN là sự tiếp nối của nhiều thế hệ, từ quá khứ tới hiện tại và đến tương lai
- Mỗi thế hệ, mỗi cá nhân là một mắt xích trong sự phát triển ấy; sự gắn bú mỏu thịt giữa số phận của
từng cỏ nhõn với vận mệnh chung của cả cộng đồng: Gánh vác Dặn dò con cháu…
- Đất nước là của mọi người, trong đó có một phần của “anh và em hôm nay” Đất nước mỗi ngày mộttốt đẹp vững bền, trở nên “vẹn trũn to lớn” Đất nước hỡnh thành và trường tồn bằng máu xương của
mỗi chúng ta Tỡnh yờu nước là sự gắn bú và san sẻ Đây là một trong những đoạn thơ tâm tỡnh sõu
lắng, hay nhất trong bài thơ nói về tỡnh yờu đất nước:
Em ơi Đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ.
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời
tự cường…Mỗi tờn nỳi tờn sụng trở nờn gần gũi trong tõm hồn ta:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu
…
Những người dân nào đó góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…
Từng cảnh vật quê hương qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm hiện lên như một phần tâm hồn, máu
thịt của nhân dân: Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi / Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha / Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…
-> Qua cách cảm nhận độc đáo của nhà thơ, Đất Nước này do chớnh Nhõn Dõn tạo nờn, Nhõn Dõn đóđặt tờn và ghi dấu cuộc đời mỡnh lờn mỗi ngọn nỳi, dũng sụng, tấc đất
Trang 17* Nhân Dân, đặc biệt là những con người vô danh bình dị, là những người làm ra lịch sử, những giá trịvật chất và tinh thần:
- Có được lịch sử 4000 năm là nhờ công sức lao động, đánh giặc của lớp lớp các thế hệ
- Những giá trị vật chất và tinh thần: hạt lúa, ngọn lửa, giọng nói, tên xã, tên làng, cũng đều do Nhân
Dân sáng tạo và truyền lại cho các thế hệ sau
- Khi nghĩ về lịch sử 4000 của đất nước, tác giả không điểm lại các vương triều phong kiến, các anh
hùng nổi tiếng mà nhấn mạnh công đức những con người bình dị vô danh: Trong 4000 lớp người ra đất nước Chính những ngời vô danh bình dị ấy đã giữ gìn và truyền lại cho đời sau bó đuốc truyền
thống trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ
* Hỡnh ảnh người chèo đũ, kộo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnhNhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất nước đi tới một ngày mai vô cùngtươi sáng:
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu …
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi.
- Cách cảm nhận vất độc đáo về Đất Nước; giọng thơ tâm tình tha thiết; vận dụng tục ngữ ca dao, dân
ca, cổ tích, truyền thuyết…một cách hồn nhiên thú vị
Xuất xứ
Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh viết vào ngày 29/12/1967, lúc nhà thơ 25 tuổi Bài thơ rút trong
tập “Hoa dọc chiến hào” tập thơ thứ 2 của chị
Chủ đề
Tình yêu là sóng lòng, là khát vọng, là niềm mong ước được yêu, được sống hạnh phúc trong một
mối tình trọn vẹn của lứa đôi
Trong bài thơ tình của Xuân Quỳnh, Sóng là hình ảnh thiếu nữ đang sống trong một tình yêu nồng
nàn Sóng lúc thì “dữ dội và dịu êm”, có khi lại “ồn ào và lặng lẽ” Hành trình của sóng là từ sông