1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TAI LIEU ON THI VAO THPT CHI TIET

80 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 498 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm: Mặc dù am tờng và ảnh hởng nền văn hoá nhiều nớc, nhiều vùng trên thế giới nhng phongcách của Hồ Chí Minh vô cùng giản dị, điều đó đợc thể hiện ngay trong đời sống sinh hoạt củ

Trang 1

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

2 Tác phẩm:

Mặc dù am tờng và ảnh hởng nền văn hoá nhiều nớc, nhiều vùng trên thế giới nhng phongcách của Hồ Chí Minh vô cùng giản dị, điều đó đợc thể hiện ngay trong đời sống sinh hoạt củaNgời: nơi ở chỉ là một ngôi nhà sàn nhỏ bé với những đồ đạc mộc mạc, trang phục đơn sơ, ănuống đạm bạc

Đó là những câu thơ viết về Bác trong thời gian đầu của cuộc hành trình cứu nớc gian khổ.Câu thơ vừa mang nghĩa tả thực vừa có ý khái quát sâu xa Sự đối lập giữa một viên gạch hồnggiản dị với cả một mùa đông băng giá đã phần nào nói lên sức mạnh và phong thái của vị lãnh

tụ cách mạng vĩ đại Sau này, khi đã trở về Tổ quốc, sống giữa đồng bào, đồng chí, dờng nhchúng ta vẫn gặp đã con ngời đã từng bôn ba khắp thế giới ấy:

Nhớ Ngời những sáng tinh sơngUng dung yên ngựa trên đờng suối reoNhớ chân Ngời bớc lên đèo

Ngời đi, rừng núi trông theo bóng Ngời

(Việt Bắc - Tố Hữu)Còn nhiều, rất nhiều những bài thơ, bài văn viết về cuộc đời hoạt động cũng nh tình cảmcủa Bác đối với đất nớc, nhân dân Điểm chung nổi bật trong những tác phẩm ấy là phong tháiung dung, thanh thản của một ngời luôn biết cách làm chủ cuộc đời, là phong cách sống rấtriêng: phong cách Hồ Chí Minh

Với một hệ thống lập luận chặt chẽ và những dẫn chứng vừa cụ thể vừa giàu sức thuyếtphục, bài nghị luận xã hội của Lê Anh Trà đã chỉ ra sự thống nhất, kết hợp hài hoà của các yếutố: dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại để làm nên sự thống nhất giữa sự vĩ đại vàgiản dị trong phong cách của Ngời

Cách gợi mở, dẫn dắt vấn đề của tác giả rất tự nhiên và hiệu quả Để lí giải sự thống nhấtgiữa dân tộc và nhân loại, tác giả đã dẫn ra cuộc đời hoạt động đầy truân chuyên, tiếp xúc vớivăn hoá nhiều nớc, nhiều vùng trên thế giới Kết luận đợc đa ra sau đó hoàn toàn hợp lô gích:

"Có thể nói ít có vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hoáthế giới sâu sắc nh Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngời cũng chịu ảnh hởng tất cả các nền văn hoá, đãtiếp thu cái đẹp và cái hay " Đó là những căn cứ xác đáng để lí giải về tính nhân loại, tính hiện

đại − một vế của sự hoà hợp, thống nhất trong phong cách Hồ Chí Minh

Ngay sau đó, tác giả lập luận: "Nhng điều kì lạ là tất cả những ảnh hởng quốc tế đó đãnhào nặn với cái gốc văn hoá dân tộc không gì lay chuyển đợc ở Ngời, để trở thành một nhâncách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phơng Đông, nhng cũng đồngthời rất mới, rất hiện đại "

Đây có thể coi là lập luận quan trọng nhất trong bài nhằm làm sáng tỏ luận điểm chính nóitrên Trong thực tế, các yếu tố "dân tộc" và "nhân loại", "truyền thống" và "hiện đại" luôn có xu h-

Trang 2

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

ớng loại trừ nhau Yếu tố này trội lên sẽ lấn át yếu tố kia Sự kết hợp hài hoà của các yếu tố mangnhiều nét đối lập ấy trong một phong cách quả là điều kì diệu, chỉ có thể thực hiện đợc bởi một yếu

tố vợt lên trên tất cả: đó là bản lĩnh, ý chí của một ngời chiến sĩ cộng sản, là tình cảm cách mạng

đ-ợc nung nấu bởi lòng yêu nớc, thơng dân vô bờ bến và tinh thần sẵn sàng quên mình vì sự nghiệpchung Hồ Chí Minh là ngời hội tụ đầy đủ những phẩm chất đó

Để củng cố cho lập luận của mình, tác giả đa ra hàng loạt dẫn chứng Những chi tiết hết sức

cụ thể, phổ biến: đó là ngôi nhà sàn, là chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp đã từng đi vào thơ ca nhmột huyền thoại, là cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, là tình cảm thắm thiết đối với đồng bào,nhất là với các em thiếu nhi cũng đã trở thành huyền thoại trong lòng nhân dân Việt Nam.Với những dẫn chứng sống động ấy, thủ pháp liệt kê đợc sử dụng ở đây không những khônggây nhàm chán, đơn điệu mà còn có tác dụng thuyết phục hơn hẳn những lời thuyết lí dàidòng

Trong phần cuối bài, tác giả đã khiến cho bài viết thêm sâu sắc bằng cách kết nối giữa quákhứ với hiện tại Từ nếp sống "giản dị và thanh đạm" của Bác, tác giả liên hệ đến Nguyễn Trãi,

đến Nguyễn Bỉnh Khiêm − các vị "hiền triết" của non sông đất Việt:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Đây cũng là một yếu tố trong hệ thống lập luận của tác giả Dẫu các yếu tố so sánh khôngthật tơng đồng (Bác là một chiến sĩ cách mạng, là Chủ tịch nớc trong khi Nguyễn Trãi vàNguyễn Bỉnh Khiêm đợc nói đến trong thời gian ở ẩn, xa lánh cuộc sống sôi động bên ngoài)nhng vẫn đợc vận dụng hợp lí nhờ cách lập luận có chiều sâu: "Nếp sống giản dị và thanh đạmcủa Bác Hồ, cũng nh các vị danh nho xa, hoàn toàn không phải là một cách tự thần thánh hoá,

tự làm cho khác đời, hơn đời, mà đây là lối sống thanh cao, một cách di dỡng tinh thần, mộtquan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thểxác"

Bài văn nghị luận này giúp chúng ta hiểu sâu thêm về phong cách của Bác Hồ − vị lãnh tụ

vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hoá của thế giới

đấu tranh cho một thế giới hoà bình

Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két là tác giả của nhiều tiểu thuyết theo khuynh hớng hiện thựchuyền ảo nổi tiếng Ông từng đợc nhận giải thởng Nô-ben văn học năm 1982

G G Mác-két có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nhng nổi tiếng nhất là cuốn Trăm năm cô

đơn (1967) - tiểu thuyết đợc tặng Giải Chianchianô của I-ta-li-a, đợc Pháp công nhận là cuốnsách nớc ngoài hay nhất trong năm, đợc giới phê bình văn học ở Mĩ xếp là một trong 12 cuốnsách hay nhất trong những năm sáu mơi của thế kỉ XX

Toàn bộ sáng tác của G G Mác-két xoay quanh trục chủ đề chính: sự cô đơn - mặt trái củatình đoàn kết, lòng thơng yêu giữa con ngời

2 Tác phẩm:

Văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình trình bày những ý kiến của tác giả xungquanh hiểm hoạ hạt nhân, đồng thời kêu gọi thế giới nỗ lực hành động để ngăn chặn, đẩy lùinguy cơ về một thảm hoạ có thể huỷ diệt toàn bộ sự sống trên trái đất

3 Tóm tắt:

Đây là một bài văn nghị luận xã hội Tác giả nêu ra hai luận điểm cơ bản có liên quan mậtthiết với nhau:

− Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất

− Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu tranh chomột thế giới hoà bình

Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ, đặc biệt

là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức thuyết phục

Trang 3

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

II - Giá trị tác phẩm

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà trình độ khoa học kỹ thuật đang phát triển vớimột tốc độ đáng kinh ngạc: những thành tựu của ngày hôm nay, rất có thể chỉ ngày mai đãthành lạc hậu Đã từng có những ý kiến bi quan cho rằng: trong khi của cải xã hội tăng theo cấp

số cộng thì dân số trái đất lại tăng theo cấp số nhân, con ngời sẽ ngày càng đói khổ Tuy nhiên,nhờ có sự phát triển nh vũ bão của khoa học kĩ thuật, của cải xã hội ngày càng dồi dào hơn, sốngời đói nghèo ngày càng giảm đi

Đó là những yếu tố tích cực trong sự phát triển của khoa học mà phần lớn chúng ta đềunhận thấy Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó thì hầu nh rất ít ngời có thể nhận thức đợc.Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-két đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại trớcnguy cơ đang hiện hữu của một cuộc chiến tranh hạt nhân thảm khốc có khả năng huỷ diệttoàn bộ sự sống trên hành tinh xanh mà phơng tiện của cuộc chiến tranh ấy − mỉa mai thay − lại

là hệ quả của sự phát triển khoa học nh vũ bão kia

Vấn đề đợc khơi gợi hết sức ấn tợng: "Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 - 8 - 1986,hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã đợc bố trí khắp hành tinh Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa làmỗi ngời không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên

sẽ làm biến hết thảy, không phải một lần mà là mời hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái

Đất"

Sức tác động của đoạn văn này chủ yếu bởi những con số thống kê cụ thể: 50.000 đầu đạnhạt nhân; 4 tấn thuốc nổ; không phải một lần mà là mời hai lần Thông điệp về nguy cơ huỷdiệt sự sống đợc truyền tải với một khả năng tác động mạnh mẽ vào t duy bạn đọc Không chỉ

có thế, trong những câu văn tiếp theo, tác giả còn mở rộng phạm vi ra toàn hệ Mặt Trời, dẫn cả

điển tích trong thần thoại Hi Lạp nhằm làm tăng sức thuyết phục

Trong phần tiếp theo, tác giả đa ra hàng loạt so sánh nhằm thể hiện sự bất hợp lí trong xuhớng phát triển của khoa học hiện đại: tỉ lệ phục vụ cho việc nâng cao đời sống nhân loại quáthấp trong khi tỉ lệ phục vụ cho chiến tranh lại quá cao Vẫn là những con số thống kê đầy sứcnặng:

− 100 tỉ đô la cho trẻ em nghèo khổ tơng đơng với 100 máy bay ném bom chiến lợc B.1Bhoặc dới 7.000 tên lửa vợt đại châu;

− Giá 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện chơng trình phòng bệnhtrong cùng 14 năm, bảo vệ cho hơn 1 tỉ ngời khỏi bệnh sốt rét;

− Hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới

Đó là những con số vợt lên trên cả những giá trị thống kê bởi nó còn có giá trị tố cáo bởi điềunghịch lí là trong khi các chơng trình phục vụ chiến tranh đều đã hoặc chắc chắn trở thành hiệnthực thì các chơng trình cứu trợ trẻ em nghèo hay xoá nạn mù chữ chỉ là sự tính toán giả thiết vàkhông biết đến bao giờ mới trở thành hiện thực Trong khía cạnh này thì rõ ràng là khoa học

đang phát triển ngợc lại những giá trị nhân văn mà từ bao đời nay con ngời vẫn hằng xâydựng

Vẫn bằng phép suy luận lô gích và những con số thống kê nóng bỏng, tác giả đẩy mâuthuẫn lên đến đỉnh điểm: sự phát triển vũ khí hạt nhân không chỉ đi ngợc lại lí trí của con ngời

mà còn đi ngợc lại lí trí tự nhiên Sự đối lập khủng khiếp giữa 380 triệu năm, 180 triệu năm, bốn

kỷ địa chất (hàng chục triệu năm) với khoảng thời gian đủ để "bấm nút một cái" đã phơi bàytoàn bộ tính chất phi lí cũng nh sự nguy hiểm của chơng trình vũ khí hạt nhân mà các nớc giàu

có đang theo đuổi Bằng cách ấy, rất có thể con ngời đang phủ nhận, thậm chí xoá bỏ toàn bộquá trình tiến hoá của tự nhiên và xã hội từ hàng trăm triệu năm qua Đó không chỉ là sự phêphán mà còn là sự kết tội

Đó là toàn bộ luận điểm thứ nhất, chiếm đến hơn ba phần t dung lợng của bài viết này ởluận điểm thứ hai, thủ pháp tơng phản đã đợc vận dụng triệt để Ngay sau lời kết tội trên đây,tác giả kêu gọi:

"Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem lại tiếng nói của chúng ta tham giavào bản đồng ca của những ngời đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoàbình, công bằng Nhng dù cho tai hoạ xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải

là vô ích"

Đó không hẳn là một lời kêu gọi thống thiết và mạnh mẽ, tuy nhiên không vì thế mà nókém sức thuyết phục Chính d âm của luận điểm thứ nhất đã tạo nên hiệu quả cho luận điểmthứ hai này Những lời kêu gọi của tác giả gần nh những lời tâm sự nhng thấm thía tận đáylòng Cha hết, tác giả còn tởng tợng ra tấn thảm kịch hạt nhân và đề nghị mở "một ngân hàng l-

Trang 4

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

u trữ trí nhớ" Lời đề nghị tởng nh rất không thực ấy lại trở nên rất thực trong hoàn cảnh cuộcchiến tranh hạt nhân có thể xảy ra bất cứ lúc nào

Trong luận điểm thứ hai này, tác giả hầu nh không sử dụng một dẫn chứng hay một con sốthống kê nào Nhng cách dẫn dắt vấn đề, lời tâm sự tha thiết mang âm điệu xót xa của tác giả

đã tác động mạnh đến lơng tri nhân loại tiến bộ Tác giả không chỉ ra thế lực nào đã vận dụngnhững phát minh khoa học vào mục đích xấu xa bởi đó dờng nh không phải là mục đích chínhcủa bài viết này nhng ông đã giúp nhân loại nhận thức đợc nguy cơ chiến tranh hạt nhân làhoàn toàn có thực và ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu tranh cho một thế giới hoà bình sẽ

là nhiệm vụ quan trọng nhất của nhân loại trong thế kỉ XXI

tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền đợc bảo vệ và phát triển của trẻ em

Ngoài hai ý mở đầu, bài viết đợc chia thành ba phần rất rõ ràng:

Phần một (sự thách thức): thực trạng cuộc sống khốn khổ của rất nhiều trẻ em trên thế giới

− những thách thức đặt ra với các nhà lãnh đạo chính trị

Phần hai (cơ hội): những điều kiện thuận lợi đối với việc bảo vệ và phát triển cuộc sống,

đảm bảo tơng lai cho trẻ em

Phần ba (nhiệm vụ): những nhiệm vụ cụ thể, cấp thiết cần thực hiện nhằm bảo vệ và cảithiện đời sống, vì tơng lai của trẻ em

II- Giá trị tác phẩm

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:

Trẻ em nh búp trên cànhBiết ăn ngủ, biết học hành là ngoan

Trẻ em là tơng lai đất nớc Suy rộng ra, sự vận động và phát triển của thế giới trong tơng laiphụ thuộc rất nhiều vào cuộc sống và sự phát triển của trẻ em hôm nay Càng ngày, vấn đề đócàng đợc nhận thức rõ ràng hơn trên phơng diện quốc tế Năm 1990, Hội nghị cấp cao thế giới

về trẻ em đã đợc tổ chức Tại đó, các nhà lãnh đạo các nớc đã đa ra bản Tuyên bố về sự sốngcòn, bảo vệ và phát triển của trẻ em Bài viết này đã trích dẫn những ý cơ bản nhất của bảnTuyên bố đó

Ngay trong phần mở đầu, bản Tuyên bố đã khẳng định những đặc điểm cũng nh nhữngquyền lợi cơ bản của trẻ em Từ đó, các tác giả bắt vào mạch chính với những ý kiến hết sức cơbản và lô gích

Trong phần thứ nhất, tác giả nêu ra hàng loạt vấn đề có về thực trạng cũng nh sự vi phạmnghiêm trọng quyền của trẻ em Đó là sự bóc lột, đày đoạ một cách tàn nhẫn, là cuộc sống khốnkhổ của trẻ em ở các nớc nghèo Trong hoàn cảnh ấy, những con số thống kê rất có sức nặng("Mỗi ngày, có hàng triệu trẻ em phải chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo và khủnghoảng kinh tế, của nạn đói, tình trạng vô gia c, dịch bệnh ; Mỗi ngày có tới 40000 trẻ em chết

do suy dinh dỡng và bệnh tật, ") Những con số biết nói ấy thực sự là lời cảnh báo đối vớinhân loại

Với nội dung nh vậy nhng các tác giả lại đặt tên cho phần này là Sự thách thức Mới đọc, cócảm tởng giữa đề mục và nội dung không thật thống nhất Tuy nhiên, đó lại là yếu tố liên kếtgiữa các phần trong văn bản này Tác giả đã sử dụng phơng pháp "đòn bẩy": hiện thực càng đ-

ợc chỉ rõ bao nhiêu thì những vấn đề đặt ra sau đó lại càng đợc quan tâm bấy nhiêu

Trong phần tiếp theo, các tác giả trình bày những điều kiện thích hợp (hay những cơ hội)cho những hoạt động vì quyền của trẻ em Đó là những phơng tiện và kiến thức, là sự hợp tác,nhất trí của cộng đồng thế giới cùng sự tăng trởng kinh tế, sự biến đổi của xã hội trong đó các

Trang 5

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

tác giả nhấn mạnh đến nhân tố con ngời Bằng những hoạt động tích cực, con ngời hoàn toàn cóthể làm chủ đợc tơng lai của mình khi quan tâm thoả đáng đến các thế hệ tơng lai

Trong phần Nhiệm vụ, các tác giả nêu ra tám nhiệm vụ hết sức cơ bản và cấp thiết Có thểtóm tắt lại nh sau:

1 Tăng cờng sức khoẻ và chế độ dinh dỡng của trẻ em

2 Quan tâm săn sóc nhiều hơn đến trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khókhăn

3 Đảm bảo quyền bình đẳng nam - nữ (đối xử bình đẳng với các em gái)

4 Bảo đảm cho trẻ em đợc học hết bậc giáo dục cơ sở

5 Cần nhấn mạnh trách nhiệm kế hoạch hoá gia đình

6 Cần giúp trẻ em nhận thức đợc giá trị của bản thân

7 Bảo đảm sự tăng trởng, phát triển đều đặn nền kinh tế

8 Cần có sự hợp tác quốc tế để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách trên đây

Với những ý hết sức ngắn gọn, đợc trình bày rõ ràng, dễ hiểu, bản Tuyên bố này khôngchỉ có ý nghĩa đối với mỗi ngời, mỗi thành viên trong cộng đồng quốc tế mà còn có tác dụngkêu gọi, tập hợp mọi ngời, mọi quốc gia cùng hành động vì cuộc sống và sự phát triển củatrẻ em, vì tơng lai của chính loài ngời

chuyện ngời con gái nam xơng

(Trích Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ)

I- Gợi ý

1 Tác giả:

Nguyễn Dữ (cha rõ năm sinh, năm mất), ngời huyện Trờng Tân, nay là huyện Thanh Miện,tỉnh Hải Dơng Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủnghoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền bính, gây ra những cuộc nộichiến kéo dài Ông học rộng, tài cao, nhng chỉ làm quan có một năm rồi xin nghỉ

2 Tác phẩm:

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ là Truyền kì mạn lục, gồm 20 truyện viết bằng tảnvăn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thờng có lời bình của tác giả, hoặc của một ng-

ời cùng quan điểm với tác giả

Chuyện ngời con gái Nam Xơng thể hiện niềm cảm thơng của tác giả đối với số phận oannghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của của ngời phụ nữ Việt Nam dới chế độ phongkiến

Về mặt nội dung, Truyền kì mạn lục chứa đựng nội dung phản ánh hiện thực và giá trịnhân đạo sâu sắc Tác phẩm cũng đồng thời cho thấy những phức tạp trong t tởng nhà văn.Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội thời đại mình qua thể truyền kì nên tác giả thờnglấy xa để nói nay, lấy cái kì để nói cái thực Đọc Truyền kì mạn lục nếu biết bóc tách ra cái vỏ kì

ảo sẽ thấy cái cốt lõi hiện thực, phủi đi lớp sơng khói thời gian xa cũ, sẽ thấy bộ mặt xã hội

đ-ơng thời Đời sống xã hội dới ngòi bút truyền kì của nhà văn hiện lên khá toàn diện cuộc sốngngời dân từ bộ máy nhà nớc với quan tham lại nhũng đến những quan hệ với nền đạo đức đồiphong bại tục

Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập trờng đạo

đức thì khi phản ánh số phận con ngời, ông lại xuất phát tự lập trờng nhân văn Chính vì vậy,Truyền kì mạn lục chứa đựng một nội dung nhân đạo sâu sắc Về phơng diện này, Nguyễn Dữ

là một trong những nhà văn mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học trung đại ViệtNam Truyền kì mạn lục phản ánh số phận con ngời chủ yếu qua số phận của ngời phụ nữ,

đồng thời hớng tới những giải pháp xã hội, nhng vẫn bế tắc trên đờng đi tìm hạnh phúc chocon ngời" (Từ điển văn học - NXB Thế giới, 2005)

3 Thể loại:

Truyện truyền kì là những truyện kì lạ đợc lu truyền Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là

sự ghi chép tản mạn về những truyện ấy Tác phẩm đợc viết bằng chữ Hán, khai thác cáctruyện cổ dân gian, các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam Nhân vật chính trongTruyền kì mạn lục phần lớn là những ngời phụ nữ đức hạnh nhng lại bị các thế lực phong kiến,

lễ giáo khắc nghiệt xô đẩy vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất Bên cạnh đó còn có kiểu nhânvật là những ngời trí thức có tâm huyết nhng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình vào

Trang 6

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

vòng danh lợi chật hẹp

4 Tóm tắt:

Câu chuyện kể về Vũ Thị Thiết - ngời con gái quê ở Nam Xơng, tính tình nết na thuỳ mị.Lấy chồng là Trơng Sinh cha đợc bao lâu thì chàng phải đi lính, nàng ở nhà phụng dỡng mẹ già

và nuôi con nhỏ Để dỗ con, nàng thờng chỉ bóng mình trên tờng và bảo đó là cha nó Khi

Tr-ơng Sinh về thì con đã biết nói Đứa bé ngây thơ kể với TrTr-ơng Sinh về ngời đêm đêm vẫn đếnnhà Trơng Sinh sẵn có tính ghen, mắng nhiếc và đuổi vợ đi Phẫn uất, Vũ Thị Thiết chạy ra bếnHoàng Giang tự vẫn Khi hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn, Trơng Sinh lập đàn giải oan chonàng

Cũng có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nơng nhảy xuống sông tựtử:

- Đoạn 1 (từ đầu đến "và xin chịu khắp mọi ngời phỉ nhổ"): bị chồng nghi oan Vũ Nơng tựvẫn

- Đoạn 2 (còn lại): nỗi oan đợc giải, Vũ Nơng đợc cứu sống nhng vẫn không trở về đoàn tụcùng gia đình

II- Giá trị tác phẩm

Có lẽ ngời Việt Nam chúng ta ai cũng hiểu và biết cách sử dụng cụm từ "oan Thị Kính" −

một nỗi oan khuất mà ngời bị oan không có cách gì để thanh minh Thị Kính chỉ đợc giải oannhờ Đức Phật hay nói đúng hơn là nhờ tấm lòng bao dung độ lợng, luôn hiểu thấu và sẵn sàngbênh vực cho những con ngời bé nhỏ, thua thiệt, oan ức trong xã hội của những nghệ sĩ dângian

Ngời phụ nữ trong Chuyện ngời con gái Nam Xơng không có đợc cái may mắn nh ThịKính mặc dù nỗi oan của nàng cũng không kém gì, thậm chí kết cục còn bi thảm hơn Thị Kính

đợc lên toà sen trong khi ngời phụ nữ này phải tìm đến cái chết để chứng tỏ sự trong sạch củamình Mặc dù vậy, nhân vật này vẫn không đợc nhiều ngời biết đến, có lẽ bởi phơng thức kể

Ai cũng biết đến Thị Kính vì câu chuyện về nàng đợc thể hiện qua một vở chèo − một loại hìnhnghệ thuật dân gian quen thuộc, đợc nhân dân a thích từ xa xa, trong khi Ngời con gái Nam X-

ơng là một tác phẩm văn học viết thời trung đại (trong điều kiện xã hội phong kiến, nhân dânlao động hầu hết đều không biết chữ) Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta có thể hiểuthêm rất nhiều điều về thân phận những ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nghệ thuậtdựng truyện, dẫn dắt mạch truyện cũng nh nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách thức kết hợpcác phơng thức tự sự, trữ tình và kịch của tác giả

Trong phần đầu của truyện, trớc khi biến cố lớn xảy ra, tác giả đã dành khá nhiều lời để cangợi vẻ đẹp của ngời phụ nữ, từ nhan sắc cho đến đức hạnh Hầu nh không có sự kiện nào thật

đặc biệt ngoài những chi tiết (tiễn chồng đi lính, đối xử với mẹ chồng ) chứng tỏ nàng là mộtngời con gái đẹp ngời đẹp nết, một ngời vợ hiền, một ngời con dâu hiếu thảo Chỉ có một chitiết ở đoạn mở đầu: "Song Trơng có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức" Bạn đọc cóthể dễ bỏ qua chi tiết này vì với phẩm hạnh của nàng, dẫu Trơng Sinh có đa nghi đến đâu cũngkhó có thể xảy ra chuyện gì đợc

Nhng đó lại là một chi tiết rất quan trọng, thể hiện tài kể chuyện của tác giả Chi tiết nhỏ đ

-ợc cài rất khéo đó chính là sợi dây nối giữa phần trớc và phần sau, xâu chuỗi các yếu tố trongtruyện, đồng thời giúp bạn đọc hiểu đợc nội dung t tởng của tác phẩm

Mạch truyện đợc dẫn rất tự nhiên Sau khi giặc tan, Trơng Sinh trở về nhà, bế đứa con nhỏ

ra thăm mộ mẹ Thằng bé quấy khóc, khi Sinh dỗ dành thì nó nói:

− "Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ? Ông lại biết nói, chứ không nh cha tôi trớc kia chỉ nínthin thít"

Thật chẳng khác gì một tiếng sét bất chợt Lời con trẻ vô tình đã thổi bùng lên ngọn lửaghen tuông trong lòng ngời đàn ông đa nghi (tác giả đã nói đến từ đầu) Nếu coi đây là một vởkịch thì lời nói của đứa con chính là nút thắt, mở ra mâu thuẫn đồng thời ngay lập tức đẩy mâuthuẫn lên cao Sau khi gạn hỏi con, nghe thằng bé nói có một ngời đàn ông "đêm nào cũng đến,

mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi ", mối nghi ngờ của Sinh đối với vợ đã đến mứckhông thể nào gỡ ra đợc

Một lần nữa, chi tiết về tính hay ghen của Sinh phát huy tác dụng triệt để Nó lí giải diễnbiến câu chuyện, đồng thời giải đáp những thắc mắc của bạn đọc một cách hợp lí Tại sao Sinhkhông chịu nghe lời ngời vợ thanh minh? Tại sao Sinh không nói cho vợ biết lí do mình tứcgiận nh thế? (Nếu Sinh nói ra thì ngay lập tức câu chuyện sẽ sáng tỏ) Đó chính là hệ quả củatính đa nghi Vì đa nghi nên Sinh không thể tỉnh táo suy xét mọi việc Cũng vì đa nghi nên lời

Trang 7

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

nói (dù rất mơ hồ) của một đứa bé cũng trở thành một bằng chứng "không thể chối cãi" rằng vợchàng đã ngoại tình khi chồng đi vắng Sự vô lí đã trở nên hợp lí bởi sự kết hợp giữa hoàn cảnh

và tính cách nhân vật

Không biết vì sao Sinh lại nghi oan nên ngời vợ không thể thanh minh Để chứng tỏ sựtrong sạch của mình, nàng chỉ có mỗi cách duy nhất là tự vẫn Vợ Sinh chết mà mâu thuẫn kịchvẫn không đợc tháo gỡ, mối nghi ngờ trong lòng Sinh vẫn còn nguyên đó

Theo dõi mạch truyện từ đầu, bạn đọc tuy không một chút nghi ngờ phẩm hạnh của ngờiphụ nữ nhng cũng không lí giải nổi chuyện gì đã xảy ra và vì sao đứa bé lại nói nh vậy Đâycũng là một yếu tố chứng tỏ nghệ thuật kể chuyện của tác giả Thủ pháp "đầu cuối tơng ứng" đ-

ợc vận dụng Đứa trẻ ngây thơ là nguyên nhân dẫn đến bi kịch thì cũng chính nó trở thànhnhân tố tháo gỡ mâu thuẫn một cách tình cờ Sau khi vợ mất, một đêm kia, đứa trẻ lại nói:

− Cha Đản lại đến kia kìa!

Chàng hỏi đâu Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:

− Đây này!

Mâu thuẫn đợc tháo gỡ cũng bất ngờ nh khi nó phát sinh Đứa trẻ có biết đâu rằng, nó đãgây ra một sự hiểu lầm khủng khiếp để rồi khi ngời chồng hiểu ra, hối hận thì đã quá muộn.Ngay cả bạn đọc cũng phải sững sờ: sự thật giản đơn đến thế mà cũng đủ đẩy một con ngời vàocảnh tuyệt vọng

Ai là ngời có lỗi? Đứa trẻ đơng nhiên là không vì nó vẫn còn quá nhỏ, chỉ biết thắc mắc vìnhững lời nói đùa của mẹ Vợ Sinh cũng không có lỗi vì nàng biết đâu rằng những lời nói đùavới con để vợi nỗi nhớ chồng lại gây ra hậu quả đến thế! Có trách chăng là trách Trơng Sinh vì

sự ghen tuông đến mất cả lí trí Chi tiết này gợi lên nhiều suy nghĩ: giá nh không phải ở trongxã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, giá nh ngời vợ có thể tự bảo vệ cho lẽ phải của mình thìnàng đã không phải chọn cái chết thảm thơng nh vậy Tính đa nghi của Sinh đã không gây nênhậu quả xấu nếu nh nó không đợc nuôi dỡng trong một môi trờng mà ngời phụ nữ luôn luônphải nhận phần thua thiệt về mình ý nghĩa này của tác phẩm hầu nh không đợc tác giả trìnhbày trực tiếp nhng qua hệ thống các biến cố, sự kiện đợc sắp xếp hợp lí, đa bạn đọc từ bất ngờnày đến bất ngờ khác, tác giả đã thể hiện một cách tinh tế sự cảm thông sâu sắc của mình đốivới những số phận bất hạnh, đặc biệt là của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến

Nếu câu chuyện dừng lại ở đây thì có thể cho rằng nó đã đợc sáng tạo theo một lỗi viết khámới mẻ và hiện đại Nhng Nguyễn Dữ lại là ngời nổi tiếng với những câu chuyện truyền kỳ.Hoang đờng, kì ảo là những yếu tố không thể thiếu trong những sáng tác thuộc loại này Mặtkhác, tuy là một tác giả của văn học viết trung đại nhng hẳn Nguyễn Dữ cũng chịu ảnh hởng ítnhiều từ t tởng "ở hiền gặp lành" của nhân dân lao động Bản thân ông cũng luôn đứng về phíanhân dân, đặc biệt là những ngời phụ nữ có hoàn cảnh éo le, số phận oan nghiệt trong xã hội

cũ Bởi vậy, tác giả đã tạo cho câu chuyện một lối kết thúc có hậu Tuy không đợc hoá Phật đểrồi sống ở miền cực lạc nh Thị Kính nhng ngời phụ nữ trong truyện cũng đợc thần rùa cứuthoát, tránh khỏi một cái chết thảm thơng

Phần cuối truyện còn đợc cài thêm nhiều yếu tố kì ảo khác nữa Ví dụ nh chi tiết chàngPhan Lang trở thành ân nhân của rùa, sau lại đợc rùa đền ơn Trên đờng chạy giặc, bị đắmthuyền, dạt lên đảo và đợc chính con rùa năm xa cứu thoát Đó có thể coi là sự "đền ơn trảnghĩa" − những hành động rất phù hợp với lí tởng thẩm mĩ của nhân dân Việc ngời phụ nữ trở

về gặp chồng nhng không đồng ý trở lại chốn nhân gian có lẽ cũng nhằm khẳng định t tởngnhân nghĩa ấy Mặc dù đã đợc cứu thoát, đợc giải oan nhng vì lời thề với vợ vua biển Nam Hải,nàng quyết không vì hạnh phúc riêng mà bỏ qua tất cả Những chi tiết đó càng chứng tỏ vẻ đẹptrong tính cách của ngời phụ nữ, đồng thời cũng cho thấy thái độ ngỡng mộ, ngợi ca của tác giả

đối với ngời phụ nữ trong câu chuyện này nói riêng và ngời phụ nữ Việt Nam nói chung

chuyện cũ trong phủ chúa trịnh

Những tác phẩm mà Phạm Đình Hổ để lại gồm nhiều loại, nhiều lĩnh vực, từ biên soạn cho

đến khảo cứu (triết học, lịch sử, địa lí ), sáng tác văn học Riêng sáng tác văn học có: Vũ trungtuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục (viết chung với Nguyễn án), Đông dã học ngôn thi tập, Tùng cúc

Trang 8

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

liên mai tứ hữu, tất cả đều đợc viết bằng chữ Hán

Trong bài văn này, phần đầu tác giả miêu tả cung cách ăn chơi xa hoa của đám quan quântrong phủ chúa Trịnh, phần sau tác giả đề cập đến nỗi khổ sở của dân chúng trớc sự nhũngnhiễu của đám quan quân Phần cuối, tác giả điểm qua một vài ý về gia đình mình Mọi chi tiết

đều có tác dụng phơi bày sự mục rỗng của chính quyền phong kiến Lê − Trịnh ở vào thời kì sắpsuy tàn

3 Thể loại:

Nói tuỳ bút là thể văn ghi chép sự việc một cách cụ thể, sinh động nhng tuỳ hứng không

có nghĩa là bài văn đợc sắp xếp lộn xộn, không theo trật tự nào Thực ra, điều đó chỉ có nghĩarằng văn tuỳ bút không phụ thuộc vào một khuôn mẫu cố định nào đó (ví dụ nh thơ Đờngluật) Tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể, tác giả lựa chọn, sắp xếp các chi tiết, sự kiện theo nhữngtrật tự nhất định nhằm làm nổi bật vấn đề

4 Tóm tắt:

Đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh miêu tả cuộc sống xa hoa ăn chơi xa xỉ, khôngmàng đến quốc gia đại sự, áp bức, bóc lột nhân dân, của vua chúa, quan lại phong kiến thờiThịnh Vơng Trịnh Sâm

II- Giá trị tác phẩm

Khoảng cuối thế kỉ XVIII, tuy ngoài biên giới không có giặc ngoại xâm nhng trong nớc lạivô cùng rối ren Các thế lực phong kiến chia bè kéo cánh thao túng quyền hành, vừa sát hại lẫnnhau vừa ra sức bóc lột của cải khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Ngoài Bắc, vua Lêchỉ là bù nhìn, quyền hành thực tế nằm cả trong tay chúa Trịnh Trịnh Sâm là ng ời nổi tiếnghoang dâm vô độ Cậy thế lấn át vua, ông ta thả sức cho xây hàng loạt cung điện, đền đài nhằmphục vụ cho nhu cầu ăn chơi hoang phí Trong bài văn này, tuy tác giả không bộc lộ trực tiếpcảm xúc, thái độ của mình nhng qua hàng loạt chi tiết, qua những cảnh, những việc tởng nh đ-

ợc trình bày hết sức ngẫu hứng của tác giả, bạn đọc có thể hiểu đợc phần nào cuộc sống xa hoa,lãng phí của đám quan quân phong kiến thời bấy giờ, đồng thời cũng có thể cảm nhận đợc ítnhiều sự phẫn nộ của tác giả trong hoàn cảnh ấy

Một điểm rất đáng lu ý khi đọc bài văn này chính là giọng điệu của tác giả − một giọng

điệu hầu nh khách quan, không thể hiện một chút cảm xúc, thái độ nào Khi cần gọi tên đámquan quân trong phủ chúa, từ chúa Trịnh Sâm, các quan đại thần cho đến bọn hoạn quan trongcung giám, tác giả luôn tỏ thái độ cung kính Thủ pháp quen thuộc thờng đợc sử dụng là liệt

kê, hết chúa đến quan, từ quan lớn đến quan bé, từ sự việc này sang sự việc khác Nếu khôngtinh ý, thật khó có thể xác định đợc mục đích của tác giả khi viết đoạn này là gì

Tuy nhiên, qua hàng loạt sự kiện tởng chừng đợc liệt kê một cách tuỳ hứng, có thể pháthiện ra những chi tiết giúp chúng ta hiểu đợc nội dung t tởng của bài

Phần đầu viết về các cuộc dạo chơi của chúa Trịnh Tác giả không tả cụ thể, cũng không đa

ra một lời bình luận nào, nhng các chi tiết, các sự kiện cứ nh tự biết nói Chúng phô bày mộtcuộc sống phù phiếm, xa hoa với những cuộc dạo chơi liên miên, rồi thì đình đài xây dựng hếtcái này đến cái khác Theo những cuộc du ngoạn của chúa là đầy đủ các quan đại thần, binhlính, ngời phục dịch Nh thế đủ thấy những sinh hoạt đó tốn kém đến mức nào

Cớp bóc của cải là việc làm quen thuộc của quan quân thời bấy giờ Nhân dân ta từng cócâu:

Con ơi nhớ lấy câu nàyCớp đêm là giặc, cớp ngày là quan

Tác giả viết rất rõ: "Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch chậuhoa cây cảnh ở chốn nhân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì" Thật là sự c ớpbóc trắng trợn của một vị chúa Bất cứ thứ gì chúa muốn, kể cả cây đa to đến hàng mấy trămngời khiêng cũng đợc đa về phủ Thật trớ trêu khi ngời đứng đầu triều đình lại không hề biếttiếc sức ngời sức của, không biết chăm lo cho nớc, cho dân, chỉ biết cớp bóc, vơ vét để thoả lòng

Trang 9

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

tham không đáy

Liệt kê ra nh vậy nhng tác giả vẫn không đa ra bất cứ một lời bình luận nào Thậm chí ôngcòn viết cả một đoạn văn dài nh là ca ngợi vẻ đẹp của phủ chúa Mặc dù vậy, cách miêu tả củatác giả thật đặc biệt: vừa mới viết "hình núi non bộ trông nh bến bể đầu non", tác giả lại bổsung: "Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vợn hót vang khắp bốn bề, hoặc nửa đêm

ồn ào nh trận ma sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tờng" Câu văn tuy

đẹp, lời văn tởng nh mạnh mẽ nhng lại nhuốm màu u ám, nh báo trớc những điều chẳng lành.Vua chúa đã vậy, bọn quan lại cũng tha hồ "đục nớc béo cò" Vừa ăn cắp vừa la làng, chúngkhông những lấy đi những thứ quý mà còn lập mu vu vạ nhằm doạ nạt để lấy tiền Tác giả gọichúng là "các cậu" ra vẻ trân trọng nhng những hành vi của chúng thì thật bỉ ổi, táng tận lơngtâm Tác giả không nói gì thì bạn đọc cũng biết: một xã hội mà từ vua chúa đến quan lại đềukhông chăm lo gì đến việc nớc, chỉ biết tìm cách cớp đoạt của cải của nhân dân thì xã hội ấyhỗn loạn, bất an đến thế nào

Trong phần cuối, tác giả đa ra những chi tiết về nỗi khổ của nhân dân cũng nh của chínhgia đình mình: "Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thờng phải bỏ của ra kêuvan chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ, Đó làcảnh chung, còn trong ngôi nhà của tác giả, những cây cảnh đẹp cũng đợc sai chặt đi

Đó là những chi tiết rất đắt giá Tác giả không tả đám quan quân cớp bóc của cải mà chỉ nói

về cây cảnh Việc nhân dân tự chặt cây cảnh, đập bỏ hòn non bộ đã cho thấy một xã hội đầynhững bất trắc, ngời dân phải phá bỏ chính tài sản của mình để khỏi bị liên luỵ, phiền hà với

đám quan lại xấu xa, tàn ác Hệ quả đợc rút ra ở đây là: đến những thứ phù phiếm nh hòn non

bộ hay cây cảnh mà chúng còn ngang nhiên cớp đoạt nh vậy thì những thứ quý, hẳn chúngcũng không bỏ qua một cơ hội nào

Bài tuỳ bút đợc trích tơng đối ngắn, nhng qua những chi tiết, những sự việc đợc chọn lọc,

đợc sắp xếp hợp lí, qua cách hành văn, sử dụng những câu văn đa nghĩa của tác giả, bạn đọchiểu đợc rất nhiều điều về thực trạng xã hội phong kiến lúc bấy giờ

- Ngô Thì Chí (1753-1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, từng làm quan dới thời Lê ChiêuThống Ông tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệsai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, dâng Trung hng sách bàn kế khôi phục nhà

Lê Sau đó ông đợc Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lu vong, lập nghĩa binhchống Tây Sơn, nhng trên đờng đi ông bị bệnh, mất tại huyện Gia Bình (Bắc Ninh) Nhiều tàiliệu nói ông viết bảy hồi đầu của tác phẩm

- Ngô Thì Du (1772-1840) là anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhng không đỗ

đạt gì Dới triều Tây Sơn, ông ẩn mình ở vùng Kim Bảng (Hà Nam) Thời nhà Nguyễn, ông ralàm quan, đợc bổ Đốc học Hải Dơng, đến năm 1827 thì về nghỉ Ông là tác giả bảy hồi tiếp theocủa Hoàng Lê nhất thống chí

2 Tác phẩm:

Văn bản bài học đợc trích từ Hồi 14 − tiểu thuyết chơng hồi của Ngô gia văn phái − tái hiệnlại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung −

Nguyễn Huệ Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhng Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể

ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình

ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lợc cùng với số phận bi

đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nớc

3 Thể loại:

- Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn sách viết theo thể chí (một thể văn vừa có tính chất vănhọc vừa có tính chất lịch sử), ghi chép về sự thống nhất của vơng triều nhà Lê, vào thời điểmanh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo nông dân Tây Sơn nổi dậy khởi nghĩa, tiêu diệtnhà Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê ý nghĩa tiêu đề của tác phẩm là nh thế nhng sau khi vua

Lê dành lại đợc quyền thế từ tay chúa Trịnh, rất nhiều biến cố lịch sử đã diễn ra, trong đó có

Trang 10

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

cuộc tấn công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn, dới sự thống lĩnh của vua Quang Trung (tứcNguyễn Huệ) đánh tan hai mơi vạn quân Thanh xâm lợc Tất cả đã đợc ghi chép lại một cáchkhá đầy đủ và khách quan trong tác phẩm

4 Tóm tắt:

Đợc tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vơng rất giận, liền họp các tớng sĩ rồi tếcáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm quân, vừa đi vừa tuyểnquân lính Ngày ba mơi tháng chạp, đến núi Tam Điệp, vua mở tiệc khao quân, hẹn mùng bảynăm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng Bằng tài chỉ huy thao lợc của Quang Trung,

đạo quân của Tây Sơn tiến lên nh vũ bão, quân giặc thua chạy tán loạn Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật,ngựa không kịp đóng yên, ngời không kịp mặc áo giáp, chuồn thẳng về biên giới phía Bắc, khiếntên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy tháo thân

II - Giá trị tác phẩm

Một nhân tố quan trọng cần phải xem xét trớc hết trong văn bản này là tác giả Khi sáng tạotác phẩm, tác giả không chỉ tái hiện hiện thực khách quan mà còn thể hiện những t tởng, tìnhcảm, quan điểm chính trị, xã hội của mình Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô giavăn phái − một nhóm tác giả rất trung thành với nhà Lê Nếu xét theo quan điểm phong kiếnthì trong con mắt của Ngô gia, vua Quang Trung là kẻ nghịch tặc Thế nhng trong tác phẩm,hình ảnh Quang Trung − Nguyễn Huệ lại đợc miêu tả khá sắc nét với tài cầm quân "bách chiếnbách thắng", tính quyết đoán cùng nhiều phẩm chất tốt đẹp khác Điều đó một phần bởi triều

đại nhà Lê khi đó đã quá suy yếu, mục nát, dù có là bề tôi trung thành đến mấy thì các tác giảtrong Ngô gia văn phái cũng khó có thể phủ nhận Mặt khác, có thể chính tài năng và đức độcủa vua Quang Trung đã khiến cho các tác giả này thay đổi quan điểm của mình, từ đó đã táihiện lại các sự kiện, nhân vật, một cách chân thực

Các chi tiết, sự kiện trong phần đầu đoạn trích này cho thấy vua Quang Trung là ng ời rấtmạnh mẽ, quyết đoán nhng không hề độc đoán, chuyên quyền Ông sẵn sàng lắng nghe và làmtheo ý kiến của thuộc hạ, lên ngôi vua để giữ lòng ngời rồi mới xuất quân ra Bắc Ngay khi đếnNghệ An, ông lại cho vời một ngời Cống sĩ đến để hỏi về việc đánh quân Thanh nh thế nào.Chi tiết này cho thấy Quang Trung luôn quan tâm đến ý dân, lòng dân Khi vị Cống sĩ nói:

"Chúa công đi ra chuyến này, không quá mời ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan", ông "mừnglắm", không chỉ vì ngời Cống sĩ nói đúng ý mình mà chủ yếu là vì chủ trơng của ông, quyếttâm của ông đã đợc nhân dân đồng tình ủng hộ Bằng chứng là ngay sau đó ông cho tuyểnquân, "cha mấy lúc, đã đợc hơn một vạn quân tinh nhuệ"

Cách ăn nói của vua Quang Trung cũng rất có sức thuyết phục, vừa khéo léo, mềm mỏngvừa rất kiên quyết, hợp tình hợp lí Khi nói với binh sĩ, ông đã cho họ ngồi (một cử chỉ biểu lộ

sự gần gũi mặc dù ông đã xng vơng), từng lời nói đều giản dị, dễ hiểu Sau khi lấy lịch sử từ cáctriều đại trớc ra để cho binh sĩ thấy nỗi khổ của nhân dân dới ách thống trị ngoại bang, ôngkhông quên tuyên bố sẽ trừng phạt những kẻ phản bội, ăn ở hai lòng Điều đó khiến cho binh sĩthêm đồng lòng, quyết tâm chống giặc

Đó cũng là cách ứng xử của ông đối với các tớng lĩnh Khi quân đến Tam Điệp, hai tớng Sở

và Lân mang gơm trên lng đến xin chịu tội, ông thẳng thắn chỉ ra tội của họ nhng lại cho mọingời hiểu họ cũng là ngời đã có công lớn trong việc bảo toàn đợc lực lợng, chờ đợi thời cơ −

điều đó không những khiến cho quân ta tránh đợc những thơng vong vô ích mà còn làm chogiặc trở nên kiêu ngạo, chủ quan, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh chúng sau này

Những lời nói, việc làm của vua Quang Trung thật hợp tình, hợp lí và trên hết là hợp vớilòng ngời Vừa mềm dẻo vừa kiên quyết, xét đúng công, đúng tội, đặt lợi ích của quốc gia vàcủa dân chúng lên trên hết, ông đã khiến cho binh sĩ thêm cảm phục, càng quyết tâm chốnggiặc Đó là một yếu tố rất quan trọng tạo nên những chiến thắng liên tiếp của quân Tây Sơn dới

sự thống lĩnh của vua Quang Trung

Cuộc tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung thực sự chỉ có thể diễntả bằng từ "thần tốc" ở phần tiếp theo của đoạn trích, để diễn tả không khí chiến trận rất khẩntrơng, quyết liệt, các tác giả đã chú trọng nhiều hơn đến các sự kiện nhng không vì thế mà làm

mờ nhạt hình ảnh tài năng của vị thống lĩnh Lời hứa chắc chắn trớc lúc xuất quân của ông đã

đợc đảm bảo bằng tài thao lợc, xử trí hết sức nhạy bén, mu trí trong những tình huống cụ thể:

đảm bảo bí mật hành quân, nghi binh tấn công làng Hà Hồi, dùng ván phủ rơm ớt để tấn công

đồn Ngọc Hồi, Tài dùng binh khôn khéo đó khiến cho quân Thanh hoàn toàn bị bất ngờ, khichúng biết đợc tin tức thì đã không thể chống cự lại đợc nữa, chỉ còn cách dẫm đạp lên nhau

mà chạy

Phần cuối của đoạn trích chủ yếu diễn tả cuộc tháo chạy hỗn loạn, nhục nhã của đám quan

Trang 11

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

quân nhà Thanh Ra đi "binh hùng tớng mạnh", vậy mà cha đánh đợc trận nào đã phải tan tác

về nớc Rất có thể sau khi bại trận, quân số của Tôn Sĩ Nghị (trớc đó là hai mơi vạn) vẫn còn

đông hơn quân của vua Quang Trung nhng trớc sức tấn công nh vũ bão của quân Tây Sơn, dới

sự chỉ huy của một vị tớng tài ba và quyết đoán, chúng đã không còn hồn vía nào để nghĩ đếnchuyện chống trả

Trong đoạn này, giọng điệu của các tác giả tỏ ra vô cùng hả hê, vui sớng Khi miêu tả tài

"xuất quỷ nhập thần" của quân Tây Sơn, các tác giả viết: "Thật là: "Tớng ở trên trời xuống, quânchui dới đất lên" Ngợc lại, khi viết về Tôn Sĩ Nghị thì: "Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa khôngkịp đóng yên, ngời không kịp mặc áo giáp " Đó không còn là giọng của một ngời ghi chép lạicác sự kiện một cách khách quan mà là giọng điệu sảng khoái của nhân dân, của dân tộc saukhi đã khiến cho bọn xâm lợc ngoại bang, vốn trớc ngạo nghễ là thế, giờ đây phải rút chạynhục nhã

Đoạn nói về vua tôi nhà Lê càng khẳng định thái độ của các tác giả khi viết tác phẩm này.Mặc dù luôn đề cao t tởng trung nghĩa nhng trớc sự nhu nhợc, hèn hạ của đám vua tôi nhà Lê,các tác giả vẫn thể hiện ít nhiều thái độ mỉa mai, châm biếm Số phận những kẻ phản dân, hạinớc cũng thảm hại chẳng kém gì những kẻ cậy đông, đem quân đi xâm lợc nớc khác Đó là sốphận chung mà lịch sử giành cho lũ bán nớc và lúc cớp nớc

Cuộc đại phá quân Thanh xâm lợc là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh bảo vệ

Tổ quốc của dân tộc ta Ngời làm nên kì tích ấy là Quang Trung − Nguyễn Huệ, vị "anh hùng

áo vải" vừa có tài thao lợc vừa luôn hết lòng vì dân, vì nớc

Trang sử hào hùng ấy đã đợc ghi lại bởi Ngô gia văn phái − nhóm tác giả đã vợt qua những

t tởng phong kiến cố hữu để tái hiện lại lịch sử một cách chân thực

Nguyễn Du sống trong một thời đại có nhiều biến động: cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉXIX, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân khởinghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê,Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mơi vạn quân Thanh, rồi phong trào Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn

đợc thiết lập Những biến cố đó đã in dấu ấn trong sáng tác của Nguyễn Du, nh chính trongTruyện Kiều ông viết: Trải qua một cuộc bể dâu - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.Nguyễn Du từng trải một cuộc đời phiêu bạt: sống nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở Hà Tĩnh,làm quan dới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc Vốn hiểu biết sâu rộng, phong phú về cuộc sốngcủa Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải nghiệm nhiều tạo thành

2 Tác phẩm:

- Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn, cả bằng chữ Hán

và chữ Nôm Thơ chữ Hán có ba tập, gồm 243 bài Thơ chữ Nôm, xuất sắc nhất là cuốn truyện

Đoạn trờng tân thanh, còn gọi là Truyện Kiều

- "Có thể tìm thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du từ thơ chữHán đến Truyện Kiều, Văn chiêu hồn Nguyễn Du vĩ đại chính vì Nguyễn Du là một nhà thơnhân đạo chủ nghĩa Mặc dù xuất thân từ giai tầng quý tộc, nhng Nguyễn Du lăn lộn nhiềutrong cuộc sống của quần chúng, đã lắng nghe đợc tâm hồn và nguyện vọng của quần chúng,nhà thơ đã ý thức đợc những vấn đề trọng đại của cuộc đời và, với một nghệ thuật tuyệt vời,

ông đã làm cho những vấn đề trọng đại ấy trở thành bức thiết hơn, da diết hơn, ám ảnh hơntrong tác phẩm của mình Thơ Nguyễn Du dù viết bằng chữ Nôm hay chữ Hán đều đạt đếntrình độ điêu luyện Riêng những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của ông, đặc biệt là TruyệnKiều là một cống hiến to lớn của nhà thơ đối với sự phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc

Về phơng pháp sáng tác, qua Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du đã phá vỡ rất nhiềunguyên tắc của mĩ học truyền thống, những yếu tố ớc lệ tởng tợng của nghệ thuật phong kiếnphơng Đông để đi đến chủ nghĩa hiện thực Nhng do những giới hạn về mặt lịch sử, cho nênmặc dù Nguyễn Du là một thiên tài vẫn không thể phá vỡ đợc triệt để, vẫn cha thể thực sự đến

đợc với chủ nghĩa hiện thực Cuối cùng, Nguyễn Du vẫn là một nhà thơ dừng lại trớc ngỡng

Trang 12

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

cửa của chủ nghĩa hiện thực (Nguyễn Lộc - Từ điển văn học, NXB Thế giới, 2005)

- Khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã mợn cốt truyện từ một cuốn tiểu thuyết (Kim VânKiều truyện) của Thanh Tâm Tài Nhân, một nhà văn Trung Quốc Khi sáng tác, Nguyễn Du đãthay đổi, bổ sung nhiều yếu tố trong cốt truyện cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúcbấy giờ

Tác phẩm đợc viết lại bằng chữ Nôm, gồm 3524 câu, theo thể thơ lục bát truyền thống.Ngoài các yếu tố nh ngôn ngữ, thể loại (vốn đã là những sáng tạo đặc sắc, đóng góp lớn củaNguyễn Du vào quá trình phát triển ngôn ngữ dân tộc), tác phẩm còn thể hiện rất rõ hiện thựccuộc sống đơng thời, đằng sau đó là "con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ tới muôn đời"của nhà văn

Có thể tóm tắt Truyện Kiều theo bố cục ba phần:

- Gặp gỡ và đính ớc: Kiều xuất thân nh thế nào? Có đặc điểm gì về tài sắc? Kiều gặp KimTrọng trong hoàn cảnh nào? Mối tình giữa Kiều và Kim Trọng đã nảy nở ra sao? Họ kiếm lí dogì để gần đợc nhau? Kiều và Kim Trọng đính ớc

- Gia biến và lu lạc: Gia đình Kiều bị mắc oan ra sao? Kiều phải làm gì để cứu cha? Làm gì

để không phụ tình Kim Trọng? Kiều bị bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vàocuộc sống lầu xanh; Kiều đợc Thúc Sinh cứu ra khỏi lầu xanh; Kiều trở thành nạn nhân của sựghen tuông, bị Hoạn Th đày đoạ; Kiều trốn đến nơng nhờ cửa Phật, Giác Duyên vô tình gửinàng cho Bạc Bà - Kiều rơi vào lầu xanh lần thứ ha i; Thuý Kiều đã gặp Từ Hải nh thế nào? Tạisao Từ Hải bị giết? Kiều bị Hồ Tôn Hiến làm nhục ra sao? Kiều trẫm mình xuống sông Tiền Đ-ờng, đợc s Giác Duyên cứu

-Đoàn tụ: Kim Trọng trở lại tìm Kiều nh thế nào? Tuy kết duyên cùng Thuý Vân nhng KimTrọng chẳng thể nguôi đợc mối tình với Kiều; Kim Trọng lặn lội đi tìm Kiều, gặp Giác Duyên,gặp lại Kiều, gia đình đoàn tụ; Chiều ý mọi ngời, Thuý Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhngcả hai cùng nguyện ớc điều gì?

Đoạn trích Chị em Thuý Kiều nằm ở phần mở đầu tác phẩm

Đoạn thơ này miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều và Thuý Vân Với ngòi bút tài hoa,khả năng vận dụng khéo léo ngôn ngữ dân tộc kết hợp với các điển tích, điển cố, có thể nóiNguyễn Du đã giúp bạn đọc hình dung đợc những chuẩn mực về vẻ đẹp của ngời phụ nữtrong xã hội xa, đó cũng có thể coi là chuẩn mực của cái đẹp trong của văn học trung đại

Không chỉ miêu tả những hình mẫu, chân dung Thuý Kiều và Thuý Vân trong tác phẩmcòn thể hiện những dụng ý nghệ thuật sâu xa của tác giả Mặc dù "Mỗi ngời một vẻ, mời phânvẹn mời" nhng với mỗi nhân vật, sự miêu tả của Nguyễn Du dờng nh đã dự báo những số phậnkhác nhau của hai chị em Điều đó vừa thể hiện bút pháp miêu tả nhân vật khá sắc sảo củaNguyễn Du nhng đồng thời cũng cho thấy quan niệm "tài mệnh tơng đố" của ông

II- Giá trị tác phẩm

Khi nói đến tác giả của Truyện Kiều, không chỉ nhân dân lao động mà tất cả các nhà văn, nhànghiên cứu đều thống nhất tên gọi: "Đại thi hào dân tộc" Với "con mắt trông thấu sáu cõi và tấmlòng nghĩ tới muôn đời" (Mộng Liên Đờng), Nguyễn Du nổi tiếng trớc hết bởi cái tâm của mộtngời luôn nghĩ đến nhân dân, luôn bênh vực cho những cuộc đời, những số phận éo le, oan trái,

đặc biệt là thân phận ngời phụ nữ trong xã hội cũ Mặt khác, những câu thơ của Nguyễn Du sở dĩ

có thể khắc sâu trong lòng nhân dân nh vậy còn bởi trong Truyện Kiều, ông đã bộc lộ sự tài hoa,sắc sảo trong việc miêu tả nhân vật, trong việc khắc hoạ những nét tâm lí nhất quán đến từng chitiết Trong phần mở đầu tác phẩm, đoạn miêu tả hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân có thể coi làmột ví dụ tiêu biểu

Trong những câu miêu tả khái quát, vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều đã có thể xếp vào hàng

Đọc những câu thơ tiếp theo, ta càng có thể khẳng định tài năng của Nguyễn Du trong việcmiêu tả nhân vật Không chỉ phân biệt đợc "Mỗi ngời mỗi vẻ", tác giả còn chỉ ra sự khác nhau

đó đợc biểu hiện cụ thể nh thế nào Mặt khác, Nguyễn Du tả nhan sắc nhng dờng nh mục đíchcủa tác giả không dừng lại ở đó Càng tả càng gợi Qua những câu thơ của Nguyễn Du, ngời

đọc luôn cảm nhận đợc những suy nghĩ trăn trở của nhà thơ về cuộc đời, về thân phận ngời

Trang 13

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy dẫy những cạm bẫy:

Vân xem trang trọng khác vờiKhuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nangHoa cời, ngọc thốt, đoan trangMây thua nớc tóc, tuyết nhờng màu da

Trong phần tả khái quát, vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều đã đợc miêu tả rất toàn vẹn, tởngkhó có thể ca ngợi hơn nữa Trong bốn câu này, ba câu trên là lời khẳng định vẻ đẹp "mời phậnvẹn mời" kia Thế nhng câu thơ thứ t thật sự khiến bạn đọc bất ngờ bởi khả năng sử dụng ngônngữ của nhà thơ Tả một ngời con gái đẹp mà "Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang" là đã

đạt đến chuẩn mực, thêm "Hoa cời, ngọc thốt, đoan trang" thì nghe chẳng khác gì những tiếngtrầm trồ của một ngời đang đợc chiêm ngỡng một vẻ đẹp cha từng có Thế mà vẫn cha hết, ngờicon gái ấy còn đẹp đến mức "Mây thua nớc tóc, tuyết nhờng màu da" thì vẻ đẹp ấy còn vợt lêntrên cả vẻ đẹp của thiên nhiên Đó là một sự khác thờng bởi nếu chúng ta đọc lại thơ ca trung

đại, thậm chí đọc cả ca dao dân ca, vẻ đẹp của con ngời cùng lắm cũng chỉ sánh ngàng với vẻ

đẹp của thiên nhiên mà thôi:

Cổ tay em trắng nh ngà Đôi mắt em sắc nh là dao cau

Miệng cời nh thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu nh thể hoa sen

Rõ ràng là Thuý Vân rất đẹp, một vẻ đẹp khá sắc nét nhng vẫn hồn hậu, thuỳ mị Giả sử

đ-ợc ngắm một ngời con gái nh vậy, ngời ta thờng nghĩ đến hạnh phúc, đến một cuộc sống ấm

áp, êm đềm

Đọc đoạn miêu tả Thuý Vân, ta đã có thể thấy đợc cái tài, cái khéo của Nguyễn Du trongviệc sử dụng từ ngữ Thế nhng việc miêu tả Thuý Vân mới chỉ là bớc đệm để tác giả miêu tảThuý Kiều Một lần nữa, tác giả lại khiến bạn đọc phải sửng sốt vì năng lực miêu tả của mình:

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơnCác giá trị thẩm mĩ tởng nh đã đợc đẩy lên đến tận cùng của các giới hạn nhng rồi lại còn

đợc đẩy lên cao thêm nữa:

Làn thu thuỷ, nét xuân sơnHoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Hội hoạ cổ điển phơng Đông có những bút pháp khá độc đáo: "lấy điểm để tả diện", "vẽmây nẩy trăng", ý là khi muốn tả một ngời con gái đẹp, không cần tả mọi đờng nét, chỉ chọnnhững nét tiêu biểu nhất, hay nh khi muốn tả một vầng trăng sáng có thể không cần tả vầngtrăng, chỉ cần tả đám mây xung quanh mà ngời xem biết ngay đó là trăng rất sáng Nguyễn

Du đã tả Thuý Kiều qua "Làn thu thuỷ, nét xuân sơn" − những yếu tố nghệ thuật đầy tính ớc

lệ, thật khó hình dung nàng Kiều đẹp nh thế nào nhng ai cũng phải thừa nhận, tả nh thế làtuyệt khéo Lại thêm "Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh" − không cần nói nhan sắc củaKiều ra sao, chỉ cần nói hoa còn phải ghen, liễu còn phải hờn với nhan sắc của Kiều thì t ởng

nh với nhan sắc ấy, không lời nào có thể diễn tả nổi nữa

Tuy nhiên, nếu đọc kĩ lại từng câu, từng lời, ta sẽ thấy dờng nh trong vẻ đẹp của Kiều đã

ẩn chứa những mầm tai hoạ Nếu nh với vẻ đẹp của Thuý Vân, "Mây thua nớc tóc, tuyết nhờngmàu da", sự "thua" và "nhờng" còn rất hiền hoà thì với vẻ đẹp của Thuý Kiều, hoa đã phải

"ghen" (tức), liễu đã phải "hờn" (giận) Có thể nói, vẻ đẹp của Thuý Vân tuy có phần trội hơnnhng cha tạo ra sự đố kị, trong khi đó vẻ đẹp của Thuý Kiều đã vợt hẳn lên, ngạo nghễ tháchthức với thiên nhiên, vợt ra khỏi vòng kiềm toả của tạo hoá

Không chỉ nhan sắc, tài năng của Kiều cũng hàm chứa một sự thách thức:

Một hai nghiêng nớc nghiêng thànhSắc đành đòi một, tài đành hoạ hai

Những từ ngữ đầy tính ớc lệ (làn thu thuỷ, nét xuân sơn, nghiêng nớc nghiêng thành) xuấthiện với mật độ cao càng chứng tỏ tài năng của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ Một lầnnữa, vẻ đẹp của nàng Kiều lại đợc khẳng định dù sự khẳng định ấy càng tô đậm thêm sự "bấtan" của nhan sắc Vậy mà sự thách thức của nhan sắc vẫn cha phải là yếu tố duy nhất, tài năngcủa Kiều còn là một sự thách thức khác nữa:

Trang 14

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm

Cung thơng, lầu bậc ngũ âmNghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trơng

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du không chỉ cho rằng nhan sắc là một cái hoạ tiềm ẩn đối vớingời phụ nữ ("hồng nhan bạc mệnh") mà còn nhiều lần nhấn mạnh: tài năng cũng là một cáihoạ khác:

- Trăm năm trong cõi ngời ta

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau

- Chữ tài liền với chữ tai một vần

− Tài tình chi lắm cho trời đất ghen

Thuý Kiều vừa có tài lại vừa có sắc, hơn nữa, cả hai yếu tố đều nổi bật đến mức cây cỏ cònphải ghen tức, oán giận Xét trên nhiều yếu tố, có thể nói qua cách miêu tả, Nguyễn Du đãngầm báo trớc những điều không may sẽ xảy đến với ngời con gái này Hãy nghe tiếng đàn củaKiều, đó không phải là những âm thanh nhàn tản, thảnh thơi:

Khúc nhà tay lựa nên chơngMột thiên "bạc mệnh" lại càng não nhân

Có thể cho là Kiều chỉ vô tình, nhng bài nhạc mà nàng đã lựa chọn, đã thể hiện nó trongtiếng đàn sầu não kia cho thấy rằng, đó là một ngời con gái rất đa sầu đa cảm Theo quan niệm

từ xa xa, đây cũng là một yếu tố tạo nên số phận đau khổ của con ngời Những sự biến sau nàycủa cuộc đời Kiều (gặp Đạm Tiên, phải bán mình chuộc cha, gặp Thúc Sinh, gặp Từ Hải, ) đềuchứng tỏ sự miêu tả của Nguyễn Du về Thuý Kiều là hoàn toàn có ngụ ý

Đoạn cuối nh lời vĩ thanh, Nguyễn Du để cho lời thơ buông trôi, nhấn mạnh phẩm chất giagiáo của Thuý Kiều

Đoạn miêu tả vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du dành đến 24 câu thơ, trong đó cóbốn câu tả khái quát, bốn câu tả Thuý Vân, còn đến 16 câu chỉ để nói về Thuý Kiều Có thểchúng ta cha hiểu hết quan niệm về nhân sinh, nhất là về ngời phụ nữ của ông, có thể cònnhiều vấn đề xung quanh t tởng "tài mệnh tơng đố" cần tiếp tục xem xét nhng qua 24 câu thơ,Nguyễn Du không chỉ chứng tỏ một tài năng bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ mà còn cho thấynhững nét rất đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả con ngời

Đoạn trích gồm mời tám câu, bốn câu thơ đầu miêu tả cảnh đẹp ngày xuân, tám câu tiếptheo tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh, sáu câu cuối tả cảnh chị em Thuý Kiều duxuân trở về

2 Tám câu thơ tiếp theo, tác giả sử dụng rất nhiều từ ghép đôi, từ láy đôi đã đợc tác giả sửdụng trong các cấu trúc danh từ, động từ, tính từ, góp phần đắc lực trong việc thể hiện mộtkhung cảnh lễ hội rộn ràng màu sắc, âm thanh, hình ảnh Hầu hết các câu thơ đều đợc ngắttheo nhịp đôi (2/2) cũng là một yếu tố gợi tả khung cảnh nhộn nhịp, đông vui của lễ hội

Đó là một lễ hội đã có từ xa xa Mặc dù ngày nay đã không còn phổ biến nhng qua những

Trang 15

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

câu thơ tả cảnh của Nguyễn Du, ngời đọc có thể hình dung rất rõ khung cảnh náo nức, nhộnnhịp của lễ hội ấy

3 Sáu câu thơ cuối diễn tả cảnh chị em Thuý Kiều trên đờng trở về Một khung cảnh yêntĩnh, êm ả, dờng nh đối lập với cảnh lễ hội lúc trớc Vẫn có những từ láy đôi nhng hầu nh chỉcòn là những tính từ: tà tà, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, Không gian vì thế trở nên yên tĩnhlạ thờng, không còn cảnh ngời đi kẻ lại tấp nập (đợc thể hiện chủ yếu qua những danh từ, động

từ ở đoạn trớc), không còn ríu rít tiếng nói cời

Thủ pháp tả đã đợc thay bằng thủ pháp gợi Những tính từ tà tà, thanh thanh, nao nao, nhonhỏ không chỉ gợi lên một không gian êm đềm mà còn thể hiện khá rõ tâm trạng của chị em ThuýKiều Có cái gì mơ hồ nh là sự bâng khuâng, nuối tiếc Lòng ngời hoà trong cảnh vật, nh đang lắnglại cùng cảnh vật

4 Qua đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều đi du xuân trong tiết Thanh minh, ta có thể thấy

rất rõ nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du Yếu tố quan trọng trong nghệ thuật miêutả thiên nhiên ấy là nghệ thuật sử dụng từ ngữ Bằng cách sử dụng hệ thống từ ghép, từ láygiàu chất tạo hình, giàu sức gợi tả theo những mật độ khác nhau và phơng thức khác nhau,Nguyễn Du đã phác hoạ những bức tranh phong cảnh vô cùng đặc sắc

định bán mình Tởng gặp đợc nhà tử tế, ai dè bị bắt vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự tử

Tú Bà (chủ quán lầu xanh) vờ hứa hẹn gả chồng cho nàng, đem nàng ra giam lỏng ở lầu Ng ngBích, sau đó mụ sẽ nghĩ cách để bắt nàng phải tiếp khách làng chơi

Đoạn trích gồm hai mơi hai câu Sáu câu thơ đầu thể hiện hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệpcủa Thuý Kiều; tám câu thơ tiếp thể hiện nỗi thơng nhớ của nàng về Kim Trọng và về cha mẹ;tám câu còn lại thể hiện tâm trạng đau buồn, âu lo của Thuý Kiều

II - Giá trị tác phẩm

Nguyễn Du là một bậc thầy về tả cảnh Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi nh làchuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển:

- Dới trăng, quyên đã gọi hè

Đầu tờng lửa lựu lập loè đâm bông

- Long lanh đáy nớc in trờiThành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Với những câu thơ này, Nguyễn Du đã làm đẹp, làm giàu có thêm rất nhiều cho ngôn ngữdân tộc Từng có ý kiến cho rằng, so với tiếng Hán vốn có tính hàm súc, tính biểu hiện rất caothì tiếng Việt trở nên quá nôm na, ít khả năng biểu hiện Tuy nhiên, Nguyễn Du đã chứng minhrằng ngôn ngữ tiếng Việt có một khả năng biểu hiện vô giới hạn

Nhng Nguyễn Du không chỉ giỏi về tả cảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng Trongquan niệm của ông, hai yếu tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền với nhau, bổsung cho nhau Ví dụ, trong hai câu thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều đi chơi xuân:

Nao nao dòng nớc uốn quanhDịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Cảnh rất đẹp và thanh, ứng với tâm hồn hai chị em đang nhẹ nhàng thơi thới Ngợc lại, khingời buồn thì cảnh cũng buồn theo Trong một đoạn thơ khác thuộc Truyện Kiều, ông viết:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầuNgời buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Hai câu thơ này thể hiện rất rõ quan niệm của Nguyễn Du về mối quan hệ giữa tâm trạngcủa con ngời và cảnh vật Cảnh vật đẹp hay không đẹp, nhẹ nhàng, thanh thoát hay nặng nề, u

ám phụ thuộc rất nhiều vào tâm trạng của con ngời trớc cảnh đó

Trang 16

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngng Bích" là sự kết hợp, giao hoà của hai yếu tố cảnh vật và tâmtrạng Về cảnh vật có lầu cao, có non xanh nớc biếc, sơn thuỷ hữu tình Nếu Thuý Kiều ở vào mộthoàn cảnh khác, trong tâm trạng khác thì hẳn cảnh đó sẽ rất đẹp Tuy nhiên, tâm trạng Kiều lại

đang rất u ám, sầu não: bị Tú Bà giam lỏng ở lầu Ngng Bích, Kiều da diết nhớ cha mẹ, nhớ ngờiyêu, đồng thời lại rất đau xót cho thân phận mình Cảnh vật, do đó, nhuốm màu tâm trạng:

Trớc lầu Ngng Bích khoá xuân

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Kiều ngắm cảnh hay Kiều đối cảnh? Thật khó có thể nói là "ngắm" theo nghĩa thông thờngcủa từ này Bởi "ngắm" có nghĩa là chiêm ngỡng, thởng ngoạn Kiều đang trong tâm trạng nhthế sao có thể thởng ngoạn cho đợc? Bởi vậy, dù có cả "vẻ non xa" lẫn "tấm trăng gần" nhngcảnh vật ấy chẳng thể nào gợi lên một chút tơi vui hay ấm áp Nhà thơ đã dùng hai chữ "ởchung" thật khéo Kiều trông thấy tất cả những thứ đó nhng với nàng, chúng chẳng khác gìnhau và càng không có gì đặc biệt Hai yếu tố trái ngợc (non xa, trăng gần) tởng nh phi lí nhngthực ra đã diễn tả rất chính xác sự trống trải của cảnh vật qua con mắt của Kiều Khung cảnh

"bốn bề bát ngát" chỉ càng khiến cho lòng ngời thêm gợi nhớ:

Bốn bề bát ngát xa trôngCát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mang đang trải rộng ra trớc mắt Kiều Mộtngời bình thờng đứng trớc không gian ấy cũng khó ngăn đợc nỗi buồn Với Kiều, không gianrộng rãi, trống trải ấy chỉ càng khiến nàng suy nghĩ về cuộc đời mình:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuyaNửa tình nửa cảnh nh chia tấm lòng

Bởi trong những câu thơ tả cảnh trên đã thấm đẫm cái "tình" (tâm trạng) của Kiều nên đếnnhững câu thơ này, Nguyễn Du đã bắt vào mạch tả tâm trạng một cách hết sức tự nhiên ý thơchuyển đổi rất linh hoạt: tả cảnh gắn với không gian Không gian cao rộng (non xa, trăng gần) càngkhiến cho cảnh mênh mang, dàn trải Tả tâm trạng lại gắn với thời gian Thời gian dằng dặc (mâysớm, đèn khuya) càng cho thấy tâm trạng chán nản, buồn tủi của Kiều "Nửa tình nửa cảnh" − trớcmắt là tình hay là cảnh, dờng nh cũng không còn phân biệt đợc nữa

Theo dòng tâm trạng của Kiều câu thơ bắt vào nỗi nhớ:

Tởng ngời dới nguyệt chén đồngTin sơng luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Nhớ nhà, trớc hết Kiều nhớ đến Kim Trọng, nhớ đến chén rợu thề nguyền dới trăng Đốivới một ngời luôn đa sầu đa cảm, nặng tình nặng nghĩa nh Thuý Kiều, cảm xúc ấy thật xa xót.Càng nhớ đến Kim Trọng thì Kiều lại càng đau đớn cho thân phận mình Việc Kiều thơng KimTrọng đang chờ mong tin mình một cách vô vọng đã cho thấy một vẻ đẹp khác trong tâm hồnnàng: Kiều luôn nghĩ đến ngời khác trớc khi nghĩ đến bản thân mình Tấm lòng ấy thật cao đẹp

và đáng quý biết bao!

Tiếp theo là Kiều nhớ đến cha mẹ Có ý kiến cho rằng, Kiều đã nhớ đến ngời yêu trớc rồimới nhớ đến cha mẹ, phải chăng là nàng đã đặt chữ "tình" lên trên chữ "hiếu"? Thực ra, việcNguyễn Du miêu tả nỗi nhớ của Kiều dành cho Kim Trọng trớc rồi mới miều tả nỗi nhớ cha mẹ

là hoàn toàn hợp lí Kiều không hề đặt chữ "hiếu" sau chữ "tình" Khi gia đình gặp tai biến, trớccâu hỏi "Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?", Kiều đã dứt khoát lựa chọn chữ "hiếu" bằnghành động bán mình chuộc cha Giờ đây, khi cha và em nàng đã đợc cứu, ngời mà nàng cảmthấy mình có lỗi chính là Kim Trọng Nhng không vì thế mà nỗi nhớ cha mẹ kém phần day dứt:

Xót ngời tựa cửa hôm maiQuạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng ma

Có khi gốc tử đã vừa ngời ôm

Những thành ngữ, điển tích, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, Sân Lai, gốc tử)liên tục đợc sử dụng đã thể hiện rất rõ tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng nh những băn khoăntrăn trở của Thuý Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phận làm con của mình Trong hoàncảnh thực tế, những suy nghĩ, tâm trạng đó càng chứng tỏ nàng là một ngời con rất mực hiếuthảo

Trang 17

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Tám câu thơ cuối cũng nằm trong số những câu thơ tả cảnh hay nhất của Truyện Kiều.Chúng thể hiện rất rõ nét nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình" của Nguyễn Du:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nớc mới sa,Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ dàu dàu,Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Nếu tách riêng các yếu tố ngoại cảnh ra mà xét thì có thể thấy đó là một khung cảnh thậtthơ mộng và lãng mạn: có cánh buồm thấp thoáng, có man mác hoa trôi, có nội cỏ chân mâymặt đất một màu Thế nhng khi đọc lên, những câu thơ này chỉ khiến cho lòng ngời thêm sầumuộn, ảo não Nguyên nhân là bởi trớc mỗi cảnh vật kia, sừng sững án ngữ cụm từ "buồntrông" Không phải là "xa trông" nh ngời ta vẫn nói, cũng không phải là "ghé mắt trông" nhXuân Hơng đã từng tinh nghịch mà điền trớc đền thờ Sầm Nghi Đống, ở đây, nhân vật trữ tìnhchỉ có một tâm thế duy nhất: "buồn trông" Tâm trạng nàng đang ngổn ngang trăm mối: nhớngời yêu, nhớ cha mẹ, cảm giác mình là ngời có lỗi, và nhất là đang hết sức đau xót cho thânphận mình Bởi vậy, cảnh vật ấy cần đợc cảm nhận theo con mắt của Thuý Kiều: cánh buồmthấp thoáng nổi trôi vô định, hoa trôi man mác càng gợi nỗi phân li, nội cỏ không mơn mởnxanh mà "dàu dàu" trong sắc màu tàn úa Nổi bật lên trong cảnh vật đó là những âm thanh mêhoặc:

Buồn trông sóng cuốn mặt duềnh

ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồiTrong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã nhiều lần miêu tả âm thanh Có thể nói lần nào

ông cũng thành công Có khi chỉ qua một vài từ, ông đã diễn tả rất chính xác cảnh huyên náotrong nhà Thuý Kiều khi bọn vô lại kéo đến nhà:

Trớc thầy sau tớ xôn xao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào nh sôi

Nguyễn Du đặc biệt thành công khi ông tả tiếng đàn của Kiều Tuỳ theo tâm trạng, mỗi lầntiếng đàn của Kiều cất lên là một lần ngời nghe phải chảy nớc mắt khóc cho số phận oan nghiệtcủa nàng

Trong đoạn thơ này, Nguyễn Du không tả tiếng đàn mà tả tiếng sóng Trong khung cảnhbát ngát, mênh mang, tiếng sóng vỗ "ầm ầm" (lu ý: nhà thơ đã đảo ngữ để cho ấn tợng đó càng

rõ ràng hơn) quả là một thứ âm thanh hết sức bất thờng Dờng nh nó muốn phá vỡ khung cảnhnặng nề nhng yên tĩnh, nó dứt Kiều ra khỏi dòng suy t về gia đình, ngời thân mà trả nàng vềvới thực tại nghiệt ngã

Ngoài ra, dờng nh đó còn là những dự cảm về quãng đời đầy những khổ đau, tủi nhục êchề mà Kiều sắp phải trải qua

Mã Giám Sinh mua Kiều

(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)

I - Gợi ý

1 Tác giả:

(Xem bài Chị em Thuý Kiều)

2 Đoạn trích:

Đoạn trích nằm ở phần thứ hai trong Truyện Kiều (Gia biến và lu lạc) Sau khi gia đình bị

vu oan, Kiều quyết định bán mình để lấy tièn cứu cha và gia đình khỏi tai hoạ Đoạn này nói vềviệc Mã Giám Sinh đến mua Kiều

Bằng hình dáng bảnh bao và động tác sỗ sàng, Mã Giám Sinh đến mua Kiều và cò kè mặccả nh mua một món hàng

Trang 18

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

bán Thơng thân, xót phận mình là một lẽ, hơn nữa còn là cảm giác đau đớn, tái tê vì lòng tựtrọng của một con ngời Chỉ thoáng gợi, Nguyễn Du đã thể hiện đợc tâm trạng của Thuý Kiềutrong một tình cảnh đáng thơng, tội nghiệp

3 Đoạn trích thể hiện tấm lòng cảm thơng, xót xa trớc thân phận nhỏ nhoi của con ngời, giátrị con ngời bị chà đạp; vạch trần thực trạng xã hội đen tối, thế lực và đồng tiền lộng hành; giántiếp lên án thế lực phong kiến đã đẩy con ngời vào tình cảnh đau đớn, đồng thời bày tỏ thái độcăm phẫn, khinh bỉ trớc bọn buôn ngời giả dối, bất nhân

thuý kiều báo ân báo oán

( Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)

I - Gợi ý

1 Tác giả:

(Xem bài Chị em Thuý Kiều)

2 Đoạn trích:

Đoạn trích nằm ở cuối phần thứ hai trong Truyện Kiều (Gia biến và lu lạc) Sau khi chịu bao

đau khổ, tủi nhục, đoạ đầy, Thuý Kiều đợc Từ Hải cứu thoát khỏi lầu xanh và giúp nàng thoảnguyện đền ơn trả oán Đây là trích đoạn tả cảnh báo ân, báo oán

Đoạn trích có thể thành hai phần:

- Mời hai câu thơ đầu: Thuý Kiều báo ân (trả ơn Thúc Sinh);

- Các câu thơ còn lại: Thuý Kiều báo oán (cuộc đối đáp giữa Thuý Kiều và Hoạn Th)

Vậy tại sao Thúc Sinh lại đợc Thuý Kiều "báo ân" hậu hĩnh nh thế? Lí giải đợc điều này,chúng ta sẽ hiểu thêm về Thuý Kiều, từ đó càng hiểu thêm nghệ thuật xây dựng nhân vật củaNguyễn Du Nhân vật Thuý Kiều đã đợc xây dựng rất nhất quán từ đầu đến cuối tác phẩm Dùkhi phải dằn lòng trao duyên cho Thuý Vân, khi một mình đối cảnh ở lầu Ngng Bích hay khi có

đủ vị thế để báo ân báo oán sòng phẳng thì Thuý Kiều vẫn luôn là ngời nặng tình nặng nghĩa:

Nàng rằng: "Nghĩa nặng tình non,Lâm Tri ngời cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thơng chẳng vẹn chữ tòngTại ai há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là "

Lí lẽ của Thuý Kiều rất rõ ràng: đây không phải là sự báo ân mà là sự trả nghĩa, đúng hơn

là trả cái tình mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trớc đây Nh vậy, đối với Thúc Sinh, Thuý Kiều

đã không xử bằng lí mà bằng cái tình của nàng Điều này có vẻ nh không hợp với cách nghĩthông thờng, không thoả mãn đợc một số bạn đọc khó tính nhng chính ở đây lại làm bật lên giá

Trang 19

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

trị nghệ thuật của tác phẩm: Nguyễn Du đã không xây dựng nhân vật Thuý Kiều theo mộtcông thức định sẵn Ngợc lại, ông đã tạo nên một nhân vật rất sinh động, rất đời thờng Kiều đãsuy nghĩ, nói năng và hành động hoàn toàn hợp với phẩm chất và tính cách của nàng Điều nàycàng đợc chứng minh rõ ràng hơn qua cảnh tiếp theo

Cảnh báo oán

Đối tợng báo oán ở đây là Hoạn Th − vợ Thúc Sinh Mặc dù không trực tiếp đẩy ThuýKiều vào lầu xanh nhng Hoạn Th cũng là kẻ đã gây không ít đau khổ cho cuộc đời Kiều Conngời đã trở thành hình tợng điển hình cho sự ghen tuông ấy đã lặng lẽ cho ngời đến bắt nàng

về, đã dựng cảnh trớ trêu: bắt nàng hầu rợu Thúc Sinh để mà hả hê sung sớng khi tận mắtchứng kiến nỗi cực nhục của cả hai ngời Thuý Kiều hẳn không thể quên nỗi nhục hôm ấy, theo

đó thì tội của Hoạn Th đáng chết một trăm lần

Thế nhng Nguyễn Du đã không để cho lí trí của mình dẫn dắt sự việc một cách giản đơn

Ông âm thầm chứng kiến cuộc đối đầu giữa hai ngời đàn bà (mà theo Thuý Kiều là "kẻ cắp, bàgià gặp nhau"), thuật lại cuộc đấu khẩu của họ Biệt tài của Nguyễn Du là khi chứng kiến vàmiêu tả cuộc đụng độ "nảy lửa" ấy, ông đã không thiên vị một ai, không đứng về phía nào Ông

để cho sự việc tự nó phát triển, từ đó đã tạo nên một trong những chi tiết nghệ thuật giàu chấtsống, chất "tiểu thuyết" nhất của tác phẩm

Vị thế giữa hai ngời phụ nữ đã hoàn toàn đảo ngợc Trớc đây, khi Hoạn Th làm chủ tìnhthế, Thuý Kiều không những bị đánh đập mà còn bị làm nhục theo một cách thức rất riêng củaHoạn Th Nỗi đau tinh thần của Kiều lúc ấy còn lớn gấp hàng chục lần nỗi đau thể xác Thế nh-

ng giờ đây, ngời làm chủ tình thế lại là Thuý Kiều Chỉ cần nàng phẩy tay một cái, hẳn Hoạn

Th sẽ "thịt nát xơng tan"

Thuý Kiều đã khởi sự "báo oán" nh thế nào?

Thoắt trông nàng đã chào tha:

"Tiểu th cũng có bây giờ đến đây!

Đàn bà dễ có mấy tay

Đời xa mấy mặt, đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan,Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều"

Ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du thật đáng nể phục Nàng Kiều duyên dáng, thuỳ mị, "e lệnép vào dới hoa" ngày nào, giờ đối diện với kẻ thù, dờng nh đã hoá ra một con ngời khác Nếu

nh Kiều ra lệnh trừng phạt Hoạn Th ngay thì không có gì nhiều để bàn luận Nhng Kiều đangsung sớng hởng thụ cảm giác của kẻ bề trên, đang tìm cách dùng lời nói để "rứt da rứt thịt"Hoạn Th theo đúng cách mà trớc đây mụ ta đã đối xử với nàng Bằng giọng điệu đầy vẻ châmbiếm, Kiều gọi Hoạn Th là "tiểu th", cẩn thận báo cho mụ ta biết về "luật nhân quả" ở đời("Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều") Kiều tin chắc vào chiến thắng đến mức sẵn sàngchấp nhận đấu khẩu!

Thế nhng Hoạn Th thật xứng với danh tiếng "Bề ngoài thơn thớt nói cời "Mà trong nhamhiểm giết ngời không dao":

Hoạn Th hồn lạc phách xiêu,Khấu đầu dới trớng liệu điều kêu ca

Rằng: "Tôi chút phận đàn bà,Ghen tuông thì cũng ngời ta thờng tình "

Giữa dáng điệu bề ngoài với lời nói bên trong của Hoạn Th có cái gì đó rất mâu thuẫn Nếuquả thật đã "hồn lạc phách xiêu", Hoạn Th khó có thể biện hộ cho mình một cách khéo léo nhvậy Không những khẳng định "ghen tuông chỉ là thói thờng của đàn bà", Hoạn Th còn kể đếnnhững việc mà tởng nh mụ đã "làm ơn" cho Thuý Kiều: cho ra nhà gác để viết kinh, khi ThuýKiều trốn đã không đuổi bắt, Đó là những lí lẽ rất khôn ngoan mà Kiều khó lòng bác bỏ đợc.Thì ra, vẻ "hồn lạc phách xiêu" chỉ là bộ điệu mà mụ ta tạo ra để đánh vào chỗ yếu của ThuýKiều Đứng trớc cơ hội duy nhất để có thể thoát tội, mụ đã vận dụng tất cả sự khôn ngoan, lọclõi của mình

Rốt cuộc, trong cuộc đấu trí, đấu khẩu đó ngời thua lại chính là Thuý Kiều Bằng chứng làkhi nghe xong những lời "bào chữa" của Hoạn Th, Thuý Kiều đã xuôi lòng mà tha bổng cho

mụ, không những thế lại còn khen: "Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời" và tự nói vớimình rằng: "Làm ra mang tiếng con ngời nhỏ nhen"

Trang 20

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Kết cục đó có thể bất ngờ với ngời đọc nhng lại rất hợp lí với lô gích của tác phẩm Đoạn

"báo ân" với Thúc Sinh đã cho thấy: dù thế nào đi nữa, Kiều vẫn là ngời phụ nữ đa sầu đa cảm,nặng tình nặng nghĩa

Đây là một đoạn trích rất hấp dẫn, một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du Bằng cách để chocác sự việc tự vận động, nhân vật tự bộc lộ mình qua những lời đối thoại, Nguyễn Du đã đanghệ thuật miêu tả nhân vật của văn học trung đại tiến một bớc rất dài Miêu tả chân thực vàsinh động đời sống nh nó đang xảy ra, đó là một yếu tố quan trọng tạo nên "Chủ nghĩa hiệnthực của Nguyễn Du"

Lục vân tiên cứu kiều nguyệt nga

(Trích Truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)

I - Gợi ý

1 Tác giả:

- Quê mẹ ở huyện Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh); quê cha ở xã

Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên − Huế, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (tức ĐồChiểu, 1822-1888) thi đỗ tú tài năm 1843; đến năm 1849 thì mắt bị mù, ông về Gia Định dạy học

và bốc thuốc chữa bệnh cho dân Khi thực dân Pháp xâm lợc Nam Kỳ, Nguyễn Đình Chiểu tíchcực tham gia phong trào kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn việc đánh giặc, đồngthời sáng tác thơ văn khích lệ tinh thần nghĩa sĩ Khi Nam Kì rơi vào tay giặc, ông về sống ở BaTri (Bến Tre) Mặc dù thực dân Pháp và tay sai nhiều lần mua chuộc, dụ dỗ nhng Nguyễn ĐìnhChiểu đã giữ trọn lòng trung thành với Tổ quốc, kiên quyết không hợp tác với chúng

- "Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ đầu tiên ở Nam Bộ đã dùng chữ Nômlàm phơng tiện sáng tác chủ yếu, để lại một khối lợng thơ văn khá lớn và rất quý báu Trớc khithực dân Pháp xâm lợc, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu thiên về thể loại truyện thơ Nômtruyền thống, xoay quanh đề tài đạo đức xã hội, nổi tiếng nhất là truyện Lục Vân Tiên (khoảng

đầu những năm 50, thế kỉ XIX) rồi đến Dơng Từ - Hà Mậu Sau khi thực dân Pháp xâm lợc,Nguyễn Đình Chiểu viết một loại tác phẩm nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu hi sinh của nhândân Pháp xâm lợc, Nguyễn Đình Chiểu viết một loại tác phẩm nhằm khích lệ tinh thần chiến

đấu hi sinh của nhân dân và biểu dơng những tấm gơng anh hùng, liệt sĩ: Chạy tây (1859), Văn

Tế Trơng Định (1864), Mời hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vọng Lụctỉnh (1874), ngoài ra còn Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột), Th gửi cho em và mốt số bài thơ Đ-ờng luật khác nh Ngựa Tiêu sơng, Từ biệt cố nhân, Tự thuật Từ sau khi Nam Bộ lọt hoàn toànvào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu còn viết một truyện thơ Nôm dài dới hình thức hỏi đáp về yhọc Ngự Tiều y thuật vấn đáp Có thể Nguyễn Đình Chiểu còn là tác giả của bài Hịch kêu gọinghĩa binh đánh tây rất phổ biến ở Nam Kì những ngày đầu chống Pháp

Nguyễn Đình Chiểu đã trao đổi ngòi bút của mình một "thiên chức" lớn lao là truyền bá

đạo làm ngời chân chính và đấu tranh không mệt mỏi với những gì xấu xa để tiện, trái đạo lí,nhân tâm Đó là khát vọng hành đạo cứu đời của ngời nho sĩ không may bị tật nguyền nhnglòng vẫn tràn đầy nhiệt huyết Từ tác phẩm đầu tay đến tác phẩm cuối cùng, cha bao giờ ngòibút Nguyễn Đình Chiểu xa rời thiên chức ấy: " Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâmmấy thằng gian bút chẳng tà" (Trịnh Thu Tiết - Từ tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng chonhà trờng, NXB Đại học S phạm, 2004)

2 Tác phẩm

- Truyện Lục Vân Tiên là một truyện thơ Nôm rất nổi tiếng ở Nam Kì và Nam Trung Kỳ,

đ-ợc Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX Do đđ-ợc lu truyềnchủ yếu dới hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian (kể thơ, nói thơ, hát thơ ) nên truyện cónhiều bản khác nhau Theo văn bản phổ biến hiện nay thì truyện có 2082 câu thơ, đợc sáng táctheo thể lục bát

- "Truyện đợc sáng tác dới hình thức truyện kể, ban đầu chỉ truyền miệng và chép tay, luhành trong đám môn đệ và những ngời mến mộ tác giả, rồi sau mới lan rộng ra nhân dân vàngay lập tức đợc truyền tụng rộng rãi khắp chợ cùng quê, hội nhập đợc sinh hoạt văn hoá dângian, đặc biệt là ở Nam Kỳ, dới hình thức "kể thơ","nói thơ," Vân Tiên"hát" Vân Tiên.Truyện đ-

ợc xuất bản lần đầu bằng chữ Nôm năm 1986 bằng chữ quốc ngữ năm 1897, bản dịch tiến Pháp

đầu tiên là bản dịch của G.Aubaret xuất bản năm 1864 Từ đó đến nay có rất nhiều bản in khácnhau, do đó cũng có rất nhiều dị bản, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ, đặc biệt là ở đoạn kết.Theo văn bản thờng dùng hiện nay, truyện có 2082 câu thơ lục bát Truyện kể về một chàng traivăn võ song toàn, tên là Lục Vân Tiên Đang theo thầy học tập trên núi, nghe tin triều đình mởkhoá thi, Vân Tiên xin phép thầy xuống núi đua tài Dọc đờng về thăm cha mẹ, Vân Tiên gặpmột đám cớp đang hoành hành Chàng đã một mình bẻ gậy xông vào đánh tan bọn cớp, cứu

Trang 21

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

thoát tiểu th con quan Tri Phủ là Kiều Nguyệt Nga Làm xong việc nghĩa, không màng đến sựtrả ơn, Vân Tiên thanh thản ra đi, gặp và kết bạn với Hớn Minh Còn Nguyệt Nga, về tời phủ đ-ờng của cha, cảm ơn cứu mạng và cũng mến phục tài đức của Vân Tiên, nàng đã hoạ một bứchình Vân Tiên treo luôn bên mình Vân Tiên về thăm cha mẹ rồi cùng Tiểu đồng lên đờng tớitrờng thi Qua Hàn Giang, chàng ghé thăm nhà Võ Công, ngời đã hứa gả con gái là Võ ThểLoan cho chàng Thấy Vân Tiên khôi ngô tuấn tú, Võ Công rất mừng, giới thiệu cho chàng mộtngời bạn đồng hành là Vơng Tử Trực, lại cho con gái ra tiễn đa Vân Tiên với những lời dặn dòtình nghĩa Vân Tiên cùng Tử Trực tới kinh đô, gặp Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, cả bốn ngời vàoquán uống rợu, làm thơ Thấy Vân Tiên, Tử Trực tài cao, Trịnh Hâm sinh lòng đố kỵ, ghen ghét

Đúng ngày vào thi, Vân Tiên nhận đợc tin mẹ chết, vội bỏ thi trở về quê chịu tang Đờng sá xaxôi vất vả, lại thơng khóc mẹ nhiều, Vân Tiên bị đau mắt nặng Tiểu đồng hết lòng chạy chữathuốc thang nhng chỉ gặp toàn những lang băm và các thầy bói, thầy pháp lừa đảo, bịt bợm nêntiền mất mà tật vẫn mang, Vân Tiên bị mù cả hai mắt Đang khi bối rối lại gặp Trịnh Hâm đi thitrở về Vốn sẵn tính đố kỵ, độc ác, Trịnh Hâm lập âm mu dụ Tiểu đồng vào rừng hái thuốc, rồitrói vào gốc cây, lại nói dối Vân Tiên là Tiểu đồng đã bị cọp vồ Hắn đa Vân Tiên xuốngthuyền, hứa sẽ về đến tận nhà Nhng khi thuyền ra giữa vời, lợi dụng đêm khuya thanh vắng,hắn đã đẩy chàng xuống nớc Tiểu đồng đợc Sơn quân cởi trói, tởng Vân Tiên đã chết liền ở lại

đó "che chói giữ mả", thờ phục sớm hôm Còn Vân Tiên đợc Giao Long dìu đỡ, đa vào bãi, lại

đợc ông Ng vớt lên, cứu chữa Vân Tiên nhờ đa tới nhà họ Võ để nơng tựa Nhng cha con VõCông tráo trở đã tìm cách hãm hại Vân Tiên, đem chàng bỏ vào trong hang núi Thơng Tòng.Năm sáu ngày sau nhờ Du thần cứu, Vân Tiên mới ra đợc khỏi hang, lại đợc ông Tiều cho ăn

và cõng ra khỏi rừng May mắn chàng lại gặp đợc bạn hiền là Hớn Minh, vì "bẻ giò" cậu công

tử con quan để cứu ngời con gái bị cỡng bức giữa đờng, Hớn Minh đã phải bỏ thi, lẩn trốn ởtrong rừng Hớn Minh đa Vân Tiên về ngôi chùa cổ trong rừng nơng náu Cha con Võ Công,sau khi hãm hại đợc Vân Tiên lại tìm cách ve vãn Vơng Tử Trực, lúc này đã đỗ thủ khoa đếnnhà họ Võ để hỏi thăm tin tức Vân Tiên Vơng Từ Trực lòng dạ thẳng ngay đã mắng thẳng vàomặt cha con Võ công bội bạc, phản phúc, khiến Võ Công hổ thẹn sinh bệnh mà chết Còn KiềuNguyệt Nga nghe tin Vân Tiên đã chết, nàng thề sẽ suốt đời thủ tiết thờ chồng Nàng đa từ chốilời cầu hôn của gia đình quan Thái sự cho nên bị Thái sự thù oán, tâu vua bắt nàng đi cống giặc

Ô Qua Trớc khi phải ra đi, nàng đã sang nhà họ Lục làm chay bảy ngày cho Lục Vân Tiên theo

lễ vợ chồng, rồi để tiền bạc lại nuôi cha Vân Tiên Khi thuyền tới nơi biên giới, Nguyệt Nga đã

ôm bức bình hình Vân Tiên nhảy xuống biển, quan quân phải đem cô hầu gái Kim Liên thế vào.Nhờ đợc sóng thần và Phạt quan âm cứu giúp, Nguyệt Nga dạt vào vờn hoa nhà họ Bùi Bùi

ông, cha của Bùi Kiệm về, hắn vẫn tán tỉnh, đòi lấy nàng làm vợ Nguyệt Nga phải giả nhận lời,

để tìm kế hoãn binh, rồi nửa đêm, nàng mang bức bình Vân Tiên trốn khỏi nhà họ Bùi vàorừng, nơng nhờ ở nhà một bà lão dệt vải Trong khi đó, Lục Vân Tiên đã đợc Tiên ông chothuốc, mắt sáng nh xa Chàng từ biệt Hớn Minh, trở về nhà thăm cha, viếng mộ mẹ Biếtchuyện Nguyệt Nga, Vân Tiên cảm động, tìm đến thăm Kiều công, cha của nàng, rồi ở lại đó ônnhuần kinh sử Năm sau, gặp khoa thi, chàng đõ Trạng Nguyên Xảy ra có giặc Ô Qua gây hấn,Vân Tiên phụng mệnh vua cầm quân đi đánh giặc, tiến cử Hớn Minh làm phó tớng Giặc tan,Vân Tiên mải đuổi theo tớng giặc, lạc vào rừng, tời nhà lão bà để hỏi thăm đờng và gặp đợcKiều Nguyệt Nga Chàng trở lại triều đình, tâu trình mọi việc với vua Sở vơng tỉnh ngộ, cáchchức Thái s, sắc phong chức cho Kiều công, ban thởng những ngời có công dẹp giặc Những kẻbạc ác bất nhân nh Trịnh Hâm, mẹ con Võ Thể Loan đều không thoát đợc lới trời Tiểu đồng,

Ng ông, Tiều phu đều đợc đền ơn xứng đáng Vân Tiên và Nguyệt Nga sum họp một nhà,chung hởng hạnh phúc dài lâu" (Trịnh Thu Tiết - Từ tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùngcho nhà trờng, Sđd)

- Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện

Nghe tin triều đình mở khoa thi, Lục Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài Trên đờng trở

về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cớp hoành hành, Lục Vân Tiên đã một mình đánh tan bọn cớp,cứu đợc Kiều Nguyệt Nga Sau đó, Vân Tiên lại tiếp tục cuộc hành trình

I - Giá trị tác phẩm

1 Qua đoạn trích, có thể nhận ra những tính cách nổi bật của Lục Vân Tiên Trớc hết, đó là

sự cơng trực, nghĩa khí, trọng lễ nghĩa và đạo lí Đó là một chuẩn mực cho vẻ đẹp của kẻ trợngphu thời phong kiến

Qua những lời Kiều Nguyệt Nga nói với Lục Vân Tiên, có thể thấy nàng là một ngời con gáikhuê các, ăn nói nhỏ nhẹ, dịu dàng: "Chút tôi liễu yếu đào tơ", "Xin theo cùng thiếp đền ân chochàng"

2 Hai nhân vật (Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga) trong đoạn trích này chủ yếu đợc miêutả qua hành động và ngôn ngữ Hành động thì mạnh mẽ, dũng cảm, lời nói thì cơng trực, thẳng

Trang 22

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

thắn, không một chút vòng vo uẩn khúc Cách miêu tả nh vậy rất gần với cách miêu tả trongtruyện cổ tíc h: các nhân vật thờng có tính cách nhất quán, rõ ràng, phân biệt rõ chính và tà,phải và trái, thiện và ác,

3 Ngôn ngữ trong Truyện Lục Vân Tiên rất gần với ngôn ngữ trong ca dao dân ca, rất mộcmạc, giản dị chứ không hàm súc, đa nghĩa nh ngôn ngữ trong Truyện Kiều hay các tác phẩmthơ đợc viết theo thể lục bát sau này Điều đó một phần có thể do điều kiện sáng tác (Nguyễn

Đình Chiểu bị mù, khi viết thờng phải nhờ ngời khác chép lại), một phần khác do cái "chấtNam Bộ" trong con ngời và cả trong văn chơng Nguyễn Đình Chiểu Có thể nói ông là ngời concủa miền đất Nam Bộ, sống mộc mạc, giản dị và có tính cách rất mạnh mẽ, dứt khoát

Thông qua sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, tác giả thể hiện niềm tin vào những điều tốt

đẹp ở đời

II - Giá trị tác phẩm

1 Trịnh Hâm vốn là kẻ ganh ghét, đố kỵ, đồng thời cũng rất tàn ác, nham hiểm, hắn lại đợilúc đêm khuya vắng, bất ngờ hãm hại Vân Tiên khiến không ai kịp cứu giúp chàng, chi tiết nàycàng cho thấy bản chất tàn ác, nham hiểm của Trịnh Hâm Tuy kể bằng thơ nhng, có thể thấytác giả đã lựa chọn hình thức rất ngắn gọn, rõ ràng, giúp bạn đọc hình dung cụ thể tình tiết,diễn biến sự kiện

2 Trong đoạn trích này, nếu nh Trịnh Hâm là kẻ điển hình cho cái ác thì ông Ng lại tiêubiểu cho cái thiện Hành động của Trịnh Hâm càng tàn ác bao nhiêu thì cách ông Ng cứu giúpLục Vân Tiên lại càng đáng ca ngợi bấy nhiêu

Đoạn thơ cho thấy tác giả rất trân trọng những ngời lao động Họ là biểu tợng của cái thiện,cái đẹp Cách sống ung dung, tự tại của họ thật đáng ca ngợi Họ mang đến cho ta tình yêu vàniềm tin đối với cuộc sống

3. Cũng nh ở đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga, ngôn ngữ trong đoạn tríchnày rất giản dị, dễ hiểu, thể hiện rõ những cảm xúc và suy nghĩ chân thành của tác giả Nhữngcâu thơ diễn tả lời ông lão nói về công việc của mình là những câu thơ đẹp Dù rất cụ thể, ngắngọn nhng nó cho thấy tâm hồn phóng khoáng, tình yêu cuộc sống, yêu lao động của ông Ng

và chiến tranh

"Bài thơ đầu tiên của Chính Hữu đợc biết đến là bài Ngày về (1947), thể hiện ý chí củanhững ngời chiến sĩ Hà Nội quyết trở về giành lại quê hơng đang nằm trong tay giặc ChínhHữu thành công thực sự là bài Đồng chí (1948) Bài thơ đợc viết ngay sau chiến dịch Việt Bắc,thể hiện chân thực hình ảnh ngời lính cách mạng trong vẻ đẹp bình dị và tình đồng chí, đồng

đội thiêng liêng, thắm thiết của họ Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cũng

nh trong hòa bình, Chính Hữu gần nh chỉ viết về ngời chiến sĩ và cuộc chiến đấu: tình đồng chí,

đồng đội (Đồng chí, Giá từng thớc đất), cảm xúc và suy nghĩ của ngời lính về nhân dân, đất nớc(Tháng Năm ra trận, Sáng hôm nay, Lá nguỵ trang Ngọn đèn đứng gác ), tình cảm tha thiết

Trang 23

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

với gia đình (Gửi mẹ, Th nhà), nỗi đau thơng và căm giận trớc tội ác của kẻ thù thúc giục ngờichiến sĩ ra trận (Trang giấy học trò) Thơ Chính Hữu in đậm những hình ảnh của một đất nớcngày đêm đánh giặc, với khí thế mạnh mẽ và hào hùng của những cuộc hành quân khôngngừng nghỉ Mọi khung cảnh, âm vang của thời đại đã đợc đón nhận và tái hiện với sức vangngân rất sâu trong tâm khảm nhà thơ, để trở thành những hình ảnh và ấn tợng đậm nét, giàusức gợi cảm và ý nghĩa biểu trng

Hiện Chính Hữu mới chỉ công bố: tập thơ Đầu súng trăng treo (1966), Thơ Chính Hữu (1977),Tuyển tập Chính Hữu (1988) Thơ Chính Hữu giàu hình ảnh, nhiều suy tởng, ngôn ngữ chọn lọc,cô đọng Ông thờng sử dụng thể thơ tự do, giàu nhạc điệu, mà chủ yếu là nhạc điệu của nội tâm,vừa lắng đọng vừa có sức âm vang Chính Hữu làm thơ không nhiều nhng vẫn có một vị trí xứng

đáng trong nền thơ hiện đại Việt Nam, và một số bài thơ của ông thuộc số những tác phẩm tiêubiểu nhất của thơ ca kháng chiến (Đồng chí, Đờng ra mặt trận, Ngọn đèn đứng gác, Trang giấyhọc trò) Chính Hữu đợc tặng Giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000"(Nguyễn Văn Long - Từ điển văn học, Sđd)

2. Tác phẩm:

Bài thơ Đồng chí đợc sáng tác đầu năm 1948, thể hiện những cảm xúc sâu xa và mạnh mẽcủa nhà thơ Chính Hữu với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc Cảm hứng của bài thơ hớng vềchất thực của đời sống kháng chiến, khai thác cái đẹp và chất thơ trong sự bình dị của đời th-ờng

Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội gắn bó thắm thiết của những ngời nông dân mặc áolính trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Trong hoàn cảnh khó khăn,thiếu thốn, tình cảm đó thật cảm động, đẹp đẽ

II - Giá trị tác phẩm

Nói đến thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp không thể không nói đến Đồng chí (1948)của Chính Hữu Bài thơ mang vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí giản dị, mộc mạc mà sâu sắccủa những ngời lính cách mạng trong những tháng ngày kháng chiến gian lao

Nhà thơ Chính Hữu đã từng nói về tác phẩm của mình:

" Trong bài thơ Đồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội Suốt cả cuộc chiến đấu,chỉ có một chỗ dựa dờng nh là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu là tình đồng chí, tình đồng đội

Đồng chí ở đây là tình đồng đội Không có đồng đội, tôi không thể nào hoàn thành đợc tráchnhiệm, không có đồng đội, có thể nói, tôi cũng chết lâu rồi Bài Đồng chí là lời tâm sự viết ra đểtặng đồng đội, tặng ngời bạn nông dân của mình."

Thật vậy, không gian trữ tình trong Đồng chí giá buốt mà không lạnh lẽo Hơi ấm toả ra từtình ngời, từ tình tri kỉ, kề vai sát cánh bên nhau của những con ngời chung lí tởng, chung chíhớng Đứng trong hàng ngũ cách mạng, chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, ngời lính vợtlên trên mọi gian khó bằng sự sẻ chia, đồng tâm hiệp lực Họ sống trong tình đồng đội, nhờ

đồng đội, vì đồng đội

Những ngời đồng đội ấy thờng là những ngời "nông dân mặc áo lính" Điểm giống nhau vềcảnh ngộ xuất thân giúp họ có thể dễ dàng gần gũi, đồng cảm với nhau:

Quê hơng anh nớc mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi ngời xa lạ

Tự phơng trời chẳng hẹn quen nhau,

"Anh và tôi" từ những vùng quê khác nhau, chỉ giống nhau cái nghèo khó của đất đai, đồngruộng Anh từ miền quê ven biển: "nớc mặn đồng chua" Tôi từ vùng đất cao "cày lên sỏi đá".Hai ngời xa lạ, từ hai phơng trời xa lạ trở thành tri kỉ:

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Những ngời "nông dân mặc áo lính" ấy gặp nhau trong cuộc chiến đấu vì chính cuộc sốngcủa họ, cùng đứng trong hàng ngũ những "ngời lính cụ Hồ" Sự nghiệp chung của dân tộc đãxoá bỏ mọi khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi ngời ""Súng bên súng" làchung chiến đấu, "đầu sát bên đầu" thì chung rất nhiều: không chỉ là gần nhau về không gian

mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tởng" (Trần Đình Sử - Đọc văn học văn, Sđd) Đến khi đắp chungchăn trong đêm giá rét thì họ đã thực sự là anh em một nhà Nhà thơ Tố Hữu cũng từng viết:

"Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" để thể hiện tình kháng chiến gắn bó, bền chặt Để nói về sựgần gũi, sẻ chia, về cái thân tình ấm áp không gì hơn là hình ảnh đắp chăn chung Nh thế, tình

Trang 24

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

đồng chí đã bắt nguồn từ cơ sở một tình tri kỉ sâu sắc, từ những cái chung giữa "anh" và "tôi".Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai tiếng: "Đồng chí" Nếu không kể nhan đề thì đây là lần duynhất hai tiếng "đồng chí" xuất hiện trong bài thơ, làm thành riêng một câu thơ Câu này có ýnghĩa quan trọng trong bố cục của toàn bài Nó đánh dấu một mốc mới trong mạch cảm xúc vàbao hàm những ý nghĩa sâu xa Sáu câu thơ đầu là tình đồng đội tri kỉ, đến đây đợc nâng lênthành tình đồng chí thiêng liêng Đồng chí nghĩa là không chỉ có sự gắn bó thân tình mà còn làcùng chung chí hớng cao cả Những ngời đồng chí - chiến sĩ hoà mình trong mối giao cảm lớnlao của cả dân tộc Gọi nhau là đồng chí thì nghĩa là đồng thời với t cách họ là những con ngời

cụ thể, là những cá thể, họ còn có t cách quân nhân, t cách của "một cây" trong sự giao kết của

"rừng cây", nghĩa là từng ngời không chỉ là riêng mình Hai tiếng đồng chí vừa giản dị, thânmật lại vừa cao quý, lớn lao là vì thế

ở phần tiếp theo của bài thơ, với những chi tiết, hình ảnh cụ thể tác giả đã thể hiện tình cảmsâu sắc của những ngời đồng chí Trớc hết, họ cùng chung một nỗi nhớ quê hơng:

Ruộng nơng anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Giếng nớc gốc đa nhớ ngời ra lính

Trong nỗi nhớ quê hơng ấy có nỗi nhớ ruộng nơng, nhớ ngôi nhà, nhớ giếng nớc, gốc đa.Nhng ruộng nơng cũng nh nhớ tay ai cày xới, ngôi nhà nhớ ngời trong lúc gió lung lay, vàgiếng nớc, gốc đa cũng đang thầm nhớ ngời ra đi Nỗi nhớ ở đây là nỗi nhớ hai chiều Nói

"giếng nớc, gốc đa nhớ ngời ra lính" cũng là thổ lộ nỗi nhớ cồn cào về giếng nớc, gốc đa Tìnhquê hơng luôn thờng trực, đậm sâu trong những ngời đồng chí, cũng là sự đồng cảm củanhững ngời đồng đội Ngời lính hiện ra cứng cỏi, dứt khoát lên đờng theo tiếng gọi non sôngsong tình quê hơng trong mỗi ngời không khi nào phai nhạt Và bên cạnh hình bóng quê hơng,

điểm tựa vững chắc cho ngời lính, là đồng đội:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run ngời vừng trán ớt mồ hôi

áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cời buốt giá

Chân không giày

Thơng nhau tay nắm lấy bàn tay

Kể sao xiết những gian khổ mà ngời lính phải trải qua trong chiến đấu Nói về cái gian khổcủa ngời lính trong kháng chiến chống Pháp, ta nhớ đến cái rét xé thịt da trong bài Lên CấmSơn của Thôi Hữu:

Cuộc đời gió bụi pha sơng máu

Đợt rét bao lần xé thịt da

Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh

Đâu còn tơi nữa những ngày hoa!

Lòng tôi xao xuyến tình thơng xót

Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa

Nhớ đến cái ác nghiệt của bệnh sốt rét trong Tây Tiến của Quang Dũng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Ta cũng có thể thấy cái buốt giá của núi rừng Việt Bắc, cái ớn lạnh toát mồ hôi của bệnh sốtrét trong những câu thơ của Chính Hữu Nhng nếu nh Thôi Hữu viết về cái rét xé thịt da đểkhắc hoạ những con ngời chấp nhận hi sinh, "Đem thân xơ xác giữ sơn hà", Quang Dũng nói

đến sốt rét để tô đậm vẻ đẹp bi tráng của những ngời chiến sĩ thì Chính Hữu nói về cái rét, cái

ác nghiệt của sốt rét là để nói về tình đồng đội, đồng chí trong gian khổ, là sự thấu hiểu, cảmthông giữa những ngời lính Trong bất cứ sự gian khổ nào cũng thấy họ sát cánh bên nhau, san

sẻ cho nhau: "Anh với tôi biết ", "áo anh - Quần tôi ", "tay nắm lấy bàn tay" Cái "Miệng cờibuốt giá" kia là cái cời trong gian khổ để vợt lên gian khổ, cời trong buốt giá để lòng ấm lên,cũng là cái cời đầy cảm thông giữa những ngời đồng đội Giá buốt mà không lạnh lẽo cũng làvì thế

Bài thơ kết bằng hình tợng những ngời đồng chí trong thời điểm thực tại, khi họ đang làm

Trang 25

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

nhiệm vụ chiến đấu:

Đêm nay rừng hoang sơng muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Có thể xem đây là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất về ngời lính trong thơ ca khángchiến Ba câu thơ phác ra một bức tranh vừa mang chất chân thực của bút pháp hiện thực, vừathấm đẫm cái bay bổng của bút pháp lãng mạn Trên sắc xám lạnh của nền cảnh đêm rừnghoang sơng muối, hiện lên hình ảnh ngời lính - khẩu súng - vầng trăng Dới cái nhìn của ngờitrong cuộc, ngời trực tiếp đang cầm súng, trong một sự kết hợp bất ngờ, đầu súng và vầngtrăng nh không còn khoảng cách xa về không gian, để thành: "Đầu súng trăng treo." Sự quansát là hiện thực, còn sự liên tởng trong miêu tả là lãng mạn Hình ảnh súng tợng trng cho hành

động chiến đấu, tinh thần quyết chiến vì đất nớc Trăng tợng trng cho cái đẹp yên bình, thơmộng Hình ảnh "đầu súng trăng treo" mang ý nghĩa khái quát về t thế chủ động, tự tin trongchiến đấu, tâm hồn phong phú của ngời lính Nói rộng ra, hai hình ảnh tơng phản sóng đôi vớinhau tạo nên biểu tợng về tinh thần, ý chí sắt đá mà bay bổng, trữ tình của dân tộc Việt Nam.Những ngời lính là đồng đội, đồng chí, cả dân tộc là đồng chí Ngời nghệ sĩ cũng trở thành

đồng chí, nên Hồng Nguyên và Chính Hữu đồng cảm với nhau trớc những ngời áo vải:

Lũ chúng tôi

Bọn ngời tứ xứ

Gặp nhau hồi cha biết chữ

Quen nhau từ buổi "một hai"

Súng bắn cha quen,

Quân sự mơi bài,

Lòng vẫn cời vui kháng chiến

-bài thơ về tiểu đội xe không kính

Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống

Mĩ qua các hình tợng ngời lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đờng Trờng Sơn Thơ

ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc

Các tác phẩm đã xuất bản: Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970); Thơ một chặng đờng (thơ,1971); ở hai đầu núi (thơ, 1981); Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983); Thơ một chặng đ-ờng (tập tuyển, 1994); Nhóm lửa (thơ, 1996)

Nhà thơ đã đợc nhận Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1969-1970

Trang 26

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Với nhan đề "Nói thêm về tiểu đội xe không kính", tác giả Võ Minh trong Tài hoa trẻ, số347-348, tháng 12-2004, đã viết:

"Thờng mỗi bài thơ đều có xuất phát điểm th hứng Hứng mà xuất thân thì bài thơ lấy

"hứng" làm chủ đạo, từ đó cấu trúc thành "tứ", thành ý làm nổi bật cái "sự", phô diễn cái "tình".Không ít bài thơ do cái "sự: thúc bách thì "sự" là chủ đạo để hình thành tứ cho bài thơ trên nềnmóng của "tình" làm chất liệu Bài thơ "Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật thuộc môtíp thứ hai này Hồi đó, vào những năm 1968-1973, trên tuyến đờng mòn Hồ Chí Minh thuộc

địa phận đất bạn Lào có cả một hệ thống đờng giao thông bộ Những con đờng chằng chịt, luồnlách trong bạt ngàn rừng già đợc các lực lợng bộ đội công binh Thanh niên xung phong dâncông hỏa tuyến ngày đêm khai mờ Phần lớn sức vóc khổng lồ của hậu phơng miền Bắc thamgia cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đợc vận hành, chuyên chở trên những con đờng này

Sự vận chuyển diễn ra suốt ngày đêm không ngng nghỉ, âm thầm mà náo nhiệt, dồn sức ngời,sức của cho tiền tuyến miền Nam Trong các hình thức vận chuyển hậu cần qui mô to lớn ấy, xe

ô tô là lực lợng vận chuyển chủ lực Có nhiều trung đoàn, tiểu đoàn ô tô ở các binh trạm, trong

đó có tiểu đoàn vận tải 61 là đơn vị hai lần đoạt danh hiệu Anh hùng Lực lợng vũ trang PhạmTiến Duật là một chiến sĩ - nhà thơ trong tiểu đoàn 61 anh hùng đó

Vì lí do trên nên máy bay Mĩ thờng trực ngày đêm bắn chặn ta Năm 1969, qui mô bắn phácủa kẻ thù vô cùng ác liệt Tại địa bàn của binh trạm 27, lộ trình vận chuyển qua cửa khẩu biêngiới Việt - Lào có những nút giao thông nh "Cua chữ A" (đờng 10), đỉnh Cổng trời (đờng 20),v.v sau vài tiếng đồng hồ lại có một tốp ba chiếc B52 đến rải thảm bom với hàng trăm quả đủloại Những con đờng ngày một quang dần vì bom đạn Mĩ, có nhiều đoạn phơi lng lộ diện giữahiên đại trùng trùng Tiểu đoàn 61 đã có nhiều chiếc xe bị cháy, bị lật nhào xuống vực và bị vỡkính vì "bom giật, bom rung"

Sự ác liệt tăng lên, sự hi sinh của ngời lính tăng lên và tất nhiên, những tác động tâm lí tạonên sự do dự cũng tăng lên trong bộ đội Công tác chính trị đặt ra phải tạo đợc khí thế tiếncông cách mạng đồng loạt, ngời chiến sĩ lái xe phải bám xe, bám đờng vận chuyển hàng hóatrong bất kì hoàn cảnh nào Từng đơn vị phải có điển hình cụ thể, phải tạo đợc "cái hích" tiếnlên của đơn vị mình Chính vì thế ở tiểu đoàn 60 thành lập một tiểu đội mới bao gồm nhữngchiến sĩ cảm tử lái những chiếc xe "thơng tích" vì trận mạc Phạm Tiến Duật đã đi trên một chiếc

xe của tiểu đội ấy để chở hàng và bài thơ về tiểu đội xe không kính ra đời sau lần đi nh thế Bàithơ có tên gọi bình dị nhất Viết xong, anh đọc ngay cho chính những chiến sĩ trong cuộc nghetrớc khi nó đợc đăng lên tờ Tin tức Mặt trận của đoàn 559 và trớc khá lâu trên báo Văn nghệtrong một cuộc dự thi Sau lần đọc đó, có một thông lệ của đơn vị 61 là, trớc mỗi lần cho xe

"xuất kích" cả tiểu đoàn ngồi nghe đọc bài thơ

Chỉ một tuần sau khi bài thơ ra đời, cả mặt trận có vô số tiểu đội xe không kính Sau này,vào những năm cuối cuộc kháng chiến, đã có những chiến sĩ lái xe tự ý đập vỡ kính để mắt th-ờng nhìn trực tiếp mặt đờng chằng chịt hố bom cho rõ hơn dới ánh sáng lù mù của chiến đèngầm soi Thậm chí, có ngời còn tháo cả cảnh của buồng lái để tiện cho việc xử lí tình huống khi

xe bị máy bay AC130 săn đuổi - loại máy bay bắn rốc-két hay đạn 27 li vào mục tiêu di độngbằng thiết bị dò âm thanh mặt đất và bằng kính nhìn có tia hồng ngoại

Mạn phép nói thêm cái chất thực của bài thơ để chúng ra hiểu rằng, một bài thơ có nhiềukhi vợt qua khỏi phạm trù cái đẹp văn chơng thuần tuý, dâng cho cuộc sống những giá trị thựctiễn lớn lao biết nhờng nào Bài thơ " Bài thơ về tiểu đội xe không kính" có cái mãnh lực thần kì

ấy, nó vừa mang tính chiến đấu nóng bỏng, tính thời sự tức thời vừa mang tầm vóc lịch sử! Tấtnhiên một bài thơ nh thế phải là tiếng nói của cuộc sống thực hào hùng Đó là tiếng nói chânthành, độc đáo của ngời trong cuộc Nó nh một tuyên ngôn về lẽ sống của một thế hệ ngời ViệtNam!

Giờ đây mỗi lần có dịp đọc lại hay nghe ai đó đọc lên bài thơ này, không ít ngời nh tôi lạibồi hồi nhớ về một quãng đời chiến tranh ở đờng 9 - Nam Lào, nhớ về hình ảnh anh Phạm TiếnDuật lần đầu đứng trớc anh em đơn vị D61 Anh đọc cho anh em nghe bài thơ nói về họ trớcgiờ xuất kích Đã hết câu cuối bài thơ mà cả đơn vị còn lặng im, rồi phút chốc cùng vùng dậy,thoáng đã ngồi sau tay lái Một khoảng rừng già rộ lên, những cỗ xe dắt kín lá ngụy trang rùngrùng chuyển bánh đi về hớng Nam đã định"

II - Giá trị tác phẩm

Bài thơ về Tiểu đội xe không kính nằm trong chùm bài thơ của Phạm Tiến Duật đợc giảinhất báo Văn nghệ năm 1969 Bài thơ về Tiểu đội xe không kính ghi lại ý nghĩ, tình cảm, cảmxúc của các chiến sĩ lái xe hoạt động trên đờng mòn Hồ Chí Minh ngày đêm đa ngời và hàngchi viện cho miền Nam ở đờng mòn Hồ Chí Minh, mỗi chiến sĩ lái xe ngày và đêm đối mặt vớibom đạn của giặc Mĩ, đối mặt với cái chết Họ đã thể hiện tinh thần quả cảm, ý chí gang thép

Trang 27

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

của ngời chiến sĩ cách mạng Tinh thần ấy, ý chí ấy truyền vào từng ý thơ, từng hình ảnh vànhạc điệu khiến cho bài thơ có những nét riêng rất đặc biệt

Trớc tiên đó là giọng thơ ngang tàng có vẻ bất cần tất cả Lí giải vì sao xe không có kính,ngời chiến sĩ cho biết:

Không có kính không phải vì xe không có kínhBom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Câu thơ trên có 10 tiếng lặp lại ba tiếng không Cụm từ "không có kính" đứng ở đầu và cuốicâu thơ tởng nh chỉ là sự lặp lại thông thờng nhng thực chất lại bao hàm hai nghĩa khác nhau.Cách diễn đạt ấy mang đậm chất lính Chất đời thờng dờng nh xa lạ với thơ nhng lại là câu mở

đầu cho một bài thơ hay Bài thơ đợc giải nhất trong một cuộc thi thơ của báo Văn nghệ Chínhcái khẩu khí ấy đã qui định giọng điệu của cả bài thơ, đã kéo theo liền một mạch ba câu liềntrong khổ thơ thứ nhất:

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồiUng dung buồng lái ta ngồi,Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Kính vỡ vì bom giật, bom rung, điều giải thích ấy có thể hiểu đợc Đến câu thơ thứ ba, ý thơ

đột ngột chuyển hẳn sang một hớng khác, tả lại phong thái của ngời chiến sĩ lái xe ngồi trênchiếc xe không kính đó:

Ung dung buồng lái ta ngồiHai tiếng ung dung vừa gợi hình, vừa tả đợc thái độ tự tin, đợc vẻ phớt đời, coi thờng bom

đạn của ngời chiến sĩ lái xe T thế ung dung ngồi trong buồng lái mặc cho bom giật, bom runglại càng đợc khẳng định khi ta dõi theo cặp mắt ngời chiến sĩ:

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Câu thơ ngắt làm ba nhịp, hai nhịp đầu hớng cặp mắt ngời chiến sĩ tới hai đối tợng: đất vàtrời Tới nhịp thứ ba, đối tợng không còn, ngời chiến sĩ hớng cặp mắt tới phía trớc trong t thếbình thản, tự nhiên và dũng cảm: nhìn thẳng Nhìn thẳng vào bom đạn kẻ thù, nhìn thẳng vàocon đờng đang bị bắn phá đầy chết chóc để lái xe vợt qua tất vả Cái tứ nhìn thẳng này sẽ dẫntới câu kết là lời giải thích nguyên nhân vì sao ngời chiến sĩ lái xe lại có dũng khí ấy:

Một trái tim yêu nớc, yêu đời Một trái tim đập vì nớc Nam thân thơng nh Bác Hồ thờngnói:

Vì trên xe có một trái timVợt lên trên chết chóc, bom đạn, anh chợt nhận ra:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đờng chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Nh sa, nh ùa vào buồng láiHai khổ thơ sau của đoạn trích ghi lại hình ảnh anh chiến sĩ lái xe đang hăng hái làm nhiệm

vụ đa hàng ra tiền tuyến trên chiếc xe không kính Cũng vẫn cái giọng ngang tàng đó, ngờichiến sĩ kể:

Không có kính, ừ thì ớt áo

Ma tuôn, ma xối nh ngoài trờiMột tiếng "ừ" quả quyết, ngắn gọn, bất chấp tất cả, cả ma tuôn, cả gió thổi, cả ớt áo Cái khíphách ấy mang lại cho hai câu thơ sau một nhịp thơ rắn đanh, chắc nịch:

Cha cần thay, lái trăm cây số nữa

Ma ngừng, gió lùa khô mau thôiKhổ thơ cuối có hai hình ảnh đẹp Hình ảnh thứ nhất ghi lại vẻ đẹp của những ngời línhlòng can đảm dám vợt qua thử thách nơi chiến trờng:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu độiHình ảnh thứ hai ghi lại vẻ đẹp của những ngời lính giàu tính đồng đội Cách biểu lộ tìnhcảm của họ cũng ngang tàng và rất lính:

Gặp bè bạn suốt đọc đờng đi tới

Trang 28

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồiCái cửa kính vỡ rồi, cái xe không có kính, nhng tiểu đội xe không kính vẫn lao lên phía trớc,lao ra tiền tuyến để tiếp tế súng đạn, lơng thực vì ngày toàn thắng của đất nớc Hình ảnh tiểu

đội xe không kính trở thành biểu tợng anh hùng tuyệt vời cho những ngời lính lái xe trên đờngmòn Hồ Chí Minh vợt Trờng Sơn hớng tới miền Nam

là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Huy Cận đợc Nhà nớctrao tặng Giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996)

Hơn 60 năm hoạt động văn học nói chung và làm thơ nói riêng, với gần 20 thi phẩm thơ đi

từ nỗi buồn "từ ngàn xa" đến niềm vui lớn hôm nay, Huy Cận luôn gắn liền với mạch đờichung của dân tộc Thơ Huy Cận vừa bám lấy cuộc đời, vừa hớng tới những khoảng rộng xacủa tạo vật và thời gian, vừa trăn trở với cái chết, vừa nâng niu sự sống trớc qui luật tử sinh,vừa triết lí suy t, vừa hồn nhiên thơ trẻ, vừa bay bổng lãng mạn, vừa hiện thực đời thờng trongcái khoảnh khắc hữu hạn của đời ngời vẫn muốn hoá thân vào cái vĩnh cửu, trờng sinh (Trờimỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Những năm sáu mơi, Chiến trờng gần đếnchiến trờng xa, Ngày hằng sống, ngày hằng thơ, Ngôi nhà giữa nắng, Ta về với biển, Lời tâmnguyện cùng hai thế kỷ) Với ý thức vận động và sự chuyển hoá giữa nhiều yếu tố trong hình t-ợng cái tôi trữ tình, Huy Cận đã tạo cho mình một phong cách đặc sắc, độc đáo Huy Cận đã tỏ

ra sở trờng về thể thơ lục bát và có đóng góp đáng kể trong sự mở rộng hình thức và nâng caochất trí tuệ cho thơ theo hớng suy tởng, vơn tới những khái quát rộng xa, giàu liên tởng trongnhững bài thơ mở rộng khuôn khổ, kích thớc

ời vợ (thơ, 1974); Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (thơ, 1975); Sơn Tinh, Thủy Tinh (thơ, 1976);Ngôi nhà giữa nắng (thơ, 1978); Hạt lại gieo (thơ, 1984); Văn hóa và chính sách Văn hóa ở Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pari 1985); Tuyển tập (thơ,1986); Nớc thủy triều Đông (thơ, song ngữ, xuất bản ở Paris, 1944); Hồi ký song đôi (1997)

- Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá thể hiện sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứngthiên nhiên, vũ trụ của nhà thơ Huy Cận

Bài thơ đợc bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá Hai khổ

đầu là cảnh lên đờng và tâm trạng náo nức của con ngời, bốn khổ tiếp theo là hoạt động của

đoàn thuyền đánh cá và khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh của mộtngày mới

Về hoàn cảnh sáng tác, nhà thơ Huy Cận nhớ lại:

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của tôi đợc viết ra trong những tháng năm đất nớc bắt đầuxây dựng chủ nghĩa xã hội Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rấtphấn khởi Cả tác phẩm vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đếnhoàng hôn và cả từ hoàng hôn cho đến bình minh Đoàn thuyến đánh cá lấy thời điểm xuấtphát khác với lệ thờng, lúc mặt trời lặn và trở về trong ánh bình minh chói lọi Khung cảnh trênbiển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong quiluật vận động tự nhiên của nó ở đây tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ.Nếu trớc cách mạng vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, trớc là tách biệt xa cách với cuộc đời thìhôm nay lại gần gũi với con ngời Bài thơ của tôi là một cuộc chạy đua giữa con ngời và thiênnhiên, và con ngời đã chiến thắng Tôi coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi con ngời trong lao độngvới tinh thần làm chủ, với niềm vui Bài thơ cũng là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn.Chất hiện thực của khung cảnh lao động trên biển cả khi vùng biển đã về ta Và chất lãng mạnthì cũng không cần phải tởng tợng nhiều ở giữa cảnh biển cao rộng đó, với gió, với trăng, rồi

Trang 29

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

bình minh và nắng hồng, và đặc biệt là sức ngời trong lao động đều thực sự mang tính chấtlãng mạn bay bổng "Thuyền ta lái gió với buồm trăng" "Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời".Cảm hứng và hình ảnh ấy rất thích hợp với lao động trên biển Tôi nghĩ rằng trong khung cảnh

đó cũng không thể viết khác đi Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đẹp của một ngày mới khi đoànthuyền đang trở về, các khoang thuyền đầy ắp cá Mở đầu bài thơ là hình ảnh "mặt trời xuốngbiển" và kết thúc là hình ảnh "mặt trời đội biển" nhô lên giữa sông nớc

Thiên nhiên đã vận động theo một vòng quay của mặt trời và con ngời đã hoàn thànhtrách nhiệm của mình trong lao động Không có gì vui bằng lao động có hiệu quả

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá nằm trong cảm hứng chung của thơ tôi trong những năm xâydựng chủ nghĩa xã hội Tôi viết bài thơ tơng đối nhanh, chỉ vài giờ của một buổi chiều trênvùng biển Hạ Long Bài thơ đợc viết liền mạch và ít phải sửa chữa Tôi nghĩ rằng đó cũngkhông phải là chuyện ngẫu nhiên mà thực sự là cảm hứng đã đợc tích tụ trên một đề tài quenthuộc của tôi và đợc viết ra trong không khí rất vui của những năm tháng đầu xây dựng củachủ nghĩa xã hội (Huy Cận, Tác phẩm văn học, NXB Văn học, 2001)

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nớc song songThuyền về nớc lại, sầu trăm ngả

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lới ta, đoàn cá ơi!

Đó là sự khác nhau của hai nguồn sống, ở hai giai đoạn sống của một tâm hồn Đoànthuyền đánh cá là hình ảnh của cuộc sống mới, cuộc sống mà ngời ta tìm thấy niềm tin vui bấtdiệt trong lao động

Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá Hai khổ thơ

đầu là cảnh ra khơi Khung cảnh thiên nhiên đợc phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận đợc

vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn trơng của một buổi xuất bến ra khơi Hai câu thơ đầugợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, những con sóng gợn những nét ngangluân chuyển qua lại nh then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm nh đợc kéo xuống

đến đó Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc "sóng đã cài then", "đêm sập cửa"

Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừngsáng tiếng hát của ngời dân Không phải ánh sáng toát lên từ cánh buồm trắng trong một buổimai nh ở Quê hơng của Tế Hanh:

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồngDân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

( )Cánh buồm giơng to nh mảnh hồn làngRớn thân trắng bao la thâu góp gió

Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, tình yêu lao động,

Trang 30

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

của sắc cá bạc đan dệt thành Những vần trắc trong khổ thơ đầu (lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệucùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy Một cách tự nhiên,những vần thơ mở đầu hút ngời đọc vào không khí lao động của ngời dân lúc nào không hay

Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm Những khổ thơ này tập trung nhiềuhình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã đợc gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh "Mặt trời nh hòn lửa"

Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển đợc miêu tả hết sức sinh động Đó là những động từmạnh mẽ (lái gió, lớt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay, ), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao(mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộnglẫy, rực rỡ nh trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng (buồm trăng, lấp lánh đuốc đenhồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng, ) Vẻ đẹp củabiển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con ngời lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sứcsống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng ngời Có lẽ không ở đâu lại có đợc cái nguồn sống bất tậndiệu kì của biển Đông hơn ở những câu thơ này:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,

Đêm thở: sao lùa nớc Hạ Long

Chỉ một hình ảnh "Đêm thở" mà ta nh thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng

n-ớc Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánhcủa vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của sao Thật huyền diệu!

Cá đã đầy khoang, lấp loá trong ánh rạng đông cũng là lúc đoàn thuyền kết thúc một đêmlao động Buồm lại căng lên đón ánh nắng sớm Khổ thơ cuối là cảnh trở về của đoàn thuyền

đánh cá:

Câu hát căng buồm với gió khơi,

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trờiMặt trời đội biển nhô màu mới,Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơiLại một sự hoà quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con ngời Vẻ đẹp của bài thơ bừng lêntrong ánh sáng huy hoàng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của sức lao động đã thành thànhquả, của niềm vui lao động chân chính

Nhìn lại toàn bộ bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong bài thơ, ta càng thấy rõ hình ảnh conngời vừa làm chủ tự nhiên (Ra đậu dặm xa dò bụng biển - Dàn đan thế trận lới vây giăng), vừaphô vẻ đẹp hoà quyện cùng thiên nhiên (Thuyền ta lái gió với buồm trăng - Lớt giữa mây caovới biển bằng; Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời) Trong

sự hài hoà ấy, vũ trụ cũng đợc cảm nhận với sự vận động theo nhịp sống của con ngời: Ta hátbài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Đúng nh nhà thơ Huy Cận đã bày tỏ:

"Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiênnhiên tạo vật trong qui luật vận động tự nhiên của nó ở đây, tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vậtvới cảm hứng vũ trụ Nếu trớc cách mạng, Vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, trớc là tách biệt,

xa cách với cuộc đời thì hôm nay, lại gần gũi với con ngời Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữacon ngời và thiên nhiên, và con ngời đã chiến thắng Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợicon ngời trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui"

"Bằng Việt là một nhà thơ đợc bạn đọc biết đến từ phần thơ in chung với Lu Quang Vũtrong tập Hơng cây - Bếp lửa (1968) Nỗi nhớ quê hơng đầu tiên thành thơ là dành cho bếplửa:"Một bếp lửa chờn vờn sơng sớm, một bếp lửa ấp iu nồng đợm" gắn với hình ảnh ngời bà

và bên ngời bà là ngời cháu Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc, vừa thấm thía trong nhữngnăm đầu đất nớc đói kém, loạn lạc, cuối đời gian khổ khó khăn Cảm xúc tinh tế, đợm buồn của

ông về những kỷ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt nam

Trang 31

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Bài thơ biều hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi conngời, đều có sức toả sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời Mạch triết luận thầm kín đợc khởi

đầu từ Bếp lửa còn đợc tiếp nối trong nhiều bài thơ khác nh Trở lại trái tim mình khi ông coithủ đô Hà Nội nh một cội nguồn tình cảm, cội nguồn sức mạnh Cùng với Th gửi ngời bạn xa

đất nớc, Tình yêu và báo động, Trở lại trái tim, nhà thơ ghi lại đợc những trạng thái phong phúcủa một tâm hồn thanh niên rất mực mến yêu đất nớc, con ngời, nêu bật đợc một thủ đô hàohoa, thanh lịch, trầm tĩnh và anh hùng Bằng Việt còn có những bài thơ khá tài hoa diễn đạtnhững suy t về những danh nhân văn hoá nhân loại nh Béttôven, Pauxtôpxki, Plixetxcaia Ngời

đọc còn biết đến ông về những lo toan chu đáo, những bồi hồi thơng nhớ của một ngời cha ởnơi xa chăm chú theo dõi từng bớc đi chập chững của đứa con, trong bài thơ Về Nghệ An thămcon với lời thơ điềm đạm, kiệm lời mà có sức vang xa Có thể nói với 20 bài thơ trong tập Hơngcây - Bếp lửa, Bằng Việt đã khắc hoạ đợc một triết luận thầm kín của riêng mình Ông là mộttrong số không nhiều nhà thơ trẻ đợc bạn đọc tin yêu ngay từ ban đầu của thơ Thơ Bằng Việtthờng nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi nghĩ suy, gây đợc một cảm giác gần gũi, thânthiết đối với ngời đọc Thơ ông thờng sâu lắng trầm t thích hợp với ngời đọc thơ trong sự trầmtĩnh, vắng lặng Đó là một dấu ấn riêng của thơ Bằng Việt, còn lu lại trong ký ức ngời đọc" (Từ

điển văn học, Sđd)

2 Tác phẩm:

- Các tác phẩm chính: Hơng cây - Bếp lửa (thơ, in chung, 1968); Những gơng mặt nhữngkhoảng trời (thơ, 1973); Đất sau ma (thơ, 1977); Khoảng cách giữa lời (thơ, 1983); Cát sáng (thơ,1986); Bếp lửa - khoảng trời (thơ tuyển, 1988), Phía nửa mặt trăng chìm (thơ, 1986); Mozart(truyện danh nhân, 1978); Lọ lem (dịch thơ Eptusenkô); Hãy nói bằng ngôn ngữ của tình yêu(dịch thơ Ritsos)

- Tác giả đã đợc nhận: Giải nhất văn học - nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ Trở lạitrái tim mình; Giải thởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lu văn hóaquốc tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982

- Bài thơ Bếp lửa đợc tác giả Bằng Việt sáng tác năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang học

là hiện hình của những tình cảm thiết tha, chân thành, không thể nào quên Tiếng gà tra

đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỉ niệm về một thời ấu thơ sống trong tình thơng yêucủa bà Còn với Bằng Việt, trong bài thơ Bếp lửa (1963), nh chính nhan đề của nó (cũng nhnhan đề của bài thơ của Xuân Quỳnh: Tiếng gà tra), "Bếp lửa" đã trở thành một hình ảnhbiểu trng cho sự ấm áp, nồng đợm của tình bà cháu "Bếp lửa" khơi gợi, làm nhen lên, lantoả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức, đợm buồn

Một bếp lửa chờn vờn sơng sớmMột bếp lửa ấp iu nồng đợmCháu thơng bà biết mấy nắng ma

Bài thơ đã bắt đầu nh thế Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa "chập chờn trong sơng sớm, chậpchờn trong kí ức Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn chomạch cảm xúc thơng yêu của cháu khi nhớ về bà Hình ảnh "Một bếp lửa" điệp lại hai lần nhnhắc nhớ, nh hơi thổi vào bếp lửa đang "ấp iu", để nhịp hồi tởng bắt đầu Để trong nhữngdòng thơ tiếp theo, bao kỉ niệm thân thơng ùa về:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói( )

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

Cháu nhớ, từ lúc cháu mới lên bốn tuổi, sống bên bà "tám năm ròng" Nhớ quê mìnhngày ấy, những ngày "đói mòn đói mỏi", những ngày "bố đánh xe khô rạc ngựa gầy", nhớ

"khói hun nhèm mắt", "sống mũi còn cay" đến tận bây giờ Nhớ bà kể chuyện Huế trong thathiết tiếng tu hú kêu Tiếng tu hú kêu từ cánh đồng xa, da diết, khắc khoải vọng về, nghechộn rộn, nao nao, lại nh se sắt, xa xăm Nhớ khi vắng bố mẹ, "bà bảo cháu nghe", "dạy cháulàm", "chăm cháu học" Nhớ "Năm giặc đốt làng", cháu giúp bà dựng lại nhà Nhớ lời bà dặn

Trang 32

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

khi viết th để bố yên tâm, Cứ thế, trong dòng hồi nhớ nôn nao, những sự việc cụ thể hiện vềnguyên vẹn từng chi tiết nh thể vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi Và thấm đẫm trong từnghình ảnh, từng sự việc ấy là tình cảm sâu nặng của cháu với bà, hớng về bà Hình ảnh ngời bà

đợc khắc hoạ gắn liền với bếp lửa, là khi "cháu cùng bà nhóm lửa", "Nhóm bếp lửa nghĩ thơng

bà khó nhọc", "Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen", "Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm - Nhómbếp lửa ấp iu nồng đợm",

Hình ảnh bếp lửa trở đi trở lại (12 lần) trong suốt bài thơ Cuộc đời bà lận đận, khó nhọc,giãi dầu ma nắng nhng bà luôn dành cho cháu tình th]ơng yêu, săn sóc, chở che ấm nồng nhbếp lửa Bà - bếp lửa là hai mà nh một, hoà quyện, hun thấm, thiêng liêng Bếp lửa gợi nhắchình bóng thân thiết của bà, và nhớ đến bà là cháu lại không thể quên bếp lửa ấm tình thủa ấy.Bếp lửa đã không còn chỉ là bếp lửa thông thờng nữa Bà nhen lửa là bà nhen lên:

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵnMột ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

Những hình ảnh thực, cụ thể, vốn rất đỗi gần gũi, thân quen đã đợc tác giả nâng lên thànhnhững hình ảnh biểu tợng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc Điều bình dị đã trở nên quý giá,thiêng liêng, kì lạ Kì lạ, thiêng liêng vì nó nhỏ bé, giản đơn mà đã trở thành hành trang theocháu trong suốt cuộc đời Kì lạ, thiêng liêng là vì "đã mấy chục năm rồi" mà bếp lửa của bà vẫnnồng đợm trong cháu, ngọn lửa của bà vẫn thầm cháy trong cháu "đến tận bây giờ"

Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

- Sớm mai này bà nhóm bếp lên cha?

Bài thơ Bếp lửa đợc sáng tác khi Bằng Việt đang là sinh viên ngành Luật của Trờng Đại họcTổng hợp Ki-ép (Liên Xô cũ) Kì lạ và thiêng liêng biết bao khi trong cuộc sống đã " Có ngọn khóitrăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả" mà lòng vẫn khôn nguôi hình ảnh ngời bà với bếplửa ở tận miền kí ức ấu thơ

Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của bà, ngọn lửa của bà, tình thơngyêu của bà, cuộc đời bà đã soi rọi, toả ấm con đờng cháu đi Có thể cuộc sống hiện đại sẽ khôngcòn nhiều ngời biết đến bếp lửa nh ở nơi quê nghèo ấy nữa, nhng nó đã thành biểu tợng, sẽ cònmãi giá trị "khơi gợi cho ngời đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩatình của dân tộc Việt Nam"(1) Điều nhỏ nhoi, giản dị mà có ý nghĩa sâu sắc, lớn lao là nh vậy

1975 Ông thuộc thế hệ nhà thơ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc.Nguyễn Khoa Điềm từng làm Tổng Th kí Hội Nhà văn Việt Nam Từ năm 2000, ông giữ cơng vị

dùng cho nhà trờng, NXB Đại học S phạm, 2004, tr 21.

Trang 33

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Uỷ viên Bộ Chính trị, Trởng ban T tởng văn hoá Trung ơng

- Nguyễn Khoa Điềm trởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ Tập thơ Đấtngoại ô và trờng ca Mặt đờng khát vọng nhanh chóng khẳng định sự đóng góp và tài thơNguyễn Khoa Điềm lúc bấy giờ Có thể nói thơ Nguyễn Khoa Điềm là thơ của một trí thức trẻ,giàu vốn sống thực tế và vốn văn hoá, triết lí và trữ tình, suy t và cảm xúc Cũng chính nhờ đó

mà ông đã gây đợc ấn tợng khá đậm với bạn đọc cả nớc nhất là các bài thơ: Đất ngoại ô, Khúchát ru những em bé lớn lên trên lng mẹ, Con gà đất, cây kèn và khẩu súng, chơng Đất nớctrong Mặt đờng khát vọng, v.v

Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều Hơn một chục năm sau chiến tranh nhà thờ mới cho

ra đời tập thơ Ngôi nhà có núi lửa ấm Giai đoạn 1974-1986 là một chặng đờng dài mà NguyễnKhoa Điềm phải tự vơn lên Trong sự khó khăn chung của thể loại trữ tình, nhà thơ viết cũngkhông mấy dễ dàng, mỗi bài thơ muốn khám phá và thể hiện đầy đủ hơn, sâu đậm hơn thế giớibên trong: Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Lặng lẽ, Những bài thơ tình viết trong chiến tranh, Kínhtặng Nguyên Hồng, Trên khối đá của từ ngữ, tặng một ngời sáng tạo

Với những câu thơ nói ít, gợi nhiều, những tứ thơ giàu sức liên tởng, gợi mở, những từngữ chắt lọc, hàm súc, thấm đợm tình yêu đối với con ngời, đối với lao động sáng tạo nghệthuật, đối với quê hơng đất nớc, Nguyễn Khoa Điềm là một trong những tên tuổi đã có chỗ

đứng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại

2 Tác phẩm:

- Tác phẩm đã xuất bản: Đất ngoại ô (thơ, 1973); Cửa thép (ký, 1972); Mặt đờng khát vọng(trờng ca, 1974); Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986); Thơ Nguyễn Khoa Điềm (thơ, 1990).Nhà thơ đã đợc nhận Giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập "Ngôi nhà có ngọn lửaấm"

- Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ đợc tác giả Nguyễn Khoa Điềm sáng tácnăm 1971, khi đang công tác ở chiến khu Thừa Thiên

Trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiệntruyền thống yêu nớc thơng dân một cách đặc sắc qua hình ảnh bà mẹ cõng con lên rẫy Nhữnglời ngời mẹ ru con bộc lộ sâu sắc tinh thần yêu nớc cùng ý chí quyết tâm đánh giặc đến cùngcủa đồng bào các dân tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung

II - Giá trị tác phẩm

Cách nói những em bé ngủ trên lng mẹ là cách nói mới lạ, rất ấn tợng, có nhiều hàm nghĩa:vừa cụ thể, vừa khái quát Nhiều em bé ở vùng cao đợc lớn lên trên lng mẹ khi mẹ đi nơng,xuống chợ Cũng ở trên lng mẹ, nhng em bé trong đoạn thơ này lại lớn trong một hoàn cảnhkhá đặc biệt - đó là lớn lên theo quá trình mẹ tham gia kháng chiến

Đoạn thơ đợc mở đầu bằng lời của tác giả và kết thúc bằng lời ru của ngời mẹ:

Em Cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lng mẹ

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ độiNhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng

Hoàn cảnh em bé lớn lên và hình ảnh những ngời mẹ miền tây Thừa Thiên những năm

đánh Mĩ đợc khắc hoạ chân thực và cảm động: em lớn lên cùng gian lao kháng chiến, em lớnlên trong tình cảm thiêng liêng của mẹ với bộ đội, với cách mạng Câu thơ thứ bảy đột ngộtchuyển ý:

Lng đa nôi và tim hát thành lời:

Ngủ ngoan, a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ thơng a - kay, mẹ thơng bộ độiCon mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngầnMai sau con lớn vung chày lún sân

Lời tâm tình, nhắn nhủ, vừa là lời ru của tác giả với Cu Tai đã làm nền cho lời ru thiết thacủa mẹ cất lên A-kay (tiếng dân tộc Tà-ôi, có nghĩa là: con) bỗng nh đợc thấm đẫm những âm

điệu nồng nàn trong tình cảm của mẹ Lời ru da diết, lời ru do "tim hát thành lời" - lời ru cũng

là tiếng lòng, ớc mơ, khát khao tình cảm của mẹ với con và tình cảm của mẹ với cách mạng, vớicông việc mà mẹ hăng hái tham gia

Trong câu thơ Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng, hình ảnh "giấc ngủ nghiêng" đợc

Trang 34

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

thể hiện trong mối quan hệ với không gian giã gạo của mẹ Hình ảnh Mẹ thơng a-kay, mẹ

th-ơng bộ đội đợc thể hiện trong mối quan hệ song hành

Dới hình thức một lời ru mới, Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ của Nguyễn Khoa

Điềm đồng thời là lời ca ngợi hình ảnh ngời mẹ Việt Nam vừa có những nét truyền thống: cần

cù và yêu lao động, nhng cũng rất hiện đại: các công việc giã gạo, phát rẫy, đạp rừng ở đây là

để nuôi bộ đội, nuôi dân làng và đánh giặc Tình cảm của mẹ trong lời ru với con mình và với

bộ đội, với dân làng, với đất nớc đợc thể hiện trong sự đan kết, quấn quýt; cách cấu trúc tìnhcảm Mẹ thơng a-kay - mẹ thơng bộ đội khẳng định tình cảm đó tuy hai mà một, đậm đà, ruộtthịt Hình ảnh em cu Tai ở đây vừa là đối tợng của lời ru vừa là dấu nối tinh thần giữa mẹ vànhân dân, Tổ quốc; giữa hiện thực với khát vọng tơng lai; giữa hiện thực với lí tởng thời đại Vìthế, ngời mẹ Tà-ôi trong bài thơ dờng nh không chỉ của riêng em, mẹ chính là ngời phụ nữ ViệtNam mới: ngời mẹ chiến sĩ

Cảm xúc trữ tình chân thực, vận dụng đặc sắc phong cách ngôn ngữ của đồng bào dântộc, hình tợng thơ trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ vừa lấp lánh, vừa giàu nhạc

-Tác phẩm đã xuất bản: Cát trắng (thơ, 1973); ánh trăng (thơ, 1984); Nhìn ra bể rộng trời cao(bút ký, 1985); Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985); Mẹ và em (thơ, 1987); Đờng xa (thơ, 1989); Quàtặng (thơ, 1990); Về (thơ, 1994)

Nhà thơ đã đợc nhận: Giải nhất thơ tuần báo Văn nghệ (1973); Tặng thởng loại A về thơ củaHội Nhà văn Việt Nam (1985)

- Xuất hiện vào chặng cuối của chiến tranh chống Mĩ cứu nớc, từ khoảng 1972 trở đi,Nguyễn Duy đã trở thành một gơng mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ Cho đếnnay, Nguyễn Duy vẫn là một trong số không nhiều nhà thơ "thời ấy" còn sung sức và đợc bạn

đọc yêu thích Có thể thấy tài năng và con đờng thơ của ông phát triển và khẳng định gắn chặtvới những năm tháng đầy biến động của lịch sử dân tộc Những năm cuối cùng của cuộc chiếntranh, với chùm thơ đăng trên báo Văn nghệ, 1972, Nguyễn Duy đã chiếm đợc lòng mến mộcủa độc giả Nhà phê bình Hoài Thanh có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy Ôngkhẳng định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp "không gì so sánh đợc", "quen thuộc mà khôngnhàm chán", "Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những cuộc đời cần cù, gian khổ,không tuổi, không tên", chất thơ của Nguyễn Duy chính là "cái hiền hậu, một cái gì rất ViệtNam" Cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972-1973 tiếp tục khẳng định tài năng của nhà thơ trẻ nàybằng việc trao Giải Nhất (đồng giải với Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm và Lâm Thị MĩDạ) cho chùm thơ 4 bài của Nguyễn Duy (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nớc mắt và nụ cời,Bầu trời vuông) Năm 1973, tập thơ đầu tay của ông ra đời, tập Cát trắng Tập thơ tuy khôngphải bài nào cũng đạt, nhng ngời đọc đều thấy có nét đặc sắc riêng dễ nhận ra Đó là sự dung

dị, đằm thắm chất dân gian mà vẫn mới lạ, là cái chân chất, chắc bền sâu kín Nguyễn Duy ờng hớng nhiều về đất, ca ngợi cái sức mạnh âm thầm lặng lẽ, cái cần cù bền bỉ và chịu đựng hisinh Những bài nh Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nớc mắt và nụ cời, Em

th-bé lạc mẹ, là những bài thơ nh thế

Sau chiến thắng 1975, Nguyễn Duy vẫn say sa và tiếp tục con đờng thơ của mình Tiếng thơcủa ông ngày càng đậm đà, ổn định một phong cách, một giọng điệu quen thuộc, mà vẫn rấthấp dẫn đối với ngời đọc Tập thơ nổi bật của Nguyễn Duy là tập ánh trăng (1984) Tập thơ đợccoi là một bớc tiến trong thơ Nguyễn Duy, tập thơ đã đợc tặng giải A của Hội nhà văn ViệtNam 1984 (cùng tập thơ Hoa trên đá của Chế Lan Viên) ánh trăng tiếp tục viết về bộ đội, vềcông cuộc đời ngời lính sau chiến tranh với những vần thơ tha thiết và thấm thía những trăntrở băn khoăn (ánh trăng, Nghe tắc kè kêu trong thành phố ) Cũng ở tập thơ này Nguyễn Duycòn dành nhiều bài thơ viết về tuổi thơ, ruộng đồng, cây cỏ, những vùng quê với những con ng-

Trang 35

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

ời thân thuộc bằng một tình cảm thiết tha, nặng tình, nặng nghĩa (Đò lèn, Tuổi thơ, Cầu Bố, ônggià sông Hòng, Gửi Huế, Lời của cây, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng ) Vẫn tiếp tục chấtgiọng ca dao đậm đà, thân thuộc, nhiều bài trong ánh trăng viết theo thể lục bát hết sức nhuầnnhị, ngọt ngào, nhiều khi khó mà biết phân biệt đợc những bài ca dao (Từ điển tác giả, tácphẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trờng, NXB Đại học S phạm, 2004)

2 Tác phẩm:

Bài thơ ánh trăng đợc tác giả Nguyễn Duy viết năm 1978, sau đa vào tập ánh trăng - tập thơ

đợc tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984

Bài thơ đợc xem nh là niềm thôi thúc của tác giả, nhớ về cội nguồn và ý thức trớc lẽ sốngthuỷ chung

II - Giá trị tác phẩm

ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ - hiện tại, là tấm gơng trăng đểsoi lòng Con ngời của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp ngời không đihết, của "Nớc chè tơi rót vàng mơ" ấy thờng hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào:

Tắc kè

tắc kè

tôi giật mình( )

cái âm thanh của rừng lạc về thành phố( )

Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia"

(Nghe tắc kè kêu trong thành phố)Những năm tháng "Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc" đã trở thành nguồn mạch hồi ức thờngtrực trong tâm hồn nhà thơ Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấydào dạt chảy Thì ra, ngời vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sa với ca dao hò vè cũng làngời ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa Với ánh trăng, NguyễnDuy lại thêm một cái "giật mình"

Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức:

Hồi nhỏ sống với đồngvới sông rồi với bểhồi chiến tranh ở rừngvầng trăng thành tri kỉTrần trụi với thiên nhiênhồn nhiên nh cây cỏngỡ không bao giờ quêncái vầng trăng tình nghĩaCon ngời và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung Từ những năm thángtuổi thơ bơn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm thángchiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết Giữa con ngời vớithiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít Trăng là ngờibạn đồng hành trên mỗi bớc đờng gian lao nên trăng hiện diện nh là hình ảnh của quá khứ, làhiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa Ngời ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình

ấy, nhng:

Từ hồi về thành phốquen ánh điện, cửa gơng

Trang 36

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

vầng trăng đi qua ngõ

nh ngời dng qua đờngCuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gơng đã làm lu mờ ánh sángcủa vầng trăng Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trongquá khứ và vầng trăng "nh ngời dng qua đờng" trong hiện tại Sự đối lập này diễn tả những đổithay trong tình cảm của con ngời Thủa trớc, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, vớigian lao "ở rừng", khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con ngời gần gũi, hoà hợp.Bây giờ, thói quen cuộc sống phơng tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩatình nữa Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình

Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc Và chính trong những bất trắc ấy,

ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc ngời ta nhận thấy giá trị của quá khứ gianlao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy:

Thình lình đèn điện tắtphòng buyn-đinh tối omvội bật tung cửa sổ

"đột ngột" diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ Có cái gì nh thảng thốt, lo âu tronghình ảnh "vội bật tung cửa sổ" Vầng trăng tròn đâu phải khi "đèn điện tắt" mới có?! Cũng nhnhững tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi Chỉ có điều conngời có nhận ra hay không mà thôi Và thế là trong cái khoảnh khắc "thình lình" đối diện vớitrăng ấy, ân tình xa "rng rng" sống dậy, thổn thức lòng ngời:

Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng ánh trăng bất chợtsoi chiếu, thản nhiên và độ lợng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí Bình dị,mộc mạc nhng đủ khiến "ta giật mình" Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: "Uống nớc nhớnguồn"

"Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn Trong những năm 1941- 1944, ông viết khá

đều trên những tờ báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung bắc chủ nhật Thế giới nghệ thuật của ôngchỉ tập trung ở khung cảnh làng quê cùng với cuộc sống, thân phận ngời nông dân Những tácphẩm đầu tay (Đứa con ngời vợ lẽ, Đứa con ngời cô đầu, Cô vịa, Ngời kép già v.v.) ít nhiều cótính chất tự truyện nhng vẫn có ý nghĩa xã hội nhất định Những con ngời của quê hơng ông,thân thiết ruột thịt với ông, từ cuộc sống đói nghèo lam lũ trực tiếp bớc vào tác phẩm, tự nótoát lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà văn cha thật sự tự giác về điều đó

Trang 37

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

Kim Lân viết rất hay về những cái gọi là "thú đồng quê" hay "phong lu đồng ruộng" Đó lànhững thú chơi lành mạnh mang màu sắc văn hóa truyền thống của ngời dân quê nh đánh vật,nuôi chó săn, gà chọi, thả chim v.v Những truyện của Kim Lân viết về phong tục (Đuổi từ, Đôichim thành, Con mã mái, Chó săn, Pháo Đồng Kỵ, Thổi ống suỳ đồng, Tông chim Cả Chuống,

Ông Cản Ngũ, Thợng tớng Trần Quang Khải, Trạng Vật ) hấp dẫn không chỉ vì đã cung cấp

đ-ợc những tri thức về phong tục mà chủ yếu là vì nhà văn đã làm hiển hiện lên đđ-ợc cuộc sống vàcon ngời của làng quê Việt Nam cổ truyền, tuy nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn có nhiều thú vuithanh lịch Những con ngời thật thà, chất phác, nhng thông minh, hóm hỉnh và tài hoa, đã đặttất cả niềm say mê của mình vào những thú chơi giản dị mà tao nhã tinh tế ấy, chẳng khác gìnhững tâm hồn nghệ sĩ say mê sáng tạo nghệ thuật

Sau 1945, Kim Lân vẫn tiếp tục viết về làng quê Việt Nam Ông thờng viết về những cảnhtội nghiệp, cuộc sống khốn khó đến cùng cực của ngời nông dân dới chế độ cũ và sự đổi đờicủa họ nhờ cách mạng Trong số những tác phẩm viết về đề tài này, Làng, Vợ nhặt xứng đángthuộc loại những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại (Từ điển văn học, Sđd)

Ông Hai đột ngột nghe tin làng ông theo giặc Từ lúc ấy, "cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt

tê rân rân", mang nỗi ám ảnh nặng nề, thậm chí "cúi gằm mặt mà đi" Suốt mấy ngày, ông luônchột dạ, đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng mình theo giặc vì ông rất yêu làng, yêu n ớc Khi đợctin cải chính, ông vui sớng nh ngời đã chết đi đợc sống lại

"Cái không khí ngày đầu kháng chiến ở nông thôn, tôi đã đa vào Làng Lúc ấy Tây còn

đóng tại cầu Đuống, tôi về làng chơi mấy lần, chứng kiến tận mắt thế nào là "làng chiến đấu".Trong không khí ấy, cùng với d luận bán tín bán nghi về làng chợ Dầu theo Tây làm Việt gian

đã khiến tôi viết truyện ngắn này Ông lão Hai chính là tôi"

Tình yêu quê hơng đất nớc trong mỗi con ngời cụ thể mang một hình hài riêng Có thể là sự

hi sinh anh dũng của những chiến sĩ ngoài mặt trận, có thể là công sức khai hoang, vun trồngnhững thửa ruộng, có thể là cái mợt mà hay hùng tráng của một ca khúc ca ngợi tình ngời, tình

đời, v.v Và ở đây là tình yêu, sự gắn bó thuỷ chung với cái làng của mình, của một ngời nôngdân phải rời làng đi tản c trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

Thành công của truyện Làng chính là ở hình tợng nhân vật lão Hai với những trạng huốngtâm lí, ngôn ngữ đợc khắc hoạ sắc sảo, chân thực và sinh động Tuy nhiên, để nhân vật bộc lộ

đợc tâm lí hay ngôn ngữ, trớc hết, nhà văn phải xây dựng đợc tình huống truyện Tính cáchnhân vật chỉ đợc thể hiện trong một sự việc cụ thể nào đó Hiểu lầm rồi vỡ lẽ là dạng tìnhhuống thờng đợc các nhà văn sử dụng Việc rời làng đi tản c là sự việc có ý nghĩa tạo khung chocâu chuyện Đó cha phải là tình huống Phải đến khi ông Hai nghe tin đồn làng của ông theoTây làm Việt gian thì tình huống mới thực sự bắt đầu Tình huống truyện kết thúc khi ông Haibiết đợc sự thực làng của ông không theo giặc Qua tình huống này, hình ảnh một lão nông dântha thiết yêu làng quê của mình, một lòng một dạ theo kháng chiến hiện ra sắc nét, với chiềusâu tâm lí, ngôn ngữ mang đậm màu sắc cá thể hoá

Sở dĩ cái tin làng chợ Dầu theo giặc làm ông Hai khổ tâm là vì nó đã động chạm đến điềuthiêng liêng, nhạy cảm nhất trong con ngời ông Cái làng đối với ngời nông dân quan trọnglắm Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc Đời này qua đời khác, ngời nông dân gắn

bó với cái làng nh máu thịt, ruột rà Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nớc

đối với họ Trớc Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại "khố rách áo ôm", từng bị "bọn hơng

lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào

đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn Ba chìm bảy nổi mời mấy năm trời mới lại đợc trở vềquê hơng bản quán" Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hơng cầu thực Ông yêu cái làng của

Trang 38

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

mình nh đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên nh trẻ thơ Cứ xemcái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy Trớc Cách mạng tháng Tám,

ông khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông: "Chết! Chết, tôi cha thấy cái dinh cơ nào màlại đợc nh cái dinh cơ cụ thợng làng tôi" Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhng ông cứ gọi viêntổng đốc là "cụ tôi" một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, "ngời ta không còn thấy ông đả động gì

đến cái lăng ấy nữa", vì ông nhận thức đợc nó làm khổ mình, làm khổ mọi ngời, là kẻ thù của cảlàng: "Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó [ ] Cáichân ông đi tập tễnh cũng vì cái lăng ấy'' Bây giờ ông khoe làng ông khởi nghĩa, khoe "ông gianhập phong trào từ hồi kì còn trong bóng tối", rồi những buổi tập quân sự, khoe những hố,những ụ, những giao thông hào của làng ông, Cũng vì yêu làng quá nh thế mà ông nhấtquyết không chịu rời làng đi tản c Đến khi buộc phải cùng gia đình đi tản c ông buồn khổ lắm,sinh ra hay bực bội, "ít nói, ít cời, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm" ở nơi tản c, ông nhớ cái làngcủa ông, nhớ những ngày làm việc cùng với anh em, "Ô, sao mà độ ấy vui thế Ông thấy mình

nh trẻ ra.[ ] Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên" Lúc này, niềm vui của ông chỉ làhàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng chợ Dầu của ông đánh Tây.Thế mà, đùng một cái ông nghe đợc cái tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian Càngyêu làng, hãnh diện, tự hào về làng bao nhiêu thì bây giờ ông Hai lại càng thấy đau đớn, tủi hổbấy nhiêu Nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái hiệnsinh động trạng thái tình cảm, hành động của con ngời khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành

động của nhân vật ông Hai trong biến cố này

Ông lão đang náo nức, "Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!" vì những tin kháng chiếnthì biến cố bất ngờ xảy ra Cái tin làng chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng ngời: "Cổ ông lãonghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân Ông lão lặng đi, tởng nh đến không thở đợc Một lúc lâu

ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vớng ở cổ, [ ] giọng lạc hẳn đi", "Ông Hai cúi gằm mặt xuống

mà đi" và nghĩ đến sự dè bỉu của bà chủ nhà Ông lão nh vừa bị mất một cái gì quý giá, thiêngliêng lắm Những câu văn diễn tả tâm trạng thật xúc động: "Nhìn lũ con, tủi thân, nớc mắt ônglão cứ trào ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy? Chúng nó cũng bị ngời ta rẻ rúnghắt hủi đấy? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu " Nỗi nhục nhã, mặc cảm phản bội hành hạ ông lão

đến khổ sở: "Chao ôi! Cực nhục cha, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Aingời ta chứa Ai ngời ta buôn bán mấy Suốt cả cái nớc Việt Nam này ngời ta ghê tởm, ngời tathù hằn cái giống Việt gian bán nớc " Cả nhà ông Hai sống trong bầu không khí ảm đạm:

"Gian nhà lặng đi, hiu hắt ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của

bà lão Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe nh tiếng thởcủa gian nhà" Ông Hai ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp, bất ổn trongnỗi tủi nhục ê chề Thậm chí ông không dám nhắc tới, phải gọi tên cái chuyện phản bội là

"chuyện ấy" Ông tuyệt giao với tất cả mọi ngời, "không dám bớc chân ra đến ngoài" vì xấu hổ

Và cái chuyện vợ chồng ông lo nhất cũng đã đến Bà chủ nhà bóng gió đuổi gia đình ông, chỉ vì

họ là ngời của làng theo Tây Gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng Ông Hai phải đốimặt với tình cảnh khó khăn nhất: "Thật là tuyệt đờng sinh sống! [ ] đâu đâu có ngời chợ Dầungời ta cũng đuổi nh đuổi hủi Mà cho dẫu vì chính sách của Cụ Hồ ngời ta chẳng đuổi đi nữa,thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu"

Từ chỗ yêu tha thiết cái làng của mình, ông Hai đâm ra thù làng: "Về làm gì cái làng ấy nữa.Chúng nó theo Tây cả rồi Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ " Và "Nớc mắt ông giànra" Ông lại nghĩ đến cảnh sống nô lệ tăm tối, lầm than trớc kia Bao nỗi niềm của ông khôngbiết giãi bày cùng ai đành trút cả vào những lời trò chuyện cùng đứa con thơ dại:

- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con của ai?

- Là con thầy mấy lị con u

Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:

- à, thầy hỏi con nhé Thế con ủng hộ ai?

Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:

- ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

Nớc mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má Ông nói thủ thỉ:

Trang 39

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

- ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ

Những lời đáp của con trẻ cũng là tâm huyết, gan ruột của ông Hai, một ngời lấy danh dựcủa làng quê làm danh dự của chính mình, một ngời son sắt một lòng với kháng chiến, với Cụ

Hồ Những lời thốt ra từ miệng con trẻ nh minh oan cho ông, chân thành và thiêng liêng nh lờithề đinh ninh vang lên từ đáy lòng ông:

Anh em đồng chí biết cho bố con ông

Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông

Cái lòng bố con ông là nh thế đấy, có bao giờ dám đơn sai Chết thì chết có bao giờ dám

đơn sai

Nhà văn đã nhìn thấy những nét đáng trân trọng bên trong ngời nông dân chân lấm taybùn Nhân vật ông Hai hiện ra chân thực từ cái tính hay khoe làng, thích nói về làng bất kể ngờinghe có thích hay không; chân thực ở đặc điểm tâm lí vì cộng đồng, vui cái vui của làng, buồncái buồn của làng và chân thực ở những diễn biến của trạng thái tâm lí hết sức đặc trng của mộtngời nông dân tủi nhục, đau đớn vì cái tin làng mình phản bội Nếu nh trong biến cố ấy tâmtrạng của ông Hai đau đớn, tủi cực bao nhiêu thì khi vỡ lẽ ra rằng đó chỉ là tin đồn không

đúng, làng chợ Dầu của ông không hề theo giặc, sự vui sớng càng tng bừng, hả hê bấy nhiêu

Ông Hai nh ngời vừa đợc hồi sinh Một lần nữa, những thay đổi của trạng thái tâm lí lại đợckhắc hoạ sinh động, tài tình: "Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tơi vui, rạng rỡ hẳn lên Mồmbỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy " Ông khoe khắp nơi: "Tây nó đốt nhà tôirồi bác ạ Đốt nhẵn![ ] Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả", "Tây nó đốt nhà tôi rồi ôngchủ ạ Đốt nhẵn.[ ] Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất Toàn là sai sự mục đích cả!" Đáng lẽ ra ôngphải buồn vì cái tin ấy chứ? Nhng ông đang tràn ngập trong niềm vui vì thoát khỏi cái ách "ng-

ời làng Việt gian" Cái tin ấy xác nhận làng ông vẫn nhất quyết đứng về phía kháng chiến Cáitin ấy khiến ông lại đợc sống nh môt ngời yêu nớc, lại có thể tiếp tục sự khoe khoang đáng yêucủa mình, Mâu thuẫn mà vẫn hết sức hợp lí, điểm này cũng là sự sắc sảo, độc đáo của ngòibút miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Kim Lân

Ngời đọc sẽ không thể quên đợc một ông Hai quá yêu cái làng của mình nh thế Mặt khác,cũng nh các nhân vật quần chúng (chị cho con bú loan tin làng chợ Dầu theo giặc, bà chủnhà,) cái khó quên ở nhân vật này còn là nét cá thể hoá rất đậm về ngôn ngữ Lúc ông hai nóithành lời hay khi ông nghĩ, ngời đọc vẫn nhận thấy rất rõ đặc điểm ngôn ngữ của vùng quê Bắc

Bộ, của một làng Bắc Bộ: "Nắng này là bỏ mẹ chúng nó","không đọc thành tiếng cho ngời khácnghe nhờ mấy", "Thì vẫn", "có bao giờ dám đơn sai", Đặc biệt là nhà văn cố ý thể hiện những

từ ngữ dùng sai trong lúc quá hng phấn của ông Hai Những từ ngữ "sai sự mục đích cả" là dấu

ấn ngôn ngữ của ngời nông dân ở thời điểm nhận thức đang chuyển biến, muốn nói cái mớinhng từ ngữ cha hiểu hết Sự sinh động, chân thực, thú vị của câu chuyện phần nào cũng nhờvào đặc điểm ngôn ngữ này

Kim Lân đã từng đợc đánh giá là một cây bút hàng đầu về đề tài phong tục Trong truyệnLàng, sự thông hiểu về lề thói, phong tục của làng quê đợc ông vận dụng hết sức khéo léo vàoxây dựng tâm lí, hành động, ngôn ngữ nhân vật Cốt truyện đơn giản, sức nặng lại dồn cả vàomạch diễn biến tâm trạng, vào lời thoại của nhân vật nên câu chuyện có sức hấp dẫn riêng, ấntợng riêng, độc đáo Trong số rất nhiều những nhân vật nông dân khác, ngời đọc khó có thểquên một ông Hai yêu làng quê, yêu đất nớc, thuỷ chung với kháng chiến, với sự nghiệp chungcủa dân tộc Một ông Hai thích khoe làng, một ông Hai sốt sắng nghe tin tức chính trị, một ôngHai tủi nhục, đau đớn khi nghe tin làng mình theo giặc, một ông Hai vui mừng nh trẻ thơ khibiết tin làng mình không theo giặc, Ai đó đã một lần thấy nhà văn Kim Lân, nghe ông nóichuyện còn thú vị hơn nữa: hình nh ta gặp ông đâu đó trong Làng rồi thì phải

"Tập trung nhiệt thành ngợi ca những con ngời lao động mới, dám nghĩ, dám làm, không

sợ khó khăn gian khổ, say mê trong lao động sáng tạo, nhân hậu và tha thiết yêu cuộc sống Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn ngời đọc bằng văn trong sáng, giàu chất thơ, nhẹnhàng thoải mái, cốt truyện tởng nh giản đơn mà rất giàu ý nghĩa khái quát Lặng lẽ Sa Pa là

Trang 40

Tài liệu ôn thi vào THPT Nguyễn Thành Duyên

một truyện ngắn tiêu biểu nh thế Truyện viết về một thị xã nhỏ bé của tỉnh Lào Cai luôn chìm

đắm trong sơng mù: Sa Pa Đến với nơi ấy là những con ngời thật đẹp: một anh thanh niên làmcông tác khí tợng thuỷ văn trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét, một cô kỹ s nông nghiệp mới ra tr-ờng, một bác lái xe già đã chạy suốt 30 năm trên tuyến đờng Sa Pa, một hoạ sĩ đi thực tế chuyến

đi cuối của cuộc đời công tác trớc lúc nghỉ hu, bốn gơng mặt tiêu biểu, bốn tính cách khác nhau:anh thanh niên đầy nhiệt huyết bộc trực, chân thành, cô kỹ s trẻ hồn nhiên nhng kín đáo, tế nhị,

ông hoạ sĩ trầm tĩnh, sâu lắng, còn bác lái xe thì sôi nổi, vui tính Họ tình cờ gặp nhau trên ờng tới Sa Pa mà bỗng trở nên gần gũi và thân thiết nh trong một gia đình Tuy tính cách vànghề nghiệp khác nhau, nhng tất cả đều có chung một tâm hồn trong sáng, tinh tế, một suynghĩ lành mạnh, sâu sắc, và nhất là họ có chung một thái độ sống, lao động, làm việc và cốnghiến hết mình cho tổ quốc một cách vô t, hồn nhiên, âm thầm và lặng lẽ Đó là một truyện ngắnhay và tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng kín đáo mà rất sâu sắc vàthấm đẫm chất thơ" (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trờng, Sđd)

đ-2 Tác phẩm:

- Nhà văn đã cho xuất bản nhiều truyện ngắn, trong đó nổi bật là các tập: Bát cơm Cụ Hồ(1955); Chuyện nhà chuyện xởng (1962); Những tiếng vỗ cánh (1967); Giữa trong xanh (1972);Nửa đêm về sáng (1978); Lí Sơn mùa tỏi (1980); Sáng mai nào, xế chiều nào (1984); Lặng lẽ Sa

Pa (1990),

Ông đã đợc Giải thởng Phạm Văn Đồng với tập truyện ký Bát cơm Cụ Hồ (1953)

- Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa đợc nhà văn Nguyễn Thành Long viết năm 1970, sau chuyến

đi Lào Cai của tác giả

Thông qua một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông hoạ sĩ già, cô kĩ s trẻ với anh thanhniên làm công tác ở trạm khí tợng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, tác giả khẳng định vẻ đẹp củacon ngời lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng

3 Tóm tắt:

Lặng lẽ Sa Pa có một cốt truyện đơn giản Chỉ là cuộc hội ngộ giữa bốn ngời: ông hoạ sĩ già,cô kĩ s mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên phụ trách trạm khí tợng trên núi Yên Sơn.Tác giả không hề cho biết tên của các nhân vật Qua cuộc hội ngộ của những con ngời "không

có tên" ấy, hiện ra chân dung con ngời lao động thầm lặng, trên cái nền lặng lẽ thơ mộng của Sa

Pa Câu chuyện về cuộc hội ngộ chỉ diễn ra trong vòng ba mơi phút, ngời hoạ sĩ chỉ kịp phácthảo bức chân dung của mình nhng chân dung của chàng thanh niên, của những con ngời đangcống hiến tuổi xuân, ngày đêm lặng lẽ làm việc thì đã hiện ra rõ nét Chân dung ấy hiện ra tr ớchết qua sự giới thiệu của bác lái xe vui tính, qua sự quan sát, cảm nhận, suy ngẫm nhà nghề củabác hoạ sĩ, qua sự cảm nhận của cô gái trẻ và qua sự tự hoạ của chàng trai

II - Giá trị tác phẩm

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng mà sâu sắc, thẫm đẫm chấtthơ Nhẹ nhàng, kín đáo nh Sa Pa thành phố trong sơng, và cũng giàu sức sống với hoa tráingát hơng bốn mùa Lặng lẽ mà không buồn tẻ, những con ngời nơi đây đang từng ngày thầmlặng cống hiến sức lực của mình, thầm lặng đem lại hơng sắc cho cuộc sống Đọc truyện ngắnnày, chúng ta chúng ta có thể đồng cảm với nhau:

"Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh Bên dới sự yên tĩnh ấy, ngời ta làm việc!"

Theo lời giới thiệu của bác lái xe, cái con ngời "cô độc nhất thế gian" là một thanh niên haimơi bảy tuổi, làm công tác khí tợng kiêm vật lí địa cầu Trong câu chuyện phác thảo chân dungcủa bác lái xe, đáng chú ý là chuyện "thèm ngời" của anh chàng "cô độc nhất thế gian" kia.Không phải anh ta "sợ ngời" mà lên làm việc ở đây, trái lại, anh ta từng chặt cây ngáng đờngngăn xe dừng lại để đợc gặp ngời "nhìn trông và nói chuyện một lát"

Qua cái nhìn của ngời hoạ sĩ, anh thanh niên hiện ra với "tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ".Anh ta sống trong "Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy

bộ đàm Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giờng con,một chiếc bàn học, một giá sách." Một cuộc sống giản dị, ngăn nắp của một ngời yêu đời, say

mê công việc và không có vẻ gì của sự buồn chán

Trong sự cảm nhận của cô kĩ s mới ra trờng, cuộc sống của ngời thanh niên là "cuộc sốngmột mình dũng cảm tuyệt đẹp", anh mang lại cho cô "bó hoa của những háo hức và mơ mộngngẫu nhiên"

Nếu nh ngời hoạ sĩ lão thành mới chỉ ghi đợc "lần đầu gơng mặt của ngời thanh niên" thìchính những lời tâm sự của một kẻ "thèm ngời" khi đợc gặp ngời đã là một bức chân dung tựhoạ khá hoàn chỉnh Chân dung là gì nếu không phải là những nét vẽ tinh thần, những nét gợi

Ngày đăng: 10/05/2015, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w