Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia trong thời gian tới...136 KẾT LUẬN...145 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐÃ ĐƯỢC CÔ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-LÊ PHƯƠNG HÒA
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - LÀO – CAMPUCHIA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-LÊ PHƯƠNG HÒA
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - LÀO – CAMPUCHIA
Chuyên ngành : Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:1.PGS TS Nguyễn Duy Dũng
2.TS Lê Thị Ái Lâm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn.
Nghiên cứu sinh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các công trình lý luận 7
1.1.2 Các công trình liên quan đến hợp tác tiểu vùng xuyên biên giới 10
1.1.3 Các công trình liên quan đến Tam giác phát triển Việt Nam – Lào -Campuchia 14
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 21
1.2.1 Cơ sở lý thuyết 21
1.2.1.1.Một số lý thuyết liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế 21
1.2.1.2 Một số lý thuyết liên quan đến phát triển vùng 27
1.2.2 Khung nghiên cứu 31
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VIỆT NAM LÀO -CAMPUCHIA 36
2.1 Một số vấn đề lý luận phát triển vùng tam giác phát triển 36
2.1.1 Lý luận chung 36
2.1.1.1 Lý luận về phát triển kinh tế - xã hội 36
2.1.1.2 Lý luận về hội nhập kinh tế 38
2.1.1.3 Lý luận về phát triển vùng 41
Trang 52.2 Cơ sở hình thành và phát triển Tam giác phát triển Việt Nam – Lào –
Campuchia 48
2.2.1 Xu hướng hình thành và phát triển các tam giác phát triển ở Đông Nam Á 48
2.2.2 Các yếu tố cơ bản để hình thành nên vùng Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia 53
2.2.3 Nhu cầu hợp tác và phát triển tại vùng biên giới chung ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia 57
2.2.3.1 Thực tiễn hợp tác phát triển của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia 57
2.2.3.2 Lợi ích của sự hợp tác tại Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia 61
2.2.4 Tổng quan về Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia .63 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA 72
3.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội vùng Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia 72
3.1.1 Thực trạng phát triển kinh tế 72
3.1.1.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 72
3.1.1.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp 78
3.1.1.3 Thực trạng phát triển ngành dịch vụ 84
3.1.1.4 Thực trạng phát triển công nghiệp 87
3.1.2 Thực trạng phát triển xã hội 88
3.1.2.1 Y tế 88
3.1.2.2 Giáo dục, đào tạo 91
3.1.2.3 Lao động, việc làm 96
3.1.3 Cơ sở hạ tầng 98
3.2 Các nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia 104
3.2.1 Điều kiện tự nhiên 104
Trang 63.2.1.1 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 104
3.2.1.2 Vị trí địa lý 105
3.2.2.Vốn cho đầu tư phát triển 106
3.2.3 Quy mô và chất lượng nguồn lao động 111
3.2.4 Trình độ phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ 112
3.2.5 Hợp tác giữa ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia và trong vùng Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia 115
3.2.6 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng 117
3.2.7 Cơ chế chính sách của mỗi nước và cho riêng vùng 118
3 3 Đánh giá chung về sự phát triển kinh tế - xã hội của Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia 121
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 126
4.1 Đánh giá kết quả hợp tác phát triển CLVDT 126
4.2 Một số luận bàn về hướng phát triển kinh tế - xã hội CLVDT trong thời gian tới 133
4.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia trong thời gian tới 136
KẾT LUẬN 145
CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ HOẶC THAM GIA
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê kim ngạch xuất, nhập khẩu giữa Lào và Việt Nam giaiđoạn 2001-2009
56Bảng 2.2 : Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Campuchia
Việt Nam
84
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Lý thuyết trung tâm của W.Christaller – 1833
32
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng trung bình của CLVDT giai đoạn
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB The Asian Development
Bank
Ngân hàng phát triển Châu Á
AMECS Ayeyarwady - Chao
Phraya - Mekongeconomic coorporationstratergy
Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyarwady - Chao
Phraya - Mê Kông
ASEAN Association of Southeast
CLV thuộc CampuchiaBIPM-EAGA Brunei-Indonexia-
Malaixia-Philippine - TheEast ASEAN GrowthArea
Khu vực tăng trưởng ĐÔngASEAN - Brunei-Indonexia-Malaixia-Philippine
DT Develpoment triangle Tam giác phát triển
Subregion
Khu vực tiểu vùng sông MêKông
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thailand
Tam giác tăng trưởngIndonesia-Malaysia-Thailand
CLV thuộc LàoNAFTA North America Free Trade
Trang 10Indonexia growth triangle
Singapore-Malaixia-IndonexiaUSD United States dollar Đô la Mỹ
V-CLVDT Vietnam-CLVDT Khu vực tam giác phát triển
CLV thuộc Việt NamWEC West - East Corridor Sáng kiến hành lang Đông -
Tây WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế thế giớiWTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh quốc tế mới, hợp tác phát triển nói chung, kinh tế - xãhội nói riêng giữa các nước đã trở nên hết sức cần thiết Thực tế của Việt Namtrong hơn 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ điều đó Không chỉ chútrọng đến hợp tác với các nước phát triển mà đã tăng cường mở rộng quan hệvới hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt với ba nước Đông Dương
Trong lịch sử, CLV đã cùng chung sức chung lòng trong công cuộc bảo
vệ và xây dựng đất nước Đặc biệt khi các quốc gia này giành được độc lập vàlựa chọn con đường phát triển và hội nhập với mục tiêu nhanh chóng thoát khỏinghèo nàn lạc hậu, xây dựng đất nước phồn vinh, vì hoà bình và thịnh vượngcủa các dân tộc và trong khu vực Đây là cơ sở hết sức quan trọng để tiếp tục
mở rộng hình thức hợp tác giữa ba nước, trước đây, hiện nay cũng như trongtương lai Làm thế nào phối hợp khai thác được thế mạnh của ba nước? Hìnhthức hoặc mô hình nào thích hợp để cùng nhau hợp tác phát triển? Đây là bàitoán luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo ba nước Những năm gần đâyquan hệ hợp tác ba bên ngày càng được phát triển và đã mang lại những kết quảtốt cho mỗi quốc gia
Trong khuôn khổ ASEAN, CLV đã tham gia nhiều hình thức hợp táctiểu khu vực khác nhau như: Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS), hợp táctrong khuôn khổ AMECS, hành lang Đông - Tây (WEC), nhóm các nướcCLMV (Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam) Sự tham gia vào các hìnhthức hợp tác trên đã đem lại sự hiểu biết lẫn nhau, cùng khai thác những lợi thế
và thúc đẩy sự hợp tác có hiệu quả Tại cuộc gặp cấp cao CLV lần thứ nhất ởthủ đô Viêng Chăn, Lào năm 1999, Thủ tướng Campuchia Hunsen đã đưa ra ýtưởng thành lập tam giác phát triển khu vực biên giới 3 nước bao gồm 7 tỉnhthuộc Đông bắc Campuchia, Tây Nam Lào và Tây Nguyên Việt Nam Tại cáccuộc gặp của ba Thủ tướng năm 2002, lãnh đạo ba nước tiếp tục khẳng địnhphát triển vùng tam giác quan trọng này nhằm tạo ra động lực cho sự hợp tác
Trang 12giữa ba nước vì lợi ích của các bên và của khu vực Tại hội nghị cấp cao 2004,lãnh đạo ba nước đã chính thức đưa ra tuyên bố hình thành CLVDT với 10 tỉnhthuộc khu vực biên giới liền kề của ba nước Đến 2009, CLVDT kết nạp thêm
ba tỉnh từ ba nước và trở thành vùng phát triển của 13 tỉnh Đây là vùng giàutiềm năng, song kém phát triển nhất của ba nước Đây đồng thời là vùng có vịtrí chiến lược trọng yếu cho mỗi nước và cho cả ba quốc gia Song, với cơ sở
hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí thấp, sản xuất mang tính chất manh mún…vùng này lại là trở ngại cho sự phát triển của mỗi quốc gia và cả khu vực
Khu vực tam giác phát triển là vùng đất khá đặc biệt có nhiều nét tươngđồng về đặc điểm tự nhiên, văn hoá với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạngnhưng chưa được khai thác, đây cũng là vùng có vị trí chiến lược quan trọngđối với cả ba nước về chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Vì thế,mục đích của việc xây dựng tam giác phát triển là khai thác tiềm năng, thếmạnh, các nguồn lực của mỗi nước trong khu vực nhằm mục tiêu tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các vùngkhác của mỗi nước, tạo động lực cho cả vùng và các khu vực khác của mỗinước
Trong những năm gần đây, một số Tam giác tăng trưởng đã được hìnhthành giữa các vùng tiếp giáp quốc gia nhằm tận dụng khả năng, thế mạnh củamỗi địa phương và vùng biên giới chung để phục vụ mục tiêu tăng trưởng vàphát triển cho vùng nói chung và lãnh thổ quốc gia nói riêng Hợp tác trongkhuôn khổ tam giác tăng trưởng được xem như là một phương thức hợp tácquốc tế mới nhằm khai thác và phát huy hiệu quả những lợi thế và hạn chếnhững bất lợi của mỗi vùng thông qua quá trình tương tác, bổ sung và cùngphát triển
Hợp tác phát triển là cần thiết nhưng làm thế nào để hợp tác có hiệu quảmới là điều quan trọng Với tư cách một vùng phát triển, CLVDT đã hình thành
và phát triển như thế nào khi mà so với các vùng tam giác tăng trưởng khác đã
Trang 13đã tạo nên sự thành công cho các vùng tam giác khác như có một trung tâmkinh tế đầu tàu hay có những lợi thế kinh tế bổ sung cho nhau giữa các phầncủa mỗi nước Đây cũng là một ẩn số cần tìm lời giải đáp để trả lời câu hỏi đâu
là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của CLVDT Việc nhận diện các nhân
tố tác động đến vùng để có hướng điều chỉnh quy hoạch và hợp tác cho phùhợp cũng là câu hỏi cần sớm có câu trả lời
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề Phát triển kinh
tế - xã hội vùng Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia làm để tài
luận án tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế củamình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung của đề tài là cung cấp luận cứ khoa học (cả lý luận và
thực tiễn) cho việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội vùng Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia hiện nay vàtrong tương lai
Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành và phát triểntam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia với tư cách là một vùng pháttriển
- Tổng quan và phân tích thực trạng phát triển của vùng CLVDT và hệthống các nhân tố tác động đến sự phát triển vùng
- Đưa ra cac quan điểm phát triển và các giải pháp phát triển nhằmthúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội vùng tam giác phát triển Việt Nam - Lào -Campuchia
Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được những mục tiêu nói trên đề tài xác định các nhiệm vụ trọngtâm sau:
- Xác định khung nghiên cứu phù hợp với đề tài, lựa chọn cách tiếp cận
và phương pháp nghiên cứu phù hợp;
Trang 14- Hệ thống hóa khung lý luận liên quan đến đề tài
- Phân tích và đánh giá thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của CLVDT
- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội củaCLVDT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được xác định là sự phát triển kinh tế - xã hội
vùng tam giác phát triển Việt Nam - Lào – Campuchia trong mối quan hệ quốc
tế theo hướng phát triển bền vững Do vậy luận án sẽ tập trung vào những chỉbáo kinh tế - xã hội của vùng để xem xét sự phát triển của vùng Các chỉ báonày được xác định trong khung nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu 13 tỉnh thuộc khu
vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia Đây là những tỉnh đượcxác định trong các văn kiện ký kết giữa thủ tướng ba nước về xây dựng tamgiác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia Luận án giới hạn nghiên cứu từnăm 1999 (thời kỳ hình thành sáng kiến về phát triển tam giác phát triển ViệtNam - Lào - Campuchia) đến 2012
sở lý luận về lý thuyết và thực nghiệm của hợp tác vùng và hội nhập khu vực
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu hữu ích đối với các nhàhoạch định chính sách, giúp ích cho quá trình hoạch định chính sách của ViệtNam và các nước khác trong khuôn khổ hợp tác vùng, hội nhập khu vực và
Trang 155 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được chiathành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan
Chương này bao gồm hai phần chính là tổng quan tình hình nghiên cứu
về phát triển kinh tế - xã hội vùng CLVDT từ trước tới nay và trình bày cơ sở
lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mà NCS đã sử dụng trong luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế xã hội vùngTam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia
Trong chương này trước hết đưa ra những lý luận chung cho phát triểnvùng tam giác phát triển dưới góc độ một vùng quốc tế Đồng thời đưa ranhững tiêu chí làm căn cứ đánh giá sự phát triển của một vùng Sau khi cónhững khái quát về cơ sở lý luận cho hình thành và phát triển CLVDT, luận ántập trung luận giải các yếu tố cơ bản hình thành nên CLVDT Sau đó, thôngqua tổng quan tình hình phát triển cùng vùng, luận án khái quát lại quá trìnhhình thành vùng từ khi có ý tưởng đến nay với những đặc điểm riêng có để đưa
Chương 4: Kết quả và bàn luận
Trong phần này sẽ bàn luận về tam giác phát triển dựa trên những phântích ở các chương trước Từ khung lý thuyết được nêu ra cùng với việc nhìn
Trang 16nhận lại về sự phát triển của CLVDT, luận án đánh giá lại những giả thuyếtnghiên cứu đã đặt ra, đồng thời bàn luận về định hướng phát triển của vùngtrong thời gian tới Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên cứu của mình, NCS đềxuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển vùng CLVDT.
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Thông qua nghiên cứu những tài liệu liên quan đến vấn đề của luận án,
có thể khái quát tình hình nghiên cứu về phát triển kinh tế - xã hội vùng biêngiới CLVDT như sau:
Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về khu vực này, tuy nhiêntrên thực tế việc đi sâu xem xét và phân tích vấn đề hợp tác phát triển kinh tếvùng tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia dưới góc độ vùng thì hầunhư chưa được đề cập một cách đầy đủ và hệ thống Sau đây là một số tổngquan về tình hình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Các công trình lý luận
Liên quan đến các lý thuyết phát triển của CLVDT cần phải kết hợp haicách tiếp cận là phát triển vùng và hợp tác khu vực Hiện có nhiều lý thuyếtliên quan phát triển vùng nhưng nhìn chung đã được tổng hợp trong bộ tài liệu
của Đại học Kinh tế quốc dân về Bài giảng Kinh tế học vùng và của A.Silem (2002) với Bách khoa toàn thư về kinh tế học và khoa học quản lý, Nhà Xuất bản Lao động Xã hội; V.I SYRKIN với Sử dụng chiến lược các cực tăng
trưởng để đẩy mạnh phát triển vùng, Viện Thông tin Khoa học xã hội, 2001;
Bùi Việt Cường và Lê Đức Nhuận với bài viết Phân tích lợi thế so sánh vùng
-cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận, đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội số 10/2009;
Trương Hồng Trình và Nguyễn Thanh Liêm với bài viết Tiếp cận lý thuyết và
thực tiễn LUSTER ngành cho phát triển kinh tế khu vực, Tạp chí Khoa học và
Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 3/2008; Krugman, P với khá nhiều nghiên
cứu về vùng như The new economic geography: where are we? (2004) Martin,
R với A study on the factors of regional competitiveness University of
Cambridge (2003)
Đặc điểm của các công trình trên khi đề cập đến lý thuyết phát triểnvùng là các tác giả thường nhìn dưới một góc độ riêng cho tăng trưởng kinh tế
Trang 18Mỗi tác giả đưa ra một lý thuyết độc lập phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu củamình mà chưa có công trình nào tổng hợp các lý thuyết một cách hệ thống chophát triển vùng.
Gần đây nhất công trình nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ của
PGS.TS.Bùi Quang Tuấn “một số vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc
tế chủ yếu về phát triển vùng”, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2011 đã đề
cập khá toàn diện đến các vấn đề liên quan đến lý thuyết phát triển vùng đểlàm cơ sở cho quy hoạch và phát triển vùng của Việt Nam Công trình tập trungvào ba phần chính: phần một là cơ sở lý luận về phát triển vùng để tạo cực tăngtrưởng, phần hai nghiên cứu những kinh nghiệm quốc tế trong phát triển vùng
và phần ba là đề xuất một số giải pháp chính sách phát triển các khu kinh tếđộng lực Tuy đề cập khá toàn diện về phát triển vùng nhưng cách tiếp cận pháttriển vùng của tác giả là phát triển vùng động lực để thúc đẩy phát triển kinh tếchung trong một quốc gia
Liên quan đến phát triển vùng của Việt Nam, đã có khá nhiều côngtrình nghiên cứu, trong đó phải kể đến một số công trình nghiên cứu độc lập
như của tác giả Nguyễn Trần Quế: Các xu hướng chủ yếu của việc lựa chọn
chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI, đăng tại Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 1- 2001; bài viết của tác
giả Ngô Văn Doanh, Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế
-xã hội ở Việt Nam - Học hỏi và sáng tạo, Nhà xuất bản chính trị quốc gia; hay
của Viện chiến lược Phát triển (2004), Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia; bài viết
của TS Ngô Thắng Lợi về Những khía cạnh thiếu bền vững trong phát triển
kinh tế vùng trọng điểm ở Việt Nam và một số khuyến cáo chính sách đăng tại
Tạp chí Quản lý Kinh tế (2011) và Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2004 với công trình Các quá trình chuyển đổi về kinh tế vĩ mô và kinh tế
vùng ở Việt Nam Bộ Kế hoạch và Đầu tư với C hiến lược phát triển kinh tế - xã
Trang 192015, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Báo cáo tầm nhìn kinh
tế Việt Nam đến năm 2020: Tổng quan chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020, … Các tài liệu này đã phân tích những điều kiện cụ thể của
Việt Nam trên cơ sở đối chiếu những lý thuyết đã có để đề xuất những địnhhướng về quy hoạch và phát triển vùng Đây là những công trình tham khảo cógiá trị cho việc nghiên cứu phát triển vùng CLVDT nhưng nó chỉ chuyên biệtcho việc phân tích ở Việt Nam, còn nhìn rộng ra vùng quốc tế thì cần phải cónhững sự phối kết hợp riêng và sâu hơn
Như vậy, các công trình nghiên cứu về vùng hiện nay đã bao quát khátoàn diện về lý thuyết, một số công trình nghiên cứu về quy hoạch và phát triểnvùng cụ thể Tuy nhiên đến nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về CLVDTdưới góc độ tiếp cận phát triển vùng
Liên quan đến hợp tác phát triển giữa các quốc gia, đã có rất nhiều côngtrình tổng hợp và phân tích các lý thuyết hợp tác quốc tế Trong đó công trình
khá tiêu biểu của Bộ Ngoại giao là Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn
cầu hóa, vấn đề và giải pháp đã tổng hợp một cách khá đầy đủ các lý thuyết và
luận điểm về quan hệ kinh tế quốc tế và khả năng ứng dụng của Việt Nam Bêncạnh đó còn có những công trình của các tác giả như MW Schif, Winter với
Regional integration and development, Book Google-2003, Paul R Krugman &
Maurice Obstfeld với Kinh tế học quốc tế lý thuyết và chính sách, NXB Chính trị quốc gia, 1996; Paul A.Samuelson & Wiliam D Nordhalls với Kinh tế học, NXB Thống kê, 2002; Đại học quốc gia Hà Nội, Kinh tế quốc tế, một số bài
đọc tham khảo, Hà Nội, 2009; David A.Baldwin (chủ biên) Chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực mới: cuộc tranh luận đương đại, NXB thế giới, 2009;
Porter, M với The competitive advantage of nations (1990) và Location,
Clusters and New Economics of Competition (1998); Grant.R với phân tích về
lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Porter bài viết Porter”s Competitive
advantage of Nationas: An assessement đăng trên Strategic Management
Journal, Vol 12, (1991) Các công trình này có giá trị tham khảo lớn đối với
Trang 20nghiên cứu CLVDT khi nghiên cứu về hợp tác quốc tế Tuy nhiên các lý thuyếtnày dừng lại ở những lý luận chung cho hợp tác quốc tế chứ chưa đi vào phântích sự ứng dụng lý thuyết cho hợp tác quốc tế trong tiêu vùng nhỏ giữa cácnước.
Khi nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong khu vực không thể không đềcập đến thực tế liên kết kinh tế, vấn đề hiện đại hoá và hợp tác quốc tế của ViệtNam Chủ đề này cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đềcập đến Tiêu biểu phải kể đến các công trình như GS.TS Nguyễn Xuân Thắng
với Việt Nam và các nước châu Á -Thái Bình Dương: các quan hệ kinh tế hiện
nay, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2006 Hoặc sách Công nghiệp hiện đại hoá ở Việt Nam: Phác thảo lộ trình của TS Trần Đình Thiên, Nhà
hoá-xuất bản Khoa học xã hội, năm 2002 hay của GS Vũ Dương với cuốn sách:
Việt Nam - ASEAN: Quan hệ đa phương và song phương, Hà Nội năm 2004,
Akira Suehito, Susumu Yamakage chủ biên tác phẩm Kinh tế chính trị Á Châu,
Nhà xuất bản NTT, 2001
Các công trình trên đã làm rõ sự cần thiết phải tăng cường hợp tác liênkết khu vực, tiểu khu vực…coi đó như là đòi hỏi tất yếu của các nước trong bốicảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá đang tăng lên mạnh mẽ chưa từng thấy Nóiđến hợp tác giữa các nước cũng như trong một quốc gia nhiều nghiên cứu gầnđây đã nhấn mạnh tầm quan trọng đến phát triển và hợp tác vùng Có thể nóiđây là một trong những hình thức hợp tác có hiệu quả cao và có thể sớm đượcthực hiện trong điều kiện kiện trình độ kinh tế của các vùng phát triển cònchậm và gặp nhiều khó khăn Sự bổ sung các lợi thế giữa các vùng sẽ đem lạinhững lợi ích cho từng vùng và cả quốc gia
1.1.2 Các công trình liên quan đến hợp tác tiểu vùng xuyên biên giới
Để hiện thực hóa các mục tiêu hợp tác kinh tế giữa các nước các khuvực người ta đã thực hiện khá nhiều hình thức hợp tác có hiệu quả Đặc biệt
Trang 21các vùng kinh tế của các nước Vấn đề kết nối trong phát triển cũng được TS.
Nguyễn Huy Hoàng đề cập đến trong Vai trò của các hành lang kinh tế trong
kết nối ASEAN và Đông Á, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới,
số 8/2012; Bài viết của TS Nguyễn Mạnh Hùng với Xây dựng khu kinh tế
xuyên biên giớ”, của nhóm nghiên cứu của ADB…đã cho nhiều gợi mở cần
tiếp tục bàn luận Công trình nghiên cứu lộ trình khu kinh tế xuyên biên giới(từ thực tế khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc) của nhóm ADB đã đưa
ra nhiều vấn đề khá mới: Khu vực biên giới liên quan đến các vành đai pháttriển sẽ tạo cơ hội thu hút đầu tư trong và ngoài nước; Đây là khu vực khó khăn
về mọi mặt; Đường biên giới cũng là mắt xích trong hành lang kinh tế và tuyếnvận tải xuyên biên giới… Các ý kiến của nhóm cũng đã chỉ ra nhiều lợi thế vàbất lợi, nhất là cho phía Việt Nam trong đó nhấn mạnh đến yếu thế của ViệtNam do chênh lệch về trình độ phát triển Theo họ có 5 yếu tố hợp thành khukinh tế xuyên biên giới: Các điểm qua lại cửa khẩu; Kết nối hạ tầng; Khuthương mại; Khu dành cho các doanh nghiệp; Chính sách ưu đãi…Đóng gópquan trọng của các nghiên cứu trên đã cho ta hình dung mô hình hợp tác xuyênbiên giới qua thực tế Việt Nam-Trung Quốc
Ngoài các tài liệu nghiên cứu trong nước, nghiên cứu hợp tác kinh tếxuyên biên giới cũng là nội dung được đề cập khá nhiều ở bên ngoài, nhất là ởChâu Âu Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu như nhóm của tác giả Đại
học Kingston về “Challenges and prospects of cross-border cooperation in the
contex of EU enlagentment” Các tác giả Marijana Sumpor và Marga Gokavic
với Sustainable development acpects in cross-border cooperation programess
the case of Croatia and Montenegro … Alessra Cividm thuộc Insitute For
British- Irish Studies với European Neiglbourhood & Partnership
Instrument:Cross-border cooperation stratery paper 2007-2013 Cross-border co-operation: the case of the Northewest Region,…
Các công trình trên đã đưa ra nhiều cách tiếp cận và đã nghiên cứu cáckhía cạnh hợp tác xuyên biên giới của một số nước EU và Bắc Mỹ Điều có thể
Trang 22nhận thấy là sự khác biệt trong hợp tác phụ thuộc rất nhiều yếu tố và các điềukiện cũng như khả năng hợp tác và nhất là đặt trong khu vực hợp tác chung củanhiều nước.
Tuy nhiên, các công trình trên nghiên cứu cho từng trường hợp pháttriển vùng cụ thể, còn hợp tác kinh tế-xã hội xuyên biên giới với sự tham giacủa ba quốc gia (trường hợp vùng CLVDT) thì hầu như chưa có công trình nàobàn luận về các khía cạnh lý thuyết
Khi nghiên cứu về hợp tác của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchiakhông thể không quan tâm đến các công trình về hợp tác Tiểu vùng Mê Kông
mở rộng Đây là nội dung đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có thể nêu
lên một số công trình đáng chú ý như: ADB với Economic Cooperation in the
Greater Mekong Subregion Facing the; Fidel V Ramos với Cross-Border
“Growth Triangles” Promote Prosperity in East Asia (2005); Massami Ishida
với Effectiveness and Challenges of three Economic Corridors of Greater
Mekong Sub-region, Institute of Developing Economies, Nhật Bản, (2008);
Mitsuhiro Kagami với GMS economic cooperation and its impact on CLMV
Development; (2010), BRC Research Report với In Economic Relations of China, Japan and Korea with the Mekong River Basin Countries, No 3,
Bangkok Research Center, IDE-JETRO, Bankok, Thailand Akamatsu Kaname
với A historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries In: The
Developing Economies, Tokyo; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2006) với Hợp tác GMS trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các hành lang kinh tế: Trường hợp hành lang kinh tế Đông - Tây và Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng;
Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Hà Nội; Nguyễn Trần Quế (2007) với Hợp
tác phát triển Tiểu vùng Mê Kông mở rộng - Hiện tại và tương lai, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, Hà Nội; TS Phạm Thái Quốc, Trần Văn Duy, (2007) với
Hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc,
Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 136(8); Chum Sonya với Regional
Trang 23impacts on Mekong Sub-regional development, CICP E-Book No 3,
Cambodian Institute for Cooperration and peace, September 2010; CDRI với
The cross border economies of Cambodia, Laos, ThaiLand and Vietnam,
Development analysis network with funding from the Rokefeller Foundation,PnomPenh Cambodia, 2005,
Các công trình trên đã làm rõ sự cần thiết phải tăng cường hợp tác liênkết khu vực, tiểu khu vực…coi đó như là đòi hỏi tất yếu của các nước trong bốicảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá đang tăng lên mạnh mẽ chưa từng thấy Đặcbiệt khi bàn về hợp tác giữa các nước cũng như trong một quốc gia nhiềunghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh tầm quan trọng đến phát triển và hợp tácvùng Trên thực tế hợp tác giữa các vùng cũng như nội vùng đã là một xu thếkhá phổ biến ở nhiều nước Sự liên kết, hợp tác này không chỉ đễ tìm kiếm cáchình thức hợp tác cụ thể phù hợp với điều kiện kiện trình độ của mỗi nước màcòn để tìm kiếm cơ hội hợp tác để hỗ trợ bổ sung các lợi thế cho nhau và hạnchế những rủi ro, phát triển tự phát, hiệu quả thấp
Các công trình trên đã phân tích và làm rõ các kế hoạch phát triển củacác tiểu vùng qua các giai đoạn và thực trạng phát triển của vùng này Trong đótập trung vào một số nội dung hợp tác của các nước, các địa phương trong tiểuvùng Cách nhìn nhận của các công trình là đối với các tiểu vùng là sự kết nối,mục đích của hợp tác là liên kết những khu vực liền kề của các tiểu vùng mỗinước để phát triển Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn về bản chất thì những liên kết
kể trên giường như phục vụ ý chí của các tác nhân bên ngoài nhiều hơn là lợiích phát triển của các tiểu vùng hợp tác Hơn nữa những công trình nghiên cứu
kể trên mang tính đơn lẻ cho các trường hợp cụ thể với những vấn đề cụ thể màthiếu tính hệ thống
Trong những năm qua, một phương thức hợp tác vùng quốc tế đã vàđang phát triển và hợp tác giữa các tỉnh thuộc vùng biên giới của ba hoặc bốnquốc gia mà được biết đến với tên gọi tam giác tăng trưởng Đã có một số côngtrình trong và ngoài nước nghiên cứu đề đề tài này Nổi bật lên là một số công
Trang 24trình như Hroshi Kakazu với Growth Triangles in ASEAN - A New Approach
to Regional Cooperation, GSID, Nagoya University, 3/1997; Chia Siow Yue, The Indonexia-Malaysia-Singpore Growth Triangle Singapore: Institute of
Southeast Asian Studies, 2002; Sau Sisovanna, A studu on Cross-Border Trade
Facilitation and Regional Development along Economic Corridors in Cambodia, trong báo cáo Emerging Economic Corridors in the Mekong
Region, Bangkok Research Center, Thái Lan; Nguyễn Hải Yến Tam giác tăng
trưởng và sự phát triển nền kinh tế quốc gia, khu vực ,http://www.hocvienngoaigiao.org.vn; Đề cập đến phát triển, hợp tác và hộinhập ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia có Vannarith Chheang và
Yusshang Wong, Cambodia - Laos - Vietnam: Economic Reform and Regional
Integration, Cambodian Institute for Cooperration and peace Bài nghiên cứu
đã khái quát lại quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế của ba nước ĐôngĐương Cách tiếp cận của tác giả dưới dạng phân tích mô tả để thấy được hiệnthực đã qua của tiểu khu vực
1.1.3 Các công trình liên quan đến Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia
Liên quan trực tiếp đến CLVDT, hiện đã có một số công trình nghiêncứu Các công trình ở Việt Nam chủ yếu đến từ hai cơ quan chính là Bộ Kếhoạch và Đầu tư và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á
Với nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu chính là các nước Đông Nam Á,Viện nghiên cứu Đông Nam Á đã nghiên cứu và xuất bản nhiều công trình cógiá trị liên quan đến Campuchia, Lào, Việt Nam và mối quan hệ của các nướctrong lịch sử và hiện nay Dù chưa trực tiếp đề cập đến phát triển kinh tế vùngtam giác phát triển, song có thể nói số lượng sách và các công trình khá lớn liênquan đến nghiên cứu 3 nước Đông Dương (chủ yếu là các ấn phẩm của Việnnghiên cứu Đông Nam Á) thực sự là nguồn tài liệu quý giá cho việc nghiên cứu
các quốc gia này Đó là các cuốn sách: Một số vấn đề về văn hoá với phát triển
Trang 25Lịch sử Lào, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1997,…Những kết
quả nghiên cứu khá sâu sắc về tộc người, ngôn ngữ, văn hoá…của các nướcnày, các công trình trên đã cung cấp cơ sở thực tế hết sức phong phú và có giátrị về cuộc sống sinh hoạt, lao động của các dân tộc ở Đông Dương Sự tươngđồng và khác biệt của các cộng đồng này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủhơn về các nước này trong đó có các tỉnh trong vùng Tam giác phát triển
Trực tiếp nghiên cứu về đề tài CLVDT của Viện Nghiên cứu ĐôngNam Á bắt đầu từ năm 2008 với một loạt các công trình như công trình nghiên
cứu cấp Bộ: Điều tra cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội của Tam giác phát triển
Việt Nam, Lào, Campuchia do PGS.TS Phạm Đức Thành làm chủ nhiệm.
Công trình thực hiện trong hai năm (2006 - 2007) Ngoài các báo cáo có giá trịđược thảo luận tại hội thảo được tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của cácnhà khoa học ba nước, tháng 11/2007 còn có nhiều bài báo liên quan đến nộidung trên đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Trong đó đáng chú ý
là bài viết của PGS.TS Phạm Đức Thành đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông
Nam Á số tháng 11 năm 2007: Tam giác phát triển góp phần tăng cường hợp
tác Việt Nam - Campuchia Công trình giới thiệu một cách tổng quát về Tam
giác phát triển Việt Nam, Lào, Campuchia, phân tích những kết quả hợp tácban đầu và nêu lên một số vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới
Đáng chú ý nhất trong thời gian qua là công trình nghiên cứu cấp nhà
nước “Một số vấn đề phát triển và quản lý phát triển vùng tam giác phát triển
Việt Nam - Lào - Campuchia” do PGS.TS Nguyễn Duy Dũng làm chủ nhiêm.
Công trình đã trực tiếp nghiên cứu bàn luận về các nội dung phát triển và quản
lý phát triển vùng này Một số kết quả nổi bật của công trình này cũng như cáccông bố có liên quan do nhóm tác giả công bố: 1, Phân tích các khía cạnh lýthuyết về phát triển, hội nhập, quản lý phát triển và đặc trưng chủ yếu của cáctam giác tăng trưởng; 2, Phân tích và làm rõ hiện trạng phát triển của vùng tamgiác phát triển trên nhiều khía cạnh khác nhau: từ chính trị an ninh, kinh tế đến
xã hội văn hóa Đề tài nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hợp tác khu vực ở
Trang 26cấp độ 3 nước cũng như các địa phương; 3, Nêu các quan điểm và các giải phápnhằm quản lý và phát triển quản lý vùng CLVDT hiện nay và trong thời giantới
Cùng với công trình này là một số các sản phẩm được xuất bản như:
Nguyễn Duy Dũng (chủ biên), Việt Nam – Lào – Campuchia: hợp tác hữu nghị
và phát triển, NXB Thông tin và truyền thông, 2012; Nguyễn Duy Dũng (chủ
biên), Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia: từ lý luận đến thực
tiễn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 2010; Nguyễn Duy Dũng, Đặc điểm và tiềm năng của tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, Tạp
chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2009; Phạm Đức Dương, Phạm Thanh
Tịnh, Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia và vấn đề phát huy giá
trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số
9/2009; Nguyễn Văn Hà, Thương mại và đầu tư trong Tam giác phát triển Việt
Nam - Lào - Campuchia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11/ 2009; Lê
Phương Hòa, Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng tam giác phát triển Việt Nam
- Lào - Campuchia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2010; Lê Phương
Hòa, Triển vọng những ngành kinh tế chính Campuchia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10, 2010; Trương Duy Hòa, Tam giác phát triển Việt Nam -
Lào - Campuchia một số quan điểm và lợi thế cơ bản của ba nước Nam Lào,
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10/2009; ….Các công trình này chủ yếunghiên cứu về hiện trạng của CLVDT theo các tiếp cận quản lý phát triển Gần
đây nhất tác giả Lê Phương Hòa đã có bài Các nhân tố tác động đến hợp tác
vùng tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, Tạp chí Nghiên cứu
Đông Nam Á, số 12, 2012, đây là công trình đầu tiên nhìn nhận CLVDT dướigóc độ phát triển vùng, tuy nhiên mới chỉ điểm qua được những yếu tố tác độngđến hợp tác và phát triển của vùng
Các công trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ yếu dưới dạng báo cáo
như: Tổng kết đề tài nghiên cứu: Sử dụng tài nguyên đất và nước hợp lý làm cơ
Trang 272003; Dự thảo báo cáo về hợp tác kinh tế (Tại cuộc họp SOM lần thứ 3 cuộc gặp Thủ tướng ba nước ngày 18 7 2004, Xiêm Riệp, Campuchia); Sáng kiến
hình thành tam giác phát triển Việt nam - Lào - Campuchia, Hà Nội, 2007;
Đề án về việc tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư khu vực tam giác phát triển,
Kon Tum ngày 12 - 16/3/2007
Đặc biệt công trình quan trọng với những khảo cứu rất có giá trị, đó là:
Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia của Viện Chiến lược - Bộ Kế hoạch và Đầu tư tháng 8
năm 2004 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trong Tam giác pháttriển Việt Nam - Lào - Campuchia được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứucủa các bộ, các cơ quan của các Bộ có liên quan của 3 nước tiến hành nghiêncứu về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực này Các kết quả đạtđược đã cụ thể hoá trong báo cáo tổng hợp với 4 chương Trong đó bước đầulàm rõ khái niệm, nội dung liên quan đến tam giác phát triển và bài học kinhnghiệm từ các nước Châu Á Các điều kiện phát triển cũng như định hướng hợptác giữa ba nước đã được đề cập khá đầy đủ và có tính khả thi cao Nhìn chung,đây là một trong số ít những công trình trực tiếp nghiên cứu đến tam giác pháttriển có giá trị cao Trong đó, bước đầu đã phác họa được bức tranh tổng thể vềtam giác phát triển - Một mô hình hợp tác còn khá mới mẻ đối với các nướcĐông Dương Tuy nhiên, đây chỉ là khảo cứu ban đầu nên chưa có nhiều phântích, nhận định sâu Hơn nữa, thời gian khảo cứu cách đây khá lâu, khi tam giácvừa được hình thành nên tính thời sự đã giảm
Sau sáu năm thực hiện, ba nước đã quyết định ra soát lại toàn bộ quy
hoạch phát triển vùng và hình thành nên Báo cáo tổng hợp rà soát, điều chỉnh,
bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội 11/2010 Báo cáo này
được hoàn chỉnh vào năm 2012 thành Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
-xã hội tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam đến năm 2020 Đây là
một công trình rất có giá trị, hiện nay dữ liệu nghiên cứu về CLVDT được khai
Trang 28thác tổng hợp và cập nhật nhất thuộc về báo cáo này Báo cáo này không thiên
về phân tích mà chủ yếu là tổng hợp các dữ liệu liên quan đến hiện trạng củavùng và các định hướng phát triển mà chính phủ ba nước đã phê duyệt chovùng tam giác
Đối với tài liệu nước ngoài liên quan đến CLVDT, hiện đã có một sốnghiên cứu đến từ các nhà nghiên cứu Campuchia, Thái Lan và ADB, trong đó
có thể kể đến một số công trình như: Vannarith Chheang và Yusshang Wong
với Cambodia - Laos - Vietnam: Economic Reform and Regional Integration, Cambodian Institute for Cooperration and peace; Somchith Inthamith với The
Cambodia - Laos - Vietnam development triangle, Phnom Penh, Cambodia, 20
Jan2009, http://www.moc.gov.kh; Các nghiên cứu của ADB về CLVDTthường đặt CLVDT trong tổng thể của GMS Trong báo cáo chính sách củaBhoj Raj Khanal & Wilairat Tongsiri (Mekong Institute, Thailand) với tựa đề
The Cambodia, Lao PDR, and Vietnam (CLV) Development Triangle: Opportunities, Challenges and Option for Future (3/2007) đã bước đầu giới
thiệu 5 lĩnh vực hợp tác cơ bản trong CLVDT với những phân tích về khókhăn, thuận lợi Hai tác giả nhìn nhận vùng đất này có thể có tiềm năng pháttriển là đây là cơ hội tốt cho sự phát triển của vùng GMS Vùng tam giác nêntập trung vào phát triển mạng lưới giao thông cũng như cơ sở hạ tầng cơ bản.Báo cáo nhìn nhận và phân tích CLVDT dưới góc độ là một phần cấu thành củaGMS hơn là một vùng phát triển chuyên biệt
Bên cạnh các công trình xuất bản thì tài liệu liên quan đến đề tài từ cácbài tham luận hội nghị, hội thảo cũng rất quan trọng Đặc biệt là tài liệu của cáchội nghị cấp cao CLV, các hội nghị ủy ban điều phối chung ba nước, hội nghị
chuyên đề… như: Biên bản hội nghị Ủy ban điều phối chung lần thứ 8 khu vực
Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam; Báo cáo kết quả cuộc họp cấp chuyên viên Ủy ban điều phối chung lần thứ 8 khu vực Tam giác phát triển CLV; Báo cáo tổng hợp rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát
Trang 292020; Báo cáo kết quả Hội nghị lần thứ 7 Ủy ban Điều phối chung Khu vực tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam; Biên bản hội nghị Ủy ban điều phối chung lần thứ 7 khu vực Tam giác phát triển Campuchia-Lào-Việt Nam; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tam giác phát triển Cămpuchia - Lào - Việt Nam; Báo cáo tổng quan về rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (tại Hội nghị Ban Điều phối chung ba nước lần thứ năm tại Rattanak Kiri); Biên bản cuộc họp lần thứ 2 Ủy ban điều phối chung Tam giác phát triển ba nước Campuchia
- Lào - Việt Nam; Biên bản cuộc họp lần thứ nhất Ủy ban điều phối chung về Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam…Các tài liệu này được đăng
tải trên Trang thông tin điện tử Tam giác phát triển Việt Nam Lào Campuchia
-Ngoài ra, còn một số tài liệu liên quan đến vùng ở dạng báo cáo nhưngcũng rất quan trọng là các báo cáo phát triển kinh tế xã hội của mười ba tỉnh
thuộc vùng CLVDT như: Kế hoạch phát triển Kinh tế-Xã hội tỉnh Attapeu đến
năm 2020; Kế hoạch phát triển Kinh tế-Xã hội tỉnh Saravan 2005-2006; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 tỉnh Đắc Lắc; Báo cáo tóm tắt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010) tỉnh Kon Tum; Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2010; Báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội năm 2008-2009 và kế hoạch năm 2009-2010 Attapeu; Báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội năm 2008-2009 và kế hoạch năm 2009-2010 tỉnh Saravan ; Báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội năm 2008-2009 và kế hoạch năm 2009-2010 tỉnh Sê Kông Đây là những tài liệu quan trọng trong nghiên cứu để đánh giá
tình hình phát triển kinh tế xã hội của các địa phương trong vùng tam giác pháttriển
Điểm lại các công trình nghiên cứu về hợp tác phát triển kinh tế - xã hộivùng Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, có thể rút ra một sốnhận xét sau:
Trang 30- Đây là một chủ đề nghiên cứu rộng, vừa phải tiếp cận dưới góc độvùng, vừa phải tiếp cận dưới cách nhìn của hợp tác quốc tế nên hệ thống cácvấn đề liên quan đến chủ đề khá nhiều, các công trình liên quan đến CLVDT về
lý thuyết bao gồm các công trình liên quan đến phát triển vùng, hợp tác quốc
tế Về thực tiễn bao gồm các công trình liên quan đến tam giác phát triển, đếncác nước Việt Nam, Lào, Campuchia; các công trình liên quan đến GMS vàrộng hơn là ASEAN; các công trình liên quan đến các địa phương thuộc tamgiác và trực tiếp là các công trình liên quan đến CLVDT
- Số lượng các công trình nghiên cứu về CLVDT chưa nhiều, như đã đềcập ở trên chủ yếu tập trung từ hai cơ quan là Viện Nghiên cứu Đông Nam Á
và Bộ Kế hoạch và đầu tư (chủ yếu là từ Viện chiến lược phát triển) Các côngtrình của nước ngoài còn ít và rời rạc, chủ yếu là dưới dạng các bài viết, bàiphân tích mang tính mô tả thực trạng
- Chưa có một công trình nào tiếp cận nghiên cứu phát triển kinh tế xãhội CLVDT dưới góc độ vùng Ngay cả những lý luận về hình thành và pháttriển CLVDT hiện cũng đang nặng về mô tả Mặc dù công trình nghiên cứu củaPGS.TS Nguyễn Duy Dũng đã có lý luận về sự hình thành vùng nhưng cáchtiếp cận lại dưới góc độ quản lý
- Hiện vẫn đang thiếu những lý luận mang tính định hướng phát triểnvùng cho CLVDT mặc dù trong quy hoạch phát triển vùng đã có xác định địnhhướng cho phát triển vùng nhưng lại được nhìn nhận theo lĩnh vực quản lý hơn
là các yếu tố vùng
Rõ ràng việc xây dựng khu tam giác phát triển từ ý tưởng đã trở thànhhiện thực và được khởi động khá khẩn trương Tuy nhiên, như đã nhận định ởtrên, cho đến nay việc nghiên cứu về CLVDT vẫn chưa thật sự đầy đủ và hoànchỉnh Nhiều câu hỏi đặt ra vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng Dù đã có một sốcông trình đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến hiện trạng phát triển của vùng tamgiác, song thực tế hiểu biết đầy đủ về vùng này còn nhiều hạn chế Với tư cách
Trang 31nghiên cứu của kinh tế học vùng để chỉ ra được đâu là yếu tố cấu tạo nên vùng
và tác động đến vùng Cần thiết phải làm rõ được những điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và thách thức của vùng…Từ đó mới có đủ luận cứ để đề xuất các địnhhướng cũng như giải pháp phát triển vùng tam giác phát triển nói chung, vàkhuyến nghị phương hướng ưu tiên của Việt Nam nói riêng đối với khu vựcnày
Từ những lý do trên việc thực hiện đề tài này là hết sức cần thiết xét ởgóc độ lợi ích phát triển của vùng cũng như mỗi quốc gia và của cả ba nướchiện nay và trong thời gian tới
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
Đề nghiên cứu về vùng CLVDT phải kết hợp 2 nhóm lý thuyết là lýthuyết về hợp tác kinh tế quốc tế và lý thuyết về phát triển vùng
1.2.1.1.Một số lý thuyết liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế
Về lý thuyết hợp tác kinh tế quốc tế, nghiên cứu của luận án vận dụnghai lý thuyết cơ bản là: Lý thuyết về tự do hóa thương mại với nền tảng lànguyên tắc về lợi thế so sánh để so sánh lợi thế của các tiểu vùng trong vùngtam giác phát triển nhằm tìm ra nguyên nhân của hợp tác và có thể từ đánh giálợi thế so sánh rút ra khuyến nghị phát triển cho vùng; và Lý thuyết về lợi thếcạnh tranh quốc gia khi nhìn nhận đánh giá lợi thế của mỗi nước và các địaphương cụ thể
Thuyết tự do thương mại
Adam Smith [2] và David Ricardo [37] là hai thuyết gia đã đặt nền tảng
lý luận cho chủ nghĩa Tự do thương mại Smith chủ trương để thị trường vậnhành theo cơ chế cạnh tranh tự do, nhà nước không can thiệp, có như vậy nềnkinh tế mới có hiệu quả thực sự Ricardo phát triển thuyết tự do kinh tế tronglĩnh vực quan hệ thương mại quốc tế, cho rằng trong một hệ thống thương mại
tự do không có hàng rào thuế quan, mỗi nước sẽ dành vốn và nguồn lực củamình vào việc sản xuất những mặt hàng có lợi thế hơn so với nước khác (lợi
Trang 32thế so sánh), điều này sẽ có lợi cho tất cả các nước và sẽ liên kết các nền kinh
tế quốc gia trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hóa
Nền tảng cơ bản cho thuyết tự do hóa thương mại là nguyên tắc về lợithế so sánh Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằngmỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu
những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tươngđối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu
nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đốicao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác) Nguyên tắc lợi thế sosánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối
có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việcsản xuất mọi hàng hóa Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm trọng yếu trongnghiên cứu thương mại quốc tế
Theo Ricardo, khi có thương mại và mỗi nước chỉ tập trung vào sảnxuất hàng hoá mà mình có lợi thế so sánh, tổng số lượng sản phẩm của cả hainước đều tăng hơn so với trước khi có thương mại (là lúc hai nước cùng phảiphân bổ nguồn lực khan hiếm của mình để sản xuất cả hai loại sản phẩm) Lưu
ý rằng phân tích của Ricardo kèm theo những giả định sau:
Không có chi phí vận chuyển hàng hoá
Chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo quy mô
Chỉ có hai nước sản xuất hai loại sản phẩm
Những hàng hoá trao đổi giống hệt nhau
Các nhân tố sản xuất chuyển dịch một cách hoàn hảo
Không có thuế quan và rào cản thương mại
Thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua đều biết nơi cóhàng hoá rẻ nhất trên thị trường quốc tế
Mở rộng phân tích lợi thế so sánh cho nhiều hàng hóa và nhiều quốc giaTrường hợp có nhiều hàng hoá với chi phí không đổi và có hai quốc
Trang 33hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng hoá có lợi thế so sánh thấp nhất
và mỗi nước sẽ tập trung vào sản xuất những mặt hàng có lợi thế so sánh từ caonhất đến cao ở mức cân bằng Ranh giới mặt hàng nào là có lợi thế so sánh cao
ở mức cân bằng sẽ do cungcầu trên thị trường quốc tế quyết định
Trường hợp có nhiều nước thì có thể gộp chung tất cả các nước khácthành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích trên vẫn giữnguyên tính đúng đắn của nó Lợi thế so sánh không những áp dụng trongtrường hợp thương mại quốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng trongmột quốc gia một cách hoàn toàn tương tự
Hạn chế của nguyên tắc lợi thế so sánh nằm trong các giả định của nó,
ví dụ giả định rằng các nhân tố sản xuất có thể dịch chuyển hoàn hảo sẽ nảysinh hạn chế nếu trên thực tế không được như vậy Chính vì thế mặc dù nguyêntắc lợi thế so sánh có thể được tổng quát hoá cho bất kỳ quốc gia nào, với nhiềuloại hàng hoá, nhiều loại đầu vào, tỷ lệ các nhân tố sản xuất thay đổi, lợi suấtgiảm dần khi quy mô tăng và là nền tảng của thương mại tự do nhưng nhữnghạn chế như ví dụ vừa nêu lại là lập luận để bảo vệ thuế quan cũng như các ràocản thương mại
Toàn bộ phân tích của Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sựkhác nhau giữa các nước trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất
và đòi hỏi lao động đơn vị khác nhau Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũngdẫn đến lợi thế so sánh với nền tảng công nghệ như nhau:
Các nước phát triển có cùng yếu tố đầu vào về tư bản nhiều hơn cácnước đang phát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn.Ngược lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lạilớn hơn các nước phát triển Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻhơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đang phát triểngiá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản Nói một cáchkhác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nướcđang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công
Trang 34Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào màmình có lợi thế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa
rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này
Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô (dầuthô, than đá ) hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giàydép… và nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển
Về lý thuyết, thuyết Tự do thương mại cung cấp những cơ sở lý luậnkhoa học cho việc phân tích, giải thích cũng như dự đoán quá trình phát triểncủa thương mại quốc tế Tuy nhiên do thiên về lập luận khai thác mặt tích cựccủa tự do hóa thương mại, thuyết này xem nhẹ những mặt trái của quá trình tự
do hóa
Lý thuyết về lợi thế canh tranh quốc gia của Michael Porter:
Quan điểm của M.Porter giống với lý thuyết thương mại tự do củaAdam Smith và D Ricado Ông đã xây dựng mô hình lý luận 4 nhân tố có vaitrò chủ chốt ban đầu cho cạnh tranh thành công ở một ngành [21]
Thứ nhất, điều kiện về yếu tố sản xuất: Vị trí của quốc gia về các yếu tốsản xuất cần thiết để cạnh tranh trong ngành, ví dụ như lao động có tay nghềhay cơ sở hạ tầng
Thứ hai, điều kiện về nhu cầu: Bản chất của nhu cầu trong nước về sảnphẩm hay dịch vụ của ngành
Thứ ba, các ngành bổ trợ và có liên quan: Sự có mặt hay thiếu vắng tạiquốc gia đó những ngành cung ứng và các công nghiệp liên quan có khả năngcạnh tranh quốc tế
Thứ tư, chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh của doanh nghiệp: Điều kiệntại quốc gia đó quyết định việc thành lập, tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhưthế nào, và bản chất của cạnh tranh trong nước
Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ
sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và
Trang 35của mô hình là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, cácngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp Ngoài
ra, còn có 2 biến số bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ
Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh
ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành Các quốc gia chỉ có thể thànhcông trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bềnvững trong một số ngành nào đó Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốcgia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngànhcủa quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hóa thì nềntảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tựnhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vịthế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và trithức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên Lợi thế cạnh tranh quốc giađược tạo ra và thông qua quá trình địa phương hóa cao độ Sự khác biệt về giátrị quốc gia, văn hóa, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyếtđịnh sự thành công trong cạnh tranh Các quốc gia thành công ở một số ngànhtrên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiênphong và nhiều sức ép nhất Các công ty của họ thu được lợi thế so với các đốithủ quốc tế nhờ việc có các đối thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà cung cấp
có khả năng trong nước, nhờ sự phong phú nhu cầu khách hàng trong nước và
sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiệntượng thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanhquốc tế và vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiệnthuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vàidoanh nghiệp cụ thể Sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào
đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất laođộng bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành
Trang 36Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành,quốc gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trườngquốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnhtranh trực tiếp Lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được
“Quyền lực thị trường” để thành công trong kinh doanh và trong cạnh tranh.Lợi thế cạnh tranh quốc gia thường bị hiểu nhầm với lợi thế so sánh Lợi thế sosánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đó của mộtquốc gia hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tựnhiên, tài nguyên hay con người Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dàothường được coi là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển Tuy nhiên đâymới chỉ là cơ sở cho một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế cạnhtranh đảm bảo cho sự thành công trên thị trường quốc tế Lợi thế cạnh tranhphải là khả năng cung cấp giá trị gia tăng cho các đối tượng có liên quan như:khách hàng, nhà đầu tư hoặc các đối tác kinh doanh và tạo giá trị gia tăng caocho doanh nghiệp
Chẳng hạn, các nước nổi tiếng về du lịch như Ý và Thái Lan đã tậndụng lợi thế so sánh về thiên nhiên và các công trình văn hóa di tích lịch sử đểphát triển ngành công nghiệp không khói này rất thành công và hiệu quả Tuynhiên, họ thành công không phải chỉ dựa vào những di sản văn hóa và thiênnhiên ban cho, mà vì họ đã tạo ra cả một nền kinh tế phục vụ cho du lịch với rấtnhiều dịch vụ gia tăng kèm theo, từ dịch vụ khách sạn, nhà hàng, lễ hội đến cácdịch vụ vui chơi giải trí, các trung tâm mua sắm và các chương trình tiếp thịtoàn cầu Điều đó đã tạo cho họ có lợi thế cạnh tranh quốc gia mà các nướckhác khó có thể vượt trội
CLVDT có lợi thế so sánh trong ngành nhờ điều điều kiện tự nhiên ưuđãi, nhưng muốn có lợi thế cạnh tranh vùng để giành ưu thế trên thương trườngquốc tế, CLVDT cần có sự phối kết hợp hài hòa một hệ thống cung cấp giá trịgia tăng theo “các viên đá tảng kim cương của Porter”, những hoạt động thị
Trang 37tạo ra những mối quan hệ tương hỗ cơ bản tạo ra giá trị gia tăng của ngành Sựhợp tác càng hiệu quả bao nhiêu thì năng suất lao động của ngành càng cao bấynhiêu và là cơ sở tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngành và vùng.
1.2.1.2 Một số lý thuyết liên quan đến phát triển vùng
Về tăng trưởng vùng có khá nhiều lý thuyết, tuy nhiên nghiên cứu nàychỉ đề cập đến những lý thuyết mà VLCDT có thể tham khảo hoặc vận dụng
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh vùng:
Lý thuyết này hình thành trên cơ sở các kết quả quan sát thực nghiệmcủa C.Clark (1940) và B.Fisher (1939) [38] Nói chung sự tăng thu nhập bìnhquân đầu người trong các khu vực lãnh thổ khác nhau theo thời gian gắn liềnvới sự phân bố thực tế các nguồn tài nguyên, với sự giảm tỷ lệ lực lượng laođộng được sử dụng trong các hoạt động sơ cấp, khai thác các hoạt động thứ cấp(chế biến) và các hoạt động tam cấp (dịch vụ) Tốc độ của sự dịch chuyển và sựtiến triển bên trong của chuyên môn hóa vùng và phân công lao động xã hộiđược xem như là các nguồn cung cấp động lực chủ yếu cho sự tăng trưởngvùng Lý thuyết tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bêntrong của vùng, đến khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào như tài nguyên thiênnhiên, vốn, lao động và công nghệ để xác định năng lực sản suất của vùng
Điều này có nghĩa là một vùng muốn tăng trưởng thì trước hết nên quantâm đến những nguồn lực sẵn có của chính mình để làm cơ sở cho phát triển vìchỉ có làm cho năng lực sản xuất bên trong mạnh lên mới có thể thúc đẩy sựphát triển Sự phát triển cũng phụ thuộc vào khả năng phân bổ hợp lý nguồnnhân lực trong vùng cũng như điều hòa dòng luân chuyển hàng hóa tiêu dùngtrong vùng Điều này đúng với những vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên vànguồn nhân lực dồi dào như CLVDT Lý thuyết này được áp dụng trong nhữngnền kinh tế mang nhiều tính tự cung tự cấp của nền kinh tế, khi mà dòng luânchuyển nguồn lực đầu vào và sản phẩm đầu ra giữa các vùng chưa phát triển ỞViệt Nam đã có một thời gian dài nền kinh tế vùng được vận hành theo lýthuyết này Và từ kinh nghiệm phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như một
Trang 38số nước thì lý thuyết này chỉ nên áp dụng có sự kết hợp với những lý thuyếtkhác với mục tiêu tăng cường sức mạnh bên trong để củng cố cho sự phát triểnchung.
Lý thuyết về các giai đoạn tăng trưởng vùng
Lý thuyết này do E.M.Hoover đề xướng năm 1984 với giả thiết pháttriển vùng trước hết là một quá trình tiến hóa nội sinh, bao gồm các giai đoạnsau [54]:
Giai đoạn một là giai đoạn của nền kinh tế tự cung, tự cấp với sự đầu tư
và buôn bán nhỏ; bộ phận dân cư nông nghiệp được phân bố tương ứng với sựphân bố của nguồn tài nguyên thiên nhiên
Giai đoạn hai là giai đoạn mà giao thông vận tải được cải thiện, vùng
mở mang thương mại và tiến hành chuyên môn hóa sản xuất Một bộ phận dân
cư bắt đầu xúc tiến các ngành công nghiệp giản đơn phục vụ các hộ nông dân,các trang trại
Giai đoạn ba là giai đoạn gia tăng thương mại nội vùng, vùng tiến triểnthông qua các chuỗi mùa vụ nông nghiệp từ quảng canh lương thực đến chếbiến nông sản và phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả
Giai đoạn thứ tư là giai đoạn gia tăng dân số và suy giảm lợi tức nôngnghiệp, buộc vùng phải đẩy mạnh công nghiệp hóa
Giai đoạn thứ năm là giai đoạn mà các ngành công nghiệp lãnh thổ, cácngành chế biến, xuất khẩu của vùng đã phát triển Các vùng đã phát triển tớimức có thể xuất khẩu vốn, kỹ thuật và các dịch vụ, đặc biệt đến các vùng chậm
và kém phát triển hơn
Các giai đoạn phát triển của vùng cũng được Thompson và Jacob đưa radựa vào quan sát sự phát triển của các vùng Dù sử dụng các thuật ngữ khácnhau nhưng về cơ bản quan điểm của hai ông khá giống với quan điểm củaE.M.Hoover
Như vậy, theo mô hình các giai đoạn tăng trưởng, các vùng ban đầu đều
Trang 39trưởng, nền kinh tế trở nên đa dạng và phức tạp hơn, vùng dần trở thành mộtmắt xích có vai trò nhất định trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân TheoThompson, khi đã phát triển, vùng sẽ có khả năng thu hút những nguồn lực mới
để duy trì sự tăng trưởng kinh tế của vùng Còn theo Jacob, bổ sung công việcmới cho các công việc cũ là yếu tố then chốt trong quá trình vận động giữa cácgiai đoạn phát triển
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh dựa trên lý thuyết ngành và sự mở rộngcủa nó vào lý thuyết về các giai đoạn tăng trưởng vùng nhấn mạnh đến sự cầnthiết của công nghiệp hóa, đưa đến sự rập khuôn Đồng nhất sự phát triển thực
tế vốn rất phong phú đa dạng của các vùng Lý thuyết về các giai đoạn tăngtrưởng vùng không cho ta hiểu biết một cách sâu sắc về quan hệ ngoại sinh củavùng Hơn nữa với cách tiếp cận khái quát không cho ta thấy rõ nguyên nhântăng trưởng và các động lực của sự thay đổi
Tuy nhiên, cách tiếp cận về các giai đoạn tăng trưởng vùng giúp ta cóđược bức tranh tổng thể về các giai đoạn tăng trưởng của vùng và nêu được cácđiều kiện chuyển dịch từ giai đoạn này sang giai đoạn khác Với CLVDT làmột vùng hình thành chưa lâu và hình thành trong điều kiện kém phát triển cóthể vận dụng lý thuyết này để nhìn rõ quá trình phát triển của mình để đưa ranhững lựa chọn phát triển phù hợp
Lý thuyết điểm trung tâm của W.Christaller - (Mỹ 1933) gọi tắt là lý thuyết trung tâm.
Có thể nói lý thuyết này được hoàn thiện trên những ý tưởng và môhình của V.Thunen và Weber cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn vềlực hấp dẫn Ông cùng với A.Losch đã góp phần to lớn vào việc tìm kiếmnhững tích luỹ quy luật của sự phát triển sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất theokhông gian trong điều kiện kinh tế thị trường
W.Christaller cho rằng, không có nông thôn nào lại không chịu chỉ đạocủa một cực hút, đó là thành phố Ông quan điểm thành phố như những cựchút, hạt nhân của sự phát triển Chúng là các đối tượng để đầu tư có trọng điểm
Trang 40trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của một trung tâm;
để xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm Trong thời hạnbán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn thị trường, ngoài ngưỡng giới hạnkhông có lợi trong việc phục vụ hàng hóa của trung tâm Thành phố là mộttrung tâm cho tất cả các điểm dân cư khác của vùng, đảm bảo cho chúng về cáchàng hóa của trung tâm Các trung tâm tồn tại theo nhiều cấp, từ cao tới thấp.Các trung tâm cấp cao có khả năng lựa chọn hàng hóa và dịch vụ còn các trungtâm cấp thấp ít có khả năng lựa chọn hơn Lý thuyết Trung tâm củaW.Christaller đã được nhà bác học người Đức A.Losch đưa thêm vào nội dungcủa lý thuyết trung tâm vấn đề mức độ phụ thuộc cao hơn Từ đó ông cho rằng
có một điểm trung tâm chung
Điểm trung tâm này cho rằng thành phố quan trọng nhất, là đầu mối củatoàn bộ hệ thống các điểm dân cư; vai trò trong buôn bán và phục vụ của nókhống chế với các vùng phụ thuộc Công lao của W.Christaller và A.Losch ởchỗ 2 ông đã khám phá quy luật phân bố không gian từ tương quan giữa cácđiểm dân cư, phát hiện một trật tự được tính toán trong sự phân bố các thànhphố và nông thôn, sau khi nhận thức được quy luật khách quan, sẽ áp dụng nókhi quy hoạch các điểm dân cư trên những lãnh thổ mới khám phá, nghiên cứucác hệ thống không gian cơ sở để xác định các nút trọng điểm Về mặt thựctiễn, lý thuyết này là cơ sở để bố trí các điểm đô thị mới cho những vùng còntrống vắng đô thị