Thí nghiệm hóa học và máy tính
Trang 1
© _ Phát triển các phương tiện 3D va đa môi trường (mulimedia)
« - Hình thức và nội dung các trang Web
4 Implementation: Triển khai thực hiện: cần tích hợp với chương trình
công nghệ thông tin của trường học:
® _ Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế các phòng máy tính
® _ Thủ tục tiến hành với thây
+ _ Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học và quần lí
® - Quản lí tài nguyên (nhân lực và vật lực)
5 Evaluation: Lượng giá: đánh giá hiệu quả huấn luyện thường sử dụng mô hình bốn-bậc do Donald Kirkpatick phát triển (1994) Theo mô hình này, quá trình lượng giá luôn được tiến hành theo thứ
tự vì thông tin của bậc trước sẽ làm nền cho việc lượng giá ở bậc kế -
© Bac 1: Phan tng tich cực hay tiêu cực (Reactions)
« Bac 2: Hiéu qua hoc tap (Learnings) -
« _ Bậc 3: Khả năng chuyển giao hay chuyển đổi (Transfers)
e Bậc4: Kết quả thực tế (Results)
Hình 3-76 Mô hình lượng giá bốn-bậc theo Kirkpatrick
Nội dung đẩy đủ của các bước nêu khái quát ở trên cần được trình bày
riêng trong một tài liệu chỉ tiết vỀ mạng Internet và giáo dục
19
Trang 2CHUGNG 4
THÍ NGHIỆM HÓA HỌC
VÀ MÁY TÍNH
Trang 3A THỰC NGHIỆM TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC
Thực nghiệm là một trong các đặc trưng của giảng dạy các bộ môn khoa học như hóa học Các nhà khoa học và giáo dục đều nhất trí rằng thực hành thí nghiệm giữ một vai trò quan trọng trong dạy-học hóa học, nhưng lại mơ hồ và
không thể xác định rõ ràng vì sao thực nghiệm lại thiết yếu như thế Hiệu quả của các hoạt động thực nghiệm nằm trong bản chất và nội dụng các hoạt động thực
nghiệm và những mục tiêu được dé ra
Có rất nhiều dạng hoạt động thực nghiệm như: phương pháp, rèn luyện kĩ
năng, minh họa của thầy để nêu tình huống thảo luận, các hoạt động giải quyết vấn để, và các hoạt động thực hành tự khám phá được thiết kế để giúp học sinh
kết luận tổng quát hóa Vì thế câu hỏi cần được đặt ra là loại hoạt động thực nghiệm nào cần được tiến hành để đạt được các mục tiêu cụ thể được để ra của
một nội dung học thuật, hoặc của cá quá trình đào tạo Tuy mục tiêu giáo dục các
môn khoa học thực nghiệm, trong đó có hóa học, thay đổi khá nhiều theo thời gian
và sự phát triển các lí thuyết đạy-học, công cụ dạy-học, tình huống dạy-học và hoàn cảnh kinh tế xã hội, các khảo sát gần đây (1982 đến 1998) cho thấy bốn mục
tiêu chung của thực nghiệm trong hóa học:
e khuyến khích quan sát và mô tả chính xác;
© _ làm cho các hiện tượng quan sát xác thực hơn;
s kích thích và đuy trì hứng thú học tập;
e _ cổ vũ cách tư duy logic và hợp lí
Tuy nhiên, trong khảo sát của Swain và các cộng sự vào năm 1998, một nhóm các mục tiêu sau đây được cho là có mức ưu tiên cao hơn trước:
© _ thực hành việc nhận ra vấn để và tìm kiếm cách giải quyết vấn đề;
© phat triển thái độ biết phân tích;
e phat triển khả năng cộng tác;
nhằm tìm ra được các sự kiện và đạt đến những nguyên lí mới
Với từng mục tiêu khác nhau, cũng cần các loại hoạt động thực hành khác nhau:
© các bài thí nghiệm minh họa ngắn để thảo luận và học tập các khái
niệm;
© các hoạt động thực hành để phát triển các kĩ năng và thao tác thực
hành;
18
Trang 4e các hoạt động thực hành mở rộng để phát triển các kĩ năng khảo sát,
nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, các hoạt động khoa học thực nghiệm phải
bao gồm:
¢ _ sử dụng các cách biểu diễn bằng đồ thị và biểu tượng;
© _ sử dụng các thiết bị và công cụ đo lường;
e kindng quan sat;
nghiệm được tiến hành trong nhà trường chỉ tập trung vào một phần nhỏ và không
mấy quan trọng là các thí nghiệm minh họa và định tính Các yêu cầu thực sự cần
thiết giúp phát triển tư duy khoa học và thực nghiệm như đổ thị, biểu tượng và bài thực nghiệm dạng để án khảo sát không được thực hiện trong chương trình Trong
“Sách tham khảo trong Giảng dạy môn Khoa học Tự nhiên” của Tổ chức Văn hóa Giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO, 1979) cũng đặt ra những yêu cầu và nội
dung rất cụ thể, trong đó có nhiều nội dung thực hành hóa học rất đơn giản nhưng
cũng rất hiện đại và thực tế như sắc kí lỏng, điện phân, thí nghiệm vi lượng được sử dụng rộng rãi trong chương trình của hầu hết các nước trên thế giới Những thiếu sót ấy trong nội dung chương trình hiện nay thường không phải từ lí
đo tài chính (hóa chất cần thiết là thông dụng và thiết bị đơn giản đã có sẵn hoặc
có thể tự tạo) hoặc huấn luyện (các thao tác thông thường) mà chủ yếu là do ý đỗ
thiết kế nội dung chương trình
B XỬ LÍ SỐ LIỆU TRONG KHOA HỌC THỰC NGHIỆM
Một trong những yêu câu cơ bản và quan trọng trong thực nghiệm khoa học
là nội dung đo lường và xử lí số liệu Có thể thực hiện điều này một cách tích cực
trong chương trình giảng đạy môn hóa học ở mọi cấp lớp Ví dụ dưới đây mình họa
một bài thực hành có thể thực hiện trong chương trình khối 10 trung học phổ thông:
184
Trang 5I XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ ELECTRON S TRONG NGUYEN TU BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHÒNG TƯƠNG TỰ
1 Đặt vấn để
Trong chương trình hóa học lớp 10, học sinh từ cấp trung học cơ sở bỡ ngỡ bước vào chương trình trung học phổ thông môn hóa học và gặp ngay một loạt
những vấn để tương đối trừu tượng và khô khan gần suốt cả chương trình học kì
một Hóa học từ một bộ môn thực nghiệm với nhiễu thí nghiệm lí thú ở trung học
cơ sở, nay dường như lạ hẳn đi với cả một học kì đây những Hí thuyết, bài học
thuộc lòng, và những bài toán nhọc nin
Để trả môn học về với đặc trưng thực nghiệm của nó, tạo một nét ngắt cần thiết cho một học kì quá nặng nể, cũng như có thể kết hợp các hình thức cần sử
dụng trong nghiên cứu khoa học với phương pháp học tập khám phá hoặc kiểm
chứng, có thể thực hiện một bài thực hành về cấu trúc nguyên tử nhằm hình tượng
hóa những khái niệm quá trừữu tượng hoặc quá toán học, song vẫn dim bảo nội
dung khoa học cần thiết
Bài thực hành này dựa trên ý tưởng của một bài thực hành do Mary V
Orna (1994) sưu tập (trong Source Book, Vol.1, ChemSource Inc.) và đã được điều
chỉnh cho phù hợp với nội dung chương trình hiện hành, cũng như tạo điểu kiện
ứng dụng tin học để học sinh thấy được sự ưu việt của máy tính trong xử lí thông
tin khoa học
2 Giới thiệu bài thực hành
Khái niệm obitan nguyên tử, theo toán học, là một hàm sóng Về mặt thực
nghiệm, không thể nào xác định được xác suất hiện diện của electron tại các điểm
trong không gián quanh hạt nhân Tuy nhiên có thể có những cách khác nhau để
giới hạn vùng không gian trong đó có khoảng 95% hỉ vọng âm thấy electron Vùng không gian này, được gọi là obitan, thường được biểu điễn bằng đám mây tích điện khi vẽ trong sách vở hoặc bằng các mô hình nguyên tử làm từ nhựa dẻo
Vì không thể tiến hành thí nghiệm như trên, nên ta sẽ thực hiện một thí
nghiệm mô phỏng tương tự, giúp làm rõ các khái niệm về giản đổ xác suất phân
bố, bán kính xác suất cực đại, mật độ electron tối đa, và obitan
Trong thí nghiệm này, ta sẽ xác định khoảng không gian quanh một tâm điểm, trong khoảng không gian đó tổn tại một xác suất nhất định vị trí rơi của viên
bị từ một khoảng cách nhất định đến mục tiêu Những vết này giúp hình dung các
vị trí trong không gian quanh tâm điểm (rương tự hạt nhân) mà viên bì (tương tự
185
Trang 6electron) quan sát được trong thí nghiệm xác định vùng không gian mà viên bi đã roi trúng (/ương tự obitan nguyên tử)
Ta cũng sẽ xác định bán kính của xác suất cực đại bằng cách vẽ giản đồ
biến thiên số vết rơi (tương tự vị trí electron quan sát được) chia cho diện tích vùng rơi theo khoảng cách từ tâm điểm (tương tự hạt nhân)
Bản mục tiêu l (trên) Bản mục tiêu 2 (dưới) Tờ giấy than (giữa)
Đặt tờ giấy than giữa hai tờ giấy
làm mục tiêu rơi để khi viên bi rơi trên
tờ giấy mục tiêu phía trên, thì cũng sẽ
tạo vết trên tờ giấy mục tiêu phía dưới
Trang 7Học sinh A đứng cẩn thận trên
bục hay trên băng ghế, tay cầm sắn
viên bi Giơ chếch tay lên phía trước,
tạo góc khoảng 45° với chiều đứng,
cách mặt đất khoảng hai mét Học sinh
B cùng nhóm sẽ đặt bản mục tiêu trên
sàn, ngay phía dưới tay của bạn theo
chiểu thẳng đứng Học sinh A thả viên
bi rơi trên mục tiêu Học sinh B phải
chụp ngay viên bi khi nẩy lên lần thứ
nhất (nếu không ta sẽ có nhiều vết ứng
với một lần thả duy nhất) Lập lại thêm
Trang 85 Phân tích số liệu và phát triển nhận thức
Xác định 95 vết rơi gần tâm điểm nhất (95% của 100 vết) Vẽ bằng bút chì
một đường cong bao quanh vùng có 95 vết rơi nói trên Khu vực này giúp hình
dung hình ảnh hai chiểu “obitan” của “electron viên bì” (tương tự với vùng không
gian trong đó electron hiện diện đến 95% trong thí nghiệm định vị trong không
gian ba chiều)
Đếm số vết rơi trong mỗi vành tròn đồng tâm và ghỉ lại các số liệu trong
bảng dưới đây Nhân số vết rơi trong mỗi vùng với diện tích của vùng tương ứng
(để xác định xác suất) rồi cũng ghỉ lại vào bảng
(Mẫu báo cáo kết quả)
SO vanh | Bán kính lớn của | Khoảng cách Diện tích của | Số vết eta
đổng tâm | vành đổng tâm vành đổng tâm | vành trong vành vành
(1) Diện tích vùng giới hạn đồng tâm = [R2a„) ~ R2„] (cm?)
(2) Khoảng cách trung bình: khoảng cách từ tâm điểm đến trung điểm của vùng giới hạn đồng tâm = 3(Rạ + Rạ.¡) (cm)
Đã thị biểu diễn liên hệ giữa xác suất và khoảng cách tâm (kèm theo)
Bán kính của xác suất cực đại (xét từ đồ thị)
Chuẩn bị đồ thị bằng cách ghi các điểm tương ứng với khoảng cách trung bình trên trục hoành, xác suất tương ứng trên trục tung Dùng bút chì đen để bắt đầu vẽ hai đồ thị từ toạ độ 0,0 và kết thúc tiệm cận với trục x nhưng không tiếp
xúc với trục x,
Xác định bán kính xác suất cực đại từ đô thị (đỉnh của đường cong) và ghi vào nơi đành sẵn ở bảng trên Đây là khoảng cách từ tâm điểm (nhân) đến nơi hỉ vọng tìm thấy vết rơi của viên bi (hay sự có mặt của electron) là lớn nhất :
So sánh kết quả tìm được với đường cong xác suất hiện diện electron s c6
được từ phương trình sóng Vẽ lại đường cong xác suất hiện điện của electron s
bằng bút chì màu trên giản đổ đường cong thực nghiệm Nhận xét, so sánh
188
Trang 96 Ứng dụng tin học trong xử lí số liệu khoa học
Cũng có thể dùng phần mềm MS Excel để nhập số liệu và thiết lập đổ thị Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc đa dạng hóa các ứng dụng tin học thiết thực
vào các công việc thường ngày trong hoạt động dạy và học cũng như trong đời
sống, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa phương pháp giảng dạy và học tập
Khởi động MS Excel và nhập các số liệu thực nghiệm vào một worksheet
mới theo bảng sau:
$ố vành | Bán kính lớn của | Khoảng cách Diện tích của set Số vết x diện
đng tâm | vành đổng tâm vành đổng lâm | vành vàn tích vành
Dat tén cho worksheet la 1s.xls và ghi lại trong một folder phù hợp
Sau đó, dùng công cụ Chart Wizard để chuyển thành đồ thị kết quả như
yêu cầu của bài thực hành Tùy đối tượng học sinh mà có thể chỉ dừng lại ở 46 thi
đơn giản, hoặc sử dụng phép phân tích hỗi quy phi tuyến để có được kết quả thích
Trang 10it, KẾT LUẬN
Nếu được chuẩn bị tốt, bài thực hành này chỉ chiếm khoảng 25-35 phút, thậm chí có thể phát bản hướng dẫn cùng các bản mục tiêu để học sinh làm ở nhà,
do đó không ảnh hưởng đến phân phối chương trình biện hành
Một nội dung thiết thực, được lồng vào khá nhiều yếu tố nghiên cứu khoa
học thực nghiệm, cùng với khả năng ứng dụng tin học một cách hiệu quả trong học
tập, bài thực hành này trong thực tế tiến hành đã có tác động chuyển biến tốt lên hứng thú học tập của học sinh, thể biện được nội dung của phương pháp dạy học hướng tập trung vào học sinh, tạo điều kiện cho việc học tập cộng tác, đồng thời
thỏa mãn sự hiểu biết phải có của học sinh về khái niệm xác suất trong lí thuyết
vé obitan nguyên tử ở một mức độ cần thiết
C THÍ NGHIỆM XỬ LÍ BẰNG MÁY TÍNH
1 TONG QUAN
Nửa sau thế kỉ thứ XX đã chứng kiến những phát triển công nghệ nhanh chóng không ngờ Thành quả quan trọng nhất trong thời kì này là quá trình tính
toán trọng nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau được cải thiện và thay đổi rất cơ bản
với việc sử đựng máy vi tính
Hóa học thường được biết đến như một ngành khoa học với các thí nghiệm
tiến hành trong các phòng thí nghiệm đẩy những chai lọ, dụng cụ thủy tinh và các hóa chất khác nhau Tuy nhiên, sự gia tăng quá trình điện toán hóa trong thời gian
gần đây cũng đã thay đổi những ứng dụng trong hóa học phân tích truyền thống cổ
điển, xuất hiện những phương pháp phân tích và đo lường mới, nhanh, nhạy, chính
xác và có độ tin cậy cao hơn rất nhiều so với những gì các nhà hóa học đã thực hiện một cách thủ công trong nhiều thế kỉ trước đó Các nhà hóa học của thế kỉ
XXI đã thực hiện một phần hoặc tất cả các thí nghiệm hóa học trên bàn máy tính
chứ không phải trong phòng thí nghiệm truyền thống Các phòng thí nghiệm truyền
thống cũng đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn các thiết bị đo lường và phân tích dựa trên các ứng dụng của công nghệ thông tin Các thí nghiệm hóa học xử lí dùng
máy tính không chỉ có những thuận lợi như trong lĩnh vực nghiên cứu, mà còn có
thể thuận lợi hơn rất nhiều trong điều kiện thiếu thốn quá nhiều trang thiết bị thí
nghiệm, đặc biệt là các thí nghiệm hiện đại trong trường học hiện nay
Các ưu điểm của tin học hóa các quá trình thí nghiệm trong hóa học có thể
kể ra như sau:
190
Trang 111 Giúp thu ngắn thời gian cần thiết cho việc quan sát, thu nhận và xử lí
số liệu thí nghiệm
Thời gian là thiết yếu với các nhà nghiên cứu khoa học Tốn hằng giờ trong phòng thí nghiệm có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả nghiên cứu cả về mặt phân tích khoa học cũng như tỉnh thần Có được kết quả thí nghiệm sớm sủa sẽ gia tốc sự phát triển khả năng nghiên cứu mới Bên cạnh đó tính tích lũy của khoa học
cẩn những bước cụ thể để tạo hiệu quả càng cao hơn Năng suất và ý chí của nhà nghiên cứu sẽ giảm dẫn khí không thấy được thành quả mà thời gian vẫn cứ trôi qua Như vậy, máy tính giúp giảm thiểu thời gian và được coi như một yếu tố
thuận lợi giúp cho việc nghiên cứu
Trong giáo dục, những khống chế về thời lượng thực hành càng làm nổi bật
thêm ý nghĩa của các thí nghiệm xử lí dùng máy tính, giúp thực hiện được nhiều
thí nghiệm hơn trong một quỹ thời gian eo hẹp và cố định
Giúp tạo nên các môi trường thí nghiệm đa dạng và được chuẩn bị tốt hơn, đặc biệt là những thí nghiệm nguy hiểm, khó lắp đặt hoặc có thời gian thực hiện rất nhanh hoặc kéo đài Các thiết bị đọc dùng máy tính hầu hết có thể ghi nhận
các số liệu trong phần nghìn giây đến một ngày một lần, hoàn toàn vượt hẳn khả
năng của con người
3 Xử lí số liệu nhanh va tự động hóa
Hâu hết các tính toán có thể được máy tính tiến hành hoàn toàn tự động
nếu có số liệu nhập hợp lí và chương trình tính toán được soạn đúng VÍ dụ trong chuẩn độ axit-bazơ, để có được khoảng 50 bộ số đo không được chính xác lắm chỏ
một lần thí nghiệm cũng có thể cần đến khoảng mười phút và cũng khoảng ngần
ấy thời gian để vẽ được đường cong chuẩn độ nếu thực hiện thủ công Thực hiện với thiết bị xử lí dùng máy tính thì toàn bộ công việc có thể chỉ tốn năm phút
4 Thí nghiệm vi mô
Cho phép thực hiện các thí nghiệm mô phỏng với kích thước phân tử giúp
hiểu rõ hơn tính chất của vật chất ở mức độ vi mô Máy tính đồng thời cũng là công cụ bắt buộc để có thể thực hiện các thí nghiệm thực với mức độ phân tử
trong công nghệ hóa học nano (nano-chemical experiment)
II THIẾT BỊ SỬ DỤNG
Việc lựa chọn thiết bị sử dụng không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kinh
tế, phù hợp với mục tiêu đào tạo, đơn giản, và yêu câu bảo trì thấp
191
Trang 121 Phần cứng
Trong quá trình chọn phần cứng, một trong những yếu tố cần xem xét là
những yêu cầu về phần mềm Thêm nữa, các tham số như khả năng nối mạng, yêu cầu kĩ thuật, giá cả, những khó khăn trong việc lấp đặt và bảo hành, và tính đơn
giản trong sử đụng của thây và trò là những cân nhấc thiết yếu Các phần mềm,
trừ Logal Explorer (Logal, 1995) va InspirationK12 (Inspiration Software Inc., 1997), đều có các bản dành cho hệ Macintosh hoặc PC CA hai hé méy vi tinh déu
có khả năng nối mạng, một tiện ích giúp đơn giản hóa việc chuyển thông tin giữa
các học sinh và bảo hành kĩ thuật các phần mềm cho thầy cô Phần cứng để thu
nhập số liệu và video số hóa cũng có sẵn cho cả hai hệ máy vi tính Giá cả, bao
gồm cả các phần cứng cẩn thiết cho các thiết bị thu nhận tín hiệu video và nối mạng, là tương tự nhau cho cả hai hệ thống Sự cân nhắc về tính đơn giản trong lắp đặt, bảo hành, và sử đụng của thầy và trò là những yếu tố quyết định
Dù hệ thống Macintosh nổi tiếng do ưu thế vượt trội trong môi trường đồ họa và đa phương tiện, chúng tôi vẫn cho rằng hệ thống Windows có ưu thế hơn
về mặt kinh tế và dễ thao tác hơn đối với thây trò trong lĩnh vực này Điểu này
dựa trên tình hình thực tế của việc sử dụng máy vi tính và các phần mềm tại Việt Nam hiện nay Cả thây và trò đã thực hiện các thao tác như sử dụng các chương tảnh, lắp đặt máy, cài đặt chương trình, lấp đặt các thiết bị nội vi hoặc ngoại vi
trên nền của hệ thống Windows
Hệ thống phần cứng được chọn để thực hiện là các máy vi tính loại PC với
cấu hình không cần mạnh lắm, sử dụng hệ điểu hành quen thuộc Windows 9x, bộ
xử Hí có tốc độ vài trăm MHz, có 64-128 MB bộ nhớ (RAM) và một đĩa cứng dưng lượng khoảng vài đến vài chục Gigabyte Bên cạnh hệ thống máy vi tính tiêu
chuẩn, một máy chủ có khả năng thu phát tín hiệu video kĩ thuật số với khả năng lưu trữ cao, đến khoảng hai đĩa cứng 40 Gigabyte, cũng sẽ được dùng làm máy chủ
và dùng trong nghiên cứu: Thêm nhiều máy có khả năng thu phát tín hiệu video
xét thấy không cẩn thiết, do bất kì máy vi tính nào theo tiêu chuẩn trên cũng có
khả năng xử lí và phân tích các tập tin video kĩ thuật số
Ngoài các phần cứng máy vi tính, còn cần các phân cứng đặc biệt có khả năng thu nhập và phân tích số liệu Trái với phân cứng máy vi tinh, có nhiều nguồn cung cấp giao điện cho máy tính để thu nhập số liệu cho các thí nghiệm hóa học căn bản Các yếu tố cân nhắc để lựa chọn phần cứng thu nhập số liệu gồm lắp đặt và sử đụng dễ dàng, thiết kế và chức năng của giao diện máy vi tinh, các loại công cụ thu nhập số liệu có thể thực hiện, các loại công cụ phân tích kèm theo, giá
cả, độ tin cậy, và trợ giúp kĩ thuật Giao diện thu nhập số liệu cần dễ lắp đặt, và thay đổi dễ dàng từ công cụ này sang công cụ khác Ví dụ, bất kì học sinh nào
192