Tập trung thể hiện cảm hứng: sự hoà hợp giữa cái riêng với cái chung, ca ngợi chủ nghĩa xã hội, cuộc sống mới, con người mới, nỗi nhớ thương với miền Nam ruột thịt…Các tác phẩm tiêu biể
Trang 1CẤU TRÚC ĐỀ THI TỐT NGHIỆP BỔ TÚC THPT
( Theo CV 2553 BGD &ĐT )
Câu I (2,0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam
và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.
VĂN HỌC VIỆT NAM
- Khái quát VHVN từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX
- Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh
- Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Việt Bắc (trích) - Tố Hữu
- Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài
- Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
- Thuốc - Lỗ Tấn
- Số phận con người (trích) – Sô-lô-khốp
- Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê.
Câu II (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội
ngắn (không quá 400 từ).
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Câu III ( 5,0 điểm):Vận dụng khả năng đọc - hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn học.
- Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh
-Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Việt Bắc (trích) - Tố Hữu
- Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài
- Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
(Nguồn từ “CV 2553 Hướng dẫn ôn thi TN THPT của Bộ giáo dục & Đào tạo, năm học 2008 - 2009”)
============================================================================
- 1 - GV: Nguyễn Thị Việt Hà
KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG
Trang 2I - Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến 1975:
Câu 1: Vài nét về hoàn cảnh lịch sử XH văn hoá của văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám
1945 đến 1975:
- Nền văn học phát triển dưới chế độ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là một nền văn học thống nhất
- Cuộc chiến tranh 30 năm lâu dài gian khổ (chống Pháp và chống Mĩ)
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam
- Nền kinh tế chậm phát triển, nghèo nàn lạc hậu, sự giao lưu với nước ngoài không thuận lợi
Câu 2: Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975:
a) Giai đoạn (1945-1954):
- Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến; hướng tới đại chúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến
+ Truyện ngắn là thể loại mở đầu: các tác phẩm của Nam Cao, Trần Đăng…
+ Truyện dài, tiểu thuyết : Vùng mỏ - Võ Huy Tâm, Xung kích - Nguyễn Đình Thi, Truyện Tây Bắc -Tô
+ Lí luận phê bình: Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam - Trường Chinh; Nhận đường, Mấy vấn
đề nghệ thuật -Nguyễn Đình Thi…
Nhận xét: Các tác phẩm từ truyện kí đến thơ ca đã đi sâu phản ánh chân thực và sinh động nhiều mặt
khác nhau của cuộc sống, đều làm nổi bật hình ảnh quê hương, đất nước Tuy nhiên chưa đi sâu khám phá những mặt khác nhau của cuộc sống Các tác phẩm thơ có nhiều thành công về mặt nội dung và nghệ thuật
b) Giai đoạn (1955-1964) :
Đây là giai đoạn đất nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất
nước Văn học có hai nhiệm vụ cụ thể: Phản ánh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất miền Nam…
- Văn xuôi mở rộng đề tài trên nhiều lĩnh vực cuộc sống: sự đổi đời của con người, sự biến đổi số phận
trong môi trường mới, thể hiện khát vọng hạnh phúc cá nhân; Đề tài chống Pháp vẫn tiếp tục được khai
Trang 3thác Hiện thực cách mạng tháng Tám vẫn được khai thác với cách nhìn mới Đề tài HT hóa nông nghiệp, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được khai thác nhiều … Các tác phẩm tiêu biểu (SGK)
- Thơ ca có một mùa bội thu Tập trung thể hiện cảm hứng: sự hoà hợp giữa cái riêng với cái chung, ca
ngợi chủ nghĩa xã hội, cuộc sống mới, con người mới, nỗi nhớ thương với miền Nam ruột thịt…Các tác
phẩm tiêu biểu Gió lộng – Tô Hữu, Ánh sáng và phù sa - Chế Lan Viên, Riêng chung – Xuân Diệu…
- Kich sân khấu cũng có những thành tựu mới với các tác phẩm Một đảng viên – Học Phi, Quẫn –
Lộng Chương, Chị Nhàn, Nổi gió - Đào Hồng Cẩm.…
- Văn học về đề tài miền Nam được khai thác với nhiều thành tựu các bài thơ của Thanh Hải, Giang Nam…
c) Giai đoạn (1965-1975):
Văn học giai đoạn này tập trung viết về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ Chủ đề bao trùm là
ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng
- Văn xuôi chặng đường này phản ánh cuộc sống, chiến đấu và lao động, khắc hoạ thành công con người
Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất ở cả hai miền Nam - Bắc…Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi, Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, Hòn đất – Anh Đức …; Kí - Nguyễn Tuân, Vùng trời – Hữu Mai, Dấu chân người lính – Nguyễn Minh Châu …
- Thơ ca chống Mĩ đạt tới thành tựu xuất sắc, đánh dấu bước tiến mới của nền thơ hiện đại Việt Nam thể
hiện không khí, khí thế, lí tưởng của toàn thể dân tộc, đề cập tới sứ mạng lịch sử và ý nghĩa nhân loại của cuộc kháng chiến chống Mĩ …Thơ đào sâu chất hiện thực bên cạnh đó là sức khái quát, chất suy tưởng, chính luận Các tác giả tác phẩm chính (SGK)
- Kich sân khấu có nhiều thành tựu mới…
- Về lí luận phê bình tập trung ở một số tác giả Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu,
Chế Lan Viên
-Văn học trong vùng tạm chiếm có sự phát triển, tuy nhiên cũng không có điều kiện gọt rũa đê đạt tới một
sự thành công lớn
Câu 3:Những đặc điểm cơ bản của VHVN từ 1945 đến 1975:
a) Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước:
Văn nghệ trở thành vũ khí sắc bén phục vụ kịp thời cho sự nghiệp “văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh), cách mạng gắn bó sâu sắc và ăn nhịp với từng chặng đường của lịch sử dân tộc…
Tổ quốc đã trở thành một nguồn cảm hứng trở thành đề tài lớn của văn học Bên cạnh đó đề tài chủ nghĩa
xã hội cũng là một đề tài lớn của văn học …
b) Nền văn học hướng về đại chúng:
+ Nhân dân là những con người làm chủ là đối tượng phản ánh, là đối tượng thưởng thức …Tính nhân dân trở thành cảm hứng chủ đạo, trở thành đề tài cho các tác phẩm
+ Phản ánh về cuộc sống, khát vọng, khả năng và con đường tất yếu đi đến với cách mạng… nền văn học mang tính nhân dân sâu sắc
c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn :
Trang 4+ Văn học đã tái hiện những mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc (chống Pháp, chống Mĩ, xây dựng chủ nghĩa xã hội), những nhân vật đại diện tiêu biểu cho lí tưởng dân tộc, gắn bó số phận với cả cộng đồng dân tộc ngôn ngữ trang trọng, tráng lệ hào hùng
+ Nền văn học tràn đầy cảm hứng lãng mạn, tin vào tương lai tất thắng của cách mạng, nâng đỡ con người Việt Nam vượt lên mọi thử thách đẻ hướng tới ngày chiến thắng…
II/ Khái quát văn học Việt Nam từ 1975 đến hết TK XX.
Câu 1: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hoá của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết TK XX:
- Đất nước thống nhất và mở ra một giai đoạn mới, đời sống, tư tưởng, nhu cầu có sự thay đổi Tuy nhiên
ta lại gặp khó khăn lớn về kinh tế và nhất là sự sụp đổ của các nước Đông âu có ảnh hưởng không lớn đến đời sống xã hội
- Đại hội Đảng lần thứ VI đã quyết định đổi mới… chuyển nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, sự tiếp xúc với nhiều nền văn hoá trên thế giới… Văn học cũng phát triển phù hợp vối quy luật phát triển của xã hội
Câu 2: Những chuyển biến và một số thành quả bước đầu của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết
TK XX:
- Thơ ca: Thơ ca vẫn có sự phát triển Những tác giả đã thành công trong kháng chiến chống Mĩ vẫn tiếp
tục sáng tác như Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Nhàn…Chế Lan Viên vẫn âm thầm đổi
mới thơ ca và được đánh dấu bằng tập Di cảo thơ Bên cạnh đó sau năm 1975 có sự nở rộ của thể loại
Trường ca Ngoài những nhà thơ từ thế hệ chống Mỹ đã có sự xuất hiện nhiều nhà thơ thế hệ sau chống Mĩ: Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đoàn Thị Lam Luyến, Trương Nam Hương
- Văn xuôi: Từ sau năm 1975 văn xuôi có nhiều khởi sắc có ý thức đổi mới cách viết về chiến tranh Từ
sau những năm 80 văn học trở nên sôi nổi hơn với những tác phẩm tiêu biểu Đứng trước biển, Cù lao Chàm - Nguyễn Mạnh Tuấn; Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm - Nguyễn Khải; Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn Kháng; Thời xa vắng - Lê lựu…Từ sau đại hội VI của Đảng văn học đã thực sự đổi mới nhất là đổi mới tư duy tạo nên những tác phẩm có giá trị : Bến không chồng – Dương Hướng; Nỗi buồn chiến tranh _ Bảo Ninh; các tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp…
- Kịch nói: từ sau chiến tranh kịch nói có sự phát triển mạnh mẽ đặc biệt các vở kịch của Lưu Quang Vũ,
Xuân Trình…
- Lí luận phê bình : Ngoài những tên tuổi từ trước có sự xuất hiện một số các nhà phê bình trẻ Đã có ý
thức trong đổi mới phương pháp tiếp cận đối tượng văn học…
Nhận xét : Từ năm 1975 và nhất là từ năm 1986 nền văn học Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới
(Từ 1975 đến 1985 và từ 1986 đến nay) Văn học vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc, đa dạng về chủ đề, đề tài, thủ pháp nghệ thuật, đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận đánh giá, tiếp cận con người, con người đặt trong những mối quan hệ phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện kể cả phương diện tâm linh, văn học giai đoạn này chủ yếu hướng nội hướng tới con người số phận đời thường…
Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng đã tác động tiêu cực đến văn học không ít kẻ đã chạy theo thị
hiếu tầm thường biến những sáng tác trở thành thứ hàng hoá để câu khách…
Trang 5Câu 1: Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác của HCM?
Sinh thời Chủ tịch HCM không nhận mình là nhà văn,nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ,người yêu văn nghệ Nhưng rồi chính hoàn cảnh thôi thúc, nhiệm vụ CM yêu cầu, môi trường XH
và thiên nhiên gợi cảm cộng với tài năng nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc, Người đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị và đã để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ Quan điểm đó được thể hiện như sau:
1 Sáng tác văn chương là một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp
CM, nhà văn phải góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội Người khẳng định :
“Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)
“Văn học nghệthuật cũng là một mặt trận,anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
(Thư gởi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ toàn quốc 1951).
2 Văn nghệ phải có tính chân thực :
- Người nghệ sĩ phải viết cho thực cho hay, phải phản ánh trung thực hiện thực và chú ý nêu gương tốt, phê phán cái xấu Phải chú ý đến hình thức biểu hiện, tránh lối viết cầu kì xa lạ,ngôn ngữ phải trong sáng chọn lọc
3 Người quan niệm văn chương trong thời đại CM phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng
phục vụ Người nêu kinh nghiệm cho người cầm bút :“Viết cho ai?”,”Viết cái gì?”,”Viết để làm gì?”và
“Viết như thế nào?”
.Câu 2: Trình bày ngắn gọn di sản VH của HCM?
HCM đã để lại một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách, được viết bằng các ngôn ngữ như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Việt, trên các lĩnh vực
1.Văn chính luận :
Được viết ra với mục đích đấu tranh chính trị,nhằm tiến công trực diện kẻ thù, hoặc thể hiện những
nhiệm vụ cách mạng trong từng thời điểm lịch sử Tác phẩm : Bản án chế độ thực dân (1925),Tuyên ngôn độc lập (1945),Di chúc (1969)….
Trang 63 Thơ ca : là lĩnh vực nổi bật với những tập thơ :
-Nhật kớ trong tự(1942 – 1943) gồm 133 bài được viết trong thời kỡ bị bắt giam ở nhà tự Tưởng Giới Thạch
- Thơ Hồ Chớ Minh (1967) : Gồm 86 bài trước và sau CMT8
- Thơ chữ Hỏn Hồ Chớ Minh (1990) : gồm 36 bài cổ thi thõm thuý mà phúng khoỏng với nhiều đề tài
Cõu 3 : Trỡnh bày ngắn gọn phong cỏch nghệ thuật của HCM?
Phong cỏch nghệ thuật của HCM phong phỳ, đa dạng, độc đỏo, hấp dẫn, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chớnh trị và văn học, tư tưởng nghệ thuật, truyền thống và hiện đại :
1.Văn chớnh luận : Bộc lộ tư duy sắc sảo ,giàu tri thức văn húa, gắn lớ luận với thực tiễn, giàu tớnh
luận chiến, vận dụng hiệu quả nhiều phương thức biểu hiện
2.Truyện – kớ : Bỳt phỏp chủ động sỏng tạo, cú khi là lối kể chuyện chõn thật, tạo khụng khớ gần gũi,
cú khi là giọng điệu sắc sảo, chõm biếm thõm thỳy và tinh tế, giàu chất trớ tuệ và chất hiện đại
3.Thơ ca : Nhiều bài cổ thi hàm sỳc uyờn thõm, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật – thơ hiện đại vận
dụng nhiều thể loại và phục vụ cú hiệu quả cho nhiệm vụ CM
Cõu 4 : Trỡnh bày hoàn cảnh sỏng tỏc “Tuyờn ngụn độc lập”của HCM?
- Ngày 19 /8 / 1945 chớnh quyền Hà Nội về tay nhõn dõn Ngày 26 / 8/ 1945, Hồ Chớ Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người đó soạn thảo “Tuyờn ngụn độc lập” Ngày 2 /9/1945, ở quảng trường Ba Đỡnh, Người đó thay mặt chớnh phủ lõm thời đọc “Tuyờn ngụn
độc lập”trước hàng chục vạn đồng bào
-“Tuyờn ngụn độc lập” đỏnh dấu một trang sử vẻ vang của dõn tộc, chấm dứt hoàn toàn chế độ
PKTD ở nước ta Tuyờn bố với toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dõn Chủ Cộng Hũa
-“Tuyờn ngụn độc lập” cũn đập tan õm mưu xảo trỏ của Mĩ - Phỏp –Anh với chiờu bài tỏi chiếm
Đụng Dương ở miền Nam , và õm mưu xõm lược của quận đội quốc dõn đảng ở miền Bắc nước ta
Cõu 5: Giỏ trị LS & giỏ trị VH bản “Tuyờn ngụn độc lập” của HCM?
a) Giá trị lịch sử:
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn:
-Khẳng định quyền độc lập tự do của dõn tộc VN
-Bỏc bỏ luận điệu xảo trỏ của TDPhỏp trước dư luận quốc tế Tranh thủ sự đồng tỡnh, ủng hộ của nhõn dõn thế giới đối với sự nghiệp chớnh nghĩa của dõn tộc VN
b) Giá trị văn học :
- Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận đặc sắc, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác
thực, ngôn ngữ hùng hồn đầy cảm xúc
- Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn yêu nớc thể hiện tâm huyết, t tởng tình cảm cao đẹp của Ngời chiến
sĩ cỏch mạng yờu nước, kết tinh khát vọng của toàn dân tộc: Khát vọng Độc lập - Tự do
Túm lại: “Tuyờn ngụn độc lập” vừa là một văn kiện cú giỏ trị lịch sự to lớn (tuyờnbố chấm dứt chế độ
thực dõn phong kiến hàng ngàn năm ở nước ta, mở ra kỉ nguyờn độc lập tự do cho dõn tộc).Đồng thời tỏc phẩm vừa cú giỏ trị văn học (Nú được xem là ỏng văn chớnh luận mẫu mực)
Luyện tập
1- Mục đớch và đối tượng của bản Tuyờn ngụn Độc lập?
2- Chứng minh rằng Tuyờn ngụn Độc lập khụng chỉ là văn kiện lịch sử mà cũn là ỏng văn mẫu mực?
Trang 7Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
- Đơn vị Tây Tiến được thành lập năm 1947, phần lớn là học sinh, trí thức Hà Nội Quang Dũng từng là đại đội trưởng
- Năm 1948, Quang Dũng rời sang đơn vị khác Với nỗi nhớ da diết những người đồng đội thân yêu và một thời "Tây Tiến" gian khổ mà hào hùng, lãng mạn, nhà thơ viết: "Nhớ Tây Tiến"(tại làng Phù Lưu Chanh) Sau đó in lại, thấy chữ "nhớ" là thừa, tác giả chỉ giữ lại tên bài thơ là "Tây Tiến"
Câu 2: Đọc thuộc lòng bài thơ? Theo anh chị, hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
có những điểm gì đáng lưu ý, giúp người đọc hiểu thêm về tác phẩm này?
- Phần đông chiến sĩ của đơn vị Tây Tiến (trong đó có Quang Dũng) vốn là học sinh, thanh niên Hà Nội
- Đây là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, chiến đấu trên địa bàn rừng núi rất rộng lớn và hiểm trở (miền tây Bắc Bộ Việt Nam và vùng Thượng Lào) Sinh hoạt của các chiến sĩ vô cùng thiếu thốn, gian khổ, đặc biệt bệnh sốt rét hoành hành dữ dội Tuy vậy, họ vẫn lạc quan và dũng cảm chiến đấu
- Quang Dũng làm đại đội trưởng rồi chuyển sang đơn vị khác
- Nhớ đơn vị cũ, nhà thơ viết Tây Tiến năm 1948
Câu 3: Nêu chủ đề của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng ?
Bài thơ nói lên nỗi nhớ và niềm tự hào về đồng đội thân yêu, những chiến sĩ hào hoa, dũng cảm, giàu lòng yêu nước trong đoàn binh Tây Tiến đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc
Câu 4: Hãy trình bày ngắn gọn nội dung bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng?
Trang 8
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
- Cảm xúc bao trùm toàn bộ bài thơ là một nỗi nhớ:
+ Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc: hùng vĩ, hiểm trở (phân tích dẫn chứng), hoang dại, bí hiểm (phân tích dẫn chứng), thơ mộng (phân tích dẫn chứng)
+ Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến: hành trình vất vả, gian truân nhưng vẫn hóm hỉnh lạc quan, mở rộng tâm hồn để cảm nhận vẻ đẹp của Tây Bắc (phân tích dẫn chứng)
- Nghệ thuật: ngôn ngữ giàu nhạc tính, tính hình tượng và giá trị biểu cảm (chú ý điệp từ , thanh điệu, láy )
- Cảnh đêm liên hoan rỡ lung linh, chung vui với bản làng xứ lạ; Cảnh thiên nhiên sông nước miền Tây một chiều sương giăng hư ảo:
“ Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
-Đoạn thơ mở ra một thế giới khác của Tây Bắc: Một Tây Bắc tươi mát, thơ mộng, mĩ lệ, tài hoa, duyên dáng qua những nét vẽ mềm mại, tinh tế Hình ảnh một đêm liên hoan văn nghệ của bộ đội được gợi lên với những chi tiết rất thực mà cũng rất mộng, rất ảo
-Con người và cảnh vật nơi xứ lạ: xiêm áo lộng lẫy, dáng điệu "e ấp" của cô gái Thái Tây Bắc, cô gái Lào, tiếng khèn, điệu múa độc đáo mang đậm bản sắc địa phương mang vẻ đẹp bí ẩn Hai tiếng "kìa em" thể hiện một cái nhìn ngỡ ngàng, kinh ngạc trìu mến
-Nhà thơ đã vẽ lên hình ảnh con người mờ ảo trong chiều sương Châu Mộc, gợi lên cái hồn của rừng lau, cái dáng mềm mại của cô gái trên chiếc thuyền, cái đong đưa của những bông hoa trôi theo dòng nước lũ
- Đoạn thơ bộc lộ nét tài hoa, hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng
2- Bức chân dung về người lính Tây Tiến trong nỗi “nhớ chơi vơi” về một thời gian khổ mà hào hùng:
“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
- Hình ảnh người lính Tây Tiến xuất hiện mang vẻ đẹp vừa bi tráng vừa thơ mộng
+ Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :
+ Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :
-Nhà thơ không che giấu những gian khổ, hi sinh của người lính Tây Tiến Chỉ có điều, những khó khăn, gian khổ, những mất mát, hi sinh ấy được thể hiện bằng một bút pháp lãng mạn Qua cách nhìn của nhà thơ, cái bi bỗng trở thành cái hùng, đem đến cho hình ảnh người lính một vẻ đẹp hào hùng tráng lệ
- Tác giả đã dành những câu thơ trang trọng để nói về sự hi sinh mất mát của người lính Tây Tiến
Những nấm mồ người lính rải rác nơi rừng hoa biên giới xa xôi bỗng trở thành những nấm mồ tôn
nghiêm nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ" v.v Đoạn thơ kết thúc bằng tiến gầm dữ dội của dòng sông Mã như khúc nhạc hào hùng đưa tiễn linh hồn người chiến sĩ:
-Vẻ đẹp tinh thần của người lính: Tinh thần một đi không trở lại, sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc
-Giọng thơ chủ đạo: hào hùng, đầy khí phách
Câu 5: Hãy trình bày ngắn gọn ý nghĩa bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng?
Trang 9Ý nghĩa: Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây tiến trên nền cảnh núi rừng miền
tây bắc hùng vĩ, dữ dội Hình tượng người lính mạng vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất b i tráng sẽ luôn đồng hành trong trái tim và trí óc của mỗi chúng ta
Luyện tập
1- Trình bày cản nhận của anh (chị) về một đoạn thơ trong bài “Tây Tiến” (chẳng hạn đoạn 1; 2; 3; 4 )2- Phận tích hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ
Câu 1 : Em hãy trình bày vài nét chung về tiểu sử của Tố Hữu ?
-Tố Hữu (1920-2002), tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ở Huế trong một gia đình thơ ca và ca dao-dân ca xứ Huế Chính gia đình và quê hương đã góp phần hình thành hồn thơ Tố Hữu
-Năm 1938, ông được kết nạp Đảng và từ đó dâng đời mình cho CM Bị bắt năm 1939 và bị giam qua nhiều nhà tù Năm 1942, Tố Hữu vượt ngục tiếp tục hoạt động và lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến 1986, Tố Hữu liên tục giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
-Ở Tố Hữu, nhà chính trị và nhà thơ thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ ca gắn liền với sự nghiệp
CM, trở thành một bộ phận của sự nghiệp CM Ông được nhà nước phong tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật đợt 1-1996
Câu 2: Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Việt bắc”của Tố Hữu?
Hoàn cảnh sáng tác bài thơ :
-Việt Bắc là quê hương CM, trước CM T8 có khởi nghĩa Bắc Sơn (1941), nơi thành lập MTVM; trong kháng chiến chống Pháp là nơi ở và làm việc của TW Đảng và chính phủ
-Bài thơ được sáng tác vào tháng 10/ 1954 Đây là thời điểm các cơ quan TW của Đảng và Chính phủ rời chiến khu VB về Hà nội, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng ĐBPhủ và hoà bình được lập lại ở miền Bắc
Nhân sự kiện lịch sử này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương CM
Câu 3 : Đọc thuộc lòng ? Nêu chủ đề của đoạn trích “Việt Bắc”của Tố Hữu?
VIỆT BẮC (trích)
_ Tố Hữu _
Trang 10- Thể lục bát tài tình, thuần thục.
- Sử dụng một số cách nói dân gian: xng hô, thi liệu, đối đáp
- Giọng điệu quen thuộc, gần gũi hấp dẫn
- Sở trờng sử dụng từ láy
- Cổ điển + hiện đại
- Kết cấu bài thơ: lời đối đỏp quen thuộc của ca dao, dõn ca Khụng chỉ là đối đỏp mà cũn hụ ứng
- Cặp đại từ nhõn xưng mỡnh ta
Cõu 5 : Trỡnh bày ngắn gọn nội dung của đoạn trớch ô Việt Bắc ằ
Nội dung:
1 - Sắc thỏi tõm trạng ,lối đối đỏp của nhõn vật trữ tỡnh trong đoạn trớch:
-Hoàn cảnh sỏng tỏc tạo nờn một sắc thỏi tõm trạng đặc biệt, đầy xỳc động bõng khuõng: Cầm tay nhau biết núi gỡ hụm nay Đú là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bú suốt mười lăm năm ấy, cú
biết bao kỉ niệm õn tỡnh, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bựi, nay cựng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩa tỡnh thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sỏng Chuyện õn tỡnh cỏch mạng đó được Tố Hữu khộo lộo thể hiện như tõm trạng của tỡnh yờu lứa đụi
-Diễn biến tõm trạng như trong tỡnh yờu lứa đụi được tổ chức theo lối đối đỏp quen thuộc của ca dao, dõn
ca, bờn hỏi, bờn đỏp, người bày tỏ tõm sự, người hụ ứng, đồng vọng
+ Bốn cõu đầu là lời ướm hỏi dạt dào tỡnh cảm của ngưũi ở lại,đồng thời cũng khảng định tấm lũng
thuỷ chung của mỡnh:
Đại từ Mỡnh-Ta:Mối quan hệ gần gũi thõn thiết gợi bao lưu luyến, bõng khuõng, bồn chồn, bịn rịn Điệp từ “nhớ.”(lỏy lại)
Lời nhắn nhủ của VB “Mỡnh cú nhớ ta, mỡnh cú nhớ khụng” vang lờn ray rứt,gợi nỗi nhớ triền miờn
15 năm gợi thời gian.
Cõy, nỳi, sụng, gợi khụng gian thời gian hoạt động khỏng chiến tại khụng gian Việt Bắc
+ Bốn cõu sau là tiếng lũng của người cỏn bộ cỏch mạng về xuụi.
Nghe cõu hỏi nờn người về bõng khuõng , bồn chồn => Tỡnh cảm thắm thiết của người cỏn bộ với
cảnh và người Việt Bắc
Đại từ phiếm chỉ “ai”nhưng lại rất cụ thể gợi sự gần gũi thõn thương
Áo chàm: H/ảnh bỡnh dị, chõn tỡnh, chỉ người Việt Bắc.
“Cầm tay ”.-> Cõu thơ bỏ lửng ngập ngừng nhưng đó diễn đạt chớnh xỏc thỏi độ xỳc động nghẹn
ngào khụng thể núi nờn lời của người cỏn bộ từ dó Việt Bắc về xuụi
.->Hỏi và đỏp đều mở ra bao nhiờu kỉ niệm về một thời cỏch mạng và khỏng chiến gian khổ mà anh hựng,
mở ra bao nhiờu nỗi niềm nhớ thương Thực ra, bờn ngoài là đối đỏp, cũn bờn trong là độc thoại, là sự
biểu hiện tõm tư, tỡnh cảm của chớnh nhà thơ, của những người tham gia khỏng chiến
Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tỡnh, cảnh và người Việt Bắc hiện lờn thật đẹp:
- Nỗi nhớ thiết tha của người cỏn bộ sắp về xuụi đó khắc sõu thiờn nhiờn nỳi rừng Việt Bắc với vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rừ những nột riờng biệt, độc đỏo, khỏc hẳn những miền quờ khỏc của đất nước
Trang 11+ Hỡnh ảnh thiờn nhiờn thơ mộng, ấm ỏp tỡnh người: Trăng lờn đầu nỳi, nắng chiều lưng nương., bản
khúi sớm khuya
+ Bức tranh tứ bỡnh, mỗi mựa một hỡnh ảnh đẹp làm say lũng người:
Mùa đông: màu đỏ âm thầm mà kiêu hãnh
Mùa xuân: đẹp đến nao lòng
Mùa hè: chuyển màu đồng loạt, mau lẹ
Mùa thu: bình yên, thơ mộng
= > Cú thể thấy thiờn nhiờn Việt Bắc hiện lờn với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phỳ, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mựa,đầy màu sắc l ng mạn, ấm áp lòng ngã ời
Chỉ những người đó từng sổng Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quờ hương thõn thiết của mỡnh mới cú nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sõu sắc, thấm thớa về cảnh Việt Bắc như vậy
-Nhưng cú lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng khụng thể phai mờ về những người dõn Việt Bắc cần cự trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tỡnh :
+ Người VB cần lao gian khổ và đầy tỡnh thương yờu chia ngọt sẻ bựi (cõu 31->cõu 36)
+Hỡnh ảnh sinh hoạt của cỏn bộ CM trong chiến khu hoà lẫn với sinh hoạt của nhõn dõn VB: Tiếng mừ
rừng chiều, chày đờm nện cối, lớp học i tờ, giờ liờn hoan
= >Chớnh nghĩa tỡnh của nhõn dõn với cỏn bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cựng chung mọi gian khổ
và niềm vui, cựng gỏnh vỏc mọi nhiệm vụ nặng nề, khú khăn, tất cả càng làm Việt Bắc thờm ngời sỏng trong tõm trớ của nhà thơ
2-Khung cảnh hựng trỏng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trũ của Việt Bắc trong cỏch mạng và khỏng chiến được Tố Hữu khắc họa ra sao?
+ Khớ thế hào hựng lờn đường hành quõn của quõn và dõn ta với những hỡnh ảnh tuyệt đẹp mang dỏng dấp sử thi (cõu 53-> cõu 70)
Cỏch mạng và khỏng chiến đó xua tan vẻ õm u, hiu hắt của nỳi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh
mẽ của thiờn nhiờn và con người Việt Bắc
+ Chiến cụng Việt Bắc là bản tổng kết những nột lớn của sự phỏt triển ngày càng cao những chiến dịch, những thắng lợi trong niềm vui phơi phới
-Vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh Việt Bắc đó làm nờn những kỡ tớch, những chiến cụng gắn với
những địa danh: Phủ Thụng, đốo Giàng, sụng Lụ, phố Ràng, Hoà Bỡnh, Tõy Bắc, Điện Biờn,
-Tố Hữu khụng chỉ miờu tả khớ thế hào hựng của cuộc khỏng chiến mà cũn đi sõu lớ giải những cội nguồn sức mạnh đó dẫn tới chiến thắng Đú là sức mạnh của lũng căm thự: Miếng cơm chấm muối, mối thự nặng vai, sức mạnh của tỡnh nghĩa thuỷ chung: Mỡnh đõy ta đú, đắng cay ngọt bựi, sức mạnh của khối đại đoàn
kết toàn dõn, của sự hoà quyện gắn bú giữa con người với thiờn nhiờn - tất cả tạo thành hỡnh ảnh đất nước đứng lờn
Nhớ khi giặc đến giặc lựng
………
Đất trời ta cả chiến khu một lũng.
- Đặc biệt, Tố Hữu đó nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quờ hương của Cỏch mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu nóo của cuộc khỏng chiến, nơi hội tụ bao tỡnh cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yờu nước:
Trang 12+Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù) đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc (dẫn đoạn thơ từ câu Mình về,- còn nhờ núi non đến câu Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa)
+ Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
+ Để khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những vần thơ rất mộc mạc,
giản dị mà thắm thiết nghĩa tình (dẫn đoạn thơ từ câu “Ở đâu đau đớn giống nòi ” đến câu “Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà” )
Câu 6 : Trình bày ý nghĩa của đoạn trích « Việt Bắc »
Bản anh hung ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tìnhcachs mạng và kháng chiến
Luyện tập
1- Chọn bình giảng một đoạn khoảng từ 8 đến 10 câu thơ (chẳng hạn: đoạn từ câu 9 đến câu 16; từ câu 35 đến câu 42; từ câu 43 đến câu 52; )
2- Phân tích giá trị biểu cảm của cách xưng hô mình –ta trong bài thơ
Câu 1 Nêu vài nét về tác giả Nguyễn Khoa Điềm và xuất xứ đoạn trích « Đất Nước » ?
-Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943 Nhà thơ xứ Huế Tốt nghiệp Đại học Văn Sư phạm Hà Nội Thời chống Mĩ sống và chiến đấu tại chiến trường Trị-Thiên Nay là Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin
- Tác phẩm thơ: “Đất ngoại ô”, “Mặt đường khát vọng”,…
ĐẤT NƯỚC
_ Nguyễn Khoa Điềm _
Trang 13- Thơ của Nguyễn Khoa Điềm đậm đà, bình dị, hồn nhiên, giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư của người thanh niên trí thức tham gia tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước
Câu 2 : Đọc thuộc lòng , trình bày chủ đề đoạn trích « Đất Nước » của Nguyễn Khoa Điềm ?
Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm nói về cội nguồn đất nước theo chiều dài lịch sử đằng đẵng và không gian địa lý mênh mông Hình tượng Núi Sông gắn liền với tâm hồn và chí khí của Nhân dân, những con người làm ra Đất nước Đất nước trường tồn hứa hẹn một ngày mai đẹp tươi và hát ca
Câu 3 :Trình bày ngắn gọn nội dung cơ bản đoạn trích « Đất Nước » của Nguyễn Khoa Điềm ?
1 Cảm nhận chung về đất nước.
- Cảm nhận về đất nước bằng những gì gần gũi thân thiết, bình dị trong cuộc sống của con người.
+ : “Đất nước có ” qua sự tích:
Trầu cau: nói lên tình nghĩa vợ chồng gắn bó, thủy chung, ý thức dân tộc.
Thánh Gióng: tinh thần bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta từ thời dựng nước.
+ Đất nước được hình thành từ những thuần phong mĩ tục: tóc mẹ thì bới sau đầu, đó là nét đẹp văn hoá
cội nguồn của dân tộc dù trải qua 1000 năm Bắc thuộc
+ Đất nước được hình thành từ những lối sống giàu tình nặng nghĩa: Cha mẹ thương nhau từ câu ca
dao: Tay bưng chén muối đĩa gừng.
+ Đất nước được hình thành từ những vẻ đẹp văn hoá vật chất của nền văn minh nông nghiệp lúa nước:
cái cột, cái kèo và cuộc sống lao động nông nghiệp vất vả:
Hạt gạo một nắng hai sương xay ,giã ,dần ,sàng.
Đất nước có từ ngày đó
- Đất nước được cảm nhận từ phương diện địa lí, lịch sử.
+ Đất nước là không gian rừng biển, sông núi, giang sơn, yêu qúy qua các làn điệu dân ca trữ tình:
Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
+ ĐN là không gian gần gũi gắn bó với mỗi chúng ta:
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Và cũng là nơi gắn bó với những kỉ niệm thơ mộng tuyệt đẹp “ĐN là nơi ta hò hẹn thầm”
+ ĐN gắn với truyền thuyết con rồng cháu tiên:
“Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Trang 14+ Mỗi chúng ta đều có một phần ĐN từ thể xác đến tâm hồn Ý thơ gợi chúng ta về trách nhiệm về ĐN về
sự đoàn kết giữa các dân tộc tạo nên sự vẹn toàn cho đất nước Cho nên, cần đem xương máu của mình để xây dựng đất nước:
“Em ơi Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ.
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời”
ĐN được tác giả cảm nhận từ chiều dài của thời gian và lịch sử, từ chiều rộng không gian và địa lí, bề dày văn hoá và phong tục lối sống
Tóm lại, 42 câu thơ trong phần I nêu lên cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của
đất nước ; Từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân Ý tưởng sâu sắc ấy được diễn
tả bằng một thứ ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân gian, một giọng điệu thủ thỉ tâm tình vô cùng thấm thía, xúc động Chất trữ tình hòa quyện với tính chính luận
2 Đất Nước của nhân dân, Đất Nướccủa ca dao thần thoại.
-Tất cả mọi hình ảnh tồn tại trên đất nước đều gắn liền với nhân dân.
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…”
Những cảnh quan: hòn Vọng Phu, Trống Mái chỉ trở thành thắng cảnh khi gắn liền với con người vì không có sự chờ đợi của người vợ thì không có núi Vọng Phu, không có truyền thuyết Hùng Vương thì không có sự cảm nhận hùng vĩ quanh Đền Hùng:
“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình ,một ao ước,một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những tâm hồn đã hoá núi sông ta”
- Nhân dân gìn giữ và bảo vệ đất nước:
+ Nhà thơ không điểm lại những triều đại anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị nhưng chính họ là người đã “giữ và truyền” hạt lúa, đã “truyền lửa”, “truyền giọng điệu”, “gánh tên làng tên xã”…, “đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái” Chính Nhân dân đã làm nên Đất Nước, để Đất Nước là của Nhân dân
+ Họ là những con người anh hùng :
.“Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng”
Trang 15“Trong bốn nghìn năm lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra đất nước”.
- Đất nước này là của nhân dân.
+ Vần thơ hàm chứa ý tưởng đẹp, một lối diễn đạt ý vị ngọt ngào:
“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất nước này là Đất nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
+ Đất nước mang sức sống mãnh liệt, tiềm tàng vì Nhân dân đã biết yêu và biết ghét, bền chí và dẻo dai, biết “quý công cầm vàng”, “biết trồng tre đợi ngày thành gậy”, biết trả thù cho nước, rửa hận cho giống nòi mà “không sợ dài lâu”
+Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng:
“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”
Câu 4 :Trình bày ngắn gọn ý nghĩa cơ bản đoạn trích « Đất Nước » của Nguyễn Khoa Điềm ?
Đoạn trích là một cách cảm nhận mới về đất nước, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam
Luyện tập :
1- Hình ảnh đất nước được thể hiện như thế nào trong chín câu thơ đầu đoạn trích ?
2- Tư tưởng « Đất nước của nhân dân » được thể hiện tập trung trong những câu thơ nào ? Trình bày cảm nhận của anh (chị) về những câu thơ đó ?
Trang 16Câu 1: Nêu vài nét về tác giả Xuân Quỳnh và xuất xứ bài thơ “ Sóng”?
Xuân Quỳnh (1942-1988) Nhà thơ nữ hiện đại, viết rất hay, rất nồng nàn về thơ tình Những bài thơ hay nhất của chị: “Mùa hoa doi”, “Bao giờ ngâu nở hoa”, “Hoa cúc”, Sóng”, “Thuyền và biển”, v.v… Tác phẩm “Chồi biếc” (1963), “Hoa dọc chiến hào” (1968), “Gió Lào cát trắng” (1974), “Lời
ru trên mặt đất” (1978), “Sân ga chiều em đi” (1984), “Hoa cỏ may” (1989).
Xuất xứ bài thơ:
Bài thơ “ Sóng” được Xuân Quỳnh viết vào ngày 29/12/1967, lúc nhà thơ 25 tuổi Bài thơ rút trong tập “Hoa dọc chiến hào” tập thơ thứ 2 của chị.
Câu 2: Đọc thuộc lòng Trình bày chủ đề bài thơ “ Sóng” của Xuân Quỳnh?
Mượn biểu tượng sóng, Xuân Quỳnh bộc lộ khát vọng về một tình yêu chân thành tha thiết , tình yêu vĩnh hằng bất diệt Tình yêu là Sóng lòng, là khát vọng, là niềm mong ước được yêu, được sống hạnh phúc trong một mối tình trọn vẹn của lứa đôi
Câu 3: Trình bày ngắn gọn nội dung cơ bản bài thơ “ Sóng” của Xuân Quỳnh?
Phần I: Sóng và em – Những nét tương đồng:
+ Cung bậc phong phú, trạng thái đối cực phức tạp, đầy bí ẩn , nghịch lý
+ Khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì nhỏ hẹp, chật chội tầm thường
+ Đầy bí ẩn
+Luôn trăn trở, nhớ nhung và bao giờ cũng thủy chung son sắt
Phần II: Những suy tư lo âu,trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu:
+Những suy tư , lo âu, trăn trở trước cuộc đời: ý thức được sự hữu hạn của đời người, sự monh manh của hạnh phúc
+Khát vọng sống hết mình trong tình yêu: Khát vọng hóa thân thành sóng để bất tử hóa tình yêu
SÓNG
_ Xuân Quỳnh _
Trang 171.Phần giới thiệu:
Ca dao có Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền Một tình yêu đằm thắm, thiết tha Xuân Diệu có bài thơ nổi tiếng, trong đó Sóng là hình ảnh người con trai đa tình “Anh xin làm Sóng biếc – Hôn mãi cát vàng em – Hôn thật khẽ, thật êm – Hôn êm đềm mãi mãi – Đã hôn rồi, hôn lại – Cho đến mãi muôn đời - Đến tan cả đất trời – Anh mới thôi dào dạt…”
Trong bài thơ tình của Xuân QuỳnhSóng là hình ảnh thiếu nữ đang sống trong một tình yêu nồng nàn Sóng lúc thì “dữ dội và dịu êm”, có khi lại “ồn ào và lặng lẽ” Hành trình của Sóng là từ sông Sóng
tìm ra tận bể” Sóng bể muôn trùng, tình yêu vô hạn Sóng nhớ bờ còn em thì “nhớ đến anh - cả trong
mơ còn thức” Sóng “con nào chẳng tới bờ…” cũng như tình yêu sẽ cập bến hạnh phúc Và Sóng sẽ tan
ra trên đại dương, vỗ mãi đến ngàn năm, muôn đời Cũng như tình yêu đẹp sống mãi trong lòng người và
cuộc đời, đó là “biển lớn tình yêu” Xuân Quỳnh lấy hình tượngSóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi chân thành và dạt dào khát vọng
2 Tâm tình thiếu nữ
- Với thiếu nữ, tình yêu là khát vọng
“Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”
- Mối tình đầu chợt đến Hạnh phúc đã cầm tay, thiếu nữ vẫn ít nhiều bối rối, tự hỏi lòng Trong trắng và ngây thơ Sự kỳ diệu của những mối tình đầu, xưa và nay vẫn là một điều bí ẩn đối với lứa đôi:
sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”…
- Yêu lắm nên nhớ nhiều “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi…” (Ca dao) “Nhớ gì như nhớ người yêu” (Tố Hữu) Với Xuân Quỳnh thì nỗi nhớ anh của em là triền miên, và cũng tha thiết, lớp lớp tầng tầng, mãnh liệt, nồng nàn không bao giờ nguôi:
“Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được.
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
“Thiếu nữ khát khao trong tình yêu, thủy chung trong tình yêu Tâm tình trọn vẹn và hồn hậu dành tất cả
cho người yêu:
“Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương”
- Cũng như Sóng ngoài đại dương “Con nào chẳng tới bờ - Dù muôn vời cách trở”, thiếu nữ sẵn sàng
vượt qua mọi thử thách để đi tới một tình yêu hạnh phúc trọn vẹn
Trang 18“Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa”.
- Tình yêu lứa đôi thật sự hạnh phúc khi tình yêu ấy hòa nhịp trong “biển lớn tình yêu” của cộng đồng:
“Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”
3 Kết luận
Bài thơ Sóng” là một bài thơ tình rất hay và mới Hay ở nhạc điệu bồi hồi, thiết tha, say đắm Hay ở hình ảnh kép:Sóng nhớ bờ, em nhớ anh, em yêu anh Nói tình yêu là khát vọng của tuổi trẻ, đó là một điểm nới Thiếu nữ bày tỏ tình yêu, thể hiện một ước mong chân thành đi tới một tình yêu đằm thắm, thủy chung, đó cũng là điểm mới Tình yêu của lứa đôi không bé nhỏ và ích kỷ, tình yêu của lứa đôi như con
Sóng nhỏ được “tan ra” - giữa “biển lớn tình yêu” của đồng loại; đó cũng là một điểm mới nữa
Câu 4: Trình bày ngắn gọn ý nghĩa cơ bản bài thơ “ Sóng” của Xuân Quỳnh?
Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời người
Luyện tập
1- Bình giảng một đoạn thơ mà em thích nhất trong bài thơ?
2- Bài thơ được kết cấu theo cách triển khai hai hình tượng sóng đôi là sóng và em Hãy nhận xét về
ý nghĩa và hiệu quả của cách kết cấu ấy?
Trang 19Câu 1: Trình bày hoàn cảnh sáng tác “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân.?
-Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” dược in trong tập tuỳ bút “Sông Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút
và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp,đặc biệt là chuyến
đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
-Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, NT còn phát hiện những
điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”
Câu 2 : Qua tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”,Nguyễn Tuân muốn gửi đến người đọc ý tưởng gì ?
Qua “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng, hùng vỹ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới : chất vàng mười của đất nước trong xây dựng CNXH qua hình ảnh người lái đò sông Đà.
Câu 3: Nêu chủ đề tư tưởng của tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân?
Ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa
Câu 4: Trình bày ngắn gọn nội dung cơ bản của tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân?
Nội dung
1) Hình tượng con sông hung bạo
- Khi hung bạo, sông Đà là kẻ thù số một sẵn sàng cướp đi mạng sống con người, có tâm địa độc ác như người dì ghẻ Để khắc hoạ tính cách của sông Đà, tác giả đã dựng lại khúc sông nguy hiểm :
+ Đó là đoạn cảnh đá bờ sông dựng đứng vách thành: chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu Đó là quãng Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đây Lại một đoạn sông khác, sông Đà là cái hút nước xoáy tít Có những thuyền đã bị nó hút tụt xuống, thuyền trồng cây chuối
ngược rồi vụt biến đi dến mười phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới
+ Nhưng dữ dội nhất là ở những thác đá Nguyễn Tuân đã buộc sự dữ dội, nham hiểm của sông Đà phải hiện lên thành hình và gào thét bằng trăm ngàn âm thanh Chưa thấy sông nhưng người ta đã bị đe doạ bởi tiếng thác nước nghe như oán trách gì, rồi lại như van xin, rồi lại như khiêu khích, giọng nghe gằn mà chế nhạo Tác giả đã dựng lại cuộc thuỷ chiến giữa sông Đà và người lái đò để lột tả cho được tính hung bạo của nó và tài nghệ của người lái đò Thác đá được xếp thành từng tuyến mà nhà văn gọi là thạch trận, nhằm ăn chết cái thuyền đơn độc Ở tuyến một, thác đá mở ra năm cửa trận, bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn Ở tuyến hai, tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
_ Nguyễn Tuân _
Trang 20vào, và cửa sinh lại nằm bên phía hữu ngạn Ở tuyến ba, bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống nằm ở giữa Người lái đò phải nhắm đúng luồng sinh để vượt qua
2) Hình tượng con sông trữ tình
Bên cạnh tính cách hung bạo, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân con sông Đà lại rất trữ tình, gợi bao cảm xúc làm mê say lòng người Khi trữ tình, sông Đà hiền hoà, mềm mại, huyền ảo như mái tóc của một phụ nữ
kiều diễm : con sông tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mây mù khói núi Mèo nương xuân
- Không chỉ đẹp ở hình dáng, sông Đà còn gợi cảm ở màu sắc, mà tác giả đã bao lần dày công quan sát mới nói hết được vẻ độc đáo ấy: Mùa xuân dòng sông xanh ngọc bích (nghĩa là một màu xanh trong và sáng); mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như mặt người bầm đi vì rượu bữa
- Đặc biệt là không khí hoang dại, tĩnh lặng : Bờ sông hoang dại như bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Đề lột tả không khí đầy thơ ấy Nguyễn Tuân đã tả đàn hươu ngẩng đầu ngơ ngác mơ một tiếng còi sương, và cái nắng tháng ba Đường thi Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu, gợi tâm sự của người tình nhân chưa quen biết !
- Lúc này, không thấy đâu con sông Đà diện mạo và tâm địa độc ác, mà chỉ thấy tình cảm của dòng sông đối với con người như một cố nhân, xa thì thấy nhớ thương, gặp lại thì thấy mừng vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Còn con sông lại mang bao rung động yêu thương như nhớ những hòn đá xa xôi để lại nơi thượng nguồn
- Khi tả con sông Đà trữ tình, Nguyễn Tuân đã sử dụng những câu văn nhẹ nhàng, êm ái Câu ngắn, vị ngữ diến tả trạng thái bình lặng, để lại trong lòng người âm hưởng mênh mang, thơ mộng
3 - Người lái đò sông Đà
- Lòng dũng cảm :
Chỉ từng trải thôi chưa đủ, đối với con sông Đà, ai chế ngự được nó đòi hỏi phải có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông
Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù
số một :
… Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân trời Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đat nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này… Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…
Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng
sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn vòng vây thứ hai” Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”:
Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Thế là kết thúc
Trang 21đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.
Song, quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống Mà ngay ở những khúc sông không có thác
nó dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ như người Mèo kêu mỏi chân khi dẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác
Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ Sông nước lại thanh bình Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về
cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa
ra đầy tràn ruộng Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình nhà vănNguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét : Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống
từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dế thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, người lái đò chỉ có Nguyễn Tuân Và, lời ghi chú của nhà văn thật đáng để suy ngẫm!
Câu 6: Trình bày ý nghĩa của văn bản “Người lái đò sông Đà”?
Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam
Trang 22Câu 1- Trình bày vài nét về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và hoàn cảnh sáng tác “Ai đã đặt tên cho dòng sông? ”
- Tác giả Hoàng Phủ NgọcTường là một trí thức yêu nước, một chiến sĩ trong phong trào đấu tranh
chống Mĩ - Nguỵ ở Thừa thiên - Huế
- Ông quê gốc ở Quảng Trị nhưng sống và học tập, hoạt động, trưởng thành và gắn bó sâu sắc với Huế
- Nhà văn chuyên viết về bút kí với đề tài khá rộng lớn Tác phẩm của ông đã thể hiện những nét riêng của cảnh sắc và con người khắp mọi miền đất nước từ Bắc vào Nam Nhưng đọng lại ấn tượng sâu sắc nhất đối với độc giả vẫn là những bài viết về Huế, Thuận Hoá, Quảng Trị, Quảng Nam
- Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với duy tả đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực, lối viết hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa tạo cho thể loại bút kí một phong cách riêng, đem đến những đóng góp mới cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
Hoàn cảnh sáng tác “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
- Viết tại Huế ngày 04/01/1981, in trong tập sách cùng tên (NXB Thuận Hoá 1986)
- Vị trí đoạn trích : Bài kí gồm 3 phần, đoạn trích gồm phần thứ nhất và đoạn kết (phần này tập trung
nói về cảnh quan thiên nhiên sông Hương, tuy nhiên phần nào cũng cho độc giả thấy được sự gắn bó của con sông với lịch sử và văn hoá của xứ Huế, của đất nước Đoạn trích cũng thể hiện được những nét tiêu biểu cho đặc trưng thể loại và văn phong của Hoàng Phủ Ngọc Tường.)
Câu 2 : Qua bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn gửi đến người đọc ý tưởng gì ?
Niềm tự hào tha thiết, sâu lắng mà Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho dòng sông Hương, cho Xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước
Câu 3 : Nêu chủ đề bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường ?
- Tình yêu và lòng tự hào tha thiết, lắng sâu dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng
là cho đất nước văn hiến từ nghìn xưa
- Sông Hương là biểu tượng cho vẻ đẹp của cảnh và người đất kinh thành.
Câu 4: Nêu đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật viết bút kí?
+ Bút kí : Ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những
cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút kí tuỳ thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được đề
cập đến (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Hà Nội 2004)
Câu 5: Trình bày ngắn gọn nội dung của bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
1 Vẻ đẹp sông Hương
a) Sông hương vùng thượng lưu
- Sông Hương vùng thượng lưu mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm nhưng cũng có lúc dịu dàng, say đắm
_ Hoàng Phủ Ngọc Tường _
Trang 23- Sự mãnh liệt, hoang dại của con sông được thể hiện qua những so sánh : “Bản trường ca của rừng già”, những hình ảnh đầy ấn tượng : (“rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”)
- Vẻ dịu dàng, say đắm: những sắc màu rực rỡ (“những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”)
- Dòng sông được nhân hoá: như một cô gái di gan phóng khoáng và man dại, rừng già đã hun đúc cho
nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Đó là sức mạnh bản năng của người con gái, sức mạnh ấy được chế ngự bởi cấu trúc địa lý lãnh thổ để đi ra khỏi rừng, nó “nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá sứ sở”
- Ngay từ đầu trang viết, người đọc đó cảm nhận được sự tài hoa của ngũi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường: liên tưởng kì thú, xác đáng, ngôn từ gợi cảm, Tất tạo sức cuốn hút, hấp dẫn về một con sông mang linh hồn, sự sống, kết thúc đoạn văn, tác giả giới thiệu trọn vẹn con sông (tâm hồn sâu thẳm của nó) vừa dẫn dắt, gợi mở sang đoạn tiếp theo sẽ miêu tả khuôn mặt kinh thành của dòng sông
b) Sông Hương đoạn chảy về đồng bằng và ngoại vi thành phố
Lúc này, sông Hương được ví “như người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng” được “người tình mong đợi” đến đánh thức Kiến thức địa lý đã giúp tác giả miêu tả tỉ mỉ sông Hương với những khúc quanh và lưu vực của nó
Đoạn văn thể hiện năng lực quan sát tinh tế và sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng giúp nhà văn viết
được những câu văn đầy màu sắc tạo hình và ấn tượng : “Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “ Sắc nước trở nên xanh thẳm”, “nó trôi đi giữa 2 dãy đồi sừng sững như thành quách, dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi ” Rồi “giữa đám quần sơn lô
xô ấy là giấc ngủ nghìn thu của vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tầm đồ sộ toả lan khắp cả một vùng thượng lưu”.
Vận dụng kiến thức về văn hoá, văn học, tác giả tạo cho người đọc ấn tượng về vẻ đẹp trầm mặc, như triết
lý, như cổ thi gắn với những thành quách, lăng tẩm của vua chúa thuở trước
c) Sông Hương khi chảy vào thành phố
Nếu ở trên, người đọc cảm nhận phần nào tính chất vẻ đẹp man dại, dịu dàng, trầm mặc của con sông thì giờ đây con sông được khám phá, phát hiện ở sắc thái tâm trạng Sông Hương gặp thành phố như đến với điểm hẹn tình yêu, trở nên vui tươi và đặc biệt chậm rãi, êm dịu, mềm mại Ngòi bút của tác giả đã thực
sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh đầy ấn tượng, những cảm nhận tinh tế, những liên tưởng, so sánh
đẹp đẽ đến bất ngờ, lý thú, thể hiện tình yêu say đắm với con sông Đó là những nét bút thật “dịu dàng, tình tứ, đắm đuối” ; “chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như một vầng trăng non”, sông Hương “uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến”, đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”, “nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh” làm dòng sông thêm lộng lẫy, con sông ngập ngừng như có : “những vấn vương của một nỗi lòng” không nỡ rời xa thành phố (liên hệ câu thơ Thu Bồn : con sông dùng dằng, con sông không chảy / Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu)
- Qua thành phố, sông Hương trôi thật chậm, thực chậm, “cơ hồ chỉ còn là một hồ yên tĩnh” Tác giả so
sánh với dòng chảy tốc hành của sông Nê-va để thấy quý hơn điệu chảy lặng lờ của sông Hương khi
ngang qua thành phố nhìn nó như là “vấn vương của một nỗi lòng”
- Liên hệ với thơ Hàn Mặc Tử, thơ Tố Hữu khi viết về sông Hương êm đềm thơ mộng
Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
(Hàn Mặc Tử)
Trang 24Hương Giang ơi, dòng sông êm Qua tim ta vẫn ngày đêm tự tình
(Tố Hữu)Sông Hương mang vẻ đẹp lững lờ, êm đềm, trầm lắng, nó bình thản, chậm rãi như tâm tính người Huế vậy
- Kiến thức âm nhạc được tác giả huy động với liên tưởng kỳ thú “điệu chảy lặng tờ” của con sông khi ngang qua thành phố : “Đấy là điệu Solon tình cảm của Huế” Câu thơ trong truyện Kiều tả tiếng đàn
(trong như tiếng hạc bay qua) cũng gợi nhớ đến làn điệu nhạc cung đình Huế “Tứ đại cảnh”
=> Phải rất hiểu sông Hương, tác giả mới cảm nhận thấm thía vẻ đẹp con sông lúc đêm sâu Đó là lúc mà
âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành Khi đó, trong không khí chùng lại của dòng sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya
2 Ai đã đặt tên cho dòng sông ?
Bài kí kết thúc bằng cách lý giải về cái tên của dòng sông, nhấn mạnh bằng một huyền thoại mĩ lệ, mang đến cho tác phẩm sắc màu lãng mạn Đó là chuyện về cư dân hai bên bờ sông nấu nước của trăm loài hoa
đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi Huyền thoại về tên dòng sông đã nói lên khát vọng của con người ở đây muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp văn hoá, lịch sử, địa lý quê hương mình Việc đặt tên cho bài kí thống nhất với phần kết thúc chẳng những lưu ý người đọc về vẻ đẹp của dòng sông mà còn gợi lên niềm biết ơn đối với những người đã khai phá miền đất lại Kết thúc bài kí đọc lại một niềm buâng khuâng trong tâm hồn người đọc :
Dòng sông ai đã đặt tên
Để người đi nhớ Huế không quên ?
3 Nét đặc sắc của văn phong Hoàng Phủ Ngọc Tường
+ Bút kí : Ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những
cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút kí tuỳ thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được đề
cập đến (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Hà Nội 2004)
Tuỳ bút ghi lại một cách tương đối tự do những cảm nghĩ của người viết, kết hợp với việc phản ánh thực
tế khách quan
- Điểm chung : Sự thành công của 2 thể loại đều tuỳ thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, khám phá,
diễn đạt của người viết với đối tượng phản ánh, đều đòi hỏi sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, trí tuệ và cảm xúc
- Điểm riêng : Bút kí mang tính chặt chẽ hơn, tuỳ bút mang tính tự do hơn, nó mang đậm dấu ấn cá nhân
của người nghệ sĩ chân chính Tùy bút mang đậm chất thơ
+ Nét đặc sắc của văn phong tác giả qua đoạn trích
- Soi bóng tâm hồn với tình yêu say đắm, lắng sâu niềm tự hào tha thiết quê hương xứ sở vào đối tượng
miêu tả khiến đối tượng trở nên lung linh, huyền ảo, đa dạng như đời sống, như tâm hồn con người
- Sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lý, lịch sử, văn hoá nghệ thuật và những
trải nghiệm của bản thân
- Ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu chất thơ, sử dụng nhiều phép tu tư
như : So sánh, nhân hoá, ẩn dụ,
- Có sự kết hợp hài hoà cảm xúc, trí tuệ, chủ quan và khách quan.
Luyện tập
Đề Phân tích vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông Hương khi chảy vào lòng thành phố Huế trong tuỳ bút “ Ai
đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Trang 25- Nội dung yêu cầu nghị luận: vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông Hương khi chảy vào lòng thành phố
Huế trong tuỳ bút “ Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Các thao tác nghị luận: phân tích, chứng minh, bình luận.
- Phạm vi tư liệu: tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
2 Lập dàn ý:
a Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn những đặc điểm nổi bật về: tác giả, tác phẩm, đối tượng nghị luận.( H.P.N.T là
nhà văn có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, chuyên viết về thể loại tuỳ bút; sáng tác kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình > Lối hành văn hướng nội súc tích, mê đắm và tài hoa; sông Hương trong sáng tác của HPNT )
b Thân bài:
* Sơ lược về hành trình của sông Hương ở phía thượng nguồn, khi chảy qua Trường Sơn, khi ra khỏi rừng, ngoại
vi thành phố Huế.
* Sông Hương chảy vào thành phố Huế: như tìm thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu.
- Vui tươi hẳn lên.
- Kéo một hướng thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc.
- Uốn một cánh cung nhẹ sang Cồn Hến
Sông Hương mềm hẳn đi như một tiếng “ vâng” không nói ra của tình yêu.
- So sánh sông Hương với các con sông khác trên thế giới
- Sông Hương được cảm nhận từ nhiều góc độ:
+ Hội hoạ: Sông Hương và chi lưu tạo những nét thật tinh tế.
+ Âm nhạc: điệu slow chậm rãi, sâu lắng, trữ tình.
+ Tình yêu: người tình dịu dàng và chung thuỷ
Lối biểu đạt tài hoa, lãng mạn bay bổng.
c Kết bài:
Nhận xét, đánh giá chung vể tác phẩm, đoạn trích: đặc sắc nghệ thuật, tình yêu của tác giả đối với Sông Hương,
xứ Huế, đất nước