FED Cục dự trữ liên bang Mỹ G-7 Nhóm bảy nước công nghiệp phát triển nhất của thế giớiGCC Hội đồng hợp tác vùng Vịnh, Trung Đông GDP Tổng sản phẩm quốc nội GNP Tổng sản phẩm quốc dân HDI
Trang 1heo đán h giá của WB và IMF )
THU VIEN DAI KOC THUY SAN
2 0 0 0 0 0 2 5 2 6
Trang 2VIỆN KINH TẾ TH Ế GIỚI Chủ biên : TS KIM NGỌC
KINH TÊ THÊ GIỚI
Trang 3Mục lục
Trang Chú dầ n c ủ a Nhà xu á t bà n 7
Bản ch ú g iả i những ch ữ viết tắ t 9 Phần I: Những vấn đ ề chung c ủ a nền kinh tế thế giói 13
Kinh tế thế giới năm 2000: Bức tranh màu sáng
TS. Kim Ngọc 15
Thương mại thế giới
TS. Bùi Quang Tuấn 37
Đầu tư nước ngoài trên thế giới tiếp tục gia tăng
Phần II: Kinh tế c á c nước công nghiệp phát triển 107
Kinh tế cá c nước công nghiệp phát triển
TS. Chu Đức Dũng 109
Kinh tế Mỹ - đỉnh cao của chu kỳ tăng trưởng
Bùi Trưòng Giang 125
Kinh tế Nhật Bàn: Đã qua rồi thập kỷ khó khăn?
TS. Lưu Ngọc Trịnh Nguyễn Ngọc Mạnh 138
Trang 4EU - kinh tế khởi sắc
Ngọc Xuân 157 Phần III: Kinh tế c á c nưốc đang phát triển 169
Kinh tế các nước đang phát triển trong bước
chuyển giao thế kỷ
75 Hoa Hữu Lân 171
Các nền kinh tế mói công nghiệp hoá châu Á
(NIEs) trưóc thềm thế kỷ XXI
Ngô Thị Trinh 187
Kinh tế ASEAN - tăng trưởng trong những
bất ổn hậu khủng hoàng
Th.s. Đào Việt Hung 202
Kinh tế các nước Mỹ Latinh và vùng Caribê
75 Đinh Quý Độ 222
Kinh tế các nước châu Phi
Th.s. Nguyễn Duy Lọi 234
Phần IV: Kinh tế c á c nưóc chuyển đổi 247
Kinh tế Trung Quốc
Số liệu thống kê kinh tế thế giói 329
Tài liệu tham khảo 343
Trang 5Chú dẫn cúa Nhà xuất bản
Cuốn sách Kinh tê thê giới 2000-2001: đặc điểm và triển
vọng của tập thể các tác giả thuộc Viện Kinh tế thế giới - Trung
tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quô"c gia nhằm phác hoạ một sô" nét khái quát về bức tranh toàn cảnh tình hình kinh tế thế giới trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, với những thời cơ và thuận lợi cùng những thách thức và khó khăn
Cuô"n sách được ra mắt bạn đọc hằng năm với mong muôn cung cấp cho bạn đọc một sô" thông tin và tư liệu cập nhật về tình hình kinh tế các khu vực và các nưóc trên thế giới Một sô" nhận định, tư liệu và sô" liệu trong cuôn sách được dẫn từ những nguồn khác nhau, nên có một sô" chỗ chưa khớp nhau, chúng tôi ghi rõ nguồn để bạn đọc thuận tiện trong việc theo dõi và tra cứu
Xin giói thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 3 năm 2001
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ Q uốc GIA
Trang 6Bản chú giải nhãng chữ viết lắt
ADB Ngân hàng phát triển châu Á
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á-Âu
CAN Cộng đồng các quốc gia vùng Anđét
CARICOM Cộng đổng Caribe và thị trường chung
CDFI Tổ chức tài chính phát triển cộng đồng
CEFTA Hiệp hội thương mại tự do Trung Âu
CEPT Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực
CFA Khối hợp tác tài chính châu Phi
COMESA Thị trường Trung Đông và Nam Phi
DJIA Chỉ số bình quân công nghiệp Dowr Jones
DM Dmác - đơn vị tiền tệ Đức
ECB Ngân hàng Trung ương châu Âu
ECLAC Ưỷ ban kinh tế Mỹ Latinh và Caribê
ECOTECH Hợp tác kỹ thuật và kinh tế (trong APEC)
ECOWAS Cộng đồng kinh tế Tây Phi
EFTA Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu
EIƯ Đơn vị tình báo kinh tế
EMS Hệ thống tiền tệ châu Âu
EMU Liên minh kinh tế - tiền tê châu Âu
Trang 7EU Liên minh châu Âu
FAO Tổ chức Nỏng nghiệp và lương thực Liên hợp quốcFDI Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
G-7 Nhóm bảy nước công nghiệp phát triển nhất
của thế giớiGCC Hội đồng hợp tác vùng Vịnh, Trung Đông
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
HDI Chỉ số phát triển nhân lực do UNDP biên soạnHIPC Các nước nghèo mắc nợ cao
IDB Ngân hàng phát triển liên Mỹ
IEA Cơ quan Năng lượng quốc tế
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
JPY Yên - đơn vị tiền tệ Nhật Bản
LAES Hệ thống kinh tế Mỹ Latinh
MERCOSUR Khối thị trường chung Nam Mỹ
NDT Nhân dân tệ - đơn vị tiền tệ Trung Quốc
NIEs Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá
OAU Tổ chức thống nhất châu Phi
ODA Viện trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ
SAARC Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á
SAFTA Khu vực mậu dịch tự do Nam Á
UNCTAD Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại
và phát triểnUNDP Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
Trang 8UNICEF Quÿ Nhi dông Lien hap quoc
WEF Diën dàn kinh té thé giôiWTO Tô chiîc Thirang mai thé giôi
Trang 9Phấn /
Những vấn dế chang
câa nền kinh tế thế giới
Trang 10Kinh tế thế giới năm 2000 Bức ttanh màu sáng
Trong Báo cáo đánh giá sự phát triển của kinh tế thế giới năm 2000, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tê (OECD) cho rằng, mặc dù giá dầu mỏ trên thế giới đã tăng 60% so với năm 1999, nhưng ảnh hưởng của việc giá dầu tăng cao không đáng kể so với cuộc khủng hoảng dầu mỏ trong thập kỷ 1970 và các thị trường tài chính vẫn khá yên ắng Theo OECD, kinh tế thê giới năm 2000 đạt tốc độ tăng trưởng là 4,1%, cao hơn 0,6% so với mức 3,5% dự đoán hồi đầu năm và lớn hơn 1,1% so với mức 3% của năm
1999 ủy ban kinh tê - xã hội của Liên hợp quốc đưa ra đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tê thế giối là 4,3% Các
chuyên gia của Business Week đánh giá, tốc độ tăng
trưởng của kinh tế thê giới là 4,5%, cao hơn 1,5% so vối năm 1999 Còn Quỹ Tiền tệ quốc tê (IMF) và Ngân hàng Thế giói (WB) đưa ra đánh giá lạc quan nhất về sự phát triển của kinh tê thê giới Theo IMF và WB, tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới là 4,7%, tăng 0,5% sò với dự báo hồi tháng Tư-2000 Chỉ duy nhất, tạp chí EIU (the Economist Intelligence Unit) đánh giá sự phát triển kinh
Trang 11tê thế giới chậm lại Theo EIU, tốc độ tăng trưởng kinh tê thế giới là 2,8%, thấp hơn 0,2% so vói mức 3% năm 1999 Tuy có nhiều đánh giá khác nhau về tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới, song về cơ bản phần lớn các
cơ quan nghiên cứu kinh tế trên toàn th ế giới đều thống nhất nhận định chung là năm 2000, kinh tế th ế giới tăng trưởng nhanh và đạt mức tăng cao nhất trong hơn một thập kỷ qua
Hoạt động thương mại toàn cầu khởi sắc vối tốc độ tăng trưởng đạt 10%, cao hơn 2 lần so với mức 4,3% năm
1999 và hơn 2,5 lần so với mức 3,8% năm 1998 Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đánh giá "sản xuất quốc tế mở rộng mạnh mẽ là do các liên kết kinh tế quốc tế được tăng cường hơn bao giờ hết, từ Bắc Mỹ cho đến châu Âu, châu Phi và Trung Á , và nhu cầu cao ở Bắc Mỹ và châu Á đã giúp thương mại hàng hoá thế giới tăng mạnh" Trong khi
đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới tăng lên mức
kỷ lục do xu hướng sáp nhập các công ty lớn nhất thành các công ty khổng lồ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ Theo UNCTAD (Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển), các công ty lớn đang có xu hướng đầu tư bằng cách mua hoặc sáp nhập với các công ty nước ngoài có lợi hơn là bắt đầu một hoạt động mới, sô" vụ sáp nhập công ty trên thế giói tăng hơn 50% so với năm 1999, làm cho đầu tư nước ngoài trên thế giới lần đầu tiên đạt mức 1.000 tỷ USD (Năm 1990, FDI trên thế giới đạt 151 tỷ USD, chiếm 72% tổng sô" vô"n đầu tư trên thê" giới; năm 1999, FDI đạt 865 tỷ USD, trong đó 720 tỷ USD hay 83% là do sáp nhập công ty).Hoạt động thương mại, đầu tư được tăng cường mạnh
Trang 12mẽ đã giúp cho sự phục hồi phát triển kinh tê ỏ phần lớrf các quốc gia, khu vực trên thế giói dặc biệt là kinh tế Mỹ, châu Âu và châu Á IMF và WB cho rằng "kinh tế thế giới dạt dược mức tăng trưởng cao nhất trong hơn một thập kỷ qua là nhờ sự tăng trưởng mạnh của kinh tế Mỹ, tăng trưởng hơn của kinh tế châu Âu và sự tiếp tục phục hồi của các nền kinh tế châu Á" Tuy sự phục hồi tăng trưởng
ở từng quốc gia khu vực trên thế giới có mức độ khác nhau, song bức tranh chung của nền kinh tế th(í giới thật sáng sủa
K iụh tê các nước công nghiệp phát triển
Theo OECD sự phát triển kinh tế của các nước công nghiệp phát triển cũng đạt mức cao nhất trong hơn một thập kỷ qua, 4,3% so với 3,4% năm 1999 (sô" liệu của IMF
và WB là 3,9% so với 3% năm 1999) GDP của nhóm bảy nước công nghiệp hàng đầu (G-7) tăng mạnh, đạt 4,2% so vối 3,2% năm 1999 Trong các nước công nghiệp chủ chốt,
Mỹ là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh nhất Năm
2000 được xem như là "cột mốc" lịch sử của nền kinh tế Mỹ Tốc độ tăng trưởng, theo IMF và WB, đạt 5,2%, cao hơn 1%
so với mức 4,2% năm 1999; hơn 1,8% so với mức 3,4% năm
1998 và cao hơn mức 1,5% so vối mức 3,7% năm 1997 Theo đánh giá của NABE (National Association of Business Economics), tô"c độ tăng GDP của Mỹ là 5,2%, cao hơn 0,3% so với mức 4,9% dự báo hồi đầu năm Đây là mức tăng cao nhất trong 16 năm qua (năm 1984, tốc độ tăng GDP của Mỹ là 7,3%) Kích thích chủ yếu đốì vối sự tăng trưởng kinh tế Mỹ là tăng xuất khẩu và sự bùng nổ
Trang 13vôn đầu tư sản xuất Nhằm giảm bớt tốc độ tăng trưởng kinh tế và giữ lạm phát trong tầm kiểm soát, Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã 6 lần tăng lãi suất, từ mức 5,25% vào tháng Tám 1999 lên 6,5% hiện nay Mức lạm phát là 3,2%, cao hơn 0,2% so với dự báo hồi đầu năm (3%) - song đây cũng là mức lạm phát thấp nhất kể từ năm 1985 đến nay Trong khi đó, năng suất lao động tiếp tục tăng với tốc độ cao Theo đánh giá của Bộ Lao động Mỹ, quý II năm 2000 năng suất lao động tăng 5,3%, trong khi suốt 20 năm, năng suất lao động Mỹ chỉ tăng bình quân 1,5%/năm Bắt đầu từ giữa những năm 1990, năng su ất lao động Mỹ tăng mạnh đã khiến tiêu dùng cá nhân tăng 5,3% so với 4-,'6% năm 1999 và là một trong những nhân tô" chủ yếu góp phần thúc đẩy kinh tê tăng trưởng ổn định Đến nay nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng liên tục 112 tháng liền - thời gian mở rộng dài nhất trong chu kỳ phát triển từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai "Nền kinh tế mới" dựa trên các công nghệ thông tin đã kích thích mở rộng sản xuất, thay đổi quá trình phát triển kinh tê Mỹ, bảo đảm tốc độ tăng GDP cao đối với việc duy trì mức lạm phát thấp.
Tò Biki số 48/2000 nhận định: "Kinh tế Mỹ đã phát
triển vượt bậc và có những nét đáng chú ý kể từ sau Chiến tranh thê giới thứ hai: tăng trưởng GDP ổn định ở mức cao trong một thời gian dài và lạm p h át tương đối thấp" Nền kinh tế tăng trưởng liên tục làm cho th u nhập của ngân sách tăng nhiều hơn so với dự báo Theo đánh giá của Tổng thống Mỹ B.Clinton, thặng dư ngân sách trong năm tài chính 2000 đạt ít nhất 230 tỷ USD - con sô lốn nhất trong lịch sử nước Mỹ từ trước đến nay và vượt hơn hẳn
«
18
Trang 14năm 1999 (122,7 tỷ USD) Chính phủ Mỹ dự báo trong 10 năm tới, thặng dư ngân sách còn tăng hơn 1.000 tỷ USD B.Clinton nói: "Tám năm trước đây, khi tôi bắt đầu nhậm chức, nền kinh tế Mỹ đang có một tương lai mờ mịt với tốc
độ tăng trưởng kinh tê thấp, số người th ất nghiệp tăng với toc độ chóng mặt, lại cộng thêm tỷ lệ lãi suất cao và khoản
nợ liên bang tăng gấp 4 lần so với 12 năm trước đó Thâm hụt ngân sách lúc bấy giờ là 290 tỷ USD và ngay cả nhà phân tích lạc quan nhất lúc đó cũng dự báo thâm hụt ngân sách sẽ lên tới 455 tỷ USD Nhưng nay, kết quả hoàn toàn trái ngược Kể từ năm 1965 đến nay, đây là lần đầu tiên Mỹ có thể cân bằng ngân sách mà không sử dụng đến quỹ tài chính dự phòng, đồng thời cũng là năm thành công nhất trong việc giảm nợ Kể từ sau năm 1949, đây là năm thứ ba liên tiếp có thặng dư ngân sách"
Trong khi đó, nền kinh tế của các nước thuộc Liên %
m inh châu Au (EU) lại phát triển khả quan hơn Nếu
như năm 1999, kinh tế của EU bị chững lại, thì năm nay, theo IMF, WB, kinh tê của EU sáng sủa hơn nhiều Theo dánh giá của các chuyên gia thuộc ủy ban châu Âu, kinh
tê các nưốc EU năm 2000 đạt mức tăng trưởng cao nhất kể
từ năm 1989 đến nay, 3,4%, cao hơn 1,3% so với mức 2,1% năm 1999 và hơn 0,5% so với mức 2,9% năm 1998 Các nước thuộc khu vực đồng euro cũng đạt tốc độ tăng trưởng 3,5%, cao hơn 1,1% so với mức 2,4% năm 1999 Một sô" quốc gia lớn trong EU bị suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh
tê năm 1999 thì nay đều đã khởi sắc Trong đó, kinh tế
Đức tăng trưởng vdi tôc độ 2,9%, cao hơn 1,5% so với 1,4%
năm 1999 và 0,2% so với 2,7% năm 1998; của Pháp là
Trang 153,5%, cao hơn 0,6% so với 2,9% năm 1999 và hơn 0,3% so
với mức 3,2% năm 1998; của Anh là 3,1%, cao hơn 2% so
với mức 1,1% năm 1999 và hơn 0,9% so với mức 2,2% năm
1998; của Ita lia là 3,1%, cao hơn 1,9% so với mức 1,2%
năm 1999 và hơn 1% so với mức 2,1% năm 1998 Các chuyên gia của ủy ban châu Au còn cảnh báo vê mối nguy hiểm của nền kinh tế "quá nóng" mà dấu hiệu đã nhận thấy ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan Nhờ tốc độ tăng trưởng cao nên sô" chỗ làm việc mới của tâ"t cả các nưốc thành viên EU tăng thêm gần 4 triệu That nghiệp giảm còn 14,4 triệu người (chiếm 9,2% lực lượng lao động)
so với 16,3 triệu người năm 1999 (chiếm 9,6% lực lượng lao động) Lạm phát thấp, 1,8% so với 1,2% năm 1999 Chủ tịch ủy ban châu Âu về các vấn đề kinh tế và ngoại hối Solbek cho rằng: "Trong 10 năm qua kinh tê các nước
EU đã giữ mức tăng trưởng ổn định, thì giai đoạn tới sẽ bước vào thời kỳ tăng Nếu như trong suốt thập kỷ 1990, tốc độ tăng trưởng kinh tê của EU luôn thấp hơn Mỹ thì bắt đầu từ năm 2001, tốc độ tăng trưởng kinh tế của EU
sẽ cao hơn Mỹ" Các chuyên gia của Business Week, úy
ban châu Âu, IMF và WB đều đánh giá, tăng trưởng kinh
tế hiện nay của EU chủ yếu không phải dựa vào những nhân tố bên trong (tăng năng suất lao động) mà là do "mơ
rộng khả năng xuất khẩu" Tờ Biki số 93/2000 nhận định
"kích thích chủ yếu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tê trong các nước EU là sự bùng nổ xuâ"t khẩu do sự phát triển ổn định nền kinh tế Mỹ tạo nên cũng như sự phát triển kinh tế của các nưốc châu Á sau khi khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính và sự
Trang 16giảm giá của đồng euro" Xuất khẩu hàng hoá của EU tăng 8,6% - mức tăng cao nhất kể từ năm 1997 đến nay.
Theo tạp chí The Economist sô 8186/2000, mặc dù đồng
euro bị mất giá gần 30% so với đồng đôla kể từ khi ra đời đến nay, nhưng điều đó không hề là mốì đe doạ đối với nền kinh tế của khu vực này Giá dầu mỏ tăng đã làm tăng tỷ
lệ lạm phát trong khu vực đồng euro cao hơn 2% - tỷ lệ mong muôn của Ngân hàng trung ương châu Âu và họ đã chông lại sức ép giá ngày càng tăng với 7 lần tăng lãi suất lên tới 4,75% kể từ tháng Mười một 1999 Trái lại, "sự phục hồi phát triển của EU chủ yếu do tác động của chu
kỳ kinh doanh: đồng euro yếu kém và nhu cầu trên thế giới mạnh" Hơn nữa, có nhiều cơ sở để người ta hy vọng rằng tốc độ tăng trưởng không chỉ bển vững trong giai đoạn trung hạn mà chiều hướng còn tiếp tục gia tăng Một
m ặt là do chính phủ nhiều nước đã làm cho thị trường lao động trở nên linh hoạt hơn Những quy chế cũ đã được nối lỏng nên các hãng đã thuê nhiều lao động hơn, thường là dưới dạng hợp đồng ngắn hạn như lao động bán chuyên trách vói những khoản đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn và điều kiện bảo hộ lao động ít ngặt nghèo hơn Chính vì vậy, việc làm ỏ khu vực đồng euro đã có tốc độ tăng nhanh hơn đôi chút so với Mỹ trong hai năm qua Mặt khác, những thay đổi mang tính cách mạng cũng đang diễn ra sầu rộng trong EƯ với làn sóng sáp nhập và mua lại công ty trở nên
dữ dội, buộc các nhà quản lý phải tăng hiệu quả đầu tư (số
vụ sáp nhập trên thế giới tăng 50%, trong đó 3/4 là tăng ở các nước Tây Âu) Điều đó hứa hẹn tăng năng suất lao động trong tương lai
Trang 17Mặc dù còn nhiều việc phải làm, song chiều hướng tăng trưởng kinh tế tiếp tục nếu các nền kinh tế trong EU vẫn xúc tiến mạnh mẽ con đường cải tổ của mình.
Đôi với N hât B ả n , nền kinh tê lớn thứ hai trên thê
giới đang dần phục hồi, IMF và WB đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tê là 1,4%, cao hơn 0,4% so với mức 1% năm
1999 Tổ chức thương mại th ế giới đánh giá GDP của Nhật Bản tăng 1%, cao hơn 0,5% so với mức tăng 0,5% năm
1999 Còn Viện nghiên cứu Nomura (Nhật Bản) đánh giá tốc độ tăng trưởng thực tế nền kinh tế Nhật Bản là 2,3% trong năm tài khoá 2000, cao hơn 1,8% so với mức 0,5% năm tài khoá 1999 Kinh tê N hật Bản đang dần hồi phục
với số vốn đầu tư và sô" người có công ăn việc làm thuận
lợi chủ yếu nhờ các ngành có liên quan đến công nghệ thông tin (IT) Các ngành có liên quan đến IT đang rấ t
phát đạt với doanh số bán điện thoại di động, các thiết bị
phát thanh sô qua vệ tinh, hàng bán dẫn và tinh thể lỏng tăng mạnh
Nhằm phục hồi và kích thích sự tăng trưởng kinh tế, Chính phủ Nhật Bản đã chi hơn 10 tỷ USD để phát triển các cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án trong ngành công
nghiệp viễn thông Như vậy, tổng số tiền mà Nhật Bản chi
cho kích thích tăng trưởng kinh tê trong thập kỷ 1990 đã lên hơn 833 tỷ USD Chính phủ Nhật Bản hy vọng kê hoạch kích thích kinh tê trọn gói sẽ thúc đẩy ngành công nghệ thông tin - một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của nước này phát triển
Mặc dù nền kinh tế N hật Bản đang phục hồi, song các đánh giá đều cho rằng "sự phục hồi của N hật Bản vẫn râ"t
Trang 18mong manh và đứng trước nhiều nguy cơ suy giảm", bởi tiêu dùng cá nhân vẫn yếu, nợ nhà nưốc đã tăng tối 130% GDP Thủ tướng Nhật Bản Yoshiro Mori cho rằng "nền kinh tế lốn thứ hai thê giới này mối chỉ vừa mới khởi sắc sau một thập kỷ suy thoái và chúng ta chưa thể lạc quan" Còn Tổng cục trưởng Cục Kê hoạch kinh tế Nhật Bản (EPA) cho rằng "Nếu nền kinh tế này là một chiếc máy bay phản lực thì chúng ta mới chỉ vừa cất cánh khỏi mặt đất nhưng bộ bánh máy bay vẫn chưa được rút vào Giai đoạn này chưa phải là lúc mà chúng ta có thể ngồi và nghỉ ngơi trong cabin".
Vấn đề quan trọng đặt ra đối với Nhật Bản hiện nay là
để phục hồi kinh tế bền vững, Nhật Bản cần có những bước đi mạnh mẽ trong cải cách cơ cấu nới lỏng quy chế;
mở cửa các thị trường cho nước ngoài cạnh tranh và làm lành mạnh hoá hệ thông tài chính Bởi theo các chuyên gia của WTO những vấn để này sẽ gây ra "bức tranh không rõ ràng" về việc phục hồi ở Nhật Bản sẽ mạnh đến đâu và kéo dài bao nhiêu lâu
Theo đánh giá của IMF, WB và các cơ quan nghiên cứu kinh tê trên toàn thế giới, sự phục hồi dần của nền kinh tê Nhật Bản, sự khởi sắc của kinh tê EU và tăng trưởng kỷ lục ở Mỹ đã góp phần tạo ra tăng trưởng trên một phạm vi lớn của thế giới, làm cho bức tranh kinh tế thế giới sáng sủa hơn trong hơn thập kỷ qua
Kinh tê các nước đang phát triển
Kinh tế của các quốc gia công nghiệp phát triển tăng trưởng mạnh đã giúp cho kinh tê của các quôc gia đang
Trang 19phát triển phục hồi và phát triển mạnh hơn.Theo IMF,
WB, tốc độ tăng trưỏng kinh tê của các quôc gia đang phát triển đạt 5,6%, cao hơn 1,8% so vối mức 3,8% năm 1999 và cao hơn 3,3% so với mức 2,3% năm 1998 Các quốc gia đang phát triển ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với năm 1999 Trong đó, các
nền kinh tê châu Á đủ mạnh để đương đầu với những
thách thức của thị trường Theo Ngân hàng P hát triển châu Á (ADB): "Các nền kinh tê châu Á đã đủ mạnh để đối phó với sự suy giảm trên thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ, mặc dù thâm hụt ngân sách và quá trình tái cơ cấu công ty chậm chạp vẫn tiếp tục gây trở'ngại cho một sô" nền kinh tế"
Châu Á đã chế ngự được cuộc khủng hoảng tài chính
%
của khu vực và sự phục hồi kinh tế vẫn đi đúng hướng Theo IMF và WB, tốc độ tăng trưởng kinh tê của châu Á đạt 6,7%, cao hơn 0,8% so với mức 5,9% năm 1999 và cao hơn 3,5 lần so với mức tăng 1,9% của năm 1998, cao hơn 0,1% so với mức tăng 6,6% năm 1997 Lạm phát giảm mạnh xuống còn 2,5% so với mức 7,6% năm 1999
Đối với hầu hết các nền kinh tê châu Á, xuất khẩu vẫn
là xương sống của sự phục hồi, đặc biệt là xuất khẩu các sản phẩm điện tử mà giờ đây châu Á đang là nhà cung cấp hàng đầu th ế giới; nhu cầu nội địa hiện nay cao hơn và thương mại trong nội bộ khu vực cũng bắt đầu đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế IMF và WB cho rằng "nhu cầu nội địa đang ngày càng trở thành nhân tô" quan trọng trong sự phát triển của châu Á" Thêm vào đó, dự trữ ngoại tệ tăng lên đã giúp trả các khoản nợ ngắn hạn và cơ
Trang 20câu thanh toán của các khoản nợ nước ngoài được cải
thiện Trong khi đó, theo ADB, thị trường bất động sản trì
trệ của châu Á - biểu tượng của sự sa sút về kinh tế trong
khu vực này sau cuộc khủng hoảng tài chính cách đây ba
nàm đã xuống tới mức tột cùng chủ yếu do nhu cầu phi
đầu cơ Nhờ vậy, các nguồn phục hồi thay thế khác đang
bắt đầu góp phần cho sự "trỗi dậy" của châu Á
Trong các nền kinh tế châu Á, Hàn Quốc và Hồng
Công đạt mức tăng trưởng cao nhất, 9,5% và 8% Đ ài
Loan vẫn đứng vững trong cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ khu vực, đã đạt mức tăng trưởng 6,5%, cao hơn
0,8% so vối mức 5,7% năm 1999 X ingapo đạt mức tăng
trưởng 7,9%, cao hơn 2,5% so với mức 5,4% năm 1999
Sự phục hồi tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế
trên đã làm cho GDP của các NIEs tăng 7,9%, cao hơn
2,2% so với mức 5,7% của năm 1999 và cao hơn gần 5 lần
so với mức 1,6% của năm 1998 Theo Ngân hàng thế giới,
hiện nay các nền kinh tê Đông Á đang có một bước tiến
còn vững chân hơn là trước thời gian đồng bath Thái Lan
bị phá giá vào tháng Bảy 1997 Các nền kinh tế trong
ASEAN bị ảnh hưởng nặng nê của khủng hoảng tài chính -
tiền tệ cũng đang phục hồi nhưng chậm hơn so với các
NIEs chủ yếu là do hệ thông tài chính của các nước
ASEAN vẫn chưa hoạt động bình thường Tốc độ tăng
trưởng GDP của ASEAN (trừ Xingapo và Brunây) đạt
4,6%, cao hơn 1,4% so với mức 3% năm 1999 Trong đó,
kinh tế T h á i Lan tuy chưa đạt được mức tăng trước
khủng hoảng, song GDP đã tăng từ mức 4,2% năm 1999
lên 5% năm 2000; Inđônêxia đã vượt qua thời kỳ tồi tệ
Trang 21nhất với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 4,0%, tăng 2% so với mức 2% năm 1999 Tuy nhiên, nền kinh tế Inđônêxia còn đang phải đôi mặt với một loạt thách thức như chức năng trung gian của ngân hàng chưa được hồi phục; sự
mất ổn định về chính trị Kinh tê M alaixia tiếp tục phát
triển năng động: GDP tăng 6,5%, cao hơn 1,1% so với mức 5,4% năm 1999 Malaixia là quốc gia duy nhất từ chối sụ giúp đỡ của IMF khi lâm vào khủng hoảng kinh tế Tuy vậy, xuất khẩu tăng mạnh (đặc biệt là xuất khẩu sản phẩm điện tử) tăng hơn 45% đã giúp kinh tế Malaixia
phục hồi phát triển Riêng P h ilip p in cuộc khủng hoảng
chính trị đã gây ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế và làm đồng pesô mất giá thêm Tốíc độ tăng trưởng kinh tê không đạt được mức 4,5% mà chính phủ đã đề ra hồi đầu năm Trong khi đó, theo ADB, một sô nước như Việt Nam Campuchia, Lào và Mianma vẫn còn gặp khó khăn vể
kinh tế Tại M ianm a, khoảng 40% tổng đầu tư trực tiếp
nước ngoài, động lực hỗ trợ cho toàn bộ nền kinh tế của nước này, lại bắt nguồn từ các nước khác trong khôi ASEAN Do đó, đầu tư trực tiếp vào Mianma sẽ không tăng, trừ phi nền kinh tê của ASEAN hoàn toàn phục hồi
và đi vào phát triển ổn định Tình hình tương tự cũng
xảy ra đối với Viêt N am (mặc dù tốc độ tăng GDP đạt
6,7%, cao hơn 2,2% so vối mức 4,5% năm 1999), vào giữa những năm 1990, đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm lên gần
10% Tại C am puchia, do lũ lụt và giá dầu mỏ tăng cao
đã làm cho tăng trưởng GDP chỉ đạt 3,5%, thấp hơn 1,5%
so với mức 5% dự báo hồi đầu năm
Trang 22Các quốc gia ở N am Á vẫn Liếp tục duy trì được tốc độ
tăng trưởng kinh tế Trong đó Ân Đô đạt tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao nhất, 6,7%, cao hơn so với mức 6,4%
năm 1999 IMF cho rằng "tình hình kinh tế của Ấn Độ là
rất tốt trong những năm gần đây bất chấp những ảnh
hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng trong khu vực đối
với xuất khẩu và giá dầu thế giới tăng cao"
Trung Quốc, - nước sắp gia nhập Tổ chức Thương mại
thê giới (WTO), đã có bước chuyển biến quan trọng Ngân
hàng Phát triển châu Á đã vẽ một bức tranh sáng sủa về
nền kinh tế Trung Quốc ADB đánh giá GDP tăng 8%, cao
hơn 0,9% so với mức 7,1% năm 1999 và cao hơn 0,4% so
vối mức 7,6% năm 1998 (số liệu của IMF về tốc độ tăng
trưởng kinh tế của Trung Quốc năm 2000 là 7,5%) Theo
báo cáo "Phân tích tình hình kinh tê vĩ mô năm 2000 và
triển vọng kinh tế năm 2001 của Trung Quốc" do Trung
tâm thông tin quốc gia công bô" năm 2000, GDP của Trung
Quốíc đạt 8.928 tỷ NDT, tương đương vối 1.078 tỷ USD
Đây là lần đầu tiên, GDP của Trung Quốc đạt trên 1.000
tỷ USD, đồng thời GDP bình quân đầu người của Trung
Quốc cũng đạt 849 USD, vê cơ bản thực hiện được mục
tiêu chiến lược bước 2 mà Trung Quốc đê ra Báo cáo cho
rằng hiện nay, nền kinh tê Trung Quốc vận hành tốt chủ
yếu nhờ vào chính sách tài chính ngắn hạn tích cực và môi
trường bên ngoài chuyển biến tốt Theo ông Min Tang,
nhà kinh tế chủ chốt của ADB tại Bắc Kinh, nhờ xuất
khẩu và mức tiêu dùng trong nước tăng mạnh nền kinh tế
Trung Quốc đang trở lại những mức tăng trưởng trước khi
xảy ra khủng hoảng trong khu vực Kim ngạch xuất khẩu
Trang 23của Trung Quốc tăng 20,6% so với mức tăng 6,1% của năm
1999 Vả lại, việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và các cuộc cải cách kèm theo đó sẽ mang lại những nguồn lợi kinh tê lâu dài và có thể bổ sung thêm 1 - 2% vào mức tăng GDP Tuy vậy, theo ADB, để bảo đảm tăng trưởng kinh tế lành mạnh, Trung Quốc sẽ phải thực hiện "các đợt điều chỉnh cơ cấu mạnh mẽ trong một loạt khu vực kể cả nông nghiệp, ô tô, ngân hàng, bảo hiểm và viễn thông"; đồng thời vẫn cần phải áp dụng các chính sách tài chính tích cực IMF cũng cho rằng “Trung Quốc cần phải đẩy mạnh công cuộc cải cách xí nghiệp quốc doanh và hệ thông ngân hàng”
Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cùng sự phục hồi phát triển mạnh mẽ các nền kinh tế ASEAN, NIE đã giúp giảm nguy cơ tụ t hậu của các nền kinh tế châu Á Tuy vậy, theo WB ba hậu quả lớn của cuộc khủng hoảng tài chính 1997 để lại là gánh nặng nợ, lòng tin của các nhà đầu tư giảm sút và khu vực bất động sản bấp bênh làm các nền kinh tê châu Á vẫn còn dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động WB kêu gọi các nưốc châu Á tiếp tục đẩy mạnh cải cách khu vực ngân hàng, cơ cấu lại
nợ công ty và thực hiện luật phá sản mới
Tại châu Phi, do hạn hán, rối loạn về chính trị và do
giá cả của các loại hàng hoá không phải dầu mỏ đình trệ, nên tốic độ tăng trưởng của các nền kinh tế bị giảm sút so với dự báo của IMF đưa ra hồi đầu năm Tôc độ tăng GDP đạt 3,4%, cao hơn 0,3% so vối mức 3,1% năm 1999, bằng tốc độ tăng trưởng năm 1998 (3,4%), song vẫn thấp hơn 1% so với mức 4% dự báo hồi đầu tháng Tư 2000 của IMF
Trang 24Mặc dù một sô" nưóc sản xuất dầu mỏ đã được lợi nhò giá năng lượng cao hơn, nhưng rất nhiêu nưốc không sản xuất dầu mỏ ỏ châu Phi phải đương đầu với mức thua lỗ đáng kê về thương mại vì giá xuất khẩu các mặt hàng không phải dầu mỏ và các mặt hàng thiết yếu khác nói chung không tăng, trong khi giá nhập khẩu dầu mỏ lại tăng mạnh Các nển kinh tế ở Nam Phi phục hồi, "tuy vẫn cỏn mong manh", nhưng đang có đà với mức tăng GDP hơn 3%.
Theo IMF và WB, Nam Phi cần thực hiện cải cách cơ cấu, đặc biệt là thông qua tư nhân hóa để thu hút đầu tư nước ngoài nhằm nâng mức tăng trưởng hàng năm lên 5%
và cắt giảm thất nghiệp
K in h t ế các nước Mỹ L a tin h và vùng Caribe, ủy
ban Kinh tế Mỹ Latinh và Caribe (ECLAC) đánh giá, nền kinh tế Mỳ L atin h đạt tốc độ tăng trưởng 4% Còn IMF
và WB cho rằng nên kinh tế Mỹ La tinh tăng trưởng mạnh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng -0,3% năm 1999 Tốc
độ tàng GDP của Mỹ Latinh là 4,25%, cao hơn mức 4% dự báo đưa ra hồi đầu năm Theo IMF, "Mỹ Latinh và Caribe đang tiêp tục phục hồi từ cuộc khủng hoảng tại các thị trường đang nổi lên năm 1997 - 1998 Sự tăng trưởng kinh
tế được hỗ trợ bởi xuất khẩu tăng, dặc biệt là sang Mỹ, cũng như sự phục hồi về niềm tin và mức chi tiêu của
người tiêu dùng" Trong đó Mêhicô có tốc độ tăng trưởng
GDP là 6,5% - ngang với mức từ năm 1995 trở lại đây
B raxin đạt mức tăng GDP là 4%; Chilê 6,0%, cao hơn
4,9% so với mức 1,1% của năm 1999 Riêng Cộng hoà
D om inica có mức tăng trưởng nhanh nhất khu vực Mỹ
Trang 25Latinh với GDP tăng 8,4%, cao hơn 0,1% so với mức 8,3% năm 1999 Tuy vậy, IMF lưu ý rằng sự tăng trưởng trong khu vực này vẫn không đều nhau, một sô nước phát triển
mạnh hơn trong khi một số nước lại phải đương đầu với sự
m ất ổn định vê kinh tê và chính trị Còn thư ký điều hành ECLAC, José Antonio, cho rằng, kinh tê Mỹ Latinh
đã phục hồi do giá dầu trên thê giới tăng, nhưng sự phục hồi này không tương xứng vối sự phát triển của khu vực Giá dầu mỏ tăng trong năm nay đã làm thay đổi nền kinh tế khu vực theo hai hưống: các nước sản xuất dầu
mỏ như Mêhicô, Vênêxuêla Colombia, Áchentina, Êcuađo
và Bôlivia được hưởng lợi và những nước nhập khẩu dầu
mỏ như Braxin, Chilê và các nước vùng Trung Mỹ thì bị thiệt hại
Theo ECLAC, kinh tê Mỹ Latinh và Caribê sẽ tiếp tục phục hồi và tăng trưởng trong những năm tới nếu các nước tiếp tục đẩy mạnh cải cách nền kinh tế và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tê toàn cầu
Kỉnh tế các nước đang chuyển đổi
Nền kinh tề Nga hồi sinh trở lại với tốc độ tăng
trưỏng GDP đạt 5,5% cao hơn 3,5% so với mức tăng 2% của năm 1999 Đây là năm thứ hai liên tiếp kinh tế Nga tăng trưởng ổn định (IMF đánh giá GDP của Nga tăng 7%) Các chuyên gia đánh giá kinh tế Nga cho rằng, sự phục hồi tăng trưởng của Nga một mặt là do việc phá giá đồng rúp gây ra cuộc khủng hoảng kinh tê hồi tháng Tám
1998 đã giúp các công ty trong nước cạnh tranh với hàng nhập khẩu Mặt khác là do giá dầu mỏ tăng cao trên th ế
Trang 26giới Xuất khẩu của Nga tăng hơn 37% so với năm 1999, lên tới 70 tỷ USD chủ yếu nhờ giá dầu thô, kim loại nguyên liệu tăng cao Đây là nguyên nhân quan trọng đưa nền kinh tế Nga phục hồi nhanh Trong khi đó Chính phủ Nga đã thực hiện những bước đột phá trong chính sách kinh tế Quôc hội Nga đã thông qua mức thuế thu nhập dồng loạt là 13% thay cho mức thu từ 12% đến 30% trước đây Đồng thời, Chính phủ Nga cũng thực hiện các biện pháp khác nhằm cắt giảm và đơn giản hoá hệ thống thuế giúp thu hút đầu tư nước ngoài và duy trì tốc độ tăng trưởng đang tăng dần từ sau cuộc khủng hoảng (chỉ riêng sáu tháng đầu năm, GDP đã tăng 7,3%, sản lượng của các ngành công nghiệp then chốt tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 1999 Đặc biệt, sản xuất nông nghiệp của Nga - một lĩnh vực luôn bị đánh giá là yếu kém - đã có sự tăng trưởng khả quan Trong đó sản lượng ngũ cốc tăng tới 20,6% so với năm 1999, lên 66 triệu tấn nhò diện tích gieo trồng tăng hơn 5% và năng suất tăng 15% Và lần đầu tiên trong nhiều năm Nga đã tự cân đối được cán cân lương thực) Lạm phát giảm mạnh từ mức 36,5% năm
1999 xuống còn 20% năm 2000 Tại Hội nghị Khoa học toàn Nga: "Nước Nga thê kỷ XXI: kinh tế, chính trị và xã hội" do phong trào "Nước Nga" tổ chức tại Xanh Petécbua, Chủ tịch Đuma quốc gia Nga, Gennady Selezhynov, tuyên bô' "đã có những dấu hiệu cho thấy Nga đang ra khỏi khủng hoảng kinh tế Nga có tiềm năng thiên nhiên và trí tuệ vô cùng to lớn và trong thê kỷ tới Nga sẽ là nước sô" một trên góc độ địa chính trị Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của nước Nga"
Trang 27Tuy vậy, Chính phủ Nga không thể thoả mãn với những thành tựu trên và hy vọng vào những nhân tô không đoán trước được (như giá dầu mỏ và các khoản vay nước ngoài) mà họ phải tiến hành chính sách cải cách kinh tê mạnh mẽ để kinh tê Nga trở nên cạnh tranh thực
sự IMF cho rằng "Nga cần đẩy nhanh tốc độ cải cách kinh
tế sửa đổi luật phá sản, hạn chế buôn bán hàng đổi hàng
và giải quyết dứt điểm các khoản nợ" Còn theo các chuyên gia kinh tế Nga, việc kiểm soát được lạm phát bất chấp nguồn tiền mặt ngày càng tăng cùng vói gánh nặng nợ nần là một trong những vấn đê gây đau đầu cho Chính phủ Nga
Tại sao các nưốc Trung và Đông Âu lần đầu tiên
trong 11 năm qua nền kinh tê các nước này đạt mức tăng trưởng 3,1%, cao hơn 2 lần so vối mức tăng 1,3% của năm
1999 và cao hơn 0,9% so vối mức tăng 2,2% năm 1998
(Trong đó Ba Lan vẫn là quốc gia có tốc độ tăng trưởng
cao nhất: 5,3%) Các nước Trung và Đông Âu đã khắc phục
"hoàn toàn" các hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tê ở Nga vào năm 1998
Nhìn lại tổng thể sự phát triển của kinh tê thê giới năm 2000, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Tô chức hợp tác và phát triển kinh tê (OECD) đều thông nhất nhận định rằng, kinh tế thế giới tăng trưởng cao ngoạn mục Các điều kiện kinh tê toàn cầu tiếp tục được cải thiện sau cuộc suy thoái nghiêm trọng trong các năm
1997 -1998 Nhiều quốc gia đã vượt qua khủng hoảng, bước vào giai đoạn phục hồi và phát triển Sự phục hồi kinh tế của các quốc gia làm cho thương mại toàn cầu sôi
Trang 28dộng Công nghệ thông tin - công nghệ mũi nhọn - trở thành một trong những động lực quan trọng cho sự phát triển của thương mại quốc tế và kinh tê thê giới Các quổc gia, khu vực trên thế giới đã và đang tích cực xây dựng chiến lược phát triển kinh tê của mình theo hướng nền kinh tê tri thức Tuy vậy, theo những dự báo chính thức, trong năm 2001 - 2002, tốc độ tăng trưởng của kinh tê thê giới sẽ chậm lại chút ít, đạt 4,2% so với mức 4,7% năm 2000; trong đó, tốc độ tăng trưởng của các quốc gia công nghiệp phát triển nhóm G-7 là 3,2%, các nước khu vực dồng euro là 3,4% , các nước đang phát triển là 5,7% IMF lưu ý rằng các nguy cơ vẫn đang tiềm ẩn trong nền kinh tế
thê giới Thứ nhất là sự mất cân bằng trong tài khoản
vãng lai của Mỹ, lên tới 400 tỷ USD (sau khi đã lên tới mức kỷ lục 331,5 tỷ USD năm 1999) Thâm hụt buôn bán khổng lồ có thể trở thành vấn để nghiêm trọng đôi với nền kinh tê Mỹ, nếu các nhà đầu tư nước ngoài đột ngột quyết dinh bán phá giá các loại tài sản bằng đồng đôla, làm cho đồng đôla mất giá và gây ra sự giảm đáng kể tại các thị trường chứng khoán và trái phiếu Mỹ Michael Mussa, nhà kinh tế hàng đầu của IMF, cảnh báo rằng, nếu kinh
tê Mỹ chững lại đột ngột hay "hạ cánh không nhẹ nhàng"
có thể gây ảnh hưởng xấu đến triển vọng kinh tế của nhiều nưóc
Thứ hai là tình hình bạo lực ngày càng gia tăng ở
Trung Đông làm cho giá dầu mỏ tăng, dẫn đến các thị trường chứng khoán bị giảm sút Nỗi ám ảnh về tình trạng lạm phát mới trên toàn cầu khiến các nhà đầu tư lo ngại OECD tính rằng nếu giá dầu mỏ vẫn duy trì ở mức
Trang 2933 USD/thùng thì tốc độ tăng trưởng kinh tế th ế giới sẽ bị giảm 0,5% và mức tàng trưởng kinh tê toàn cầu giảm còn 4,2% năm 2001 (Trong đó EU giảm 0,5%; Mỹ 0,3%, Nhật Bản giảm 0,6% và ngược lại kết quả này nếu giá dầu ở
mức 28 USD/thùng) Nếu giá dầu mỏ cao hơn nữa trong
thời gian dài thì tốc độ tăng trưởng kinh tê toàn cầu sẽ giảm 1% xuống còn 3,7% năm 2001
Các nhà phân tích đưa ra hai lý do cho sự thận trọng trên: một mặt là ảnh hưởng đối với lòng tin của giới kinh doanh và tiêu dùng có thể rất mạnh Mặt khác có thể là quá lạc quan khi giả thiết cho rằng các nước san xuất dầu
sẽ tái đầu tư lợi nhuận của họ vào thị trường th ế giới
Thứ ha là vấn đê nợ của các nưốc nghèo - một đề tài có
tính thời sự của nhiều hội nghị quốc tế Tổng sô" nỢ của cốc nước đang phát triển đã từ 1.320 tỷ USD năm 1986 lên tối hơn 2.500 tỷ USD năm 2000 Tính trên phạm vi toàn thê giới có tới 1,2 tỷ người thuộc diện nghèo khố với mức thu nhập ít hơn 1 USD/ngày, trong đó 600 triệu trẻ em độ tuổi
từ 1 đến 5 rơi vào tình trạng sức khoẻ tồi tệ và 11 triệu trẻ
em độ tuổi này bị chết mỗi năm Theo IMF, có 41 nước nằm trong diện được xoá nợ một phần Tháng Mười 1996, IMF và WB đã thoả thuận một kế hoạch giảm nợ mang tính tổng thể, nhằm giúp các nước nghèo nỢ nần chồng chất trả được nợ mà không ảnh hưởng tới sự phát triển Hội nghị cấp cao G-7 tại Côlônhơ (Đức) năm 1999 vối mong muốn thúc đẩy sáng kiến HIPC, đưa ra lời hứa xoá
100 tỷ USD tiền nợ cho các nước nghèo mắc nhiều nợ Một năm trôi qua, lời hứa đó chưa thực hiện được bao nhiêu, mới chỉ có chín trong số 41 nước-thuộc diện xoá một phần
Trang 30nợ trong sô" nợ được giảm, trong khi mỗi ngày vẫn có khoảng 60 triệu USD tiền nợ dược chuyển về cho các nước giàu Trong khi đó, tại Hội nghị năm 2000 (lần thứ 26) ở ôkinaoa (Nhật Bản), các nước G-7 lại cam kết tiếp tục nỗ lực để thực hiện lời hứa xoá 100 tỷ USD tiền nợ cho các nước nghèo nhưng chưa có sáng kiến mới nào Tổng thư ký Liên hợp quốc đã bày tỏ sự thất vọng trưốc việc "quá nhiều lời hứa, quá ít hành động".
Vả lại, "Hiến chương Okinaoa về xã hội thông tin toàn cầu" được G-7 và Nga đưa ra, lần đầu tiên thừa nhận cuộc cách mạng thông tin, quyết định tập trung lực lượng đặc nhiệm để giải quyết tình trạng chênh lệch về kỹ thuật thông tin giữa các nước giàu và các nước nghèo Song cuộc cách mạng thông tin này có thể dẫn đến khoảng cách rộng lớn hơn giữa các nước giàu và các nước nghèo Chủ tịch
"Phong trào xoá nợ cho các nước nghèo 2000" đã châm biếm rằng: "Người nghèo, khi đói, không thể nhá chiếc bánh điện tử!" Dư luận đòi hỏi các nưốc giàu hành động mạnh mẽ để th ật sự giúp hình thành một "thế giới thịnh vượng hơn, bình an hơn và ổn định hơn" trong thế kỷ XXI
Thứ tư là tác động của "Hiệu ứng nhà kính" Theo
Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan "nhiệm vụ trước
m ắt của chúng ta hết sức nặng nề Nếu muốn giảm hiệu ứng nhà kính xuống mức có thể như mức thòi năm 1990, chúng ta cần tạo ra được những thay đổi trong nên kinh tế toàn cầu và bằng cách mà tất cả chúng ta cũng có thể chung sống" Do thực tê trái đất ngày càng nóng lên và ngày càng xảy ra nhiều hiện tượng bất thường của thiên nhiên như El Nino, La Nina, nắng lắm mưa nhiều, bão tô"
Trang 31lụt lội mà nguyên nhân chính là do hoạt động của con người gây tác hại tới môi trường gây ra, đặc biệt là do các nước phát triển tạo nên quá nhiều hiệu ứng nhà kính Tại
kỳ họp thứ 6 (COP6) Hội nghị các nước thành viên Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu toàn cầu, diễn ra vào trung tuần tháng Mười một 2000 tại thành phố The Hague (Hà Lan), hơn 6.000 đại biểu từ 170 nước trên thế giới đều kêu gọi các nưốc phát triển phải đưa ra được những cam kết cụ thể hơn về việc cắt giảm 5,2% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính Tuy vậy, kể từ COPl đến nay, các nước phát triển vẫn chưa đưa ra được một cam kết cụ thể nào về vấn đề này để có thể ngăn chặn
sự nóng lên toàn cầu gây th ất vọng cho các nước đang phát triển cũng như các nhóm bảo vệ môi trường
Trang 32Thương mạl thế giới
Cùng với sự xuất hiện những nhân tố mới của nền kinh tế thế giới, thương mại th ế giới ở năm bản lề củạ thế
kỷ XXI này mang lại nhiều hứa hẹn, nhưng cũng đồng thời cho thấy vẫn còn những trở ngại và khó khăn cho tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu Phần này sẽ điểm lại tình hình thương mại của thế giới trong năm 2000 và đưa
ra một số dự báo chủ yếu của phát triển thương mại trong
những năm tới
Những đặc điểm chủ yếu của thương mại thế giới
Một đặc điểm nổi bật của thương mại thế giới năm
2000 là sự đẩy mạnh các hoạt động trao đổi buôn bán với mức gia tăng kỷ lục vê kim ngạch xuất nhập khẩu Cùng vối sự tăng trưởng nhanh của sản xuất th ế giới, khối lượng thương mại hàng hoá và dịch vụ của thế giới tăng trưởng
khá cao, đạt 10 % theo tính toán của Quỹ Tiền tệ quốc tê
(IMF), tức là lớn gâ'p 2,3 lần so với mức tăng trưởng 4,3% của năm 1998 và gấp gần 2 lần mức tăng 5,1% của năm
1999 Kim ngạch xuất khẩu của thế giới năm 2000 đạt 7.497 tỷ USD, tăng 8,8% so với mức 6.889 tỷ USD năm
Trang 331999 Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá tăng trưởng thượng mại của thế giói còn cao hơn, ở mức 12,5 % OECD đưa ra con số đến 13,4 % trong năm 2000, trong đó thương mại hàng chế tạo tăng ở mức kỷ lục 14,6 % Dù ở con nào, sự so sánh vối các năm trưốc cho thấy mức tăng trưởng thương mại thế giới năm nay là cao nhâT trong thập kỷ vừa qua (Bảng 1).
Có thể nói có ba động lực chính đằng sau mức tăng
trưởng kỷ lục của thương mại thế giói năm qua Thứ nhất,
đó là do nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Bắc Mỹ đang ở tình trạng tăng trưống tốt, do
đó xuất nhập khẩu của các nước này khá cao Kim ngạch xuất khẩu của các nưốc công nghiệp phát triển cũng ở mức tống trưởng cao là 9,9 %, hơn hẳn mức tăng trưởng thương mại của hai năm 1998 và 1999 tương ứng là 3,9% và 4,8%,
và cao hơn mức 8,8% năm nay của các nước đang phát triển Kim ngạch nhập khẩu của các nước công nghiệp phát triển cũng tăng mạnh, đạt 10,3%, hơn mức 10% của các nước đang phát triển Nếu chỉ tính riêng kim ngạch thương mại hàng hoá mà không tính dịch vụ, kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn bộ thế giới có mức tăng trưởng 10,4% và cũng là mức tăng cao nhất trong thập niên vừa qua Chỉ số giá xuất nhập khẩu (tức điều kiện'thương mại) trong năm nay ở mức -0,1% đối với các nước phát triển và mức 4,6% đôi với các nước đang phát triển cho thây giá xuất khẩu có lợi cho các nước đang phát triển Nó cũng cho thấy nhu cầu nhập khẩu gia tăng phù hợp với mức tăng trưởng nóng ở các nưốc phát triển
Trang 34B ả n g 1.T ăng trưởng th ư ơ n g m ại th ê giớ i năm 2000
Trang 35Thứ hai, nền kinh tê của các nước châu Á tiếp tục phục
hồi sau khủng hoảng Xu hướng phục hồi của nền kinh tê chầu Á cũng như sự tăng vê cầu của thị trường Bắc Mỹ thực ra đã xuất hiện từ năm trước nhưng còn mờ nhạt Xu hưống này trở thành rõ nét hơn nhiều trong năm nay Mỹ
là một thị trường quan trọng cho tiêu thụ hàng hoá đối với châu Á, chiếm gần 1/4 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực này Xuất khẩu của khu vực ASEAN sang thị trường Mỹ cao hơn xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại và vượt mức 800 tỷ USD Tổ chức Thương mại thê giới (WTO) cũng cho rằng, nhu cầu cao ở Bắc Mỹ và sự phục hồi của kinh tế châu Á
đã giúp thương mại hàng hoá thế giới tăng 14 % trong chín tháng đầu năm 2000 và sẽ mang lại mức tăng trưỏng
ít nhất là 10 % cho cả năm
Thứ ha, giá dầu mỏ lên cao trong một năm rưỡi qua có
một tác động đáng kể đến kinh tê thế giới nói chung và thương mại nói riêng Nhò mức giá dầu gia tăng nhanh chóng và ở mức cao trong 15 năm qua (trừ giai đoạn chiến tranh vùng Vịnh), các nước xuất khẩu dầu‘mỏ đã đạt mức
tăng trưởng cao hơn mức trung bình Chỉ số giá xuất nhập
khẩu của các nước xuất khẩu dầu mỏ tăng ở mức kỷ lục, ở mức 20,1%, đã đem lại nguồn lợi lớn, đặc biệt là cho những nước đang phát triển có mức thu nhập thấp, bù đắp cho mức th ất thu năm 1998-]999, khi giá xuất khẩu dầu còn ở mức thấp Toàn bộ châu Á vì có mức tăng của giá dầu mà
có mức tăng trưởng thương mại kỷ lục, vào khoảng 25 %
Ngược lại, giá dầu tăng sẽ ảnh hưởng không có lợi cho những nưốc phát triển nhập khẩu dầu
Trang 36Do giá dầu tăng cùng vối sự gia tăng của xuất khẩu hàng hoá, cán cân mậu dịch của các nước đang phát triển -
khu vực chiếm một tỷ trọng 36,8 % GDP và 18 % xuất
khẩu của toàn bộ thê giới - được cải thiện rõ rệt Tính toán của IMF cho thấy cán cân mậu dịch của các nước đang phát triển năm 2000 đạt mức thặng dư kỷ lục là 133,4 tỷ USD so với mức thặng dư 68 tỷ của năm 1999 và thâm hụt 8,2 tỷ của năm 1998 Nhờ mức tăng đột ngột này mà lần đầu tiên trong suốt 10 năm qua, cán cân tài khoản vãng lai của toàn bộ các nước đang phát triển đạt con số dương và ở mức 21,1 tỷ USD Các nưốc ở châu Á và Trung Đông đóng vai trò quan trọng nhất trong sự gia tăng cán cần thương mại của các nước đang phát triển vối mức thặng dư tương ứng là 62,1 tỷ USD và 57,2 tỷ USD so với19,2 tỷ của các nưốc khu vực châu Phi và thâm hụt 5,2 tỷ USD của các nước đang phát triển khu vực Nam Mỹ
Nếu tách riêng các nhóm nưốc trong khối các nưốc đang phát triển, trong khi các nước vùng Trung Đông và Bắc Phi có mức thặng dư mậu dịch và tài khoản vãng lai khá cao, những nước nghèo và nợ nước ngoài nhiều tiếp tục có mức cán cân mậu dịch và tài khoản vãng lai thâm hụt Một lý do quan trọng của tình hình này là giá cả của nguyên liệu và nông sản tăng rất yếu mặc dù nhu cầu th ế giới vẫn tiếp tục tăng Giá các hàng nông sản trong năm nay tăng không nhiều là do phản ứng chậm chạp của sản xuất khu vực này trước việc gia giảm nhu cầu đối với các sản phẩm năm 1998 -1999 Thời tiết thuận lợi cho trồng trọt trong năm nay, đặc biệt là ở khu vực Tây bán cầu, đã làm cho cung của các sản phẩm về hạt và cây có dầu tăng
Trang 37lên Sản lượng cung của các sản phẩm cà phê, côca, đường, bông được điều chỉnh rất chậm chạp so với cầu của thị trường thế giói Lượng tồn kho nông sản lớn cũng góp phần làm cho giá cả các sản phẩm này không tăng lên
được Giá gạo giảm 31 % so với mức giá trung bình của
những năm 1995 -1997 Giá cả của nguyên vật liệu như sắt, thép, đồng có tăng nhưng không được như mức dự kiến Nhìn chung, mức giá các sản phẩm kim loại năm nay vẫn còn thấp hơn mức của năm 1995-1997, trừ niken.Đối vối thương mại của các nước công nghiệp phát
triển - khu vực chiếm một tỷ trọng 57,4 % GDP và 77,6 %
xuất khẩu của th ế giới, tài khoản vãng lai của các nước này về tổng thể tiếp tục ở mức thâm hụt và tăng lên - thâm hụt ở mức 175,9 tỷ USD năm 2000 so với mức thâm hụt 134,2 tỷ USD năm 1999 Tuy nhiên, sự thâm hụt này chủ yếu là do mức thâm hụt khổng lồ 418,5 tỷ USD của
Mỹ gây ra, tức vào khoảng 4,3 % GDP (theo tính toán của OECD) Trong khi đó, các nưóc châu Âu và Nhật Bản đạt mức thặng dư với con sô" tương ứng là 38,7 tỷ USD và121,2 tỷ USD Các nước công nghiệp hoá châu Á cũng đạt mức thặng dư 51,1 tỷ USD, tuy có giảm hơn mức của năm ngoái tối 22 %
Đối vói hoạt động thương mại của một số châu lục, xuất khẩu hàng hoá trong năm nay của EU, theo tính toán của IMF, tăng 8,6 %, là mức tăng cao nhất từ năm
1997 đến nay Trong khi đó, tăng trưởng kim ngạch xuâ't khẩu của các nước đang phát triển châu Á trong năm 2000 đạt mức 14 %, nếu trừ Trung Quốc và Ấn Độ, thì cũng đạt mức 13,6%, là mức cao nhất kể từ năm 1995 đến nay Đối
Trang 38với các nước châu Á, sự phát triển của thị trường điện tử thê giới đã thúc đẩy mức tăng xuâ"t khẩu của khu vực này
và đã hỗ trợ cho mức gia tăng 6,7 % về tăng trưởng - mức cao nhất trong các khu vực của th ế giới Đây là một thành tựu đáng kể nếu nhớ lại rằng khu vực này có mức tăng trưởng xuất khẩu bị giảm sút liên tục trong ba năm kể từ năm 1996 do hậu quả của khủng hoảng Các sản phẩm điện tử đặc biệt tăng nhanh trong cơ cấu xuất khẩu của kinh tê châu Á đã biến khu vực này thành nhà cung cấp hàng đầu vê hàng điện tử của th ế giới Hiệp hội bán dẫn của Mỹ dự đoán doanh sô" hàng bán dẫn của châu Á sẽ
tăng 23 % trong năm 2000 và tăng 25 % vào năm 2001 vì
nhu cầu về các cấu kiện điện tử vẫn còn tiếp tục tăng Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các nước công
nghiệp mới châu Á năm 2000 là 13 %, vượt đáng kể mức
8,9 % năm 1999 và 0,9 % năm 1998 là năm gặp khủng hoảng Tuy nhiên, tình hình không được lạc quan như thế đôi với các nước chầu Phi Trong khi các nước xuâ"t khẩu dầu mỏ ở châu lục này thu lợi lớn nhò giá dầu mỏ tăng mạnh thì các nước không sản xuất dầu mỏ đã phải thua lỗ đáng kể trong thương mại vì giá cả của các mặt hàng thiết yếu khác nói chung không tăng Ngược lại, các nưốc Mỹ Latinh có mức tăng trưỏng rõ rệt trong kim ngạch xuất
khẩu hàng hoá là 17,9 % năm 2000 so vối mức 5,1 % của
năm 1999 Phần lớn sự tăng trưởng này là do xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Mỹ tăng và giá dầu mỏ tăng trong năm làm thay đổi nền kinh tế khu vực theo hai hướng: các nước xuất khẩu dầu như Mêhicô, Vênêxuêla, Côlômbia, Áchentina, Êcuađo và Bôlivia được hưởng lợi và
Trang 39những nước nhập khẩu dầu như Braxin, Chilê và các nước Trung Mỹ thì bị thiệt hại.
Một đặc điểm quan trọng nữa của thương mại năm
2000 là mức tăng trưỏng đáng kể của thương mại điện tử Một đánh giá của cơ quan Forester Research cho thấy thương mại điện tử đã vượt qua mức tiêu dùng trên mạng
và sẽ tăng với nhịp độ cao hơn Các phân tích cho thấy mức tăng hoạt động thương mại điện tử của châu Au sẽ từ 31,98 tỷ USD năm 1999 lên 2.340 tỷ USD năm 2004 Do
sự bùng nổ của kỹ thuật mối về thông tin, việc áp dụng kỹ
th u ật mới về tin học và liên lạc thông tin trong các xí nghiệp của các nước phát triển tăng lên nhanh chóng Chẳng hạn, các xí nghiệp của Mỹ dành tối 34 % đầu tư cho
kĩ nghệ tin học, tỷ lệ này của Pháp là 17 % Phương thức
B2B (business to business, hay kinh doanh trên mạng) đã trở thành phổ biến và đang tăng lên Thu nhập từ thương mại điện tử tăng mạnh nhất ở các nhà sản xuất máy vi tính, sách, ô tô và dược phẩm Theo tính toán của cơ quan
Goldman Sachs Research, doanh số kinh doanh trên mạng
của toàn th ế giới năm 2000 sẽ đạt 595 tỷ USD, tăng 164 %
so với năm 1999 Dự báo, kinh doanh điện tử trên mạng sẽ đạt doanh sô 1.234 tỷ USD năm 2001 và 7.572 tỷ USD năm 2005 Công ty IT Foster cho con số này là 1.500 tỷ USD, và tập đoàn Gartner tính là 992 tỷ USD cho năm
2004 Thương mại điện tử tăng phần nào cũng khiến mức cầu về hàng điện tử tăng và là dấu hiệu tốt cho những nước xuâ't khẩu hàng điện tử như các nước ở châu Á Ngoài châu Á đứng đầu về sản xuất và cung cấp thiết bị điện tử, châu Âu được dự báo là khu vực thứ hai vể mức tăng trưởng của ngành này
Trang 40Thương mại điện tử phát triển đã tác động sâu sắc đến nền kinh tê thế giới Một mặt, thương mại điện tử làm phân hoá các nền kinh tê khi tham gia nền kinh tê ảo “đốt com” Một sô" liệu thông kê cho thấy trong khi 2/3 hoạt động doanh nghiệp thương mại điện tử được thực hiện ở
Mỹ, quốc gia chiếm 4,55 % sô" dân thế giới vói 40% sô" dân kết nổi mạng Internet, các nước châu Á chiếm tới 61% sô" dân thê giới nhưng chỉ có 1,8% sô" dân tham gia mạng và
do đó chỉ có chưa tới 1% doanh thu thương mại điện tử ở châu Á Như vậy, có sự chênh lệch râ"t lốn về thương mại điện tử giữa hai khu vực Mặt khác, thương mại điện tử sẽ làm thu hẹp thương mại thông thường nhờ tăng cường sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà sản xuất với các nhà phân phối và giữa các nhà phân phôi và người tiêu dùng Sô" các siêu thị và trung tâm thương mại sẽ giảm dần vì con sô" những đơn đặt hàng ở trên mạng đang gia tăng Điều đó góp phần làm thị trường nhanh chóng được tổ chức lại và làm tăng thêm các vụ sáp nhập và mua lại của các công ty lớn trên th ế giới trong năm qua
Một điểu đáng chú ý là, tuy thương mại điện tử và nhu cầu vê hàng điện tử trên thê" giới đang tăng, cũng có ý kiến cho rằng bản thân ngành điện tử cũng có những bước thăng trầm trong sự phát triển chu kỳ của hàng hoá Ý kiến này lo ngại rằng sau khi phát triển đến đỉnh cao trong năm qua, chu kỳ phát triển của ngành điện tử toàn cầu cổ thể sẽ bị suy thoái vào năm tới và sẽ tác động đến triển vọng phát triển của các nước vốn gắn chặt với nhu cầu vê công nghệ thông tin Lý do là trong năm nay, hầu hết các công ty lớn về hàng điện tử và máy tính đều có