1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam

97 692 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Huyền Thương
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Thu Hương
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại đề tài tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 915,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Huyền Thương

Giáo viên hướng dẫn : TS Trịnh Thị Thu Hương

Hà Nội, 05/ 2009

Trang 2

2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển Châu Á

ASEAN Association of South Eest Asia Nations - Hiệp hội các quốc

gia Đông Nam Á BOJ Bank of Japan - Ngân hàng Trung ương Nhật Bản

ECB European Central Bank - Ngân hàng Trung ương Châu Âu

EU European Uninon - Liên minh Châu Âu

EUR Euro - đồng Euro

FAO Food and Agriculture Organization - Tổ chức nông lương

liên hợp quốc FDI Foreign Direct Invesment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FED Federal Reserve System - Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ

GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

IEA International Energy Agency - Cơ quan năng lượng quốc tế

IMF International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế

JPY Japanese Yen - Yên Nhật

M&A Mergers and Acquitions - Mua lại và sáp nhập

NDT Nhân dân tệ

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTƯ Ngân hàng Trung ương

OECD Organisation for Economic Co-operation and Development

- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OPEC Organization of Petroleum Exporting Countries - Tổ chức

các nước xuất khẩu dầu mỏ UNCTAD United Nations conference on Trade and Develọpment - Hội

nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển USD United States Dollar - đô la Mỹ

VNĐ Việt Nam Đồng

WTO World Trade Organisation - Tổ chức thương mại thế giới

XNK Xuất Nhập Khẩu

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 - 2008 4

I.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 - 2008 4

1.1Tình hình kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 4

1.1.1 Tình hình chung 4

1.1.2 Những khó khăn, thách thức 10

1.2.Tình hình kinh tế ở một số quốc gia và khu vực 11

1.2.1 Kinh tế Mỹ 11

1.2.2 Kinh tế Nhật Bản 12

1.2.3 Khu vực EU 13

1.2.4 Các nền kinh tế đang nổi ở Châu Á 14

II.Những biến động kinh tế thế giới nổi bật giai đoạn 2007 - 2008 15

2.1.Biến động giá cả hàng hóa quốc tế 15

2.1.1 Giá thép 15

2.1.2 Giá gạo 17

2.1.3 Giá dầu 20

2.1.4 Giá vàng Error! Bookmark not defined 2.2 Biến động thị trường tài chính tiền tệ năm 2007 26

2.2.1 Cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng ở Mỹ và Châu Âu 26

2.2.2 Diễn biến của một số đồng tiền 28

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 34

Trang 4

III.TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT

NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 34

1.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2008 34

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu 37

II ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2008 39

2.1 Ảnh hưởng của biến động giá cả hàng hóa quốc tế đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Việt Nam 39

2.1.1 Ảnh hưởng của giá thép 39

2.1.2 Ảnh hưởng của giá gạo 44

2.1.3 Ảnh hưởng của giá dầu 52

2.2 Ảnh hưởng của biến động thị trường tài chính tiền tệ đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam 57

2.2.1 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng ở Mỹ và Châu Âu 61

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 64

I.DỰ BÁO BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2009 64

1.1.Tình hình giá cả thế giới 64

1.1.1.Giá thép 64

1.1.2.Giá gạo 64

1.1.2.Giá dầu 65

1.1.2.Giá vàng Error! Bookmark not defined 1.2.Thị trường tài chính tiền tệ 66

Trang 5

1.2.1 Cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng ở Mỹ và Châu Âu 66

1.2.2 Diễn biến một số đồng tiền 66

2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 67

2.1 Giải pháp vĩ mô 67

2.1.1 Giải pháp đối phó với biến động giá cả hàng hóa quốc tế 67

2.1.2 Giải pháp đối phó với biến động trên thị trường tài chính tiền tệ 70 2.2.Giải pháp từ phía doanh nghiệp xuất nhập khẩu 75

2.2.1 Giải pháp đối phó với biến động giá cả hàng hóa quốc tế 75

2.2.2 Giải pháp đối phó với biến động trên thị trường tiền tệ 77

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực thương mại 6 Bảng 3 Tỷ lệ lạm phỏt năm ở Mỹ năm 2007 và 2008 12

Biểu đồ 1 Giá gạo thô kỳ hạn tại Chicago, Mỹ năm 2008 18 Biểu đồ 2 Giá dầu thế giới tháng 1/2007 – 4/2008 21 Biểu đồ 3 Giá dầu thế giới tính từ ngày 3/12/2007 đến ngày

15/12/2008 dựa trên giá dầu kỳ hạn đóng cửa tại thị trường New York

22

Biểu đồ 5 Diễn biến tỷ giá USD/EUR năm 2008 30 Biểu đồ 6 Đồ thị diễn biến đồng EUR so với 1 JPY năm 2008 31 Biểu đồ 7 Tỷ giá đồng JPY so với 1 USD năm 2007 32 Biểu đồ 8 Diễn biến đồng JPY so với 1USD năm 2008 33 Biểu đồ 9 Diễn biến lượng nhập khẩu thép năm 2007 và 10

tháng đầu năm 2008

43

Biểu đồ 10 Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam đi các thị

trường giai đoạn 2007-2008 (%)

Trang 7

1

LỜI MỞ ĐẦU

Giai đoạn 2007 - 2008 đã khép lại với những thăng trầm trong bức tranh kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế trên thế giới đã phải đối mặt với hàng loạt khó khăn và thách thức Thế giới đã được chứng kiến diễn biến giá cả hàng hóa leo thang và sụt giảm vượt xa mọi dự đoán Cuộc khủng hoảng lương thực, cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng, sự xuống dốc của thị trường chứng khoán và biến động trong hoạt động đầu tư quốc tế càng tô đậm thêm nét “bi tráng” của nền kinh tế toàn cầu giai đoạn này Suy thoái kinh tế, tình trạng thất nghiệp, lạm phát gia tăng, tình trạng thiếu thanh khoản, cũng như sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng quốc tế đã buộc nhiều nước phải thực hiện những hành động cứu vãn nền kinh tế quyết liệt chưa từng có Tất cả những điều đó đã làm nên một giai đoạn 2007 - 2008 đầy biến động và căng thẳng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế các quốc gia nói riêng

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt, khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế WTO, nền kinh tế Việt Nam cũng trở thành một “mắt xích” trong nền kinh tế toàn cầu Chính vì vậy, một sự chuyển mình của nền kinh tế thế giới cũng có thể có những ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế nước ta Để phản ứng tốt với các biến động kinh tế, cần nghiên cứu các sự kiện đó, phân tích, đánh giá các ảnh hưởng một cách cụ thể, chi tiết, dự báo được các sự kiện tương lai để đưa ra các giải pháp hữu ích Xuất phát từ cách tiếp cận đó, người viết đã chọn đề tài

“Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007- 2008 và ảnh hưởng đến

hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam” làm đề tài khóa luận

tốt nghiệp vì nhận thức được việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có tính thực tiễn cao

Trang 8

2

Khóa luận “Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 – 2008

và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam”

tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Tổng quan kinh tế thế giới năm giai đoạn 2007 - 2008 và các biến động kinh tế thế giới nổi bật trong giai đoạn này

- Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của từng biến động kinh tế thế giới đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của nước ta giai đoạn 2007 –

2008

Trên cơ sở những nghiên cứu, phân tích đó, người viết đưa ra các gợi ý giải pháp của Nhà nước cũng như của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm tận dụng những tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của các biến động kinh tế trong thời gian tới

Khóa luận chọn các biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 làm đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về mặt nội dung: Nghiên cứu diễn biến các sự kiện kinh tế thế giới

nổi bật giai đoạn 2007 - 2008 và phân tích các ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam

+ Về mặt không gian: Nghiên cứu tổng quan kinh tế thế giới trên nhiều

lĩnh vực chính như thương mại, thị trường tài chính tiền tệ, rồi đi sâu vào các

sự kiện nổi bật Đánh giá tác động của các sự kiện này đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2008

+ Về mặt thời gian: Nghiên cứu những biến động kinh tế thế giới nổi

bật và ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2008

Trang 9

3

Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo, bên cạnh việc sử dụng các phương pháp hệ thống, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để nghiên cứu các nội dung cụ thể

Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 Chương 2: Ảnh hưởng của những biến động kinh tế thế giới giai đoạn

2007 - 2008 đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nhằm đối phó với những biến động kinh tế

thế giới giai đoạn 2007 - 2008 đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam

Do điều kiện và khả năng có hạn nên khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn

Qua đây, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành sự nhiệt tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến của cô giáo - TS Trịnh Thị Thu Hương để có thể hoàn thiện khóa luận này Đồng thời gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công nhân viên Thư viện Quốc gia Hà Nội và Thư viện trường Đại học Ngoại Thương đã cung cấp rất nhiều số liệu và tài liệu quan trọng được sử dụng trong đề tài

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Huyền Thương

Trang 10

4

CHƯƠNG 1 NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 - 2008

I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN

2007 - 2008

1 Tình hình kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu khi bước sang thiên niên kỉ mới, giai đoạn 2007 - 2008 thực sự là cột mốc quan trọng, đánh dấu những biến động sâu sắc Giai đoạn này đã ghi nhận những thành quả đạt được rất đáng khích lệ Song cũng đặt ra bài toán hóc búa cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế trong việc thực thi những biện pháp nhằm vượt qua dư chấn của cơn bão khủng hoảng và giảm nhẹ đà suy thoái

Các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển 7,9 8,0 6,3

Các nước đang phát triển ở Châu Á 9,8 10,0 7,8

Nguồn: IMF (2009), “World Economic Outlook Update: Global Economic Slump Challenges Policies”, p.6 [56]

Trang 11

5

Theo bảng số liệu trên, năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu

đã có dấu hiệu chậm lại nhưng vẫn tiếp tục duy trì ở mức cao, đạt 5% (năm

2006 là 5,1%) Đây là năm thứ năm liên tiếp kinh tế thế giới có mức tăng trưởng khả quan, đánh dấu giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững nhất

kể từ đầu thập niên 70 [46]

Bước sang năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế mà tâm chấn của cơn suy thoái là kinh tế Mỹ, đã lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính Các nền kinh tế lớn đã phải đối mặt với hàng loạt khó khăn và thách thức Tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm còn 3,4%; so với năm 2007, mức tăng trưởng đã giảm xuống con số kỉ lục: 1,6%

Bảng số liệu đã phản ánh rõ nét sự sụt giảm trong mức tăng trưởng của hầu hết các khu vực kinh tế trên thế giới Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế phát triển đạt 2,6% và đạt 1,0% năm 2008, đánh dấu giai đoạn phát triển không mấy khả quan của các quốc gia trụ cột này Khu vực Châu

Âu cũng đã trải qua một giai đoạn khó khăn và chỉ đạt mức tăng trưởng 1,0% trong năm 2008 (năm 2007 là 2,6%)

Trong những „„mảng màu xám xịt‟‟ của bức tranh kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ngày càng khẳng định được vị thế và dần trở thành động lực chính của tăng trưởng kinh tế toàn cầu Tại khu vực Trung Đông, mức tăng trưởng đã tăng thêm 0,1% trong năm

2008, đạt 6,1% (năm 2007 là 6,0 %) Các quốc gia đang phát triển khác ở Châu Á cũng đạt mức tăng trưởng khả quan: 10% trong năm 2007, giảm nhẹ còn 7,8% năm 2008, góp phần giảm nhẹ ảnh hưởng của việc tăng trưởng yếu

ở Mỹ và Châu Âu

Trang 12

Các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển 11,0 9,5 5,6

Nguồn: IMF (2009), “World Economic Outlook Update: Global Economic Slump Challenges Policies”, p.6 [56]

Số liệu ở bảng 2 đã cho thấy tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế giai đoạn 2007 - 2008 giảm đáng kể so với năm trước: năm 2007 tốc độ tăng trưởng đạt 7,2% và năm 2008 chỉ đạt 4,1%, giảm hơn một nửa so với năm

2006 (9,3%) Mức tăng trưởng trong hoạt động nhập khẩu tại các nước phát triển năm 2007 đạt 4,5%, giảm 3% so với năm 2006 (7,5%), sụt giảm kỉ lục

và chỉ đạt 1,5% năm 2008 do chi tiêu dùng giảm mạnh Các quốc gia đang nổi

và đang phát triển vẫn đạt mức tăng trưởng hai con số: năm 2007 đạt 14,2%

và năm 2008 là 10,4%

Do sự tăng mạnh của giá cả hầu hết các loại hàng hóa và sự khó khăn của nền kinh tế, mức tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn này giảm mạnh so với năm 2006 Tăng trưởng trong hoạt động xuất khẩu tại các quốc gia phát triển

từ mức 8,4% năm 2006 đã giảm còn 5,9% năm 2007, năm 2008 chỉ đạt con số

Trang 13

7

khiêm tốn: 3,1% do các nền kinh tế lớn lâm vào khủng hoảng và suy thoái

Tại các quốc gia đang nổi và đang phát triển, năm 2007 mức tăng trưởng xuất

khẩu đạt 9,5% và năm 2008 giảm xuống còn 5,6%, xấp xỉ một nửa mức tăng

trưởng trong hoạt động xuất khẩu của năm 2006 (11%)

Sở dĩ có sự sụt giảm trong mức tăng trưởng của cả hoạt động kinh

doanh xuất khẩu và nhập khẩu ở tất cả các nền kinh tế giai đoạn này là do ảnh

hưởng từ các biến động kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực lên cán cân xuất

nhập khẩu của mỗi quốc gia Qua các số liệu trên có thể thấy rằng, tốc độ tăng

trưởng về xuất và nhập khẩu của các quốc gia đang phát triển và các thị

trường đang nổi luôn cao hơn nhóm các nước phát triển, và có tác động chi

phối lớn tới thực trạng thương mại thế giới trong những năm gần đây

Hợp tác quốc tế:

Các nền kinh tế trong tiến trình hội nhập quốc tế, xu thế chủ đạo là việc

ngày càng nhiều quốc gia tiến hành ký kết các FTA song phương, song song

với xu thế liên kết mang tính khu vực và đa phương vẫn tiếp tục được củng

cố Việc Hội nghị thượng đỉnh EU thông qua "Điều ước Lisbon" nhằm thay

thế "Điều ước hiến pháp EU", đã chứng tỏ việc EU đang tăng mạnh sức ảnh

hưởng trên vũ đài kinh tế quốc tế

Trên thế giới, sự hội tụ của một số tổ chức khu vực ngày càng tăng Hội

nghị thượng đỉnh liên minh Châu Phi thông qua "Tuyên ngôn Accra", nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của việc đẩy nhanh tiến trình nhất thể hóa chính trị, kinh

tế lục địa Châu Phi Khu vực ASEAN trong những năm gần đây được đánh

giá là khu vực kinh tế phát triển năng động và có nhiều khởi sắc Các quốc gia

trong khu vực đã ký kết hiến chương ASEAN và quyết định đẩy nhanh 5 năm

tiến trình thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (2015) đã tạo nên nguồn sinh

khí mới thúc đẩy hợp tác trong nội khối [38]

Lĩnh vực đầu tƣ:

Theo số liệu từ “Báo cáo đầu tư thế giới 2008: Các công ty xuyên quốc

Trang 14

8

gia và những thách thức về hạ tầng cơ sở” của UNCTAD công bố tại Giơnevơ ngày 24/9/2008, sau 4 năm tăng liên tiếp, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu năm 2007 tiếp tục tăng 30%, lên đến 1.833 tỷ USD, nhiều hơn con số kỷ lục đã được lập năm 2000 (1400 tỷ USD) khoảng hơn

400 tỷ USD, bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng bắt đầu xảy ra nửa cuối năm [58]

Luồng vốn FDI tới các nước phát triển trong năm 2007 tăng 17% đạt hơn 1000 tỷ USD, tăng gấp ba lần so với năm 2003, tuy nhiên vẫn thấp hơn mức đỉnh năm 2000 Mỹ tiếp tục là quốc gia thu hút nhiều FDI nhất thế giới, ước đạt khoảng 193 tỷ USD 25 quốc gia thành viên EU thu hút 40% tổng luồng vốn FDI toàn cầu trong năm 2007 Còn tại Nhật Bản, các luồng vốn thuần mà nước này tiếp nhận trong năm 2007 tăng gần 29 tỷ USD Trong số các nền kinh tế đang phát triển và quá độ, 3 nước và vùng lãnh thổ nhận được nhiều FDI nhất là Trung Quốc, Liên bang Nga và Hồng Kông Luồng vốn FDI đổ vào Trung Quốc, vốn là quốc gia tiếp nhận FDI nhiều nhất trong các nước đang phát triển, đã giảm nhẹ từ 69 tỷ USD năm 2006 xuống 67 tỷ USD năm 2007, song FDI vào Đặc khu hành chính Hồng Kông lại tăng từ 43 tỷ USD lên 54 tỷ USD Trong khi đó, FDI đổ vào Nga tăng 70% lên 50 tỷ USD, nhờ ngành công nghiệp năng lượng đang phát triển mạnh [1]

Tuy nhiên, do sự giảm sút của nền kinh tế toàn cầu, hoạt động FDI bắt đầu chững lại trong năm 2008 Trong nửa đầu năm 2008, giá trị các vụ M&A thấp hơn nửa cuối năm ngoái 29% UNCTAD ước tính, FDI toàn cầu trong năm 2008 đạt khoảng 1.600 tỷ USD, giảm 10% so với năm 2007 [1]

Xu hướng đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng nguồn tài nguyên tại các nước tiếp nhận đầu tư ngày càng phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển và đang chuyển đổi ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh đó, mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, các thị trường đang nổi tiếp tục trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong việc đa dạng hóa đầu tư vào

Trang 15

lệ thất nghiệp ở các nền kinh tế phát triển đã giảm và đạt mức trung bình là 5,4% Tỉ lệ thất nghiệp cao nhất là ở khu vực Trung Đông (11,8%) và Bắc Phi (10,9%) Tại các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu và Bắc Mỹ, tỉ lệ thất nghiệp năm 2007 là 6,2% [26]

Bước sang năm 2008, chịu tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế, bức tranh việc làm trên thế giới trở nên vô cùng ảm đạm Theo số liệu trong báo cáo “Những xu hướng lao động toàn cầu” (The global employment trends) của Văn phòng Lao động Quốc tế ILO năm 2009, tỉ lệ thất nghiệp cao nhất (10,3%) năm 2008 là ở Bắc Phi, tiếp đến là khu vực Trung Đông: 9,4%

Tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất trong năm 2008 là ở khu vực Đông Nam Á (3,8%) Tại các nước phát triển tỉ lệ tăng trưởng của các chỗ làm mới ở mức độ âm, tức là số chỗ làm mới được tạo ra ít hơn số những chỗ làm vừa bị xoá bỏ Trong khu vực sử dụng đồng Euro, theo số liệu của hãng Eurostat, tỉ lệ thất nghiệp trong tháng 12/2008 đã lên tới 8% (17,91 triệu người), cao nhất kể từ tháng 11/2006 [38]

Các chuyên gia cho rằng, nguyên nhân chính của tình trạng thất nghiệp giai đoạn này là những đợt cắt giảm nhân công liên tiếp từ các tập đoàn, hãng sản xuất với số lượng lớn

Lĩnh vực khoa học công nghệ:

Giai đoạn 2007 - 2008 đã chứng kiến nhiều phát minh sáng chế được

Trang 16

10

ứng dụng trong các lĩnh vực công nghệ cao, tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và y học Lĩnh vực khoa học công nghệ ngày càng được các quốc gia chú trọng, đầu tư cho cho nghiên cứu và triển khai (R&D) tăng mạnh Xu thế đầu tư, phát triển mới các trung tâm R&D (trước đây chỉ tập trung ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản, EU ) tại nhiều nước đang phát triển và các thị trường đang nổi như Trung Quốc, Ấn Độ… của các công

ty đa quốc gia đang trở nên phổ biến Các quốc gia đang phát triển đang có cơ hội tiếp cận và ứng dụng các phát minh, sáng chế, công nghệ mới từ các quốc gia phát triển thông qua sự chuyển giao công nghệ từ hoạt động FDI

tô, hàng không, du lịch,… đưa hàng loạt “đại gia” rơi vào tình trạng phá sản Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng cao Hiện tượng giá cả các mặt hàng tăng cao đột biến và tốc độ tăng trưởng cao, luồng vốn đổ vào lớn tại nhiều khu vực… đã khiến lạm phát gia tăng tại nhiều khu vực trên thế giới Trong khi đó nhiều biện phát kiềm chế lạm phát ở các nước đang phát triển tỏ ra không hiệu quả Tình trạng mất cân đối toàn cầu tiếp tục gây ra nhiều mối lo ngại

Ngày 30/7/2008 đánh dấu sự thất bại của Vòng đàm phán Doha sau gần

7 năm theo đuổi (khởi động từ tháng 11/2001) Hội nghị đã đạt được sự đồng thuận về 18 trong số 20 vấn đề, song bất đồng về mục 19 là cơ chế bảo vệ đặc biệt (SSM) cho nông dân nghèo Ngoài ra, Mỹ và EU cũng bất đồng với các nền kinh tế đang nổi về vấn đề cắt giảm thuế hàng công nghiệp Với thất bại này, các nước nghèo sẽ ít có cơ hội tiếp cận thị trường nông nghiệp của các

Trang 17

2 Tình hình kinh tế ở một số quốc gia và khu vực

2.1 Kinh tế Mỹ

Nền kinh tế số một thế giới đã trải qua một giai đoạn được đánh giá là đen tối nhất trong nhiều thập niên qua Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ mức 2,8% năm 2006 giảm còn 2,0% năm 2007 và năm 2008 chỉ đạt 1,1% [56]

Trong năm 2007, GDP của Mỹ đạt gần 13.900 tỷ USD, tăng 886 tỷ USD so với năm 2006 (13.014 tỷ USD) Xuất khẩu tăng 12,3%, đạt 1,48 tỷ USD, nhập khẩu tăng 5,6%, đạt 2,13 tỷ USD Thâm hụt ngân sách giảm mạnh, chỉ ở mức 163 tỷ USD so với mức 248,2 tỷ USD năm 2006 và chỉ xấp

xỉ 1/2 năm 2005 (318 tỷ USD) Theo số liệu của Bộ Thương mại Mỹ, kinh tế

Mỹ năm 2007 chỉ tăng trưởng 0,6% vào quý I, phục hồi vào quý II (3,8%), quý III (4,9%) và tụt dốc mạnh vào quý IV (0,6%) [51]

Năm 2008, sự giảm tốc mạnh của nền kinh tế đã gia tốc thành cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ thời kì đại suy thoái 1929 – 1933 Tình trạng rối loạn trong thị trường tín dụng đã dẫn tới chao đảo trên các thị trường chứng khoán ở Mỹ, chỉ số Down Jones liên tục giảm điểm Chính phủ Liên bang đã phải chi hàng tỷ USD (700 tỷ USD tính đến tháng 12/2008) và hàng loạt gói cứu trợ để giải cứu nền kinh tế “trong cơn hấp hối” Đầu năm đến tháng 9/2008 Fed đã 8 lần cắt giảm lãi suất, lãi suất cơ bản từ mức 5,25% chỉ còn 0,25% nhằm kích thích đầu tư và tiêu dùng cá nhân Chi tiêu dùng và hoạt

Trang 18

12

động xuất nhập khẩu đều giảm mạnh, quý IV xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 23,6%, do chi tiêu dùng giảm mạnh nên nhập khẩu cũng giảm tới 17,5% Tổng số các vụ phá sản tăng 30% (năm tài khóa 2007 là 775.344 vụ) lên mức 1,04 triệu vụ và số lượng doanh nghiệp phá sản tăng 49% trong năm tài khóa 2008 Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp tính tới 6/12/2008 đã lên tới 6,7%, mức cao nhất trong vòng 15 năm qua [27] Lạm phát năm 2007 ở mức thấp: 2,8%, giảm so với mức 3,24% năm 2006 tuy nhiên đã tăng trở lại vào năm 2008: 3,8% khi nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng [59]

2006 là 2,4%) Do nền kinh tế chìm vào suy thoái nên năm 2008 Nhật Bản đạt

mức tăng trưởng âm: - 0,3%, một mức sụt giảm kỉ lục [56]

Theo số liệu sơ bộ do văn phòng nội các Nhật Bản công bố, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong quý IV/2007 đã đạt mức tăng trưởng 3,7%, sau khi tăng 1,1% trong quý III, chủ yếu nhờ đầu tư doanh nghiệp tăng mạnh ở mức 2,9% và xuất khẩu ròng lớn do nhu cầu rất mạnh từ Châu Á và Châu Âu Chi tiêu tiêu dùng, chiếm khoảng 55% tổng sản phẩm trong nước của Nhật Bản, tăng 0,2% Trong cùng kỳ, xuất khẩu và nhập khẩu của Nhật Bản tăng lần

Trang 19

13

lượt 2,9% và 0,5% [47]

Ngày 17/11/ 2008 Nhật Bản chính thức thông báo suy thoái Xuất khẩu trong tháng 11/2008 đã giảm 26,7% so với cùng kỳ năm ngoái, do nhu cầu của tiêu dùng thế giới giảm Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc - đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, giảm 25%, mạnh nhất trong vòng 13 năm qua Ngoài sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng, các nhà xuất khẩu của Nhật Bản còn chịu áp lực từ sự lên giá mạnh của đồng JPY Từ đầu năm tới nay, đồng tiền này đã tăng giá 25% so với USD, do giới đầu tư Nhật Bản ồ ạt rút vốn về nước vì e ngại khủng hoảng ở các thị trường bên ngoài Hậu quả của việc khu vực kinh doanh suy thoái là tỷ lệ thất nghiệp tăng cao Bộ Nội vụ Nhật Bản ngày 26/12 cho biết, tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 11/2008 là 3,9% (2,56 triệu người), nhiều hơn 0,2% so với tháng 10/2008 Hàng loạt biện pháp kích thích kinh tế được nội các Nhật Bản thông qua, trong đó có chi ngân sách quốc gia 12.000 tỷ Yên (126 tỷ USD), tương đương khoảng 2% GDP Nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế, NHTƯ Nhật Bản (BOJ) đã hạ lãi suất cơ bản đồng Yên của nước này từ mức 0,3% về mức 0,1% Chính phủ Nhật tuyên bố sẽ mua vào khoảng 20.000 tỷ JPY (223 tỷ USD), trị giá cổ phiếu do các ngân hàng nắm

giữ để giúp các ngân hàng có thêm tiền mặt [48]

2.3 Khu vực EU

Năm 2007, khu vực EU vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao: 3,1%, trong

đó tăng trưởng của một số nền kinh tế chủ chốt vẫn được duy trì: Anh tăng trưởng 3,0%, Đức tăng trưởng 2,5%, Pháp: 2,2%, và Ý là 1,5% [56] Tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 7%, mức thấp nhất kể từ năm 2001 Đồng EUR lên giá so với USD có ảnh hưởng nhất định tới tình hình xuất khẩu và sản xuất công nghiệp, nhưng tổng cầu nội địa vẫn tăng 2,1%, với mức thặng dư thương mại là 191,4 tỷ USD (năm 2006: 119,4 tỷ USD) Lạm phát cơ bản ở khu vực duy trì ổn định, dưới 2% trong năm 2007 [4]

Khu vực EU đã trải qua một năm 2008 khó khăn với mức tăng trưởng

Trang 20

14

chỉ đạt 1,3% Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh nhất tới

EU khi làn sóng ngân hàng phá sản lan từ Mỹ sang Anh, Bỉ và phần còn lại của khu vực Mức tăng truởng của các nền kinh tế lớn trong khu vực sụt giảm mạnh: Anh: 0,7%, giảm 2,3% sau 1 năm, Pháp là 0,8%, thậm chí Ý đạt mức tăng trưởng âm: - 0,6% [56] Khủng hoảng tài chính đã khiến hàng loạt ngân hàng tại khu vực lâm vào cảnh vỡ nợ, các nền kinh tế rơi vào suy thoái như Tây Ban Nha, Đức v.v Ngày 11 và 12/12/2008 EU đã nhất trí thông qua gói

kế hoạch trị giá 200 tỉ EUR (tương đương gần 260 tỉ USD) với các mục tiêu

kích thích tiêu dùng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn khối [44]

2.4 Các nền kinh tế đang nổi ở Châu Á

Các nền kinh tế đang nổi ở Châu Á vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2007 và 2008 Nổi bật là ba quốc gia: Trung Quốc, Ấn Độ và Nga

Năm 2007, nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao nhất trong năm năm trở lại đây: 11,9%, Ấn Độ: 9,3 %, Nga tiếp tục tăng trưởng cao với mức tăng trưởng 8,1%, tăng 1,7 % so với năm 2006 (6,4%) [56] Năm 2007 GDP Trung Quốc đạt 3.280 tỷ NDT (481 tỷ USD), xếp thứ 4 thế giới, tổng kim ngạch thương mại đạt 2,175 ngàn tỷ USD, tăng 25,7 % so với năm 2006; thặng dư thương mại là 262,2 tỷ USD, tăng 47,7% so với năm

2006 (177,5 tỷ USD)[30] Ấn Độ vẫn tiếp tục mức tăng trưởng kinh tế thần kì với GDP đạt 1.171 tỷ USD Nga có dự trữ ngoại hối đạt 441,3 tỷ USD (xếp thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Nhật Bản) Trong 9 tháng đầu năm 2007, kim ngạch thương mại Nga đạt 379,6 tỷ USD, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm

2006 Theo số liệu của Cục Thống kê Liên bang Nga, tính đến ngày

1/10/2007, FDI vào Nga đạt 197,8 tỷ USD, tăng 52,2% so với năm 2006 [30]

Năm 2008, sự phát triển của kinh tế Trung Quốc vẫn được đánh giá là khả quan nhất với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9%, Ấn Độ là 7,3% và Nga chỉ đạt: 6,2% [56] Tuy nhiên, các nền kinh tế vẫn không thể miễn dịch khỏi

Trang 21

15

“hệ lụy” của cơn bão khủng hoảng toàn cầu, do động lực chính của tăng trưởng kinh tế là đầu tư và xuất khẩu ròng giảm mạnh vào những tháng cuối năm Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc tháng 11/2008 chỉ đạt 114,99 tỷ USD, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm ngoái Kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ tháng 11/2008 đạt 12,8 tỷ USD, giảm 12,3% so với mức 14,6 tỷ USD của tháng 10/2008 và giảm 6,84% so với mức 13,74 tỷ USD của tháng 9/2008 [14] Hiện tượng giá dầu sụt giảm mạnh cùng với đó là nhu cầu xây dựng đi xuống vào quý IV/2008 đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hai mặt hàng xuất khẩu chiến lược của Nga là dầu mỏ và kim loại, đồng rúp liên tục trượt giá đã đẩy kinh tế Nga rơi vào suy thoái Áp lực Lạm phát gia tăng do giá các loại hàng hóa tăng cao, lạm phát theo chỉ số giá bán buôn (WPI) tại Ấn Độ ngày 8/11/2008 ở mức 8,9%, lạm phát tại Nga tháng 7/2008 đạt mức 14%, cao gần gấp đôi so với mức 7,5% năm 2007 Chính phủ Ấn Độ đã chi gói cứu trợ trị giá 10 tỷ USD và Chính phủ Trung Quốc đã phải thông qua gói kích cầu trị giá 4.000 tỷ NDT (586 tỷ USD) nhằm kích thích tiêu dùng nội địa và giảm nhẹ sự phụ thuộc của nền kinh tế vào xuất khẩu [14]

II Những biến động kinh tế thế giới nổi bật giai đoạn 2007 - 2008

1 Biến động giá cả hàng hóa quốc tế

Giai đoạn 2007 - 2008 thế giới đã được chứng kiến sự biến động giá cả khó dự đoán của các loại hàng hóa trên quy mô toàn cầu Sự bùng nổ, tăng cao kỷ lục và sụt giảm nhanh của giá cả các mặt hàng gần đây lại tiềm ẩn nhiều điểm bất thường so với những chu kỳ tăng giá trước đó, vượt xa mọi dự đoán của các nhà kinh tế

1.2 Giá thép

Trong đà tăng chung của các loại hàng hóa, giá thép trên thị trường thế giới đã tăng gần gấp đôi kể từ đầu năm trong giai đoạn này Giá mặt hàng phôi thép, sản phẩm bán thành phẩm để chế tạo thép dài đã tăng hơn 40% trên

Trang 22

16

sở giao dịch LME thời điểm bắt đầu giao dịch hợp đồng kỳ hạn [14] Kể từ đầu năm 2007 đến tháng 8 năm 2008 mặt hàng thép trên thị trường thế giới liên tục tăng

Nguyên nhân đẩy giá thép tăng cao là do giá nguyên liệu thô leo thang

và nhu cầu tăng mạnh trên thế giới đặc biệt nhu cầu tiêu thụ thép từ Trung Quốc - nước tiêu thụ thép lớn nhất thế giới liên tục tăng nhanh là nguyên nhân chính khiến giá thép tăng mạnh

Bảy tháng đầu năm 2008, giá thép trên thị trường thế giới liên tiếp tăng mạnh Theo số liệu của MEPS, cơ quan chuyên dự báo về thị trường thép của Anh, giá thép thế giới tại Sở giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) cuối tháng

6 năm nay ở mức 1.200 USD/tấn, tăng so với 691 USD/tấn cách đó đúng 1 năm Giá phôi thép thời điểm này cũng đã tăng hơn 40% và liên tục trong quý III, giữ ở mức trung bình trên 1.000 USD/tấn [32]

Nguyên nhân là do giá nguyên liệu thô như quặng sắt, dầu mỏ, than đá… tăng cao, đẩy chi phí sản xuất lên Bên cạnh đó, nguồn cung hạn chế do các nhà sản xuất sử dụng chiến thuật giữ lợi nhuận cao bằng cách duy trì nguồn cung thấp trong khi triển vọng nhu cầu giảm Ngoài ra, hoạt động tái thiết lại các cơ sở hạ tầng bị tàn phá mạnh mẽ sau vụ động đất tại tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc - nước tiêu thụ nhiều thép nhất thế giới – đã ngốn một khối lượng thép lớn cùng với sự suy yếu của đồng USD cũng là những lý do đẩy giá thép tăng cao trên thị trường

Cuối quý III và Quý IV/2008: Giá thép trên thị trường thế giới giảm mạnh Giá thép xây dựng, loại thép được giao dịch chủ yếu trong hợp đồng dài hạn, giảm mạnh Dẫn đầu về sự sụt giảm này là thị trường Châu Á với mức sụt giảm 20% tại Trung Quốc và 12,5% tại Nhật Bản Giá thép phế liệu, loại thép được dùng làm nguyên liệu thô cũng giảm mạnh, sau khi tăng 80% trong năm 2007 Tại Trung Quốc, nước tiêu thụ thép lớn nhất thế giới, trong tháng 9/2008 giá bình quân các loại sắt, thép là: 5.670 NDT/tấn (khoảng 835

Trang 23

17

USD/tấn), giảm 5,9% so với tháng 8/2008 [32]

Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do dự trữ thép ở các quốc gia đạt mức cao khiến nhu cầu giảm do giá liên tục tăng ở các tháng trước và kinh tế toàn cầu đi xuống khiến cho các lĩnh vực tiêu thụ nhiều thép như đầu tư, xây dựng, bất động sản và công nghiệp ô tô đều sụt giảm mạnh Sự sụt giảm của ngành ôtô khi hoạt động kinh doanh của hầu hết các hãng và tập đoàn sản xuất xe hơi hàng đầu thế giới giảm mạnh và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính tiền tệ đã đẩy các “ đại gia xe hơi ” vào tình trạng làm

ăn thua lỗ, thậm chí đứng trên bờ vực phá sản đã tác động lớn đến thị trường

và giá thép thế giới

1.2 Giá gạo

Theo số liệu của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), giá gạo thế giới liên tục tăng cao trong giai đoạn 2007 - 2008 Trung bình, giá gạo tăng 16% trong 10 tháng đầu năm 2007 so với cùng kỳ năm 2006 Giá tăng chủ yếu đối với gạo tấm và gạo thơm Gạo A1 của Thái Lan đã tăng 23% từ tháng 9 đến tháng 12/07 Các loại gạo khác cũng tăng đáng kể, chẳng hạn như gạo 100% B của Thái tăng 13% lên 376 USD/tấn Vào thời điểm trước đây 1 năm (tháng 12/06), giá loại gạo này chỉ được chào ở mức 311 USD/tấn [52]

Giá gạo xuất khẩu của Mỹ cũng tăng cao Các loại gạo hạt dài đều có

xu hướng tăng giá sau khi Mỹ tuyên bố sản lượng giảm 3% trong năm 2007 Giá gạo N.2 4% tăng 18% từ 430 USD/tấn tháng 9/2007 lên 506 USD/tấn tháng 12/2007 Giá gạo của Ấn Độ, Pakistan và Việt Nam đều tăng kể từ tháng 9/2007, phản ánh tác động của các biện pháp hạn chế xuất khẩu trong bối cảnh nguồn cung khan hiếm mặc dù vào những tháng cuối năm, gạo của

vụ thu hoạch được đưa ra thị trường Gạo 25% tấm là loại gạo xuất khẩu phổ biến của các nước, được chào bán ở mức 342 USD/tấn, tăng 14-15% so với tháng 9/2007 [36]

Giá gạo thế giới năm 2008 đã tăng gần 62%, lên mức trung bình 607

Trang 24

18

USD/tấn so với mức trung bình 376USD/tấn năm 2007 Trong đó vào các tháng 4 và tháng 5 giá gạo đã tăng lên gần gấp 3 lần do tác động từ cơn sốt lương thực thế giới [45]

Biểu đồ 1: Giá gạo thô kỳ hạn tại Chicago, Mỹ năm 2008

Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn

Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy giá gạo thế giới liên tục biến động

và tăng cao nhất vào giữa tháng 4/2008 và đầu tháng 5/2008 Trong các tháng đầu năm 2008, giá gạo kỳ hạn trên thị trường Chicago liên tiếp thiết lập các mức cao lịch sử, trong bối cảnh nguồn cung gạo thế giới khan hiếm, cộng thêm những động thái nhằm hạn chế thương mại gạo của một số Chính phủ đã càng làm tăng thêm nỗi lo ngại về tình trạng an ninh lương thực Giá gạo kỳ hạn gần nhất trên thị trường Chicago đạt mức cao kỷ lục 22,58 USD/cwt vào ngày 23/4/2008, trong khi đầu năm chỉ là 14,62 USD/cwt Giá cả nhiên liệu

và lương thực leo thang đã đẩy giá gạo lên cao và nguồn cung bị đóng băng

do các quốc gia xuất khẩu lo ngại vấn đề an ninh lương thực đã đẩy giá gạo liên tục tăng Cuối tháng 5 đến tháng 6/2008 do cơn sốt giá lương thực “nguội

Trang 25

19

dần”, và thông tin về vụ mùa bội thu từ các nước xuất khẩu gạo lớn trên trên thế giới như Việt Nam, Thái Lan, … đã đẩy giá gạo giảm dần Tuy nhiên mức giá gạo trên thị trường vẫn cao hơn mức giá của 4 tháng đầu năm 2008 Trong các tháng 7/2008, đặc biệt trong tháng 8/2008 giá gạo liên tục giảm trong các phiên giao dịch trong tháng và giảm về mức giá tương đương tháng 3/2008 do nguồn cung dồi dào từ các nước xuất khẩu Giá gạo bắt đầu hồi phục đợt tăng giá của mình vào tháng giữa tháng 9 và tháng 10, đưa giá gạo về mức cao như giá cả vào tháng 5 Nguyên nhân là do giá giảm nên các nước xuất khẩu chỉ xuất khẩu cầm chừng

Bên cạnh đó, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng ở Mỹ

và châu Âu đã lan rộng toàn cầu khiến nhu cầu chi tiêu dùng giảm, ba tháng cuối năm giá gạo liên tục giảm so với các tháng trước Tháng 9/2008, giá gạo trắng 100% loại B của Thái Lan, loại gạo được coi là chuẩn của thế giới đã giảm gần 30% so với mức kỷ lục 1.080 USD/tấn thiết lập vào tháng 4/2008, đạt mức 735 USD/tấn Cuối tháng 10/2008, giá gạo 100% loại B giảm chỉ còn

580 USD/tấn và đánh dấu lần đầu tiên trong 7 tháng qua giá rớt xuống dưới ngưỡng 600 USD/tấn do nhu cầu mua gạo của khách hàng nước ngoài giảm dần Đến giữa tháng 11, giá gạo loại này đã giảm còn 530 USD/tấn và giảm thêm 10 USD/tấn xuống còn 520 USD/tấn vào ngày 17/12/2008 Giá gạo đã giảm đáng kể từ tháng 7/2008, nhưng vẫn cao so với mức trước khi diễn ra khủng hoảng, chỉ số giá gạo của FAO trong tháng 12/2008 cao hơn 28% so với năm 2005, và cao hơn 61% so với năm 2000 [36] Mức giá gạo trong các ngày giữa tháng 11/2008 và các ngày đầu tháng 12/2008 chưa đến 15USD/cwt Mức giá vào tháng 12/2008 khôi phục nhẹ do nguồn cung không còn dồi dào như vào vụ hè thu (tháng 6/2008) và nhu cầu về lương thực tăng

Cũng theo Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc FAO, có nhiều yếu tố

“nâng đỡ” và đẩy giá gạo thế giới tăng cao trong giai đoạn 2007 - 2008, bao gồm thời tiết, cán cân cung cầu, giá dầu và nhu cầu sử dụng năng lượng sinh

Trang 26

20

học [52] Cụ thể, FAO cho biết, nạn hạn hán đã gây ra sự suy giảm sản lượng ngũ cốc tại nhiều nước phát triển, đặc biệt là tại Australia và một số nước Châu Âu, khiến nhu cầu chuyển sang ăn gạo tăng nhanh Trong khi đó, giá dầu thế giới cao đã làm nhu cầu đối với năng lượng sinh học tăng và tác động nhiều đến chính sách xuất khẩu lương thực của Mỹ - nước xuất khẩu lương thực lớn của thế giới Kinh tế tăng trưởng cao tại các nước đang phát triển đã góp phần cải thiện đời sống của người dân nhưng cũng làm tăng nhu cầu đối với lương thực Sự cạnh tranh về quỹ đất giữa các loại cây nông nghiệp cùng một số yếu tố ngắn hạn khác cũng góp phần đẩy giá gạo thế giới tăng mạnh thời gian qua Thị trường gạo quốc tế đang đối mặt với tình trạng giá cả tăng cao là do nhu cầu đang vượt quá cung ứng Việc một số nước cung ứng gạo lớn trên thế giới quyết định hạn chế xuất khẩu khiến mậu dịch gạo toàn cầu năm 2008 suy giảm Trong khi các nước xuất khẩu hạn chế lượng xuất khẩu gạo thì các nước nhập khẩu lại đẩy mạnh mua gạo, qua đó cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa các nước nhập khẩu để có thể mua được gạo Đây cũng là yếu tố hậu thuẫn đắc lực cho việc giá gạo tăng cao

2.3 Giá dầu

Ngày nay trong bất kỳ một loại hàng hóa và dịch vụ nào cũng chứa một lượng chi phí dầu nhất định, tùy theo nhu cầu sử dụng chi phí lớn nhỏ cũng khác nhau Bên cạnh là nguồn nhiên liệu dùng trong tiêu dùng và đời sống hàng ngày, dầu mỏ còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp hoá dầu, nhất là nguyên liệu sản xuất sợi tổng hợp cho ngành công nghiệp, là chi phí đầu vào cho việc sản xuất kinh doanh các mặt hàng khác Nhu cầu sử dụng dầu mỏ ngày càng tăng cao trên thế giới Theo thống kê của IMF, giá dầu thô năm 2007 đã tăng lên 60% so với mức giá năm 2006

Trang 28

22

Chưa hết bàng hoàng với diễn biến giá dầu tăng cao vào năm 2007 thì thế giới lại tiếp tục chứng kiến sự biến động lên cao rồi giảm mạnh giá dầu trong một thời gian ngắn trong năm 2008

Biểu đồ 3: Giá dầu thế giới tính từ ngày 3/12/2007 đến ngày 15/12/2008 dựa trên giá dầu kỳ hạn đóng cửa tại thị trường New York

Nguồn: www.wtrg.com

Có thể phân tích diễn biến giá dầu năm 2008 theo 2 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Từ đầu năm đến tháng 7 năm 2008

Giá dầu trên thị trường tăng cao liên tục trong các tháng đầu năm 2008 Sau khi tăng liên tục từ giữa năm 2007, giá dầu đã gây sốc khi mở đầu năm

2008 bằng việc lần đầu tiên trong lịch sử chạm mốc 100 USD/thùng vào ngày 2/1/2008 - mốc giá chưa từng có kể từ khi mặt hàng này được đưa vào giao dịch kỳ hạn tại thị trường New York vào năm 1983 Kể từ đó giá dầu tăng cao không ngừng Giữa tháng 5/2008, thị trường dầu thô New York đóng cửa ở mức cao kỷ lục 125,8 USD/ thùng, sau khi cơ quan Năng lượng Quốc tế IEA công bố tính toán của cơ quan này về dự trữ các sản phẩm chưng cất tại các nước phát triển đã giảm 6,7% trong tháng 3/2008 so với cùng kỳ năm ngoái

Trang 29

23

Tính đến đầu tháng 7/2008, giá dầu thô thế giới đã tăng gấp rưỡi so với mức giá đầu năm 2008 và đạt mức giá đỉnh cao mọi thời đại: 147,27 USD/thùng vào ngày 11/07/2008 [32]

Sự tăng cao đột biến của giá dầu giai đoạn này do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, do hoạt động của giới đầu cơ dầu lửa Đây là lý do mà các

nhà quan sát và cả các nước xuất khẩu dầu cho là có ảnh hưởng mạnh nhất tới

sự leo thang mạnh mẽ của giá dầu trong năm nay Sự phát triển năng động của các nền kinh tế đang nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ…, sự vững vàng của kinh tế Châu Âu, và cuộc khủng hoảng tài chính chưa tác động quá nghiêm trọng tới kinh tế Mỹ… khiến các nhà đầu cơ cho rằng, nhu cầu sẽ tăng lên và giá dầu sẽ còn tăng Bởi vậy, lượng dầu được họ găm giữ là rất lớn Trong lúc nhu cầu về dầu mỏ đang lên cao nhưng lượng cung lại không đáp ứng đủ cầu

đã khiến cho giá dầu liên tiếp có những đợt tăng điểm

Thứ hai, do sự mất giá của đồng USD Dầu được định giá bằng USD do

vậy tỷ giá USD càng thấp thì giá dầu càng cao và ngược lại Nhiều nhà quan sát cho rằng, sự lệch pha trong chính sách tiền tệ của FED (liên tục hạ lãi suất USD) và ECB (chủ trương duy trì lãi suất đồng EUR ở mức cao), cộng với sự tương phản giữa hai bức tranh kinh tế Mỹ và Châu Âu, đã dẫn tới sự mất giá mạnh của USD trong thời gian nửa đầu năm nay Cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng ở Mỹ đã khiến cho giá trị đồng USD liên tục giảm giá so với các đồng tiền khác khiến giá dầu tăng cao không ngừng

Thứ ba, do xung đột vũ trang và bất ổn chính trị tại một số quốc gia

xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới Đây cũng là một “động cơ” khác cho “tên lửa” giá dầu Những sự kiện chính trị có tác động mạnh nhất tới giá “vàng đen” trong năm nay phải kể tới xung đột giữa Mỹ và Iran xung quanh chương trình hạt nhân của Iran, tình hình bất ổn ở nước sản xuất dầu lớn nhất Châu Phi Nigeria, xung đột Nga – Grudia,… Mỗi khi tình hình tại các khu vực này

có những diễn biến xấu là thị trường dầu thế giới lại chứng kiến một phiên

Trang 30

24

tăng giá mạnh Cụ thể, kỷ lục 147,27 USD/thùng của giá dầu đã được thiết lập đúng vào ngày mà giới đầu tư lo ngại Israel có thể tấn công Iran, làm gián đoạn hoạt động vận chuyển dầu qua Vịnh Ba Tư

Thứ tư, các dự báo giá dầu cũng có ảnh hưởng đáng kể tới diễn biến giá

trên thị trường giao dịch mặt hàng này Giữa lúc giá dầu đang tăng mạnh, các

dự báo đều dự đoán nhu cầu dầu của thế giới trong năm 2008 ở mức cao nên giá dầu sẽ tiếp tục tăng đã tác động lên tâm lý của giới đầu tư Cơ sở của các

dự báo này là tốc độ tăng trưởng năng động của kinh tế Ấn Độ, Trung Quốc Trong giai đoạn “sốt” giá dầu, những dự báo như vậy chẳng khác gì “thêm dầu vào lửa”

Thứ năm, sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán thế giới dưới

tác động của khủng hoảng tín dụng, đã thúc đẩy giới đầu tư chuyển một lượng vốn lớn sang thị trường hàng hóa để tìm kiếm mức lợi nhuận cao hơn Trên thị trường này, cùng với vàng, dầu thô là một trong hai kênh đầu tư được lựa chọn nhiều hơn cả

Thứ sáu, giá dầu mỏ tăng cao do một số yếu tố khác tác động đến giá

dầu như: thời tiết không thuận lợi tại các khu vực khai thác dầu mỏ, như tình hình thời tiết mưa bão trên vịnh Mexico - khu vực khai thác dầu chính của

Mỹ, mùa cao điểm lái xe ở Mỹ, các vụ đình công tại một số cơ sở khai thác dầu lớn, … cũng ảnh hưởng tới giá dầu

Giai đoạn 2: Từ tháng 8/2008 đến tháng 12/2008

Ngay sau ngày lập “đỉnh” hơn 147 USD/thùng, giá dầu thế giới đã bắt đầu quá trình “dò đáy” tới nay chưa có điểm dừng Ở giai đoạn thứ hai này, thị trường dầu thế giới ghi nhận một kỷ lục mới, ngược lại với những gì diễn

ra ở giai đoạn thứ nhất: Chỉ trong vòng khoảng 4 tháng, giá dầu đã giảm tới hơn 100 USD/thùng, tương đương hơn 70%, đánh dấu năm sụt giảm mạnh chưa từng có của nhiên liệu này Giá dầu thô giao tháng 9/2008 trên thị trường New York phiên vừa qua đã giảm tiếp 0,59 USD/thùng, tương đương

Trang 31

25

giảm 0,5%, xuống mức 118,58 USD/thùng Giá dầu thô giao tháng 10/2008 trên thị trường New York đã giảm tiếp 1,66 USD/thùng, tương đương 1,5%, xuống mức 106,23 USD/thùng Trong phiên giao dịch ngày 19/12/2008 tại thị trường New York - Mỹ, giá dầu đã xuống mức 33,87USD/thùng

Có thể thấy, giá dầu giảm thời kỳ này do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, thời kỳ đầu cơ hàng hóa đã đi vào hồi kết Cuộc khủng hoảng

tài chính leo thang và lan rộng ra phạm vi toàn thế giới đã trở thành nỗi lo chính của mọi quốc gia Tới quý IV/2008, ba nền kinh tế hàng đầu của thế giới là Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu đã lần đầu tiên rơi vào suy thoái kể từ Đại chiến Thế giới thứ hai Nhu cầu về dầu giảm mạnh ở các quốc gia Đây là yếu

tố chính khiến giá dầu sụt giảm

Thứ hai, do sự phục hồi của đồng USD Sự chao đảo của thị trường

toàn cầu đã thúc đẩy giới đầu tư tổ chức ở Mỹ rút vốn về nước Bên cạnh đó, khủng hoảng cũng thúc đẩy các nhà đầu tư quốc tế đổ vốn mạnh vào trái phiếu Chính phủ Mỹ - kênh đầu tư siêu an toàn Mặt khác, tương quan kinh tế xấu đi của Châu Âu tạo cơ sở cho sự thoái lui của đồng EUR Thêm nữa, tình trạng thắt chặt tín dụng khiến USD trở nên khan hiếm Những yếu tố này đã giúp USD lên giá mạnh so với Euro và đẩy giá dầu sụt giảm

Thứ ba, do thua lỗ trầm trọng trên thị trường chứng khoán và kẹt tiền

mặt nghiêm trọng, giới đầu tư quốc tế phải bán ra các loại hàng hóa để có tiền

bù lỗ Thời gian này, sự đi xuống của chứng khoán thường tạo áp lực mất giá cho hàng hóa, trong đó có dầu, thay vì là một yếu tố hỗ trợ như trước đây

Thứ tư, các dự báo giá dầu lúc này đã được điều chỉnh giảm mạnh

Việc các nền kinh tế hàng đầu suy thoái và các nền kinh tế đang nổi, đặc biệt

là Trung Quốc, Ấn Độ, và Nga, cũng phát đi những tín hiệu đáng lo ngại như sản xuất công nghiệp và xuất khẩu giảm tốc mạnh, niềm tin giới doanh nghiệp

sa sút… đã khiến giới quan sát không thể duy trì dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu và giá dầu cao như trước đây Các tổ chức có uy tín lớn như

Trang 32

26

2 Biến động thị trường tài chính tiền tệ

2.1 Cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng ở Mỹ và Châu Âu

Giai đoạn 2007 - 2008 đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính trên thị trường tài chính bắt nguồn từ Mỹ và lan rộng sang các quốc gia Châu Âu khác Căn nguyên của cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng trên thị trường cho vay cầm cố ở Mỹ, rồi lan sang lĩnh vực nhà đất và sau đó làm gián đoạn thị trường tài chính toàn cầu Cho vay dưới chuẩn (subprime rate) ồ

ạt và dễ dãi tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tại thị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách Dư nợ trong mảng này nhảy từ 160 tỷ USD của năm 2001 lên 540 tỷ vào năm 2004 và bùng nổ thành 1.300 tỷ vào năm 2007 Thị trường bất động sản trở nên sôi động hơn bao giờ hết Với mục đích giảm rủi ro cho những khoản vay bất động sản, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính đã tìm cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities - MBS) để phát hành trái phiếu ra thị trường Loại sản phẩm phái sinh này được đánh giá cao bởi các tổ chức định giá tín dụng, nên thanh khoản tốt Nhằm đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% (mức lãi suất được áp dụng từ năm 2003) lên 5,25% Việc lãi suất tăng, đã đẩy hàng triệu người vay nhà với mục đích đầu tư không thể trả

nợ do không thể bán được nhà Những bất ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm mạnh, thị trường nhà đất đóng băng sau một thời kỳ sốt dài Tính riêng năm 2007, số vụ xiết nợ thu nhà tăng vọt với 405.000 vụ, tăng 51% (năm 2006 là 268.532 vụ), và năm 2008 tăng lên thành

770.000 vụ [3]

Cuối năm 2007, hàng loạt các ngân hàng lớn ở phố Wall liên tiếp công

bố những khoản thâm hụt tài sản nhiều tỷ USD Tháng 10/2007, Merrill Lynch công bố khoản thâm hụt tài sản xấp xỉ 8 tỷ USD do nợ xấu từ cho vay

Trang 33

27

cầm cố, ngày 4/11, Citigroup công bố khoản lỗ lên tới 17 tỷ USD, Morgan Stanley lỗ 3,7 tỷ USD liên quan đến cho vay thế chấp trong tháng 9 và tháng 10/2007 Cuộc khủng hoảng lan từ thị trường bất động sản sang thị trường tín dụng và đã tràn sang nhiều nước Châu Âu khiến nhiều ngân hàng Châu Âu điêu đứng vì mua lầm "nợ xấu" của Mỹ Ngày 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thụy Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố Ngày 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock Ngày 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ EUR [2]

Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra vào ngày 7/9/2008, khi hai nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được Chính phủ tiếp quản để tránh bị phá sản Vào ngày 15/9/2008, Ngân hàng Đầu tư lớn thứ 4 nước Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ đôla Ngày3/10/2008, Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu hệ thống tài chính trị giá 700 tỷ USD Ngày 4/10/2008: Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã triệu tập cuộc họp thượng đỉnh khẩn cấp với lãnh đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh Châu Âu là Anh, Pháp, Đức và Ý Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý khủng hoảng, nhưng không thống nhất được một gói giải pháp tổng thể theo mô hình của Mỹ Ngày 5/10/2008 Bộ trưởng Tài chính Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiền gửi ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có giới hạn Trước tình hình khủng hoảng lan rộng, ngày 8/10/2008 trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, FED và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trung ương các nước khác

đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc

Trang 34

28

khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930 Tác động của cuộc khủng hoảng lan rộng khiến cho bức tranh nền kinh tế của Mỹ

và một số nước Châu Âu trở nên vô cùng tồi tệ và lâm vào suy thoái

2.2 Diễn biến của một số đồng tiền

a Tỷ giá USD/EUR

Mặc dù NHTƯ các nước có ý định đa dạng hóa dự trữ ngoại tệ cho nguồn dự trữ quốc gia, nhưng đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất so với các đồng tiền mạnh dao động trong khoảng 62 - 71% [32]

Từ đầu năm 2007 đến tháng 7/2008, các nhà đầu tư USD đã phải đối mặt với sự trượt dốc không phanh của USD so với đồng EUR

Bảng 4: Tỷ giá USD/EUR năm 2007 và 2008

Trang 35

29

năm 2007, USD đã bị mất giá 10% so với EUR Như vậy, trong 5 năm qua USD đã giảm giá 25% so với EUR Trong 6 tháng đầu năm 2008, đồng USD tiếp tục giảm giá mạnh trên thị trường thế giới USD giữ mức giá thấp kỷ lục

so với đồng EUR vào ngày 23/4/2008 theo tỷ giá 1,583 USD/ EUR và chưa

có chiều hướng tăng trở lại [60] Nguyên nhân chính khiến cho USD liên tục mất giá là do FED tiến hành cắt giảm lãi suất để vực dậy nền kinh tế Trong năm 2007, FED đã thực hiện 3 lần cắt giảm lãi suất Lần thứ nhất vào ngày 18/09/2007, FED cắt giảm lãi suất từ mức 5,25% xuống còn 4,75%, tiếp đó ngày 31/11/2007, lãi suất USD được hạ xuống 4,5% và trước sức ép kinh tế

Mỹ có khả năng rơi vào suy thoái, trong phiên họp ngày 11/12/2007, FED đã quyết định cắt giảm lãi suất chủ đạo từ mức 4,5% xuống 4,25% khiến đồng USD sụt giảm mạnh so với các đồng tiền khác Đồng USD tiếp tục đà trượt giá trong 7 tháng đầu năm 2008 Nguyên nhân là do tác động của cuộc khủng hoảng trên thị trường bất động sản, các khoản nợ khó đòi và khủng hoảng cho vay thế chấp và việc FED cắt giảm lãi suất 0,25% đã làm mất niềm tin của giới đầu tư vào đồng USD [32]

Biểu đồ 4: Diễn biến của EUR so USD

Nguồn: www.finance.yahoo.com

Trang 36

30

Quý III và Quý IV năm 2008, tỷ giá đồng USD so với EUR có phần hồi phục trên thị trường ngoại hối, từ mức 1,57564 USD đổi được 1 EUR trong tháng 7, sang tháng 8/2008, tỷ giá đã tăng lên 1,49561 USD/EUR và tiếp tục tăng mạnh vào tháng 9, tháng 10, 11 và 12 năm 2008, đặc biệt tháng 11/2008

tỷ giá chỉ còn 1,27492 USD “ăn”1 EUR [61] Có được sự tăng điểm này là do cuộc khủng hoảng trên thị trường tiền tệ đã đẩy các quốc gia Châu Âu chìm sâu vào suy thoái Đồng thời, ECB có khả năng sẽ cắt giảm lãi suất đồng EUR mạnh hơn nhằm giải cứu thị trường tài chính tiền tệ Bên cạnh đó, việc Chính phủ Liên Bang Mỹ tung ra các gói cứu trợ hàng ngàn tỷ USD để giải cứu nền kinh tế và bơm tiền qua hệ thống ngân hàng để tăng tính thanh khoản cho thị trường tài chính đã khiến đồng USD trở lại vị thế của mình Theo nguồn tin Reuters, các quỹ bảo hiểm rủi ro, các nhà tài chính doanh nghiệp và các tổ chức đầu tư cũng đang dịch chuyển các khoản đầu tư của mình theo hướng hồi phục giá trị USD

Biểu đồ 5: Diễn biến tỷ giá USD/EUR năm 2008

Nguồn: www.x-rates.com [61]

b Tỷ giá EUR/JPY

Đối với đồng yên (JPY), biến động của EUR là khá bất thường Mức dao động trong hai tháng đầu năm là không lớn, giảm xuống đáy ở mức 151,72 JPY đổi 1EUR Từ tháng 3/2007, EUR bắt đầu xu hướng tăng mạnh

mẽ so với JPY cho đến đầu tháng 7/2007, đạt mức đỉnh 1EUR đổi 168,73 JPY Sau đó, EUR lại giảm mạnh so với JPY xuống mức thấp nhất trong năm

Trang 37

31

là 1 EUR đổi 151,62 JPY vào ngày 16/08/2007 [62] Từ cuối tháng 8 đến hết năm 2007, xu hướng của EUR đối với JPY là tăng tương đối ổn định Đầu tháng 10/2007, ngân hàng ECB quyết định giữ nguyên lãi suất tiền gửi EUR ở mức 4%, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đi vay có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn vay, đầu tư mở rộng sản xuất Chính sự ổn định và chắc chắn trong đường lối lãnh đạo của ECB và sự tăng trưởng kinh tế cao ở khu vực Châu

Âu năm 2007 đã làm tăng lòng tin của giới đầu tư trong việc tiếp tục nắm giữ đồng EUR khiến đồng EUR tăng giá ổn định so với JPY những tháng cuối năm 2007

Trong năm 2008, 3 tháng đầu năm đồng EUR luôn ở mức thấp so với đồng JPY, từ mức 0,00629578 EUR đổi được 1JPY (1 EUR đổi được 158,87 JPY) vào tháng 1 đã nhanh chóng nâng điểm Quý II, trước khi đạt đỉnh vào tháng 7/2008 với mức 1EUR đổi được 168,347 JPY [63] Lý do cho việc đồng EUR tăng giá so với đồng JPY là chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế Nhật Bản đã lâm vào suy thoái và đạt mức tăng trưởng

âm, các chỉ số kinh tế liên tục tụt hạng đã khiến đồng JPY mất sức hấp dẫn, trong lúc khủng hoảng tài chính chưa ảnh hưởng mạnh đến khu vực Châu Âu những tháng đầu năm Tuy nhiên, đồng EUR đã có những đợt giảm điểm vào

4 tháng cuối năm do các nền kinh tế lớn của Châu Âu như lâm vào suy thoái

Biểu đồ 6: Đồ thị diễn biến đồng EUR so với 1 JPY năm 2008

Nguồn: www.x-rates.com [63]

Trang 38

32

c Tỷ giá JPY/USD

Năm 2007, xu hướng chung là JPY tăng giá so với USD, mặc dù có những đợt giảm giá vào quý I/2007 và Quý II/2007, với mức tỷ giá trên 120 SJP/USD, cụ thể tháng 6/2007 122,689 JPY đổi được 1 USD Tuy vậy, 4 tháng cuối năm đồng JPY liên tục tăng giá so với USD, khoảng 115 JPY “ăn”

1 USD, trong đó tháng 11 đạt mức tỷ giá cao nhất trong năm 111,065 JPY/USD và tháng 12/2007 là 112,544 JPY/USD [64] Lý do của việc đồng USD giảm giá trị so với đồng JPY là kinh tế Mỹ phục hồi kém, thị trường bất động sản Mỹ trì trệ, trong khi đó nền kinh tế Nhật Bản tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao Nhiều công ty Nhật và các nhà đầu tư đã tăng cường chuyển vốn

từ USD sang JPY làm cho đồng JPY tăng giá mạnh Trong tháng 11/2007, JPY đã tăng giá liên tục so với USD và đạt mức giá đỉnh 108,2 JPY/USD Tuy vậy, trong tháng cuối năm thì JPY lại có chiều hướng đi xuống do chịu

áp lực bởi sắc xanh của thị trường chứng khoán thế giới và lo ngại của giới đầu tư khi NHTƯ Nhật có ý định giữ nguyên lãi suất cơ bản đồng JPY

Biểu đồ 7: Tỷ giá đồng JPY so với 1 USD năm 2007

Nguồn: www.x-rates.com [64]

Bước sang năm 2008, Đồng JPY liên tục lên giá so với đồng USD, tính trung bình cả năm đồng yên tăng khoảng 25% so với USD Quý I năm 2008 ghi nhận mức giá thấp kỷ lục trong vòng 13 năm qua của đồng USD so với đồng Yên Nhật JPY với mức giá 99,59 JPY/USD vào ngày 31/3/2008 Quý II

và Quý III/2008, đồng USD lên giá với đồng JPY do kinh tế Nhật đang đương

Trang 39

33

đầu với cuộc suy thoái lớn nhất trong gần 2 thập kỷ, và do chính phủ Mỹ đang

có các chính sách giải cứu nền kinh tế, bình ổn thị trường Ba tháng cuối năm, đồng JPY đã kéo dài chuỗi lên điểm của mình với mức tỷ giá cao nhất của JPY so với USD vào tháng 12/2008, 91,2491 JPY/USD, so với mức 96,94 JPY/USD trong tháng 11/2008 do giới đầu tư ồ ạt rút vốn từ nước ngoài về do

lo sợ khủng hoảng kinh tế và do nền kinh tế Mỹ chìm vào suy thoái khiến đồng USD giảm mất sự hấp dẫn [65]

Biểu đồ 8: Diễn biến đồng JPY so với 1USD năm 2008

Nguồn: www.x-rates.com [65]

Trang 40

34

CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2007 – 2008 ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP

KHẨU CỦA VIỆT NAM

I TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP

KHẨU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2008

1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2008

Giai đoạn 2007 - 2008 có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển xã hội 5 năm 2006 – 2010 Đây là năm thứ hai, đối với hoạt động thương mại, nước ta được hưởng quy chế thành viên của WTO, điều này tạo cơ hội cho hàng hóa tiếp cận với thị trường thế giới, là

cơ hội cho nước ta tăng kim ngạch xuất khẩu Sau hai năm gia nhập tổ chức WTO, giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta giai đoạn này vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng vượt kế hoạch đặt ra

Theo Thông cáo báo chí về số liệu thống kê kinh tế xã hội năm 2007 của Tổng cục Thống kê thì giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước tính đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng (kể cả xuất khẩu dầu thô tăng 2,6%, do giá tăng) Có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị trên 1 tỷ USD là: Dầu thô 8,5 tỷ USD, dệt may 7,8

tỷ USD, giày dép gần 4 tỷ USD, thủy sản 3,8 tỷ USD, tăng 12,9%; sản phẩm

gỗ 2,4 tỷ USD, tăng 22,3%; điện tử máy tính 2,2 tỷ USD, tăng 27,5%; cà phê 1,8 tỷ USD, tăng 52,3%; gạo 1,4 tỷ USD, tăng 13,9%; cao su cũng đạt 1,4 tỷ USD, tăng 8,8%; than đá trên 1 tỷ USD, tăng 11,3% Thị trường xuất khẩu hàng hoá tiếp tục phát triển, hầu hết các thị trường lớn đều tăng so với năm

Ngày đăng: 17/04/2014, 13:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc An (2008a), “Kỷ lục FDI toàn cầu năm 2007 và dự báo năm 2008”, Ngoại Thương, (06), tr31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ lục FDI toàn cầu năm 2007 và dự báo năm 2008”, "Ngoại Thương
2. Quốc An (2008b), “Luận bàn về khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay”, Ngoại Thương, (29), tr 37-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay”, "Ngoại Thương
3. Th.S. Nguyễn Trí Bảo (2008), “ Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, (06), tr 71-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ”, Tạp chí "Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: Th.S. Nguyễn Trí Bảo
Năm: 2008
4. Vũ Bằng (2008), “Chọn ngoại tệ thanh toán: Chuyện lớn hay nhỏ”, Ngoại Thương, (03), tr4 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn ngoại tệ thanh toán: Chuyện lớn hay nhỏ”, "Ngoại Thương
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 2008
5. TS. Chu Đức Dũng (2008), “Tổng quan kinh tế thế giới năm 2007”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, (06), tr 15- 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh tế thế giới năm 2007”, Tạp chí "Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: TS. Chu Đức Dũng
Năm: 2008
6. Th.S. Lê Huyền Diệu (2008), “Diễn biến thị trường tài chính thế giới và một số đồng tiền chủ chốt - dự báo xu hướng năm 2008”, Tạp chí Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ, (3+4), tr 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến thị trường tài chính thế giới và một số đồng tiền chủ chốt - dự báo xu hướng năm 2008”, Tạp chí" Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ
Tác giả: Th.S. Lê Huyền Diệu
Năm: 2008
7. Phương Dung (2008) “Xuất khẩu năm 2007: Tám điểm vượt trội”, Thời báo Tài Chính Việt Nam, (1+2), tr11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu năm 2007: Tám điểm vượt trội”, "Thời báo Tài Chính Việt Nam
8. GS.TS. Đặng Đình Đào & TS. Thái Thanh Hà (2009), “Tổng quan về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2008 và triển vọng 2009”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển (03), tr 6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2008 và triển vọng 2009”, "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Tác giả: GS.TS. Đặng Đình Đào & TS. Thái Thanh Hà
Năm: 2009
9. TS. Nguyễn Thanh Đức (2008), “Kinh tế các nước phát triển năm 2007, đặc điểm và triển vọng”, Ngoại Thương, (3+4), tr 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế các nước phát triển năm 2007, đặc điểm và triển vọng”, "Ngoại Thương
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh Đức
Năm: 2008
10. Huy Hào (2008a), “Cải cách cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước”, Báo Đầu tư, (34), tr7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước”, Báo "Đầu tư
11. Huy Hào (2008b) “Tự chủ hơn cho Ngân hàng Nhà nước”, Báo Đầu tư, (34), tr14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự chủ hơn cho Ngân hàng Nhà nước”, Báo "Đầu tư
12. Thanh Hảo (2008), “Những nghịch lý trong xuất khẩu gạo”, Ngoại Thương, (03), tr 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghịch lý trong xuất khẩu gạo”, "Ngoại Thương
Tác giả: Thanh Hảo
Năm: 2008
13. Minh Hiền (2008a), “Thị trường dầu mỏ nóng bỏng với những kỷ lục”, Ngoại Thương, (14), tr 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường dầu mỏ nóng bỏng với những kỷ lục”, "Ngoại Thương
14. Minh Hiền (2008b), “Tổng quan tình hình kinh tế thế giới 2008 và triển vọng 2009”, Ngoại Thương, (3+4), tr 28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình kinh tế thế giới 2008 và triển vọng 2009”, "Ngoại Thương
15. HN (2008), “Thị trường thép thế giới 2007 và dự báo”, Ngoại Thương, (14), tr 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường thép thế giới 2007 và dự báo”, "Ngoại Thương
Tác giả: HN
Năm: 2008
16. TS. Hoàng Xuân Hòa (2009), “Một số tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, (01), tr 25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam”, Tạp chí "Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: TS. Hoàng Xuân Hòa
Năm: 2009
17. PGS. TS. Nguyễn Đắc Hưng (2008), “Những diễn biến chính gần đây của nền kinh tế thế giới và kinh nghiệm quốc tế trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô đối phó với lạm phát”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, (08), tr 15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những diễn biến chính gần đây của nền kinh tế thế giới và kinh nghiệm quốc tế trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô đối phó với lạm phát”, Tạp chí "Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Đắc Hưng
Năm: 2008
18. TS. Lý Minh Khải (2007), “Xuất nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2007: Băn khoăn và trông đợi”, Báo Tài Chính, (12), tr 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2007: Băn khoăn và trông đợi”, Báo "Tài Chính
Tác giả: TS. Lý Minh Khải
Năm: 2007
19. Hải Lý (2008), “Quan ngại lãi suất”, Thời báo kinh tế Sài Gòn, (17), tr 45-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan ngại lãi suất”, "Thời báo kinh tế Sài Gòn
Tác giả: Hải Lý
Năm: 2008
20. Th.S. Nguyễn Ngọc Mạnh (2008), “Kinh tế Mỹ năm 2007, dấu hiện của một cuộc suy thoái”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (03), tr 3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Mỹ năm 2007, dấu hiện của một cuộc suy thoái”, Tạp chí "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Th.S. Nguyễn Ngọc Mạnh
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1   Tốc độ tăng trưởng kinh tế  4 - Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 4 (Trang 6)
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực thương mại - Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực thương mại (Trang 12)
Biểu đồ 6: Đồ thị diễn biến đồng EUR so với 1 JPY năm 2008 - Những biến động kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2008 và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam
i ểu đồ 6: Đồ thị diễn biến đồng EUR so với 1 JPY năm 2008 (Trang 37)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w