- Trình bày được tác dụng của dòng điện đối với cơ thể con người, các trường hợp gây ra tai nạn về điện và các biện pháp kỹ thuật an toàn điện - Phân tích được các nguyên nhân gây ra hỏa
Trang 1Giáo trình an toàn điện
_
GIÁO TRÌNH AN TOÀN CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CÂP NGHỀ ĐIỆN
1 - MỤC TIÊU MÔN HỌC:
Học xong môn học này học viên có khả năng:
- Phát biểu đúng mục đích, ý nghĩa đối với công tác an toàn điện
- Trình bày được tác dụng của dòng điện đối với cơ thể con người, các trường hợp gây ra tai nạn về điện và các biện pháp kỹ thuật an toàn điện
- Phân tích được các nguyên nhân gây ra hỏa hoạn do điện
- Thực hiện đúng các biện pháp phòng chống cháy, nổ
- Sơ cứu nạn nhân khi bị tai nạn lao động: bị bỏng, chảy máu, gãy xương
- Cấp cứu được nạn nhân khi bị tai nạn về điện theo phương pháp hô hấp nhân tạo
2- NỘI DUNG MÔN HỌC:
Gồm 3 chương:
Chương 1: Nhập môn về khoa học bảo hộ lao động và vệ sinh lao động
Chương 2: Kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy và cấp cứu nạn nhân bị tai nạn lao độngChương 3: Kỹ thuật an toàn điện
1
Trang 2-Giáo trình an toàn điện
_
CHƯƠNG 1
NHẬP MÔN VỀ KHOA HỌC BẢO HỘ LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT BHLĐ
1.1.1 Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác bảo hộ lao động (BHLĐ)
a Mục đích, ý nghĩa của công tác BHLĐ
Mục đích của BHLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá trình sản xuất; tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau, giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng người lao động trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động
Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất nhằm bảo vệ yếu tố năng động, quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là người lao động Mặt khác, việc chăm lo sức khoẻ của người lao động mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho mọi người mà công tác BHLĐ mang lại còn có ý nghĩa nhân đạo
b Tính chất của công tác bảo hộ lao động
BHLĐ Có 3 tính chất chủ yếu là: Pháp lý, Khoa học kỹ thuật và tính quần chúng
- BHLĐ mang tính chất pháp lý
Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá chúng thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện Những chính sách, chế
độ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của Nhà nước
- BHLĐ mang tính KHKT
Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng
và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều dựa trên các cơ sở khoa học kỹ thuật.
2
Trang 3-Giáo trình an toàn điện
_
- BHLĐ mang tính quần chúng
BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và con người và trước hết là người trực tiếp lao động Nó liên quan với quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội Vì thế BHLĐ luôn mang tính quần chúng
Tóm lại: Ba tính chất trên đây của công tác bảo hộ lao động: tính pháp lý,
tính khoa học kỹ thuật và tính quần chúng có liên quan mật thiết với nhau và
hỗ trợ lẫn nhau
1.1.2 Điều kiện lao động và các yếu tố liên quan
a Điều kiện lao động nghề nghiệp có thể phân ra các loại sau:
Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất như các Điều kiện lao động là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xãhội được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, trình công nghệ, môi trường lao động, và sự sắp xếp bố trí cũng như các tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người tạo nên những điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người
Những công cụ và phương tiện lao động có tiện nghi, thuận lợi hay gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động cũng ảnh hưởng đến người lao động rất đa dạng như dòng điện, chất nổ, phóng xạ, Những ảnh hưởng đó còn phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sản xuất (thô sơ hay hiện đại, lạc hậu hay tiên tiến), môi trường lao động rất đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động lớn đến sức khoẻ của người lao động
b Các yếu tố nguy hiểm và có hại
Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, ta gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại Cụ thể là:Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi.Các yếu tố hoá học như hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ
Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi
do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh
3
Trang 4-Giáo trình an toàn điện
d Bệnh nghề nghiệp:
Bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại đối với người lao động được gọi là bệnh nghề nghiệp Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khoẻ một cách dần dần và lâu dài
1.1.3 Những nội dung chủ yếu của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động
Nội dung khoa học kỹ thuật chiếm một vị trí rất quan trọng, là phần cốt lõi
để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động
Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là lĩnh vực khoa học rất tổng hợp và liên ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên (như toán, vật
lý, hoá học, sinh học ) đến khoa học kỹ thuật chuyên ngành và còn liên quan đến các ngành kinh tế, xã hội, tâm lý học .Những nội dung nghiên cứu chính của Khoa học bảo hộ lao động bao gồm những vấn đề:
- Khoa học vệ sinh lao động (VSLĐ).
VSLĐ là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố có hại trong sản xuất đối với sức khoẻ người lao động, tìm các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp và nâng cao khả năng lao động cho người lao động
Nội dung của khoa học VSLĐ chủ yếu bao gồm :
+ Phát hiện, đo, đánh giá các điều kiện lao động xung quanh
+ Nghiên cứu, đánh giá các tác động chủ yếu của các yếu tố môi trường lao động đến con người
+ Đề xuất các biện pháp bảo vệ cho người lao động
+ Để phòng bệnh nghề nghiệp cũng như tạo ra điều kiện tối ưu cho sức khoẻ và tình trạng lành mạnh cho người lao động chính là mục đích của vệ sinh lao động
Cơ sở kỹ thuật an toàn
4
Trang 5-Giáo trình an toàn điện
_
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp, phương tiện, tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất đối với người lao động
Khoa học về các phương tiện bảo vệ người lao động
Ngành khoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những phương tiện bảo vệ tập thể hay cá nhân người lao động để sử dụng trong sản xuất nhằm chống lại những ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại, khi các biện pháp về mặt kỹ thuật an toàn không thể loại trừ được chúng Ngày nay các phương tiện bảo vệ cá nhân như mặt nạ phòng độc, kính màu chống bức xạ, quần áo chống nóng, quần áo kháng áp, các loại bao tay, giày, ủng cách điện là những phương tiện thiết yếu trong lao động
Ecgônômi với an toàn sức khoẻ lao động
Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người về giải phẩu, tâm lý, sinh lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất, đồng thời bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho con người
Ecgônômi tập trung vào sự thích ứng của máy móc, công cụ với người điều khiển nhờ vào việc thiết kế, tuyển chọn và huấn luyện Ecgônômi tập trung vào việc tối ưu hoá môi trường xung quanh thích hợp với con người và sự thích nghi của con người với điều kiện môi trường Ecgônômi coi cả hai yếu tố bảo
vệ sức khoẻ ngưòi lao động và năng suất lao động quan trọng như nhau
Trong Ecgônômi người ta thường nhấn mạnh tới khái niệm nhân trắc học Ecgônômi tức là quan tâm tới sự khác biệt về chủng tộc và nhân chủng học khi nhập khẩu hay chuyển giao công nghệ của nước ngoài
1.2 Kỹ thuật vệ sinh lao động (VSLĐ).
1.2.1 Đối tượng và nội dung của VSLĐ
Vệ sinh lao động là môn khoa học dự phòng, nghiên cứu điều kiện thiên nhiên, điều kiện sản xuất, sức khoẻ con người, ngưỡng sinh lý cho phép và những ảnh hưởng của điều kiện lao động, quá trình lao động, gây nên tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Trong đó vệ sinh lao động (VSLĐ) chủ yếu đi sâu
5
Trang 6-Giáo trình an toàn điện
_
nghiên cứu các tác hại nghề nghiệp, từ đó mà có biện pháp phòng ngừa các tác nhân có hại một cách có hiệu quả
Nội dung của VSLĐ bao gồm :
- Nghiên cứu đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất
- Nghiên cứu các biến đổI sinh lý, sinh hoá của cơ thể người
- Nghiên cứu việc tổ chức lao động và nghỉ ngơi hợp lý
- Nghiên cứu các biện pháp đề phòng tình trạng mệt mỏI trong lao động, hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố tác hạI nghề nghiệp trong sản xuất, đánh giá hiệu quả các biện pháp đó
- Qui định các chế độ bảo hộ lao động, các tiêu chuẩn vệ sinh, chế độ vệ sinh xí nghiệp và cá nhân
- Tổ chức khám tuyển và sắp xếp hợp lý công nhân vào làm việc ở các
bộ phận sản xuất khác nhau trong xí nghiệp
- Quản lý, theo dõi tình hình sức khoẻ công nhân, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp.Giám định khả năng lao động cho công nhân bị tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác
- Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp vệ sinh an toàn lao động trong sản xuất
1.2.2 Các tác hại nghề nghiệp
Các tác hại nghề nghiệp đối với người lao động có thể do các yếu tố vi khí hậu;
tiếng ồn và rung động; bụi; phóng xạ; điện từ trường; chiếu sáng gây ra
Các tác hại yếu tố vật lý, hoá học,sinh vật xuất hiện trong quá trình sản xuất
- Tác hại liên quan đến tổ chức lao động như chế độ làm việc, nghỉ ngơi không hợp lý,cường độ làm việc quá cao, thời gian làm việc quá dài…
- Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh an toàn như thiếu các thiết bị thông gió, chống bụi, chống nóng, chống tiếng ồn, thiếu trang bị phòng
hộ lao động, không thực hiện đúng và triệt để các qui tắc vệ sinh và an toàn lao động…
a Vi khí hậu.
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm các yếu tố nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối của không khí, vận tốc
6
Trang 7-Giáo trình an toàn điện
Tiếng ồn tác động trước hết đến hệ thần kinh trung ương,sau đó đến hệ thống tim mạch và nhiều cơ quan khác Tác hại của tiếng ồn chủ yếu phụ thuộc vào mức ồn Tuy nhiên tần số lặp lại của tiếng ồn, đặc điểm của nó cũng ảnh hưởng lớn đến người.Tiếng ồn liên tục gây tác dụng khó chịu ít hơn tiếng ồn gián đoạn Tiếng ồn có các thành phần tần số cao khó chịu hơn tiếng ồn có tần số thấp.Khó chịu nhất là tiếng ồn thay đổi cả về tần số và cường độ Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với cơ thể còn phụ thuộc vào hướng của năng lượng âm thanh tới, thời gian tác dụng, vào độ nhạy riêng của từng người cũng như vào lứa tuổi, giới tính và trạng thái cơ thể của ngưòi công
nhân
c Bụi
Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước lớn nhỏ khác nhau tồn tại lâu trong không khí dưới dạng bụi bay bay hay bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha như hơi, khói, mù Bụi phát sinh tự nhiên do gió bão, động đất, núi lửa nhưng quan trọng hơn là trong sinh hoạt và sản xuất của con người như từ các quá trình gia công, chế biến, vận chuyển các nguyên vật liệu rắn
Bụi gây nhiều tác hại cho con người mà trước hết là các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da, bệnh tiêu hoá…như các bệnh về phổi, bệnh viêm mũi, họng, phế quản, bệnh mụn nhọt, lở loét…
d Chiếu sáng.
7
Trang 8-Giáo trình an toàn điện
_
Chiếu sáng hợp lý không những góp phần làm tăng năng suất lao động mà còn hạn chế các tai nạn lao động, giảm các bệnh về mắt
e Phóng xạ.
Nguyên tố phóng xạ là những nguyên tố có hạt nhân nguyên tử phát ra các tia
có khả năng ion hoá vật chất, các tia đó gọi là tia phóng xạ Hiện tại người ta
đã biết được khoảng 50 nguyên tố phóng xạ và 1000 đồng vị phóng xạ nhân tạo Hạt nhân nguyên tử của các nguyên tố phóng xạ có thể phát ra những tia phóng xạ như tia α,β,γ tia Rơnghen, tia nơtơron…,những tia này mắt thường không nhìn thấy được, phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử
Làm việc với các chất phóng xạ có thể bị nhiễm xạ Nhiễm xạ cấp tính thường xảy ra sau vài giờ hoặc vài ngày khi toàn than nhiễm xạ 1 liều lượng nhất định (trên
200Rem).Khi bị nhiễm xạ cấp tính thường có những triệu chứng như :
- Da bị bỏng, tấy đỏ ở chổ tia phóng xạ chiếu vào
- Chức năng thần kinh trung ương bị rối loạn
- Gầy, sút cân, chết dần chết mòn trong tình trạng suy nhược…
Trường hợp nhiễm xạ cấp tính thường ít gặp trong sản xuất và nghiên cứu
mà chủ yếu xảy ra trong các vụ nổ vũ khí hạt nhân và tai nạn ở các lò phản ứng nguyên tử
Nhiễm xạ mãn tính xảy ra khi liều lượng ít hơn (nhỏ hơn 200 Rem) nhưng trong một thời gian dài và thường có các triệu chứng sau :
- Thần kinh bị suy nhược
- Rối loạn các chức năng tạo máu
- Có hiện tượng đục nhân mắt, ung thư da, ung thư xương
- Cần lưu ý là các cơ quan cảm giác của người không thể phát hiện được các tác động của phóng xạ lên cơ thể, chỉ khi nào có hậu quả mới biết được
1.3 Dụng cụ và biển báo an toàn.
1.3.1 Biện pháp an toàn đối với bản thân người lao động
- Thực hiện thao tác, tư thế lao động phù hợp, đúng nguyên tắc an toàn,tránh các tư thế cúi gập người, các tư thế có thể gây chấn thương cột sống, thoát vị đĩa đệm…
8
Trang 9-Giáo trình an toàn điện
_
- Bảo đảm không gian vận động, thao tác tối ưu, sự thích nghi giữa người
và máy…
- Đảm bảo các điều kiện lao động thị giác, thính giác, xúc giác…
- Đảm bảo tâm lý phù hợp, tránh quá tải, căng thẳng hay đơn điệu
1.3.2 Thực hiện các biện pháp che chắn an toàn.
Mục đích của thiết bị che chắn an toàn là cách li các vùng nguy hiểm đối với người lao động như các vùng có điện áp cao, có các chi tiết chuyển động, những nơi người có thể rơi, ngă
Yêu cầu đối với thiết bị che chắn là :
- Ngăn ngừa được các tác động xấu, nguy hiểm gây ra trong quá trình sản xuất
- Không gây trở ngại, khó chịu cho người lao động
- Không ảnh hưởng đến năng suất lao động, công suất thiết
bị Phân loại các thiết bị che chắn :
- Che chắn các bộ phận, cơ cấu chuyển động
- Che chắn các bộ phận dẫn điện
- Che chắn các nguồn bức xạ có hại
- Che chắn hào, hố, các vùng làm việc trên cao
- Che chắn cố dịnh, che chắn tạm thời
1.3.3 Sử dụng thiết bị và cơ cấu phòng ngừa.
Mục đích sử dụng thiết bị và cơ cấu phòng ngừa là để ngăn chặn các tác động xấu do sự cố của quá trình sản xuất gây ra, ngăn chặn, hạn chế sự cố lan rộng.Sự cố gây ra có thể do sự quá tải (về áp suất, nhiệt độ, điện áp…) hoặc
do các hư hỏng ngẫu nhiên của các chi tiết, phần tử của thiết bị
Nhiệm vụ của thiết bị và cơ cấu phòng ngừa là phải tự động loại trừ nguy
cơ sự cố hoặc tai nạn khi đối tượng phòng ngừa vượt quá giới hạn qui định
Thiết bị phòng ngừa chỉ làm việc tốt khi đã tính toán đúng ở khâu thiết kế, chế tạo và nhất là khi sử dụng phải tuân thủ các qui định về kỹ thuật an toàn
Phân loại thiết bị và cơ cấu phòng ngừa :
- Hệ thống có thể tự phục hồi lại khả năng làm việc khi đối tượng phòng ngừa đã trở lại dướI giới hạn qui định như van an toàn kiểu tải trọng, rơ le nhiệt…
- Hệ thống phục hồi lại khả năng làm việc bằng cách thay thế cái mới như cầu chì, chốt cắm…
9
Trang 10-Giáo trình an toàn điện
_ 1.3.4 Sử dụng các tín hiệu, dấu hiệu an toàn.
Tín hiệu an toàn nhằm mục đích:
- Báo trước cho ngườI lao động những nguy hiểm có thể xảy ra
- Hướng dẫn các thao tác cần thiết
- Nhận biết qui định về kỹ thuật và an toàn qua các dấu hiệu qui ước về màu sắc, hình vẽ (biển báo chỉ đường…)
Tín hiệu an toàn có thể dung :
- Độ tin cậy cao, ít nhầm lẫn
- Dễ thực hiện, phù hợp với tập quán, cơ sở khoa học kỹ thuật và yêu cầu của tiêu chuẩn hoá
1.3.5 Đảm bảo khoảng cách và kích thước an toàn.
Khoảng cách an toàn là là khoảng không gian tối thiểu giữa người lao động
và các phương tiện, thiết bị, hoặc khoảng cách nhỏ nhất giữa chúng với nhau để không bị tác động xấu của các yếu tố sản xuất như khoảng cách giữa đường dây dẫn điện đến người, khoảng cách an toàn khi nổ mìn, khoảng cách giữa các máy móc, khoảng cách trong chặt cây, kéo gỗ, khoảng cách an toàn về phóng xạ…
Tuỳ thuộc vào quá trình công nghệ, đặc điểm của từng loại thiết bị mà qui định các khoảng cách an toàn khác nhau
1.3.6 Thực hiện cơ khí hoá, tự động hoá và điều khiển từ xa
Đó là biện pháp nhằm giải phóng người lao động khỏi khu vực nguy hiểm , độc hại Các trang thiết bị cơ khí hoá, tự động hoá và điều khiển từ xa thay thế con người thực hiện các thao tác từ xa, trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm , đồng thời nâng cao được năng suất lao động
1.3.7 Trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân.
Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân là biện pháp bảo vệ bổ sung, hỗ trợ nhưng có vai trò rất quan trọng khi các biện pháp bảo vệ khác vẫn không đảm bảo an toàn cho người lao động, nhất là trong điều kiện thiết bị, công nghệ lạc hậu
10
Trang 11-Giáo trình an toàn điện
_
Các trang bị , phương tiện bảo vệ cá nhân có thể bao gồm :
- Trang bị bảo vệ mắt :các loại kính bảo vệ khác nhau
- Trang bị bảo vệ cơ quan hô hấp :mặt nạ, khẩu trang, bình thở…
- Trang bị bảo vệ cơ quan thính giác nhằm ngăn ngừa tiếng ồn.như nút bịt tai, bao úp tai
- Trang bị bảo vệ đầu, chân tay : các loại mũ, giày, bao tay
- Quần áo bảo hộ lao động : bảo vệ người lao động khỏi các tác động về nhiệt, về hoá chất, về phóng xạ, áp suất…
Trang bị phương tiện cá nhân phải được sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng nhà nước, việc cấp phát, sử dụng phải theo qui định của pháp luật Người
sử dụng lao động phải tiến hành kiểm tra chất lượng phương tiện bảo vệ cá nhân trước khi cấp phát và kiểm tra định kỳ theo tiêu chuẩn khi đưa vào sử dụng
1.3.8 Thực hiện kiểm nghiệm dự phòng thiết bị.
Kiểm nghiệm độ bền, độ tin cậy của máy móc, thiết bị, công trình, các bộ phận của chúng là biện pháp an toàn nhất thiết trước khi đưa chúng vào sử dụng.Mục đích của kiểm nghiệm dự phòng là đánh giá chất lượng của thiết bị về các mặt tính năng , độ bền, độ tin cậy để quyết định có đưa thiết bị vào sử dụng hay không Kiểm nghiệm dự phòng được tiến hành định kỳ, hoặc sau những kỳ sữa chữa, bão dưỡng
1.4 Nhận dạng các dụng cụ và biển báo an toàn
1.4.1 Phương tiện bảo vệ và dụng cụ kiểm tra điện
Phương tiện cách điện, tránh điện áp (bước, tiếp xúc, làm việc) gồm: sào cách điện, kìm cách điện, dụng cụ có tay cầm cách điện, găng tay cao su, ủng cao su, đệm cao
su cách điện
- Thiết bị thử điện di động, bút thử điện
- Bảo vệ nối đất di chuyển tạm thời, hàng rào, bảng báo hiệu
11
Trang 12-Giáo trình an toàn điện
_
Thiết bị và cơ cấu phòng ngừa
12
Trang 13-Giáo trình an toàn điện
_
1.4.5 Các tín hiệu, dấu hiệu an toàn
Các loại bảng báo hiệu sau:
Bảng báo trước:
“Điện thế cao - nguy hiểm” “Đứng lại - điện thế cao”
“Không trèo - nguy hiểm chết người” “Không sờ vào - nguy hiểm chết người”
Bảng cấm:
“Không đóng điện - có người đang làm việc”
“Không đóng điện - đang làm việc trên đường
Trang 14-Giỏo trỡnh an toàn điện
_
CHƯƠNG 3
KỸ THUẬT PHềNG CHÁY CHỮA CHÁY
VÀ CẤP CỨU NẠN NHÂN TAI NẠN LAO ĐỘNG
2.1 Kỹ THUÂT PHòNG CHáY CHữA CHáY
2.1.1 Khái niệm về cháy
- Sự cháy là quá trình lý hoá phức tạp mà cơ sở của nó là phản ứng ôxy hoá xảy ra
1 cách nhanh chóng có kèm theo sự toả nhiệt và phát ra tia sáng
- Trong điều kiện bình thờng, sự cháy xuất hiện và tiếp diễn trong tổ hợp gồm có chất cháy, không khí và nguồn gây lửa Trong đó chất cháy và không khí tiếp xúc với nó tạo thành hệ thống cháy, còn nguồn gây lửa là xung lợng gây ra trong hệ thống phản ứng cháy Hệ thống chỉ có thể cháy đợc với 1 tỷ lệ nhất định giữa chất cháy và không khí
- Quá trình hoá học của sự cháy có kèm theo quá trình biến đổi lý học nh chất rắn cháy thành chất lỏng, chất lỏng cháy bị bay hơi
Diễn biến quá trình cháy:
-Quá trình cháy của vật rắn, lỏmg, khí đều gồm có những giai đoạn sau:
• Ôxy hoá
• Tự bốc cháy
• Cháy
2.1.2 Nguyên nhân gây cháy
Điều kiện an toàn trong phòng cháy:
• Thiếu 1 trong 3 thành phần cần thiết cho sự phát sinh ra cháy
• Tỷ lệ của chất cháy và ôxy để tạo ra hệ thống cháy không đủ
• Nguồn nhiệt không đủ để bốc cháy môi trờng cháy
• Thời gian tác dụng của nguồn nhiệt không đủ để bốc cháy hệ thống cháy.-Do sự vi phạm các điều kiện an toàn sẽ phát sinh ra những nguyên nhân gây ra cháy Tuy nhiên những nguyên nhân gây ra cháy có rất nhiều và cũng khác nhau Những nguyên nhân đó cũng thay đổi liên quan đến sự thay đổi các quá trình kỹ thuật trong sản xuất và việc sử dụng các thiết bị, nguyên vật liệu, các hệ thống chiếu sáng đốt nóng,
-Có thể phân ra những nguyên nhân chính sau đây:
• Lắp ráp không đúng, h hỏng, sử dụng quá tải các thiết bị điện gây ra sự cố
14
Trang 15-Giỏo trỡnh an toàn điện
_
trong mạng điện, thiết bị điện,
• Sự h hỏng các thiét bị có tính chất cơ khí và sự vi phạm quá trình kỹ thuật,
vi phạm điều lệ phòng hoả trong quá trình sản xuất
• Không thận trọng và coi thờng khi dùng lửa, không thận trọng khi hàn,
• Bốc cháy và tự bốc cháy của 1 số vật liệu khi dự trữ, bảo quản không đúng (do kết quả của tác dụng hoá học )
• Do bị sét đánh khi không có cột thu lôi hoặc thu lôi bị hỏng
• Các nguyên nhân khác nh: theo dõi kỹ thuật trong quá trình sản xuất không
đầy đủ; không trông nom các trạm phát điện, máy kéo, các động cơ chạy xăng và các máy móc khác; tàng trữ bảo quản nhiên liệu không đúng
⇒ Tóm lại trên các công trờng, trong sinh hoạt, trong các nhà công cộng, trong sản xuất có thể có nhiều nguyên nhân gây ra cháy Phòng ngừa cháy là có liên quan nhiều tới việc tuân theo các điều kiện an toàn khi thiết kế, xây dựng và sử dụng các công trình nhà cửa trên công trờng và trong sản xuất
2.1.3-Tính chịu cháy và bốc cháy của cấu kiện xây dựng:
-Các kết cấu xây dựng và sự bảo vệ phòng chống cháy:
-Thiết kế đúng đắn các kết cấu xây dựng có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để đảm bảo an toàn phòng chống cháy và làm giảm thiệt hại do cháy gây ra Bởi vì thông thờng:
• Các kết cấu xây dựng làm từ vật liệu hữu cơ là 1 trong những nguyên nhân
làm phát sinh ra cháy và cháy lan
• Các kết cấu làm từ vật liệu vô cơ không cháy nhng lại tích luỹ 1 phần lớn nhiệt
lợng toả ra khi cháy; dần dần lợng nhiệt do các kết cấu tích luỹ sẽ tăng lên Khi nhiệt lợng tích luỹ đến 1 mức nhất định thì độ bền kết cấu sẽ giảm đến mức gây ra sụp đổ hoặc bị đốt nóng đến nhiệt độ có thể gây ra cháy ở các phòng bên cạnh
-Kinh nghiệm cho biết các kết cấu xây dựng đã đợc tính toán theo định luật cơ học, kết cấu đứng vững đợc trong nhiều năm có thể bị sụp đổ trong vòng vài chục phút khi cháy xảy ra Nhng trong 1 số trờng hợp, chính các kết cấu xây dựng lại đợc coi nh công cụ phòng chống cháy Bất kỳ kết cấu bao che nào trong 1 chừng mực nhất
định cũng hạn chế đợc sự cháy lan
-Nh vậy thiết kế và xây dựng đúng đắn các kết cấu xây dựng đều có liên quan chặt chẽtới việc phòng cháy và hạn chế cháy truyền lan
-Tính bốc cháy của vật liệu xây dựng:
-Ngời ta chia tất cả các vật liệu xây dựng nhà cửa và kết cấu của công trình ra làm
3 nhóm theo tính bốc cháy của nó:
15
Trang 16-Giỏo trỡnh an toàn điện
những vật liệu dễ cháy nhng đợc bảo quản bằng tráp ốp ngoài bằng vật liệu không cháy
+ Nhóm vật liệu dễ cháy:
-Là các vật liệu cháy thành ngọn lửa, cháy âm ỉ dới tác dụng của ngọn lửa hoặc nhiệt độ cao, sau khi lấy nguồn đi rồi vẫn tiếp tục cháy hoặc cháy yếu Đó là tất cả các chất hữu cơ
2.1.4-Tính chịu cháy của các kết cấu xây dựng:
-Là khả năng giữ đợc độ chịu lực và khả năng che chở của chúng trong các điều kiện cháy
• Mất khả năng chịu lực khi cháy tức là khi kết cấu xây dựng bị sụp đổ Trong những trờng hợp đặc biệt khái niệm mất khả năng chịu lực đợc xác định chính xác hơn và nó phụ thuộc vào đại lợng biến dạng của kết cấu khi cháy mà vợt qua
đại lợng đó kết cấu mất khả năng sử dụng tiếp tục
• Mất khả năng che chở của kết cấu khi cháy là sự đốt nóng kết cấu đến nhiệt độ mà vợt qua nó có thể gây ra tự bốc cháy vật chất ở trong các phòng bên cạnh hoặc tạo ra khe nứt, qua đó các sản phẩm cháy có thể lọt qua
• Tính chịu cháy của các kết cấu xây dựng đợc đặc trng bởi giới hạn chịu cháy.Giới hạn chịu cháy là thời gian qua đó kết cấu mất khả năng chịu lực hoặc che chở Giới hạn chịu cháy đợc đo bằng giờ hoặc phút; chẳng hạn: giới hạn chịu cháy của cột bằng 2 giờ tức là sau 2 giờ cột bắt đầu sụp đổ dới chế độ nhiệt nhất
định trong các điều kiện cháy
• Các kết cấu xây dựng đạt tới giới hạn chịu cháy tức là khi chúng mất khả năng chịu lực hoặc che chở khi cháy xảy ra hoặc chúng bị đốt nóng đến nhiệt độ xác định gọi là nhiệt độ tới hạn tth
Gọi giới hạn chịu cháy của các kết cấu thiết kế hoặc đang sử dụng là giới hạn chịu cháy thực tế, ký hiệu Ptt
Giới hạn chịu cháy của các kết cấu xây dựng yêu cầu bởi quy phạm hoặc
16
Trang 17-Giỏo trỡnh an toàn điện
_
xác định bởi các điều kiện an toàn là giới hạn chịu cháy yêu cầu, ký hiệu Pyc
→ Điều kiện an toàn đợc thỏa mãn nếu tuân theo điều kiện sau đây: Ptt ≥ Py
2.1.5-Các biện pháp phòng ngừa:
-Phòng ngừa hoả hoạn trên công trờng tức là thực hiện các biện pháp
nhằm:
• Đề phòng sự phát sinh ra cháy
• Tạo điều kiện ngăn cản sự phát triển ngọn lửa
• Nghiên cứu các biện pháp thoát ngời và đồ đạc quý trong thời gian cháy
• Tạo điều kiện cho đội cứu hoả chữa cháy kịp thời
-Chọn các biện pháp phòng cháy phụ thuộc vào:
• Tính chất và mức độ chống cháy (chịu cháy) của nhà cửa và công trình
• Tính nguy hiểm khi bị cháy của các xí nghiệp sản xuất (quy trình sản xuất)
• Sự bố trí quy hoạch nhà cửa và công trình
• Điều kiện địa hình,
-Tiêu diệt nguyên nhân gây ra cháy:
+ Biện pháp kỹ thuật và biện pháp kết cấu:
-Khi thiết kế quá trình thao tác kỹ thuật phải thấy hết khả năng gây ra cháy nh phản ứng hoá học, sức nóng tia mặt trời, ma sát, va chạm, sét hay ngọn lửa, để có biện pháp an toàn thích đáng; đặt dây điện phải đúng theo quy tắc an toàn
-Tổ chức đội cứu hoả
+ Biện pháp sử dụng và quản lý:
-Sử dụng đúng đắn máy móc, động cơ điện, nhiên liệu, hệ thống vận chuyển
-Giữ gìn nhà cửa, công trình trên quan điểm an toàn phòng hoả
-Thực hiện nghiêm chỉnh biện pháp về chế độ cấm hút thuốc lá, đánh diêm, dùng lửa
ở những nơi cấm lửa hoặc gần những vật liệu dễ cháy
- Cấm hàn điện, hàn hơi ở những nơi phòng cấm lửa
2.1.6-Hạn chế sự cháy phát triển:
-Quy hoạch phân vùng xây dựng 1 cách đúng đắn:
17
Trang 18-Giỏo trỡnh an toàn điện
_
-Bố trí và phân nhóm nhà trong khu công nghiệp, công trờng tuân theo khoảng cách chống cháy Khoảng cách chống cháy ở giữa các nhà và công trình công nghiệp, nông nghiệp, kho chứa, giữa các nhà ở và công cộng, đợc xác định trong quy phạm phòng cháy Đó là những khoảng cách tối thiểu để đảm bảo cho công trình bên cạnh khỏi bị cháy lan, do cờng độ bức xạ nhiệt khí cháy trong 1 thời gian nhất định đủ để đa lực lợng và công cụ chữa cháy đến
-Đối với nhà cửa, kho tàng nguy hiểm dễ sinh
ra cháy nh kho nhiên liệu, thuốc nổ, phải bố
trí cuối hớng gió,
-Dùng vật liệu không cháy hoặc khó cháy:
-Khi bố trí thiết bị kho tàng, nhà cửa, láng trại, xí nghiệp, phải căn cứ vào đặc điểm của quá trình thao tác và sự nguy hiểm do hoả hoạn gây ra để chọn vật liệu có độ chịu cháy và hình thức kết cấu thích hợp
-Bố trí chớng ngại vật phòng cháy:
-Bố trí tờng phòng cháy, đài phòng cháy, bể chứa nớc , hoặc trồng cây xanh
2.1.7-Các biện pháp chuẩn bị cho đội cứu hoả:
-Để tạo cho đội cứu hoả chữa cháy đợc nhanh chóng và kịp thời cần phải chuẩn bị 1
số công việc sau đây:
• Làm đờng đặc biệt có đủ độ rộng thuận tiện cho ôtô cứu hoả đi lại dễ dàng
• Làm đờng tới những nơi khó đến, đờng tới nguồn nớc,
• Bảo đảm tín hiệu báo tin cháy và hệ thống liên lạc Hệ thông liên lạc có thể dùng máy thông tin liên lạc điện thoại, tín hiệu báo tin cháy có thể dùng tín hiệu báo cháy bằng điện hoặc phát hiện tín hiệu âm thanh và ánh sáng
2.1.8 Các biện pháp chữa cháy
-Nớc có tỷ nhiệt rất cao, khi bốc hơi nớc có thể tích lớn gấp 1700 lần thể tích ban
đầu Nớc rất dễ lấy, dễ điều khiển và có nhiều nguồn nớc
-Đặc điểm chữa cháy bằng nớc:
18
Trang 19-Giỏo trỡnh an toàn điện
l Cần chú ý rằng:
• Khi nhiệt độ đám cháy đã cao quá 1700oC thì không đợc dùng nớc để dập tắt
• Không dùng nớc chữa cháy các chất lỏng dễ cháy mà không hoà tan vớiNớc nh xăng, dầu hoả,
-Nhợc điểm chữa cháy bằng nớc:
-Nớc là chất dẫn điện nên chữa cháy ở các nhà, công trình có điện rất nguy hiểm, không dùng để chữa cháy các thiết bị điện
-Nớc tác dụng với K, Na, CaO sẽ tạo ra sức nóng lớn và phân hoá khi cháy nên
có thể làm cho đám cháy lan rộng thêm
-Nớc tác dụng với axít H2SO4 đậm đặc sinh ra nổ
-Khi chữa cháy bằng nớc có thể làm h hỏng vật cần chữa cháy nh th viện, nhà bảo tàng,
-Phơng pháp tới nớc vào đám cháy:
-Tới nớc vào đám cháy có thể thự hiện bằng các vòi phụt mạnh hoặc phun với các tia nhỏ dới hình thức ma:
Để tạo ra các vòi phụt mạnh có thể dùng các ống phụt (vòi rồng) cầm tay
và ống phụt có giá Các vòi nớc phụt mạnh có đặc điểm là diện tích tác dụng nhỏ, tốc độ lớn, sức phụt xa tập trung một khối nớc lớn lên 1 diện tích nhỏ Ngoài tác dụng làm mạnh, vòi nớc phụt mạnh còn có tác dụng phân tích vật cháy ra những phần nhỏ, tách ngọn lửa khỏi vật cháy Vòi nớc phụt mạnh nên áp dụng để chữa cháy các vật rắn có thể tích lớn, chữa các đám cháy ở trên cao và xa
không thể đến gần đợc, những chổ hiểm hóc, để làm nguội các kết cấu và thiết bị
Để tạo ra các tia nớc phun ma có thể dùng ống phun ma cầm tay, ống phụt để tạo ra các tia nớc nhỏ dới áp suất lớn ở các đầu vòi phun, miệng phun hình cầu
xoắn, các loại vòi này thờng sử dụng ở trong hệ thống chữa cháy tự động Tới nớc dới hình thức phun ma có u điểm làm tăng bề mặt tới và giảm lợng nớc tiêu thụ Thờng áp dụng chữa cháy các chất nh than, vải, giấy, phốt pho, các chất chất rời rạc, chất có sợi, chất cháy lỏng và dễ làm nguội bề mặt kim loại bị nung nóng
19
Trang 20-Giỏo trỡnh an toàn điện
_
*) Chữa cháy bằng bọt:
Bọt chữa cháy là các loại bọt hoá học hay bọt không khí, có tỷ trọng từ 0.1-0.26 chịu đợc sức nóng Tác dụng chủ yếu của bọt chữa cháy là cách ly hổn hợp cháy với vùng cháy, ngoài ra có tác dụng làm lạnh
-Bọt là 1 hỗn hợp gồm có khí và chất lỏng Bọt khí tạo ra ở chất lỏng do kết quả của các quá trình hoá học hoặc hỗn hợp cơ học của không khí với chất lỏng Bọt rất bền với nhiệt nên chỉ cần 1 lớp mỏng từ 7-10cm là có thể dập tắt ngay đám cháy
-Bọt hoá học:
-Thờng đợc tạo thành từ chất bọt gồm từ các loại muối khô: Al2(SO4)3, Na2CO3
và các chất chiết của gốc thực vật hoặc chất tạo bọt khác và nớc
-Bọt hoá học dùng để chữa cháy dầu mỏ và các sản phẩm dầu, các hoá chất chất rất
tốt Không đ ợc dùng bọt hoá học để chữa cháy:
• Những nơi có điện vì bọt dẫn điện có thể bị điện giật
• Các khi loại K, Na vì nó tác dụng với nớc trong bọt làm thoát khí H2
-Chữa cháy bằng các chất khí trơ:
-Các loại khí trơ dùng vào việc chữa cháy là N2, CO2 và hơi nớc Các chất chữa
cháy này dùng đẻ chữa cháy dung tích vì khi hoà vào các hơi khí cháy chúng sẽ làm giảm nồng độ ôxy trong không khí, lấy đi 1 lợng nhiệt lớn và dập tắt phần lớn các chất cháy rắn và lỏng (tác dụng pha loãng nồng độ và giảm nhiệt)
-Do đó có thể dùng để chữa cháy ở các kho tàng, hầm ngầm nhà kín, dùng để chữa cháy điện rất tốt Ngoài ra dùng để chữa các đốm cháy nhỏ ở ngoài trời nh dùng khí CO2 để chữa cháy các động cơ đốt trong, các cuộn dây động cơ điện, đám cháy dầu loang nhỏ
-Nó có u điểm không làm h hỏng các vật cần chữa cháy Tuy nhiên không đợc dùng trong trờng hợp nó có thể kết hợp với các chất cháy để tạo ra hổn hợp nổ, không có khả năng chữa đợc các chất Na, K, Mg cháy
20
Trang 21-Giỏo trỡnh an toàn điện
_
→Ngoài những chất trên, ngời ta còn dùng cát, đất, bao tải, cói, để dập tắt những đám cháy nhỏ Đối với đám cháy lớn dùng những chất này không hiệu quả
-Bình chữa cháy bọt hoá học O Π3:
-Vỏ bình làm bằng thép hàn chịu đợc áp suất 20KG/cm2, có dung tích 10 lít trong
đó chứa dung dịch kiềm Na2CO3với chất tạo bọt chiết từ gốc cây
-Trong thân bình có 2 bình thuỷ tinh: 1 bình chứa đựng acid sulfuaric nồng độ 65.5
độ, 1 bình chứa sulfat nhôm nồng độ 35 độ Mỗi bình có dung tích khoảng 0.45-1 lít Trên thân bình có vòi phun để làm cho bọt phun ra ngoài Khi chữa cháy đem bình
đến gần đám cháy cho chốt quay xuống dới, đập nhẹ chốt xuống nền nhà Hai dung dịch hoá chất trộn lẫn với nhau, phản ứng sinh bọt và hớng vòi phun vào
đám cháy Loại bình này tạo ra đợc 45 lít bọt trong 1.5phút, tia bọt phun xa đợc 8m
Bình chữa cháy tetaccloruacacbon CCl4:
-Bình chữa cháy loại này có thể tích nhỏ, chủ yếu dùng để chữa cháy trên ôtô, động cơ đốt trong và thiết bị điện
- Cấu tạo có nhiều kiểu, thông thờng nó là 1 bình thép chứa khoảng 2.5 lít CCl4, bên trong có 1 bình nhỏ chứa CO2
-Khả năng dập tắt đám cháy của CCl4 là tạo ra trên bề mặt chất cháy 1 loại hơi nặng hơn không khí 5.5 lần Nó không nuôi dỡng sự cháy, không dẫn điện, làm cản ôxy tiếp xúc với chất cháy do đó làm tắt cháy
-Kghi cần dùng, đập tay vào chốt đập, mũi nhọn của chốt đập chọc thủng tấm đệm
và khí CO2 trong bình nhỏ bay ra ngoài Dới áp lực của khí CO2, dung dịch CCl4 phun ra ngoài theo vòi phun thành 1 tia Bình đợc trang bị 1 màng bảo hiểm để phòng
nổ Một số bình kiểu này ngời ta dùng không khí nén để thay thế CO2
-Bình chữa cháy bằng khí CO2 (loại OY-2):
-Vỏ bình chữa cháy bằng khí CO2 làm bằng thép dày chịu đợc áp suất thử
là 250kg/cm2 và áp suất làm việc tối đa là 180kg/cm2 Nếu quá áp suất này van an toàn sẽ tự động mở ra để xả khí CO2 ra ngoài
-Bình chữa cháy loại này có loa phun thờng làm bằng chất cách điện để đề phòng khi chữa cháy chạm loa vào thiết bị điện
-Khi đem bình đi chữa cháy, cần mang đến thật gần chổ cháy, quay loa đi 1 góc 90o và
21
Trang 22-Giỏo trỡnh an toàn điện
8
1.Thân bình 2.ống xiphông 3.Van an toàn 4.Tay cầm
5.Nắp xoáy 6.ống dẫn 7.Loa phun 8.Giá kê
Hình 2.3: Bình chữa cháy bằng khí CO2
-Vòi rồng chữa cháy:
-Hệ thống vòi rồng cứu hoả có tác dụng tự động dập tắt ngay đám cháy bằng nớc khi nó mới xuất hiện Vòi rồng có 2 loại: kín và hở
-Vòi rồng kín:
-Có nắp ngoài làm bằng kim loại dễ chảy, đặt hớng vào đối tợng cần bảo vệ (các thiết
bị, các nơi dễ cháy) Khi có đám cháy, nắp hợp kim sẽ chảy ra và nớc sẽ tự động phun ra để dập tắt đám cháy Nhiệt độ nóng chảy của hợp kim, phụ thuộc vào nhiệt
độ làm việc của gian phòng và lấy nh sau:
• Đối với phòng có nhiệt độ dới 40o là 72o
• Đối với phòng có nhiệt độ từ 40o-60o là 93o
• Đối với phòng có nhiệt độ dới 60o-100o là 141o
• Đối với phòng có nhiệt độ cao hơn 100o là 182o
22
-5
Trang 23Giỏo trỡnh an toàn điện
_
-Vòi rồng hở:
-Không có nắp đậy, mở nớc có thể bằng tay hoặc tự động Hệ thống vòi rồng hở để tạo màng nớc bảo vệ các nơi sinh ra cháy
2.2 Kỹ thuật cấp cứu nạn nhõn bị điện giật bị ngất.
Nguyờn nhõn chớnh làm chết người vỡ điện giật là do hiện tượng kớch thớch chứ khụng do bị chấn thương
Khi cú người bị tan nạn điện, việc tiến hành sơ cứu nhanh chúng, kịp thời
và đỳng phương phỏp là cỏc yếu tố quyết định để cứu sống nạn nhõn Cỏc thớ nghiệm và thực tế cho thấy rằng từ lỳc bị điện giật đến một phỳt sau được cứu chữa thỡ 90% trường hợp cứu sống, để 6 phỳt sau mới cứu chỉ cú thể cứu sống 10%, nếu để từ 10 phỳt mới cấp cứu thỡ rất ớt trường hợp cứu sống được Việc
sơ cứu phải thực hiện đỳng phương phỏp mới cú hiệu quả và tỏc dụng cao
Khi sơ cứu người bị tai nạn cần thực hiện hai bước cơ bản sau:
- Tỏch nạn nhõn ra khỏi nguồn điện
- Làm hụ hấp nhõn tạo và xoa búp tim ngoài lồng ngực
2.2.1Tỏch nạn nhõn ra khỏi nguồn điện
* Nếu nạn nhõn chạm vào điện hạ ỏp cần:
Nhanh chúng cắt nguồn điện (cầu dao, aptomat, cầu chỡ ); nếu khụng thể
cắt nhanh nguồn điện thỡ phải dựng cỏc vật c ỏch điện khụ như sào, gậy tre, gỗ khụ
để gạt dõy điện ra khỏi nạn nhõn, nếu nạn nhõn nắm chặt vào dõy điện cần phải đứng trờn cỏc vật cỏch điện khụ (bệ gỗ) để kộo nạn nhõn ra hoặc đi ủng hay dựng
găng tay cỏch điện để gỡ nạn nhõn ra; cũng cú t h ể dựng dao rỡu với cỏn gỗ khụ,
kỡm cỏch điện để chặt hoặc cắt đứt dõy điện
* Nếu nạn nhõn bị chạm hoặc bị phúng điện từ thiết bị cú điện ỏp c a o
Khụng t h ể đến cứu ngay trực tiếp mà cần phải đi ủng, dựng gậy, sào cỏch
điện để tỏch nạn nhõn ra khỏi phạm vi cú điện Đồng thời bỏo cho người quản lý đến cắt điện trờn đường dõy Nếu người bị nạn đang làm việc ở đường dõy trờn cao dựng dõy nối đất làm ngắn mạch đường dõy Khi làm ngắn mạch và nối đất cần phải tiến hành nối đất trước, sau đú nộm dõy lờn làm ngắn mạch đường dõy Dựng cỏc biện phỏp để đỡ chống rơi, ngó nếu người bị nạn ở trờn cao
2.2.2 Làm hụ hấp nhõn tạo
Thực hiện ngay sau khi tỏch người bị nạn ra khỏi bộ phận mang điện Đặt nạn nhõn ở chỗ thoỏng khớ, cởi cỏc phần quần ỏo bú thõn (cỳc cổ, thắt lưng ), lau sạch mỏu, nước bọt và cỏc chất bẩn Thao tỏc theo trỡnh tự:
23
Trang 24-Giáo trình an toàn điện
_
- Đặt nạn nhân nằm ngửa, kê gáy bằng vật mềm để đầu ngửa về phía sau Kiểm tra khí quản có thông suốt không và lấy các di vật ra Nếu hàm bị co cứng phải mở miệng bằnh cách để tay và phía dưới của góc hàm dưới, tỳ ngón tay cái vào mép hàm để đẩy hàm dưới ra
- Kéo ngửa mặt nạn nhân về phía sau sao cho cằm và cổ trên một đường thẳng đảm bảo cho không khí vào dể dàng Đẩy hàm dưới về phía trước đề phòng lưỡi rơi xuống đóng thanh quản
- Mở miệng và bịt mũi nạn nhân
Người cấp cứu hít hơi và thở mạnh vào
miệng nạn nhân (đặt khẩu trang hoặc
khăn sạch lên miệng nạn nhân) Nếu
không thể thổi vào miệng được thì có thể
bịt kít miệng nạn nhân và thổi vào mũi
- Lặp lại các thao tác trên nhiều lần
Trang 25-Nếu cú hai người cấp cứu thỡ một người thổi ngạt cũn một người xoa búp tim Người xoa búp tim đặt hai tay chồng lờn nhau và đặt ở 1/3 phần dưới xương ức của nạn nhõn, ấn khoảng 4-6 lần thỡ dừng lại 2 giõy để người thứ nhất thổi khụng khớ vào phổi nạn nhõn Khi ộp mạnh lồng ngực xuống khoảng 4-6cm, sau đú giữ tay lại khoảng 1/3s rồi mới rời tay khỏi lồng ngực cho trở về vị trớ cũ.
Nếu cú một người cấp cứu thỡ cứ sau hai ba lần thổi ngạt ấn vào lồng ngực nạn nhõn như trờn từ 4-6 lần
Cỏc thao tỏc phải được làm liờn tục cho đến khi nạn nhõn xuất hiện dấu hiệu sống trở lại, hệ hụ hấp cú thể tự hoạt động ổn định Để kiểm tra nhip tim nờn ngừng xoa búp khoảng 2-3s Sau khi thấy khớ sắc mặt trở lại hồng hào, đồng tử co dón, tim phổi bắt đầu hoạt động nhẹ cần tiếp tục cấp cứu khoảng 5-10 phỳt nữa để tiếp sức thờm cho nạn nhõn Sau đú kịp thời chuyển nạn nhõn đến bệnh viện Trong quỏ trỡnh vận chuyển vẫn phải tiếp tục tiến hành cụng việc cấp cứu liờn tục
2.3 Kĩ thuật cấp cứu và chuyển thơng
Cấp cứu và chuyển thơng là những kĩ thuật đầu tiên, đơn giản, cần đợc tiến hành ngay tại nơi bị thơng, bị nạn Nếu làm tốt các kĩ thuật này có tác dụng ngăn chặn tức thời những triệu chứng đe dọa đến tính mạng nạn nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cứu chữa ở tuyến sau
2.3.1 Cầm máu tạm thời
a Mục đích
- Nhanh chóng làm ngừng chảy máu bằng những biện pháp đơn giản để hạn chế đến mức thấp nhất sự mất máu, góp phần cứu sống tính mạng, tránh các tai biến nguy hiểm
b Nguyên tắc cầm máu tạm thời
+) Phải khẩn trơng, nhanh chóng làm ngừng chảy máu
Tất cả các vết thơng ít nhiều đều có chảy máu, nhất là tổn thơng các mạch máu lớn, máu chảy nhiều, cần phải thật khẩn trơng làm ngừng chảy máu ngay tức khắc, nếu không mỗi giây phút chậm trễ là thêm một khối lợng máu mất đi, dễ có nguy cơ dẫn đến choáng hoặc chết do mất máu
+) Phải xử trí đúng chỉ định theo tính chất của vết thơng
Các biện pháp cầm máu tạm thời đều tùy thuộc vào tính chất chảy máu, cần phải
xử trí đúng chỉ định theo yêu cầu của từng vết thơng, không tiến hành một cách thiếu thận trọng, nhất là khi quyết định đặt ga rô
c) Phải đúng quy trình kĩ thuật
Trang 26Các biện pháp cầm máu tạm thời đều có quy trình kĩ thuật nhất định Tiến hành cầm máu phải đúng kĩ thuật mới có thể đem lại hiệu quả cao.
2.3.2 Phân biệt các loại chảy máu
Căn cứ vào mạch máu bị tổn thơng, ngời ta có thể chia thành 3 loại chảy máu:
a) Chảy máu mao mạch
Máu đỏ thẩm, thấm ra tại chổ bị thơng, lợng máu ít hoặc rất ít, có thể tự cầm sau ít phút
b) Chảy máu tĩnh mạch vừa và nhỏ
Máu đỏ thẩm, chảy rỉ rỉ tại chổ bị thơng, lợng máu vừa phải, không nguy hiểm, nhanh chóng hình thành cục máu bít các tĩnh mạch bị tổn thơng lại Tuy nhiên, tổn thơng các tĩnh mạch lớn (tĩnh mạch chủ, tĩnh mạch cảnh, tĩnh mạch dới
đòn,…) vẫn gây chảy máu ồ ạt, nguy hiểm
c) Chảy máu động mạch
Máu đỏ tơi, chảy vọt thành tia (theo nhịp tim đập) hoặc trào qua miệng vết thơng ra ngoài nh mạch nớc đùn ở đáy giếng lên, lợng máu có thể nhiều hoặc rất nhiều tùy theo động mạch bị tổn thơng
Thực tế rất ít xảy ra chảy máu đơn thuần mao mạch, tĩnh mạch hoặc động mạch, do vậy cần thận trọng nhanh chóng xác định loại vết thơng để có biện pháp cầm máu thích hợp và kịp thời
2.3.3 Các biện pháp cầm máu tạm thời
Cầm máu tạm thời ngay sau khi bị thơng, bị nạn thờng do bản thân nạn nhân
tự làm hoặc những ngời xung quanh, gồm các biện pháp sau:
a) ấn động mạch
Dùng các ngón tay (ngón cái hoặc các ngón khác) ấn đè trên đờng đi của
động mạch làm động mạch bị ép chặt giữa ngón tay ấn và nền xơng, máu ngừng chảy ngay tức khắc ấn động mạch có tác dụng cầm máu nhanh, ít gây đau và không gây tai biến nguy hiểm cho ngời bị thơng, nhng đòi hỏi ngời làm phải nắm chắc kiến thức giải phẩu về đờng đi của động mạch ấn động mạch không giữ đợc lâu vì mỏi tay ngời ấn, do vậy chỉ là biện pháp cầm máu tức thời, sau đó phải thay thế bằng các biện pháp khác
Một số điểm để ấn động mạch trên cơ thể:
- ấn động mạch trụ và quay ở cổ tay: Khi chảy máu nhiều ở bàn tay, dùng ngón cái ấn vào động mạch trụ và quay ở phía trên cổ tay, cách bờ trong và bờ ngoài cẳng tay 1,5cm
- ấn động mạch cánh tay ở mặt trong cánh tay: Khi chảy máu nhiều ở cẳng tay, cánh tay, dùng ngón cái hoặc bốn ngón ấn mạnh vào mặt trong cánh tay ở phía trên vết thơng Nếu vết thơng ở cao, ấn sâu vào động mạch nách ở đỉnh hố nách
Trang 27- ấn động mạch dới đòn ở hỏm xơng đòn :Khi chảy máu nhiều ở hố nách, tay dùng ngón cái ấn mạnh vá sâu ở hố trên đòn sát giữa bờ sau xơng đòn làm
động mạch bị ép chặt vào xơng sờn, máu sẽ ngừng chảy
b) Gấp chi tối đa
Gấp chi tối đa là biện pháp cầm máu đơn giản, mọi ngời đều có thể tự làm
đ-ợc Khi chi bị gấp mạnh, các mạch máu cũng bị gấp và bị đè ép bởi các khối cơ bao quanh làm cho mạch máu ngừng chảy
Gấp chi tối đa cũng chỉ là biện pháp tạm thời Vì động mạch dới đòn không giữ đợc lâu Trờng hợp có gãy xơng kèm theo thì không thực hiện đợc gấp chi tối đa
Gấp cẳng tay vào cánh tay Khi chảy máu nhiều ở bàn tay và cẳng tay, phải gấp ngay thật mạnh cẳng tay vào cánh tay, máu ngừng chảy
Khi cần giữ lâu để chuyển ngời bị thơng về các tuyến cứu chữa, cần cố định
t thế gấp bằng một vài vòng băng ghì chặt
cổ tay vào phần trên cánh tay
- Gấp cánh tay vào thân ngời có con chèn Khi chảy máu nhiều do tổn thơng
động mạch cánh tay, lấy ngay một khúc gỗ tròn đờng kính từ 5-10cm, hay cuộn băng hoặc bất cứ vật rắn nào tơng tự kẹp chặt Gấp cẳng tay vào cánh tay vào nách
ở phía trên chổ chảy máu, rồi cố định cánh tay vào thân ngời bằng một vài vòng băng, máu ngừng chảy
c) Băng ép
Là phơng pháp băng vết thơng với các vòng băng xiết tơng đối chặt đè ép mạnh vào bộ phận bị tổn thơng tạo điều kiện cho viếc nhanh chóng hình thành các cục máu làm máu ngừng chảy ra ngoài
đờng đi của động mạch, càng sát vết thơng càng tốt, sau đó cố định con chèn bằng nhiều vòng băng xiết tơng đối chặt các vị trí có thể băng chèn tơng tự nh vị trí ấn
động mạch
e) Băng nút
Băng nút là cách băng ép, có dùng thêm băng gạc đã triệt khuẩn, nhét chặt vào miệng vết thơng tạo thành cái nút để cầm máu
Trang 28Nút càng chặt làm tăng sức đè ép vào các mạch máu, tác dụng cầm máu càng tốt.
f) Ga rô
Ga rô là biện pháp cầm máu tạm thời bằng sợi dây cao su xoắn chặt vào đoạn chi làm ngừng lu thông máu từ phía trên xuống phía dới của chi, máu sẽ không chảy ra ở miệng của vết thơng
Do sự ngừng lu thông máu trong thời gian nhất định (khoảng 60 – 90 phút) rất dễ xảy ra tai biến nguy hiểm Vì vậy phải cân nhắc kĩ lỡng trớc khi ra quyết
định ga rô trong trờng hợp vết thơng có chảy máu
- Chỉ định ga rô: Ga rô đợc phép làm trong một số trờng hợp sau đây:
+ Vết thơng ở chi chảy máu ồ ạt, phụt thành tia hoặc trào mạnh qua miệng vết thơng
+ Ngời bị đặt ga rô phải đợc nhanh chóng chyển về các tuyến cứu chữa; trên
đờng vận chuyển cứ 1 giờ phải nới ga rô một lần, không để ga rô lâu quá 3 - 4 giờ.+ Có phiếu ghi rõ: Họ tên, địa chỉ ngời bị ga rô, thời gian nới ga rô lần 1, lần
2, Họ tên, địa chỉ ngời ga rô, để giúp các tuyến trên theo dõi và xử trí
+ Có kí hiệu bằng vải đỏ cài vào túi áo bên trái của nạn nhân
- Cách ga rô: Dây ga rô thờng dùng
Sợi dây cao su to bản (3 – 4cm) mỏng và Có tác dụng đàn hồi tốt Trờng hợp khẩn cấp có thể sử dụng bất kì loại dây nào khác nh: cuộn băng, dây cao su tròn, quai dép để ga rô
Trang 29- Xơng bị gãy rạn, gãy cha rời hẵn (gãy cành xanh), gãy rời thành hai hay nhiều mãnh hoặc có thể mất từng đoạn xơng.
- Da, cơ bị dập nát nhiều, đôi khi kèm theo mạch máu, thần kinh xung quanh cũng bị tổn thơng
- Rất dễ gây choáng do đau đớn, mất máu và nhiễm trùng do môi trờng xung quanh
b Mục đích
- Làm giảm đau đớn, cầm máu tại vết thơng
- Giữ cho đầu xơng gãy tơng đối yên tĩnh, đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển ngời bị thơng về các tuyến cứu chữa
- Phòng ngừa các tai biến: choáng do mất máu, do đau đớn; tổn thơng thứ phát do các đầu xơng gãy di động; nhiễm khuẩn vết thơng
c Ngyuên tắc cố định tạm thời xơng gãy
- Nẹp cố định phải cố định đợc cả khớp trên và khớp dới ổ gãy Với các xơng lớn nh xơng đùi, cột sống, phải cố định từ 3 khớp trở lên
- Không đặt nẹp cứng sát vào chi, phải đệm, lót bằng bông mỡ, gạc hoặc vải mềm tại các chỗ tiếp xúc để không gây thêm các tổn thơng khác Khi cố định không cần cởi quần, áo có tác dụng tăng cờng đệm lót cho nẹp
- Không co kéo, nắn chỉnh ổ gãy tránh tai biến nguy hiểm cho ngời bị thơng Nếu điều kiện cho phép, chỉ có thể nhẹ nhàng kéo, chỉnh lại trục chi bớt biến dạng sau khi đã đợc giảm đau thật tốt
- Băng cố định nẹp vào chi phải tơng đối chắc, không để nẹp xộc xệch, nhng cũng không quá chặt dễ gây cản trở lu thông máu của chi
d Kĩ thuật cố định tạm thời xơng gãy
Thao tác cố định tạm thời xơng gãy tuy không phức tạp nhng đòi hỏi mọi ngời phải thuần thục kĩ thuật, đồng thời phải chuẩn bị dầy đủ dụng cụ khi cấp cứu mới đem lại hiệu quả tốt cho ngời bị thơng
*) Các loại nẹp thờng dùng cố định tạm thời xơng gãy
- Nẹp tre, nẹp gỗ: là loại nẹp đợc dùng rất phổ biến, dễ làm song phải đúng quy cách sau:
+ Chiều rộng của nẹp: 5 - 6 cm
+ Chiều dày của nẹp: 0,5 - 0,6 cm
+ Chiều dài của nẹp: tùy thuộc từng chi gãy
+ Nẹp cẳng tay: 2 nẹp (một nẹp dài 30 cm, một nẹp dài 35 cm)
+ Nẹp cánh tay: 2 nẹp (một nẹp dài 20 cm, một nẹp dài 35 cm)
+ Nẹp cẳng chân: 2 nẹp (mỗi nẹp dài 60 cm)
+ Nẹp đùi: 3 nẹp ( nẹp ngoài dài 120 cm, nẹp sau dài 100 cm, nẹp trong dài
80 cm)
Trang 30Kích thớc này chỉ là tơng đối, khi sử dụng cần cắt nẹp cho phù hợp kích thớc từng ngời.
- Nẹp crame là loại nẹp làm bằng dây thép có hình bậc thang, có thể uốn nẹp theo các t thế cần cố định, hoặc nối hai nẹp với nhau khi cần một nẹp dài Nẹp crame cố định tốt, thuận tiện song thực tế ít đợc sử dụng để cố định tạm thời xơng gãy tại nơi bị nạn
Trong tình huống khẩn cấp, nếu không có các loại nẹp đã chuẩn bị sẵn có thể vận dụng một số phơng tiện nh: cành cây, gậy gỗ, đòn gánh,… làm nẹp, hoặc có thể buộc chi trên vào thân ngời, buộc hai chi dới vào nhau để tạm thời cố định tùy
điều kiện cụ thể tại nơI bị nạn
*) Kĩ thuật cố điịnh tạm thời một số trờng hợp xơng gãy
- Đối với các vết thơng gãy xơng hở, trớc hết phải cầm máu cho vết thơng(nếu cần thiết), băng kín vết thơng, sau đó mới đặt nẹp cố định xơng gãy
- Cố định tạm thời xơng bàn tay gãy, khớp cổ tay(hình 8) Dùng một nẹp tre to bản hoặc nẹp crame:
+ Đặt một cuộn băng hoặc một cuộn bông vào lòng bàn tay, đặt bàn tay ở t thể nữa sấp
+ Đặt nẹp thẳng từ bàn tay đến khuỷu tay
+ Băng cố định bàn tay, cẳng tay vào nẹp, để hở các đầu ngón tay để tiện theo dõi sự lu thông máu
+Dùng khăn tam giác hoặc cuộn băng treo cẳng tay ở t thế gấp 900
- Cố định tạm thời xơng gãy dùng hai nẹp tre hoặc nẹp crame
+ Đặt nẹp ngắn ở mặt trớc cẳng tay (phía lòng bàn tay) từ bàn tay đến nếp khuỷu
+ Đặt nẹp ở mặt sau cẳng tay (phía mu bàn tay) từ khớp ngón tay đến mỏm khuỷu
+ Buộc một đoạn ở cổ tay và bàn tay, một đoạn ở trên và ở dới nếp khuỷu để
cố định cẳng tay, bàn tay vào nẹp
+ Dùng khăn tam giác hoặc cuộn băng treo cẳng tay ở t thế 900
- Cố định tạm thời xơng cánh tay gãy dùng hai nẹp tre hoặc nẹp crame:
+ Đặt nẹp ngắn ở mặt trong cánh tay từ nếp khuỷu đến hố nách
+ Đặt nẹp dài ở mặt ngoài cánh tay từ mỏm khuỷu đến mỏm vai
+ Buộc một đoạn ở một phần ba trên cánh tay và khớp vai, một đoạn ở trên
và dới nếp khuỷu để cố định cánh tay vào nẹp
+ Dùng băng tam giác hoặc cuộn băng treo cẳng tay ở t thề gấp 900 và cuốn vài vòng băng buộc cánh tay vào thân ngời
- Cố định tạm thời xơng cẳng chân gãy dùng hai nẹp tre hoặc nẹp crame:
+ Đặt hai nẹp ở mặt trong và mặt ngoài cẳng chân, từ gót lên đến giữa đùi.+ Đặt bông đệm vào các đầu xơng
+ Buộc một đoạn ở cổ và bàn chân, một đoạn ở trên và dới gối, một đoạn ở giữa đùi cố định chi gãy vào
Trang 31- Cố định tạm thời xơng đùi gãy(hình 12) Dùng ba nẹp tre hoặc ba nẹp crame: + Đặt nẹp sau từ ngang thắt lng (trên mào xơng chậu) đến gót chân.
+ Đặt nẹp ngoài từ hố nách đến gót chân
+ Đặt nẹp trong từ nếp bẹn đến gót chân
+ Dùng bông đệm lót vào các đầu xơng
+ Buộc một đoạn ở cổ chân hoặc bàn chân, một đoạn ở trên và dới gối, một
đoạn ở bẹn một đoạn ở ngang thắt lng, một đoạn ở ngang hố nách để cố định chi gãy vào nẹp
+ Sau đó buộc chi gãy đã cố định vào chi lành ở cổ chân, gối và đùi, trớc khi vận chuyển
+Trờng hợp cố định bằng nẹp crame cũng làm tơng tự nh cố định bằng nẹp tre
+ Đối với các trờng hợp gãy xơng đùi, mặc dù đã đợc cố định đều đợc vận chuyển bằng cáng cứng
Trang 32
CHƯƠNG 3
KỸ THUẬT AN TOÀN ĐIỆN 3.1 Các khái niệm về an toàn điện
3.1.1 Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể người.
Người bị điện giật là do tiếp xúc với mạch điện có điện áp hay nói một cách khác là do có dòng điện chạy qua cơ thể người Dòng điện chạy qua cơ thể người sẽ gây ra các tác dụng sau đây:
- Tác dụng nhiệt: làm cháy bỏng thân thể, thần kinh, tim não và các cơ quan nội tạng khác gây ra các rối loạn nghiêm trọng về chức năng
- Tác dụng điện phân: biểu hiện ở việc phân ly máu và các chất lỏng hữu cơ dẫn đến phá huỷ thành phần hoá lý của máu và các tế bào
- Tác dụng sinh lý: gây ra sự hưng phấn và kích thích các tổ chức sống dẫn đến co rút các bắp thịt trong đó có tim và phổi Kết quả có thể đưa đến phá hoại, thậm chí làm ngừng hẳn hoạt động hô hấp và tuần hoàn
Các nguyên nhân chủ yếu gây chết người bởi dòng điện thường là tim phổi
ngừng làm việc và sốc điện:
Tim ngừng đập là trường hợp nguy hiểm nhất và thường khó cứu sống nạn nhân hơn là ngừng thở và sốc điện Tác dụng dòng điện đến cơ tim có thể gây ra ngừng tim hoặc rung tim Rung tim là hiện tượng co rút nhanh và lộn xộn các sợi cơ tim làm cho các mạch máu trong cơ thể bị ngừng hoạt động dẫn đến tim ngừng đập hoàn toàn
Ngừng thở thường xảy ra nhiều hơn so với ngừng tim, người ta thấy bắt đầu khó thở do sự co rút do có dòng điện 20-25mA tần số 50Hz chạy qua cơ thể Nếu dòng điện tác dụng lâu thì sự co rút các cơ lồng ngực mạnh thêm dẫn đến ngạt thở, dần dần nạn nhân mất ý thức, mất cảm giác rồi ngạt thở cuối cùng tim ngừng đập và chết lâm sàng
Sốc điện là phản ứng phản xạ thần kinh đặc biệt của cơ thể do sự hưng phấn mạnh bởi tác dụng của dòng điện dẫn đến rối loạn nghiêm trọng tuần hoàn, hô hấp và quá trình trao đổi chất Tình trạng sốc điện kéo dài độ vài chục phút cho đến một ngày đêm, nếu nạn nhân được cứu chữa kịp thời thì có thể bình phục
Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất dẫn đến chết người ý kiến thứ nhất cho rằng đó là
do tim ngừng đập song loại ý kiến thứ hai lại cho rằng đó là do phổi ngừng thở vì theo họ trong nhiều trường hợp tai nạn điện giật thì nạn nhân đã được
Trang 33cứu sống chỉ đơn thuần bằng biện pháp hô hấp nhân tạo thôi Loại ý kiến thứ
ba cho rằng khi có dòng điện qua người thì đầu tiên nó phá hoại hệ thống hô hấp sau đó nó làm ngừng trệ hoạt động tuần hoàn
Do có nhiều quan điểm khác nhau như vậy nên hiện nay trong việc cứu chữa nạn nhân bị điện giật người ta khuyên nên áp dụng tất cả các biện pháp
để vừa phục hồi hệ thống hô hấp (thực hiện hô hấp nhân tạo) vừa phục hồi
hệ thống tuần hoàn (xoa bóp tim )
3.1.2 Điện trở cơ thể
Thân thể người ta gồm có da thịt xương máu tạo thành và có một tổng trở nào đó đối với dòng điện chạy qua người Lớp da có điện trở lớn nhất mà điện trở của da là do điện trở của lớp sừng trên da quyết định Điện trở của người là một đại lượng rất không ổn định và không chỉ phụ thuộc vào trạng thái sức khoẻ của cơ thể người từng lúc mà còn phụ thuộc vào môi trường xung quanh, điều kiện tổn thương
Qua nghiên cứu rút ra một số kết luận cơ bản về giá trị điện trở cơ thể người như sau:
Điện trở cơ thể người là một đại lượng không thuần nhất Thí nghiệm cho thấy dòng điện đi qua người và điện áp đặt vào có sự lệch pha Sơ đồ thay của điện trở người có thể biểu diển bằng hình vẽ sau:
C C
Ing
Trong đó: R1: điện trở tác dụng của da
R2: điện trở của tổng các bộ phận bên trong cơ thể ngườiC: điện dung của da và lớp thịt dưới da
Vì thành phần điện dung rất bé nên trong tính toán thường bỏ qua.
Điện trở của người luôn luôn thay đổi trong một phạm vi rất lớn từ vài chục ngàn kΩ đến 600kΩ Trong tính toán thường lấy giá trị trung bình là 1000 kΩ Khi da bị ẩm hoặc khi tiếp xúc với nước hoặc do mồ hôi đều làm cho điện trở người giảm xuống
Điện trở của người phụ thuộc vào áp lực và diện tích tiếp xúc Áp lực và diện tích tiếp xúc càng tăng thì điện trở giảm Sự thay đổi này rất dễ nhìn thấy trong vùng áp lực nhỏ hơn 1kG/cm2 (hình 2.1)
Trang 34
Điện trở người giảm đi khi có dòng
điện đi qua người, giảm tỉ lệ với thời
gian tác dụng của dòng điện Điều này
có thể giải thích vì da bị đốt nóng và có
sự thay đổi về điện phân
Điện trở người phụ thuộc điện áp đặt
vào vì ngoài hiện tượng điện phân còn
có hiện tượng chọc thủng Khi điện áp
đặt vào 250V lúc này lớp da ngoài cùng
mất hết tác dụng nên điện trở người
giảm xuống rất thấp
100 200 300 400 500 600 V
Hình 3.2: Sự phụ thuộc điện trở người vào điện áp ứng
với các thời gian tiếp xúc khác nhau (0,015s và 3s).
Đường đi của dòng điện qua tay – tay
Đường đi của dòng điện qua tay - chân
1.103Ω
35 0,015s
30 0,015s 25
20
15 3s
10 3s 5
Rng
Kg/cm2
Trang 353.1.3 Ảnh hưởng của trị số dòng điện giật đến tai nạn điện.
Dòng điện là nhân tố vật lý trực tiếp gây tổn thương khi bị điện giật Cho tới nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về giá trị dòng điện có thể gây nguy hiểm chết người.Trường hợp chung thì dòng điện 100mA xoay chiều gây nguy hiểm chết người Tuy vậy cũng có trường hợp dòng điện chỉ khoảng 5- 10mA đã làm chết người bởi vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa như điều kiện nơi xảy ra tai nạn, sức khoẻ trạng thái thần kinh của từng nạn nhân, đường đi của dòng điện
Trong tính toán thường lấy trị số dòng điện an toàn là 10mA đối với dòng điện xoay chiều và 50mA với dòng điện một chiều Bảng 2.1 cho phép đánh giá tác dụng
của dòng điện đối với cơ thể người:
0.6-1.5 Bắt đầu thấy ngón tay tê Không có cảm giác gì
2 - 3 Ngón tay tê rất mạnh Không có cảm giác gì
3 - 7 Bắp thịt co lại và rung Đau như kim châm cảm
thấy
8 - 10
Tay đã khó rời khỏi vật có điện nhưng vẫn rời được Ngón tay, khớp tay, lòng bàn tay cảm thấy đau
Nóng tăng lên
20 - 25 Tay không rời khỏi vật có điện, đau khó
thở
Nóng càng tăng lên thịt co
50 - 80 Cơ quan hô hấp bị tê liệt Tim bắt đầu
đập
Cảm giác nóng mạnh Bắp
90 - 100 Cơ quan hô hấp bị tê liệt Kéo dài 3 giây
hoặcdài hơn tim bị tê liệt đến ngừng đập
Cơ quan hô hấp bị tê liệt
Qua bảng 2-1 ta thấy dòng điện xoay chiều nguy hiểm hơn dòng một chiều vì:
- Qua nghiên cứu người ta thấy rằng trị số dòng điện tác dụng lên người không phải là trị số hiệu dụng mà là trị số biên độ của nó
- Đối với dòng xoay chiều trên cơ thể người tồn tại nhiều vùng nhạy nguy hiểm
Trang 363.1.4 Ảnh hưởng của đường đi dòng điện giật đến tai nạn điện.
Về đường đi của dòng điện qua người có thể có rất nhiều trường hợp khác nhau, tuy vậy có những đường đi cơ bản thường gặp là: dòng qua tay - chân, tay - tay, chân - chân Một vấn đề còn tranh cải là đường đi nào là nguy hiểm nhất
Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng đường đi nguy hiểm nhất phụ thuộc vào số phần trăm dòng điện tổng qua tim và phổi Theo quan điểm này thì dòng điện đi từ tay phải qua chân, đầu qua chân, đầu qua tay là những đường đi nguy hiểm nhất vì:
Dòng đi từ tay qua tay có 3.3% dòng điện tổng qua tim
Dòng đi từ tay trái qua chân có 3.7% dòng điện tổng qua tim Dòng đi từ tay phải qua chân có 6.7% dòng điện tổng qua tim Dòng đi từ chân qua chân có 0.4% dòng điện tổng qua tim Dòng đi từ đầu qua tay có 7% dòng điện tổng qua tim
Dòng đi từ đầu qua chân có 6.8% dòng điện tổng qua tim
3.1.5 Ảnh của thời gian dòng qua cơ thể gây tai nạn điện.
Yếu tố thời gian tác động của dòng điện vào cơ thể người rất quan trọng và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau Đầu tiên chúng ta thấy thời gian tác dụng của dòng điện ảnh hưởng đến điện trở của người Thời gian tác dụng càng lâu, điện trở của người càng bị giảm xuống vì lớp da bị nóng dần và lớp sừng trên da bị chọc thủng càng nhiều Thứ hai là thời gian tác dụng của dòng điên càng lâu thì xác suất trùng hợp với thời điểm chạy qua tim với pha T (là pha dể thương tổn nhất của chu trình tim) tăng lên Hay nói một cách khác trong mỗi chu kỳ của tim kéo dài độ một giây có 0,4s tim nghỉ làm việc (giữa trạng thái co và giãn) ở thời điểm này tim rất nhạy cảm với dòng điện đi qua nó
Hình 3.5: Sự nguy hiểm khi thời điểm
dòng điện chạy qua tim trùng với pha T của
chu trình tim.
a Điện tâm đồ của người khoẻ
b
Đ ặ
c tí n
h phụ thuộc giữa xác suất xảy
ra tai nạn và
thời điểm dòng điện chạy qua tim
Trang 3720
T
0,2s
b.
0,95-1s
Trong đó: ρ là điện trở suet; E là điện áp trên đơn vị chiều dài dọc theo đờng
đi của dòng điện.
Mật độ dòng điện tại điểm cách tâm bán cầu 1 khoảng X bằng:
ở đây Iđ là dòng điện chạm đất
Điện áp một đoạn vô cùng bé dX (xem hình 2.4) dọc trên đờng đi của dòng
Điện áp tại một điểm A nào đấy cũng tức là hiệu số điện thế giữa điểm
A và điểm vô cùng xa ( thế của điểm vô cùng xa có thể xem nh bằng 0) bằng:
U A = π
ρ 2
d X
I dU
Nếu dịch chuyển điểm A đến gần mặt của điểm nối đất ta có điện áp cao nhất
đối với đất Uđ:
Trong đó Xđ là bán kính của vật nối đất hình bán cầu
ở đây ta xem bản thân vật nối đất có bán kính Xđ nh vật mà các điểm của nó có điện áp nh nhau Giả thiết này dựa trên cơ sở vật nối đất có điện dẫn rất lớn (Ví dụ: điện dẫn của thép gần nh bằng 109 lần điện dẫn của đất)
Trang 38Thay tích Uđ Xđ = K (là một hằng số ứng với những điều kiện nhất định) ta có
ph-ơng trình hyperpol sau: UA =
A
X K
+ Nh vậy, s phân bố điện áp trong vùng dòng điện rò trong đất đối với điểm vô cực ngoài vùng dòng điện rò có dạng hyperbol
+ Tại điểm chạm đất trên mặt của vật nối đất ta có điện áp đối với đất là cực
đại
+ Không riêng gì vật nối đất có hình dạng bán cầu mà ngay đối với các dạng khác của vật nối đất nh hình ống, thanh, chữ nhật,… cũng đều có sự phân bố điện
áp gần giống nh hình hyperbol
+ Dùng cách đo trực tiếp điện áp từng điểm trên mặt đất quanh chỗ chạm đất
ta cũng vẽ đợc đờng cong phân bố điện áp đối với đất trong vùng dòng điện rò trong
2 rπ
ρ: gọi là điện trở nối đất của điện trở kim loại bán cầu Rd chỉ phụ thuộc vào điện trở suất ρ của đất không phụ thuộc vào điện trở kim loại Rd
+ Trong vùng gần 1m cách vật nối đất chiếm 68% điện áp rơi
Những nhận xét trên đây cũng đúng với các loại điện cực khác, chỉ có hàm phân bố điện thế là khác (công thức khác).
3.2 Phân tích các an toàn trong mạng điện.
3.2.1 Điện áp tiếp xúc
Trang 39Trong quá trình tiếp xúc với thiết bị điện, nếu có mạch điện kép kín qua ngời thì điện áp giáng lên ngời lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào điện trở khác mắc nối tiếp với ngời.
Điện áp đặt vào ngời (tay-chân) khi ngời chạm phải vật có mang điện áp gọi
là điện áp tiếp xúc Hay nói cách khác điện áp giữa tay ngời khi chạm vào vật có mang điện áp và đất nơi đứng gọi là điện áp tiếp xúc
Vì chúng ta nghiên cứu an toàn trong điều kiện chạm vào một pha là chủ yếu cho nên có thể xem điện áp tiếp xúc là thế giữa hai điểm trên đờng dòng điện đi mà ngời có thể chạm phải
Giả sử cách điện của một pha của thiết bị bị chọc thủng và có dòng điện chạm đất đi từ vỏ thiết bị vào đất qua vật nối đất Lúc này, vật nối đất cũng nh vỏ các thiết bị có nối đất đều mang điện áp đối với đất là:
Uđ =Iđ Rđ
Trong đó, Iđ là dòng điện chạm đất
Tay ngời chạm vào thiết bị nào cũng đều có điện áp là Uđ trong lúc đó điện
áp của chân ngời Uch lại phụ thuộc ngời đứng tức là phụ thuộc vào khoảng cách từ chỗ đứng đến vật nối đất Kết quả là ngời bị tác động của hiệu số điện áp đặt vào tay và chân, đó là điện áp tiếp xúc:
Ta biết điện áp đối với đất ở chỗ chạm đất là:
+ Điện áp của các điểm trên mặt đất đối với đất ở cách xa chỗ chạm đất từ 20m trở lên có thể xem bằng không
+ Những vòng tròn đồng tâm (hay chính xác hơn là các mặt phẳng mà tâm
điểm là chỗ chạm đất chính là các vòng tròn cân) đẳng thế
+ Khi ngời đứng trên mặt đất gần chỗ chạm đất thì hai chân ngời thờng ở hai
vị trí khác nhau cho nên ngời sẽ bị một điện áp nào đó tác dụng lên đó là điện áp
b-ớc Điện áp bớc là điện áp giữa hai chân ngời đứng trong vùng có dòng chạm đất
Trang 40Gọi Ub là điện áp bớc ta có:
Ub = Uch1 - Uch2
Trong đó:Uch1, Uch2 là điện áp đặt vào hai chân ngời
Hay nếu chân thứ nhất đứng ở vị trí cách điểm chạm đất là x còn chân thứ hai
ở vị trí (x + a) thì:
Ub = Uch1 - Uch2 = Ux + Ux+a =
π
ρ 2
d
I
X∫+a XX 2
dx = π
ρ 2
1 1
= X(X a)
a
I d
+ π
ρ 2
.
Trong đó: a lá độ dài khoảng bớc của chân ngời, thờng lấy a = 0,8m
Từ công thức trên ta thấy càng xa chỗ chạm đất thì điện áp bớc càng bé (khác với điện áp tiếp xúc) ở khoảng cách xa chỗ chạm đất 20m trở lên có thể xem điện
áp bớc bằng không
Ví dụ: Nếu có sự chạm đất với dòng chạm đất là Iđ = 100A ở nơi có điện trở suất của đất là 104Ohm.cm thì điện áp bớc đặt vào ngời khi ngời đứng cách chỗ chạm đất 2,2m (220cm) là:
Ub = 193
300 220 2
10 80
tr-+ Điện áp bớc có thể đạt đến trị số lớn vì vậy mặc dù không tiêu chuẩn hóa
điện áp bớc nhng để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho ngời, quy định là khi có xảy ra chạm đất cấm ngời đến gần chỗ bị chạm khoảng cách sau:
- Từ 4 ữ5m đối với thiết bị trong nhà.
3.3.Các biện pháp bảo vệ an toàn điện
3.3.1 Bảo vệ bằng cách nối vỏ thiết bị điện đến hệ thống nối đất.
a) Phân tích sự cố.