chế sử dụng, có thể sử dụng các loại thuốc sinh học hay vi sinh và nhất thiết phải đảm bảo thời gian cách ly.PHẦN I KỸ THUẬT TRỒNG RAU AN TOÀN 1.. Yêu càu chất lượng của rau an toàn: *
Trang 1KỸ THUẬT SẢN XUẤT
RAU AN TOÀN
Trang 2PHÀN MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
Rau xanh chứa rất nhiều dinh dưỡng, khoáng chất và chất xơ rất cần thiết cho cơthể Vì vậy, rau xanh là nhu cầu không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày củacon người
Cùng với sự phát triển của xã hội, đòi hỏi nhu cầu rau xanh không những ngàycàng tăng về số lượng mà còn đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng an toàn và khoái khẩucủa người tiêu dùng
- Trung bình một người trong một ngày cần 0,3 - 0,4 kg rau các loại (tiêu hao từ
9 -12 kg/ tháng cho một người )
- Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm vi sinh vật, hoá chất độc hại, kim loại nặng trongnông sản thực phẩm ngày càng trở nên nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến sức khoẻcộng đồng
- Từ thực trạng đó, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành mốiquan tâm của mỗi chúng ta cũng như của cộng đồng xã hội hiện nay
Trước thềm hội nhập WTO thì sản xuất an toàn theo hướng GAP (Good
Agricultural Practice : Thực hành nông nghiệp tốt)) là yếu tố rất cần thiết trong sự pháttriển nông nghiệp Sản xuất rau an toàn theo hướng GAP có thể được hiểu là sản phẩm khi đưa ra phải đảm bảo 3 yêu cầu:
+ An toàn cho môi trường,
+ An toàn cho người sản xuất và
+ An toàn cho người tiêu dùng
* Sản xuất rau an toàn theo hướng GAP cần phải tuân thủ những yêu cầu sau:
1.Đất trồng: Phải cao ráo, thoát nước tốt có tầng canh tác dày (20-30 cm) Không chịu ảnh hưởng của chất thải công nghiệp, bệnh viện, nghĩa trang, khu dân cư đông đúc… Không nhiễm các hoá chất độc hại cho con người và môi trường
2.Nước tưới: Chỉ dùng nước giếng khoan, nếu nước từ các ao hồ sông rạch thì phảisạch, lưu thông tốt Không dùng nước thải từ khu công nghiệp, thành phố, bệnh viện,
ao tù nước đọng
3.Phân bón: Chỉ sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng, rơm rạ mục,… ) đã ủ hoai
mục Sử dụng hợp lý và cân đối các loại phân hoá học, đảm bảo hàm lượng đạm (N) dưới mức cho phép của tổ chức y tế thế giới trên từng loại rau Ngưng bón phân hoá học trên rau ăn lá từ 7-10 ngày trước khi thu hoạch, trên các loại rau dài ngày phải từ 10-12 ngày Đối với phân bón lá phải đảm bảo thời gian cách ly từ 5-10 ngày Hạn chế tối đa việc sử dụng chất kích thích và điều hoà sinh trưởng
4.Thuốc BVTV: Không sử dụng các loại thuốc nằm trong danh mục cấm hoặc hạn
Trang 3chế sử dụng, có thể sử dụng các loại thuốc sinh học hay vi sinh và nhất thiết phải đảm bảo thời gian cách ly.
PHẦN I
KỸ THUẬT TRỒNG RAU AN TOÀN
1 Khai niệm về sản xuất rau an toàn:
Khái niệm rau an toàn đuợc hiểu là: “Rau quả an toàn là sản phẩm rau quả tươiđược sản xuất, sơ chế phù hợp với các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
có trong các tiêu chuẩn GAP
2 Yêu càu chất lượng của rau an toàn:
* Chỉ tiêu hình thái: sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu cầu từng
loại rau (đúng độ già kỹ thuật hay thương phẩm), không dập nát, hư thối, không lẫn tạpchất, sâu bệnh, và có gói giới thiệu
* Chỉ tiêu nội chất: bao gồm bốn nội dung:
+ Dư lượng thuốc Bảo vệ Thực vật
+ Hàm lượng Nitrat (NO3)
+ Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu (Cu, Pb, Hg, Cd, As)
+ Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Samonella ) và ký sinh trùng đường ruột (trứng giun đũa )
Các chỉ tiêu này đạt dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của tổ chức FAO/WHO
3 các nguyên tắc chung (điều kiện) để sản xuất rau an toàn:
Việc xây dựng quy trình sản xuất rau an toàn và quy hoạch vùng sản xuất raucần căn cứ vào điều kiện môi trường và tập quán canh tác của từng vùng
Tuy nhiên theo những tiêu chuẩn quy định cũng như tập quán canh tác rau của nông dân, một số nguyên tắc có tính cơ bản sau đây cần được chú ý khi sản xuất rau antoàn
3.1 Đất trồng: Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước, thích hợp với sinh
tr-ưởng và phát triển của rau Tốt nhất là đất cát pha, thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày (20-30 cm)
Vùng trồng rau phải cách ly với khu có chất thải công nghiệp, xa nhà máy, bệnh viện, nghĩa trang và nguồn có chất thải sinh hoạt của thành phố
3.2 Nước tưới : Vì trong rau xanh hàm lượng nước chiếm trên 90 % nên nước tưới trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm Cần sử dụng nước sạch để tưới Nếu có điều kiện nên sử dụng nước giếng khoan, nhất là đối với các vùng trồng rau xà lách và các loại rau gia vị Nếu không có giếng cần phải sử dụng nước sông, ao, hồ không bị ô nhiễm
3.3 Giống: Chỉ gieo những hạt giống tốt và cây con khoẻ mạnh, không có mầm
bệnh Đối với một số loài rau, phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống Giống nhập
Trang 4nội phải qua kiểm dịch thực vật Trước khi đưa cây con ra ruộng cần được xử lý thuốc
để phòng trừ một vài bệnh hại trong giai đoạn cây con
3.4 Canh tác: Nguyên tắc chung là tận dụng triệt để các biện pháp canh tác nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho cây rau phát triển, hạn chế thấp nhất sự phát sinh của dịch hại
Cần chú ý có chế độ luân canh cây trồng để giảm bớt áp lực của dịch hại
3.5 Phân bón: Nguyên tắc chung là bón cân đối, hợp lý và đầy đủ.Trong quy trình
canh tác rau an toàn, phân chuồng ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh được khuyến khích
sử dụng Tuyệt đối không dùng phân chuồng chưa hoai mục
- Với những loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn (ít hơn 60 ngày) bón thúc hai lần Kết thúc bón phân hoá học trước khi thu hoạch 7-10 ngày
- Với các loại rau có thời gian sinh trưởng dài, có thể bón thúc 3-4 lần Kết thúc bón phân hoá học trước khi thu hoạch 10-12 ngày
- Với các loại rau ăn lá phải kết thúc bón trước thu hoạch 15-20 ngày, Có thể sử dụng các loại phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng ngay sau khi cây mới bén rễ; phun 3-4 lần, tuỳ từng loại rau, nồng độ theo hướng dẫn ghi trên bao bì chế phẩm Kết thúc phun ít nhất trước khi thu hoạch 5-10 ngày Nếu sử dụng phân bón lá thì giảm lượng phân hoá học từ 30-40 % Tuyệt đối không dùng các loại phân tươi tưới cho rau
3.6 Bảo vệ Thực vật:
Áp dụng nghiêm ngặt biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM "Quản lý dịch hạitổng hợp"): Sử dụng giống tốt, chống chịu bệnh, chăm sóc đầy đủ, bắt sâu bằng tay,dùng bẩy sinh học trừ bớm, sử dụng chế phẩm sinh học, thờng xuyên vệ sinh đồngruộng, kiểm tra đồng ruộng để theo dõi phát hiện sâu bệnh, tập trung phòng trừ sớm
Khi thật cần thiết phải sử dụng thuốc hoá học, nên chọn các loại thuốc có độctính thấp, thời gian phân huỷ nhanh, ít độc hại với ký sinh thiên địch Đặc biệt cần tuânthủ nghiêm ngặt thời gian cách ly của từng loại thuốc
Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học, các chế phẩm có nguồn gốc thảo mộc,các ký sinh thiên địch để phòng trừ dịch hại
Xây dựng các bộ thuốc thích hợp cho từng vùng sản xuất, loại rau
PHẦN II PHƯƠNG PHÁP CANH TÁC KHOA HỌC VÀ HIỆU QUẢ
Muốn trồng rau đạt năng suất cao, sản phẩm có giá trị hàng hoá nhất thiết phảinắm vững những biện pháp kỹ thuật cơ bản để tác động Nó bao gồm một hệ thống liênhoàn các biện pháp kỹ thuật từ kỹ thuật làm đất, gieo hạt, bón phân, tưới nước, phòngtrừ sâu bệnh đến kỹ thuật thu hái
1 THỜI VỤ: Rau đòi hỏi thời vụ khá chặt chẽ Đảm bảo thời vụ là đảm bảo điều
kiện tự nhiên của nó Đảm bảo thời vụ, chủ yếu là đảm bảo chế độ nhiệt và ánh sáng
Trang 5Việc bố trí mùa vụ cũng như sắp xếp các cây trồng xen, gối vụ cần tạo được chế
độ ánh sáng thích hợp để cây rau sinh trưởng
2 LÀM ĐẤT: Bộ rễ các loại rau nói chung là ăn nông ở tầng mặt trong phạm vi
25-30 cm, do vậy tính chịu hạn, chịu úng rất kém và dễ bị nhiễm sâu bệnh, cho nên đất trồng rau nhất thiết phải được làm cẩn thận Tốt nhất là được cày ải 5-7 ngày và rắc vôibột để tiệt trùng, trừ các nguồn bệnh trong đất và phải được lên luống (lên liếp) trước khi gieo trồng Đất trồng rau cũng không nhất thiết phải làm quá nhỏ Vì làm đất quá nhỏ sẽ lấp hết các khoảng trống chứa các khí cần thiết trong lòng luống rau Nói chunglớp đất mặt luống chỉ nên làm nhỏ tới kích thước 1-3 hoặc 5 cm là vừa.Mặt luống rau phải phẳng hay khum mai rùa để tránh ứ đọng nước khi tưới
3 BÓN PHÂN CHO RAU:
3.1 Nhu cầu phân bón đối với với cây rau: Rau là cây trồng có thời gian sinh
trưởng tương đối ngắn nhưng lại cho một khối lượng sản phẩm (năng suất, sản lượng) rất cao, do vậy cây rau đòi hỏi phải được bón nhiều phân và đất trồng rau phải là đất tương đối tốt Nhu cầu về dinh dưỡng lớn như vậy vượt quá khả năng cung cấp của đất , vì vậy phải trông vào nguồn phân bón cho đất trồng rau
Rau hoặc các loại cây nào cũng yêu cầu đầy đủ các chất dinh dưỡng cơ bản là đạm, lân và kali cùng một số nguyên tố vi lượng thiết yếu để tạo nên giá trị dinh dưỡngđặc biệt của cây rau
3.2 Vai trò của phân bón đối với cây rau:
- Đạm: được dùng cho các loại rau ăn lá như: cải bắp, rau cải, rau giền, mồng
tơi, đay với lượng bón cao hơn ở những loại rau khác Tuy nhiên nếu bón quá nhiều
và bón chậm vào lúc sắp thu hoạch sẽ làm cây rau sinh trưởng quá mạnh, vống lốp, dễ
bị sâu bệnh xâm nhiễm, làm xấu phẩm chất của rau và dư lượng NO3 còn lại trong rau
sẽ quá mức quy định cho phép đối với rau an toàn
- Lân: rất cần thiết cho các loại rau ăn củ, quả như khoa tây, các loại đậu ăn hạt,
cà chua, hành tỏi vì nó có tác dụng làm cho quả, hạt chắc, sáng mã, làm cho cây pháttriển bộ rễ đầy đủ, cây cứng cáp, mô cây dày dặn, tăng tính chống đổ, chống chịu vớisâu bệnh hại và những thay đỗi với điều kiện ngoại cảnh Phân lân còn làm tăng tínhchịu đựng của sản phẩm khi vận chuyển và chế biến
- Kali: là loại phân có tác dụng đẩy mạnh các quá trình tích luỹ vật chất, sản
phẩm của sự quang hợp vào các bộ phận dự trử của cây rau (củ, quả, hạt, hoa ) vì thế
nó rất cần đối với các loại rau ăn củ, quả và rau ăn rễ
Ngoài đạm, lân, kali, phân vi lượng (Bo, Mn, Cu, Zn, Mo, Fe ) tuy cần với liềulượng rất ít, nhưng chúng cực kỳ cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển bình thườngcủa cây rau
Nếu thiếu vi lượng thì cây rau sẽ phát triển không bình thường, gọi chung là cây
bị bệnh sinh lý
Trang 6- Phân chuồng: được coi là nguồn phân bón đa dạng gồm đủ các chất đa lượnglẫn vi lượng tuy với số lượng không lớn Phân chuồng có tỷ lệ mùn cao, có tác dụngcải tạo đất, giữ nhiệt và khí cho tầng đất mặt, hấp thu phần lớn lượng phân bón vô cơbón vào đất để cung cấp dần cho cây Nhưng do bản thân phân chuồng chứa ít chấtdinh dưỡng cho nên dù có bón với lượng cao cũng cứ vẫn bón thêm các dạng phân vô
cơ khác để bổ sung thì mới có thể đạt năng suất cao và chất lượng rau tốt được
3.3 Kỹ thuật bón phân cho rau:
3.3.1 Yêu cầu kỹ thuật:
- Bón cân đối giữa các loại phân đạm, lân, kali
- Bón đủ lượng phân cần thiết
- Bón đúng lúc và đúng cách
Đạm, lân và kali là ba chất cơ bản để tạo ra chất hữu cơ và năng suất, phẩm chất của cây rau, nhưng nếu bón mất cân đối giữa chúng hoặc bón sai kỹ thuật (không hợp lý) thì sẽ dẫn đến hậu quả ngược lại: năng suất thấp, chất lượng rau kém, dễ hư hỏng khi vận chuyển hoặc bảo quản
3.3.2 Cách bón phân cho rau: Thường theo hai cách là bón lót và bón thúc.
- Bón lót: thường dùng đối với loại phân chuồng kết hợp với các loại phân vô cơchậm tan như lân, kali, vôi
- Bón thúc: là cách bón bổ sung vào những lúc xung yếu mà cây rau cần huy động nhiều chất dinh dưỡng
Thường dùng phân đạm, kali để bón thêm vào đất rồi tưới nước.ước Ngoài ra, người
ta còn áp dụng biện pháp bón phân ngoài rễ, tức là phun trực tiếp một số loại phân qua
lá cho cây rau Đây kỹ thuật bón phân mới được phổ biến do sự phát triển của công nghệ hoá học ở trong nước và ngoài nước Ưu điểm của các loại phân này là dùng với lượng nhỏ, chi phí ít nhưng hiệu quả thu nhập cao Dĩ nhiên, các loại phân này chỉ pháthuy hiệu quả cao trên cơ sở đã được bón lót đầy đủ phân chuồng và các loại phân hoá học khác
4 TƯỚI NƯỚC ỚC:
Rau cần rất nhiều nước Song phải tưới nước cho rau như thế nào? Tưới nước lúc nào? tưới bao nhiêu là những kỹ thuật quan trọng cần phải biết đối với người trồng rau
* Phương pháp tưới nước cho rau:
Phải tưới đồng đều trên luống rau, không tưới chổ ít, chổ nhiều, không chổ nào
bị ứ đọng nước Nếu là tưới phun mưa, tưới bằng bình tưới, thùng tưới thì hạt nướcphải nhỏ, đều không làm dập nát lá và cây rau
Trang 7của rãnh tưới, khoảng cách giữa các rãnh dẫn nước, chiều dài của rãnh nước cho hợplý.
- Tưới phun mưa: là cách tưới phổ biến nhất cho nghề trồng rau hiện nay
Ưu điểm của cách tưới này là trong khoảng thời gian rất ngắn có thể làm thay đổihẳn cả tiểu khí hậu của vườn rau Tuy nhiên, phải điều chỉnh giọt nước rơi xuống câyrau sao cho không làm dập nát, gãy cành, lá, hoa, quả, cường độ nước phun ra phù hợpvới từng loại đất
- Tưới ngầm: là dùng các ống dẫn cứng (nhựa hay kim loại) có đục sẵn lỗ theokhoảng cách nhất định, đặt sâu trong lòng luống rau ở phía dưới hay bên cạnh nơitrồng cây rau lên, khi tới chỉ cần bơm nước vào các ống dẫn này nước sẽ rỉ qua các lỗnhỏ mà cung cấp trực tiếp cho bộ rễ của cây rau.Ưu điểm của cách tưới ngầm là tiếtkiệm nước tưới tối đa, giữ được kết cấu của đất, chế độ khí trong lòng đất vì không tạo
ra lớp váng trên mặt đất như các phương pháp tưới khác
5 CHĂM SÓC VƯỜN RAU: Chăm sóc vườn rau bao gồm các công việc sau:
* Làm cỏ vun xới: tiến hành vào những ngày khô ráo Sau những trận mưa rào,
khi đất còn ướt, tuyệt đối không được xới xáo, vun gốc sẽ làm đứt rễ hoặc gây rụng nụ,hoa quả, đồng thời các sâu bệnh hại dễ xâm nhập vào các vết thương ở rễ, gây hại cây
Tuỳ theo sinh trưởng của từng loại cây mà vun cao hay thấp, xới sâu hay nông
* Điều tiết sinh trưởng của cây:
- Dặm cây, dặm hạt: tiến hành sau khi hạt gieo chính mọc được 3-5 ngày, còn các loại cây cấy thì tiến hành sau khi bén rễ được 5-10 ngày
- Tỉa bỏ cây thừa, cây xấu: làm vào những ngày đẹp trời, tơi đất, công việc nàyđơn giản nhưng có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với các loại cây gieo thẳng, đặc biệt làcác cây gia vị
các cây gia vị Đánh ngọn, tỉa cành: là kỹ thuật thâm canh cao của nghề trồng rau, nóđem lại hiệu quả to lớn đối với cây rau, đặc biệt là đối với loại rau quả Tuỳ theo từngloại cây khác nhau mà có cách đánh ngọn, tỉa cành khác nhau Ví dụ: Cà tím nên tỉa bỏhết các nhánh từ gốc đến quả đầu tiên; Dưa chuột, Dưa gang phải bấm ngọn thườngxuyên thì năng suất mới ổn định.Chống rụng hoa, rụng quả: để cho hoa, quả đậu đượcsai (các loại bầu bí, cà chua) ngoài việc thụ phấn tự nhiên còn thụ phấn nhân tạo (thụphấn bổ sung), tốt nhất tiến hành lúc từ 8-10 giờ sáng
Ngoài ra, người ta còn dùng các chất kích thích để xử lý làm tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả, làm tăng phẩm chất các loại hoa quả
Chống rét, chống nóng, chống hạn, chống úng: để chống rét, sương giá người tabón phân ngay vào gốc (phân chuồng vừa hoai) và tưới rữa sương sau mỗi lần cósương giá
sương giá Chống nóng bằng cách tưới đủ nước, bón đủ phân để cây luôn giữ đượclượng nước cần thiết trong các mô tế bào
Ngăn ngừa úng hạn bằng cách lên luống cao, luống mai rùa, xẽ rãnh ở đầu bờ đểtiêu thoát nước
6 LUÂN CANH, XEN CANH, TRỒNG GỐI:
6.1 Nguyên tắc về chế độ luân canh, bố trí cây trồng đối với rau:
Trang 8Muốn có rau thu hoạch điều hoà quanh năm phải có một cơ cấu cây trồng thích hợp
Bố trí luân canh phải chú ý luân canh những cây khác họ, không nên luân canhvới những cây rau cùng họ hoặc giữa các cây tuy khác họ nhưng có cùng một loại sâubệnh
6.2 Xen canh, gối vụ:
* Xen canh: là phương thức gieo trồng 2-3 loại cây trồng trên cùng một diện tích
* Gối vụ: là biện pháp đảm bảo thời vụ cho cây trồng sau trong lúc cây trồngtưrớc còn đang chiếm đất, bằng cách trồng gối cây trồng sau vào bên cạnh cây trồngtrước Trong trường hợp này cả cây trồng trước lẫn cây trồng sau đều là cây trồngchính
- Nguyên tắc xen canh, gối vụ: Cây trồng xen và cây trồng gối không được ảnhhưởng và thu hoạch nhiều đến cây trồng chính; Tổng lượng thu hoạch cao hơn, thunhập cũng cao hơn so với trồng thuần
- Một số cách trồng xen:
Bí xanh, mướp: các cây này trồng giàn, các cây trồng xen là Cải, Giền bằng cáchgieo khắp luống hoặc cũng có thể trồng xen cải giữa các hàng bí, mướp.Cải xanh, cảitrắng: xen Hành hoa, Xà lách vào hai bên mé luống cải
Đậu đũa, đậu côve, dưa chuột: cây trồng xen là rau giền, cải, gieo khắp luốnghoặc trồng cải, giền giữa các hàng đậu, dưa Xà lách: xen hành hoa Mỗi hàng Xà láchxen một hàng Hành hoa Cà chua: cây xen là Cải củ, Cải xanh, Cải trắng…
Qua các cách trồng có thể rút ra các nguyên tắc trồng xen như sau:
Nguyên tắc trồng xen như sau:
+ Cây hàng rộng xen với cây hàng hẹp
+ Cây tán rộng hoặc leo xen với cây hàng hẹp tán nhỏ
+ Cây hàng hẹp có tán nhỏ xen với cây thấp
+ Cây yêu cầu ánh sáng nhiều xen với cây yêu cầu ánh sáng ít hợn
7 PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:
7.1 Trên cây rau có nhiều loại sâu bệnh gây hại:
So với các loại cây trồng chuyên canh khác, rau là loại cây trồng có nhiều loạisâu bệnh hơn cả; không chỉ nhiều về số lượng mà còn nhiều về giống, loài và hầu nhưphá hại quanh năm và phát triển ở khắp mọi nơi Nguyên nhân là do nghề trồng rau cónhững đặc điểm riêng của nó, gắn liền với các sản phẩm sản xuất ra đó là:
Tính chất phức tạp của chủng loại rau: ăn lá, ăn thân, ăn quả, ăn củ lại đượcgieo trồng suốt bốn mùa trong năm Do đó sâu bệnh dễ tồn tại, tiềm tàng ẩn náu, tạođiều kiện thích nghi ngoại cảnh dần, cùng với việc thuần hoá, nhập nội các loại rau
Sản phẩm của rau có tính hàng hoá cao, chứa nhiều chất dinh dưỡng, rất đượccôn trùng ưa thích
Trang 9Do cây rau là cây ngắn ngày, lại ít có các trợ thủ tự nhiên để làm thiên địch đốivới các loại sâu bệnh hại Bản thân rau đòi hỏi phải có chế độ thâm canh cao và tậptrung trong khoảng thời gian ngắn, yêu cầu độ ẩm cao, có thể trồng gối liên tiếp Những điều kiện này rất thích hợp cho các loại sâu bệnh hại rau tồn tại phát triển Mộtnhược điểm nữa là tính chịu thuốc hoá học của cây rau kém nhiều so với khả năngchống đỡ của sâu bệnh hại do vậy không thể diệt sâu bệnh hại rau ở nồng độ cao được.Những cơ sở trên đây cho thấy, trên cây rau luôn có sâu bệnh gây hại và có các loạisâu bệnh rất khó phòng trị
Mặt khác chúng ta không thể quá lạm dụng thuốc thuốc hoá học độc hại để trừcác loại sâu bệnh trên rau an toàn, vì như thế sẽ ảnh hưởng đến tiêu chuẩn và chấtlượng của rau, ảnh hưởng xấu đến môi trường và hiệu lực trừ sâu bệnh sẽ bị vô hiệuhoá khi chúng ta dùng liên tục thuốc hoá học
Để hạn chế được sâu bệnh hại trên cây rau, đặc biệt là rau an toàn nhất thiếtchúng ta phải áp dụng nghiêm ngặt biện pháp quản lý tổng hợp (IPM)
Áp dụng một cách nghiêm túc biện pháp IPM để phòng trừ sâu bệnh thì mới cóhiệu quả và đảm bảo được chất leợng rau cũng như môi trường
7.2 Các biện pháp cơ bản trong chơng trình IPM (Integrated Pets
Mangement):
* Kỹ thuật canh tác:
- Sử dụng thực tiển canh tác, tạo ra môi trờng ít thuận lợi cho sự sống và sinh sản của các loài dịch hại, đồng thời cũng là môi trờng thuận lợi cho cây trồng phát triển
- Chúng ta phải hiểu biết một cách đầy đủ về các khía cạnh như: chu kỳ sống,tập tính sinh học của dịch hại, cây trồng, môi trường
Đó là sự đấu tranh sinh học trong tự nhiên, chúng ta có ý thức bảo vệ mối quan
hệ này (bảo vệ cân bằng sinh thái) là một biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả nhất, rẽ tiền nhất
Trang 10Trong sản xuất rau an toàn, việc phòng trừ sâu bệnh hại tốt nhất (ưu tiên nhất) là
áp dụng các biện pháp phòng trừ sinh học
Hiện nay, người ta thường dùng các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh,nhân nuôi các loại côn trùng thiên địch để khống chế về mặt số lượng sâu hại trên đồngruộng hoặc ghép cây kháng bệnh
Trồng các loại cây chuyển đổi gen để giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra là mộtbiện pháp mà hiện nay còn đang tranh cải giữa các nhà khoa học
Lợi dụng các mối quan hệ đối kháng giữa sinh vật với sinh vật vào việc phòng trừ dịch hại Ví dụ như: để phòng trừ tuyến trùng người ta trồng xen rãi rác cây cúc vạnthọ để hạn chế tuyến trùng gây hại, không luân, xen canh với các cây họ cà
Lợi dụng đặc tính sinh học của các loại côn trùng mà người ta làm bả, bẩy để dẫn dụ côn trùng (trưởng thành) đến để tiêu diệt, bẩy đèn bắt bướm, quấy rối không cho các con trưởng thành giao cấu sinh sản
* Biện pháp hoá học: Chỉ dùng thuốc khi thật cần thiết Phải có sự điều tra phát
hiện sâu bệnh, hướng dẫn dùng thuốc của cán bộ kỹ thuật Tuyệt đối không dùng cácloại thuốc trong danh mục thuốc cấm và thuốc hạn chế sử dụng, hoặc hạn chế tối đa sửdụng các loại thuốc có độ độc cao, thuốc chậm phân huỷ thuộc các nhóm clo và lânhữu cơ
Triệt để sử dụng các loại thuốc sinh học, thuốc thảo mộc, thuốc có độ độc thấp (thuốc nhóm độc III trở lên), thuốc chóng phân huỷ, ít ảnh hưởng đến các loài sinh vật
có ích trên ruộng
Cần phải sử dụng luân phiên các loại thuốc khác nhau để tránh sâu nhanh quen thuốc Bảo đẩm thời gian cách ly trước khi thu hoạch đúng hướng dẫn trên nhãn của từng loại thuốc
Tuyệt đối không được dấm ủ sản phẩm rau tươi bằng các hoá chất BVTV.Khi sử dụng thuốc hoá học cần lu ý phải tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng:
Đúng thuốc
Đúng lúc
Đúng kỹ thuật
Đúng nồng độ, liều lượng
Trang 11KỸ THUẬT TRỒNG MỘT SỐ LOẠI RAU
A NHÓM RAU ĂN LÁ
I KỸ THUẬT TRỒNG CẢI CAY (CẢI BẸ XANH):
1 Chuẩn bị đất và lên luống:
@ Chọn đất: Đối với đất trồng rau chọn đất tưới tiêu chủ động, từ cát pha đến
thịt nhẹ là tốt nhất, xa khu công nghiệp và chất thải đô thị
- Đất sau khi cày bừa thật kỹ kết hợp bón vôi, tiến hành lên luống để thoát nướckhông gây ngập úng khi có mưa to và tưới thừa nước để rau sinh trưởng phát triển tốt
@ Lên luống: Đối với mùa mưa lên luống cao 20 - 25 cm, mặt luống rộng 1,2 –
1,5m tuỳ từng chân đất (Mùa nắng thấp hơn 15 - 20 cm) kết hợp bón lót phân chuồnglên luống sau đó sang bằng phẳng mặt luống trước khi trồng rau Sau khi lên luốngxong nên tiến hành trồng rau để hạn chế cỏ dại mọc cạnh tranh dinh dưỡng
2 Ngâm ủ, gieo trồng cải cay:
@ Lượng giống gieo (500m 2): Gieo tập trung nhổ cấy: 45 -50 gam
Gieo hạt trực tiếp ngoài đồng sẽ đở công cấy, nhưng tốn nhiều hạt giống và côngtỉa Hạt giống đem phơi nắng nhẹ 1-2 giờ sau đó tiến hành ngâm ủ ngâm nước ấm (2sôi+ 3lạnh) từ 3-4 giờ rửa sạch nhớt tiến hành gieo hoặc ủ hạt giống vào khăn ẩm 20-
24 giờ đem gieo Hạt cải nhỏ, muốn gieo cho đều nên chia hạt nhiều phần và trộn vớicát trắng để dễ điều chỉnh hạt gieo
@ Gieo trực tiếp: Khi cây con được 10-15 ngày nhổ tỉa chừa khoảng cách 10 x 15
cm Tưới đẩm liếp trước khi gieo, sau khi gieo rải lớp tro trấu mỏng phủ hạt (mùa mưanên rải trấu) và rắc thuốc trừ kiến, các sâu hại khác (sâu non, bọ nhẩy, dế kiến, Ôcsên ) Trên mặt phủ lớp rơm mỏng và tưới đủ ẩm
@ Gieo hạt vườn ươm: Gieo tập trung thành luống, rau đạt 3-4 lá thật tiến hành
nhổ cấy thành luống, gieo vườn ươm giai đoạn cây con dễ chăm sóc, hạn chế sâu bệnhgây hại, có thể che đậy khi trời mưa lớn tránh dập nát cây con nên cấy rau vào lúcchiều mát hoặc sáng sớm Nếu gặp trời nắng gắt tiến hành che đậy để rau khỏi bị héosau khi trồng
3.Phân bón:
Lượng phân bón cho 500m2: Phân chuồng hoai mục: 1000 kg, Phân vi sinh 40
kg, Urê: 12 kg, Kali: 9 kg, Lân: 20 kg, vôi: 40 kg Ngoài ra giai đoạn cây con có thể bổsung phân bón lá để rau phát triển nhanh
* Cách bón:
Trang 12- Vôi bón trước khi làm đất cấy rau 7 - 10 ngày.
Chỉ Tiêu
cách bón Liều lượng Cách bón phân Thời gian bón
Bón lót
Bón toàn bộ phânchuồng, vi sinh, Lân,Urê 2 kg, Kali 3 kg Vãi đều mặt luống Kết hợp lên luốngThúc lần 1 5kg Urê, 3 ka li Vãi mặt luống kết
hợp cào phá váng
10 - 15 ngày saucấy
Thúc lần 2 5kg Urê, 3kg Kali Kết hợp tuới nước 20 - 25 ngày sau
cấy
II KỸ THUẬT TRỒNG XÀ LÁCH :
2.1 Chuẩn bị đất và lên luống:
@ Chọn đất: Đối với đất trồng rau, cần chọn đất tưới tiêu chủ động, từ cát pha đến
thịt nhẹ là tốt nhất Đất trồng rau xa khu công nghiệp và chất thải đô thị
@ Lên luống: Đối với mùa mưa lên luống cao 20 - 25 cm, mặt luống rộng 1,2 – 1,5
m tuỳ chân đất.(Mùa nắng thấp hơn 15 - 20 cm) kết hợp bón lót phân chuồng lên luốngsau đó sang bằng phẳng mặt luống trước khi trồng rau Đối với cây xà lách ưa nướcnhưng đủ ẩm, thừa nước cây vàng úa, rễ phát triển kém do đó cần tiến hành lên luốngcao để thoát nước tốt
@ Lượng giống gieo (500m 2 ): Gieo tập trung nhổ cấy: 40 -50 gam
@ Ngâm ủ: Hạt giống đêm phơi nắng nhẹ 1-2 giờ sau đó tiến hành ngâm ủ ngâm
nước ấm (2 sôi+ 3lạnh) từ 3-4 giờ rửa sạch nhớt tiến hành gieo hoặc ủ hạt giống vàokhăn ẩm khoảng 20- 24 giờ sau đó đưa ra ruộng gieo
@ Gieo trực tiếp: Sau khi ngâm ủ đem hạt giống trộn đều với đất bột vải đều mặt
luống sau khi gieo 15 ngày tiến hành nhổ bớt làm cải rau, giữ lại những cây khoẻ đúngmật độ tiến hành chăm sóc
@ Gieo hạt vườn ươm: Gieo tập trung thành luống sau 10-12 ngày tiến hành nhổ
cấy thành luống, giai đoạn cây con dể chăm sóc Nên cấy xà lách vào lúc chiều máthoặc sáng sớm
2.3.Mật độ:
Trang 13@ Đối với rau cấy theo hàng: Hàng cách hàng 20 - 22 cm, cây cách cây 18- 20
cm tuỳ thuộc từng mùa và giống, cấy mật độ thích hợp để rau phát triển cho năng suấtcao nhất Mật độ khoảng 9000 – 10.000 cây/ 500m2
2.4.Phân bón:
Lượng phân bón cho 500m2: Phân chuồng hoai mục: 800 - 1000 kg, Phân vi sinh
25 kg, Urê: 8 kg, Kali: 7 kg, Lân: 25 kg, vôi: 25 kg Ngoài ra giai đoạn cây con có thể
bổ sung phân bón lá để rau phát triển nhanh
Cách bón:- Vôi bón trước khi làm đất cấy rau 7 - 10 ngày.
Chỉ tiêu
cách
bón
Liều lượng Cách bón phân Thời gian bón
Bón lót Bón toàn bộ phân chuồng,
vi sinh, Lân,3 kg Urê,
3 kg Kali
Vãi đều mặt luống Kết hợp lên luống
Thúc lần 1 2 kg Urê, 2 kg ka li Vải mặt luống kết
hợp cào phá váng
10 - 15 ngày saucấy
Thúc lần 2 3 kg Urê, 2 kg Kali Kết hợp tuới nước 20 - 25 ngày sau
cấy
III KỸ THUẬT TRỒNG MÙNG TƠI:
@ Chọn đất: Đối với đất trồng rau mồng tơi cần chọn đất tưới tiêu chủ động, từ cát
pha đến thịt nhẹ là tốt nhất, đất trồng rau xa khu công nghiệp và chất thải đô thị
Lên luống: Đất sau khi cày bừa thật kỹ kết hợp bón vôi tiến hành lên luống Đối vớirau mồng tơi cần lên luống để thoát nước không gây ngập úng khi có mưa to và tướithừa nước để rau sinh trưởng phát triển tốt
@ Lên luống: Đối mùa mưa lên luống cao 20 - 25 cm, mặt luống rộng 1,2 – 1,5 m
tuỳ chân đất.(Mùa nắng thấp hơn 15 - 20 cm) kết hợp bón lót phân chuồng lên luốngsau đó sang bằng phẳng mặt luống trước khi trồng rau Sau khi lên luống xong tiếnhành trồng rau để hạn chế cỏ dại mọc cạnh tranh dinh dưỡng
2.2.Ngâm ủ, gieo trồng rau mồng tơi:
@ Lượng giống gieo (500 m 2): 1- 1,5 kg
Trang 14@ Ngâm ủ: Hạt giống đem phơi nắng nhẹ 1-2 giờ sau đó tiến hành ngâm ủ ngâm
nước ấm (2 sôi + 3lạnh) từ 5- 6 giờ rửa sạch nhớt tiến hành gieo hoặc ủ hạt giốngvào khăn ẩm 20- 24 giờ sau đó đưa ra ruộng gieo
2.3.Mật độ:
Đối với rau mồng tơi: Hàng cách hàng 20 - 22 cm, cây cách cây 5-7 cm
2.4.Phân bón:
Lượng phân bón cho 500m2: Phân chuồng hoai mục: 800 - 1000 kg, Phân vi sinh
25 kg, Urê: 10 kg, Kali: 8 kg, Lân: 15 kg, vôi: 25 kg Ngoài ra giai đoạn cây con có thể
bổ sung phân bón lá để rau phát triển nhanh
Cách bón:
ChỉTiêu
Cách
bón
Liều lượng Cách bón phân Thời gian bón
Bón lót Bón toàn bộ phân chuồng ,
vi sinh, Lân, Urê 2 kg,Kali 2 kg
Vãi đều mặt luống Kết hợp lên luống
Thúc lần 1 3 kg Urê, 2 kg kali Vải mặt luống kết
hợp cào váng
10 - 15 ngày saugieo
Thúc lần 2 2 kg Urê, 2 kg Kali Kết hợp tuới nước 18 - 22 ngày sau
gieoThúc lần 3 Urê 3 kg, Kali: 2 kg Kết hợp tuới nước 25- 30 ngày sau
gieoSau khi cắt rau thu hoạch tiếp tục bón phân, tưới nước làm cỏ để thu hoạch lứathứ hai, lượng phân bón bằng bón thúc lần 1
IV KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC RAU MUỐNG:
1 Giống
- Hiện nay rau muống nước chủ yếu dùng các giống địa phương Có hai giống: giống thân tím và thân trắng, nhưng giống được thị trường ưa chuộng là giống thân trắng
- Rau muống nước rất dễ nhân giống, có thể lấy giống từ ruộng rau đang thu hoạch
- Chọn những đoạn thân bánh tẻ có mang nhiều đốt hoặc có thể tách từng khóm