Bài làm Câu 1: Nuôi cá lồng có hai trường hợp: cá lồng ao và cá lồng biển Kỹ thuật nuôi cá lồng ao: * Lợi ích của việc nuôi cá lồng ao: - Nuôi cá lồng là hình thức nuôi cá thâm canh, d
Trang 1Đề bài
Câu 1: Trình bày vắn tắt biện pháp kỹ thuật nuôi cá lồng
Câu 2: Nêu vắn tắt đặc điểm tự nhiên ở địa phương em trên cơ sở đó đề xuất
nuôi một loài đặc sản ở địa phương
Bài làm
Câu 1:
Nuôi cá lồng có hai trường hợp: cá lồng ao và cá lồng biển
Kỹ thuật nuôi cá lồng ao:
* Lợi ích của việc nuôi cá lồng ao:
- Nuôi cá lồng là hình thức nuôi cá thâm canh, do môi trường nước lưư thông nên cá nuôi lồng có thể thả với mật độ dày; vật liệu làm lồng dẽ kiếm Có thể nuôi những loài cá ăn trực tiếpn như cá trắm cỏ, trê lai, rô phi, quả, ngạng, bống tượng…
- Kỹ thuật nuôi cá lồng đơn giản, đẽ làm và tận dụng được sứ lao động của mọi độ tuổi Thu hoạch cá lồng chủ động, hiệu quả cao
- Tuy nhiên nuôi cá lồng dễ bị mắc bệnh và lây lan nhanh, nên việc nuôi phải thận trọng, theo đúng qui trình kỹ thuật và bảo vệ môi trường
* Lồng nuôi cá có thể 1 trong 3 dạng: bằng thép, tre, gỗ
- Hệ thống khung lồng bằng tiếp thép
+ Vật liệu:
Toàn bộ khung lồng làm bằng ống tiếp thép Φ34, mỗi cây dài 6m và ống nối thép Φ34 Thùng phuy sắt 200lít, dây thép để liên kết phuy sắt với khung lồng Ngoài ra còn có dây neo cố định khung lồng
+ Thiết kế khung lồng:
Khung lồng có kích thướt 24x12m, gồm 2 dãy mỗi dãy 5 ô để mắc lưới lồng nuôi, mỗi ô kích thướt 4,5x4m Phao làm bằng thùng phuy 200lít và được cố định với khung lồng ở những vị trí như hình vẽ 1
Các tiếp sắt Φ34, mỗi cây có chiều dài 6m được nối thẳng với nhau bằng tiếp nối Φ34 Toàn bộ các tiếp sắt dọc và ngang được hàn gắn chặt với nhau tạo thành khung lồng như hình 1, các phuy sắt làm phao được liên kết với khung lồng bằng dây thép Lồng làm bằng lưới dệt có kích thướt 4,5 x 4x 3m có kích thướt mắc lưới (2a)1,5cm, đáy lưới lồng được cố định dây giềng nối với đá chẻ
Trang 2Hình 1: Hệ thống lồng nuôi bằng tiếp thép.
- Hệ thống khung lồng bằng tre:
+ Vật liệu :
Khung lồng làm bằng tre đặc thẳng mỗi cây dài khoảng 4m đến 5m, liên kết nhau bằng dây thép Phao bằng phuy sắt 200lít Toàn bộ khung lồng được cố định bằng dây neo 4 góc
+ Thiết kế khung lồng:
Khung lồng có kích thướt 16 x 10m làm thành 2 dãy, mỗi dãy 3 ô nuôi, mỗi ô thướt 5x4m để mắc lưới lồng Các cạnh của khung lồng gồm 5cây tre ghép sát nhau rộng khoảng 0,6m bằng dây thép Phao được làm bằng thùng phuy sắt và liên kết với khung lồng bằng dây thép Lồng lưới có chiều sâu 2,5m, chiều sâu mức nước thả nuôi là 2,0 m
Hình 2: Hệ thống lồng nuôi bằng tre
Trang 3- Hệ thống khung lồng bằng gỗ
+ Vật liệu: Thanh gỗ 5x10cm có chiều dài từ 4 - 6m, ốc10 dài 20cm Phao
bằng thùng phuy sắt 200lít và dây thép
+ Thiết kế khung lồng: Các thanh gỗ 5x10cm có chiều dài từ 4 - 6m được
liên kết bằng ốc10 dài 20cm Phao bằng thùng phuy sắt 200lít, được liên kết với khung lồng bằng dây thép Khung lồng có kích thướt 14x10,5m được chia làm 2 dãy, mỗi dãy 3 ô nuôi, ô kích thướt 4,5x 4m Khung lồng nhìn trên xuống chưa lắp ván đi có hình như sau:
Hình 3: Hệ thống lồng nuôi bằng gỗ Lồng lưới có chiều sâu 3m, chiều sâu mức nước thả nuôi là 2,5 m Như vậy kích thước mỗi lồng nuôi là 4,5 x 4x 3 m
Tất cả các lồng dù thiết kế bằng vật liệu gì trên các mặt của thành lồng đều có lớp lưới chắn cao 0,5 m để ngăn thức ăn trôi ra ngoài
* Kỹ thuật nuôi.
- Lựa chọn địa điểm nuôi:
+ Địa điểm đặt lồng bè phải có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp
+ Môi trường nuôi phải đảm bảo các yếu tố sau: pH 7,0 – 8,0; oxy hoà tan >
5 mg/lít; NH3 nhỏ hơn 0,01 mg/lít; H2S < 0,01 mg/lít Chọn nơi thông thoáng, không nên nuôi tại các điểm cuối của eo nghách Độ sâu điểm đặt lồng trên hồ chứa có độ sâu lớn hơn 4 m tại thời điểm mực nước hồ xuống thấp nhất
+ Mật độ lồng nuôi trên hồ chứa không quá dày Mỗi cụm lồng không quá nhiều lồng tốt nhất khoảng mỗi cụm nuôi khoảng10-15 lồng Các cụm lồng cách nhau 10-15 m Tại hồ chứa tổng diện tích lồng không quá 0,2% diện tích khu vực đặt lồng Cụ thể là 1 ha mặt thoáng hồ chứa chỉ được nuôi 1 lồng 20m2 Nuôi nhiều hơn sẽ bị ô nhiễm không tốt
Trang 4- Chọn giống và thả giống:
+ Con giống: Đối với nuôi thương phẩm trong lồng trên hồ chứa hiện nay chúng ta nên sử dụng cá rô phi đơn tính đực dòng GIFT hay cá rô phi đỏ (cá điêu hồng) Nên mua giống ở các cơ sở tin cậy, có chất lượng
+ Cá giống phải khỏe mạnh, không dị hình, xây xát, kích cỡ đồng đều, không bị mất nhớt Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn, bơi chìm
+ Kích cỡ cá giống: Đối với nuôi trong lồng lưới yêu cầu kích thước cá giống trên 25 g/con Cá giống này đã được nuôi trong ao cho đến khi đạt kích thước trên mới đưa ra thả trong lồng
+ Mật độ thả: Nuôi lồng trên hồ chứa thả 100 con/m3 lồng
+ Mùa vụ thả giống: Tốt nhất nên thả giống nuôi vào tháng 3 – tháng 10
và nuôi 2 vụ/năm
+ Cá giống mới vận chuyển về thả chung một lồng kích cỡ mắt lưới 0.2
cm để lựa chọn đưa vào các lồng nuôi thương phẩm
+ Khi thả cá, cân bằng môi trường bằng cách ngâm bao chứa cá vào lồng nuôi trong thời gian 10 – 15 phút, sau đó cho nước từ từ vào miệng túi và tiến hành thả cá
- Cho ăn:
+ Thức ăn cho cá sử dụng trong quá trình nuôi chủ yếu là 2 loại : thức ăn công nghiệp và thức ăn chế biến
+ Dùng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi và không tan trong nước sẽ hạn chế sự thất thoát thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm nước ao nuôi Cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn chế biến có hàm lượng đạm 18 -30%
+ Thức ăn chế biến được làm từ các nguyên liệu sẵn có ở địa phương để phối chế thành thức ăn cho cá Các nguyên liệu cần tính toán hợp lý để đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng, quan trọng nhất là đạm theo nhu cầu của ca Thành phần thức ăn chế biến ta có thể sử dụng 1 trong 2 công thức sau:
* Công thức 1: Cám gạo 60 %+ bột ngô (bắp) 20% + bột cá 20%
* Công thức 2: Cám gạo 40% + bột ngô (bắp) 20% + khô dầu lạc 40% + Các loại thức ăn được nấu chín để nguội vo lại thành nắm nhỏ để cho cá
ăn trong sàn ăn Cho cá ăn từ từ, từng ít một cho đến khi hết thức ăn, tránh hiện tượng cá tranh giành thức ăn quá mạnh, làm thức ăn tan vào nước ao gây thất thoát Không nên cho cá ăn thức ăn dạng bột vì thức ăn bị tan trong nước vừa lãng phí vừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi
Trang 5+ Thức ăn được chia đều làm 2 phần, cho cá ăn vào lúc sáng ( 6-7 h) và chiều (17-18h) Cho cá ăn đúng giờ để tạo phản xạ cho cá
+ Trong quá trình nuôi cần theo dõi tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp Chu kỳ điều chỉnh thức ăn là 10 ngày/1lần Cứ 10 ngày kiểm tra tốc độ sinh trưởng cá 1 lần trên cơ sở đó ước lượng được khối lượng cá trong ao Lượng thức ăn cho ăn trong giai đoạn đầu bằng 5- 6% khối lượng cá nuôi Khi cá đạt cỡ 100g cho ăn 3-4%, khi cá đạt trên 200g cho ăn 2%
- Quản lý lồng nuôi
+ Hàng ngày quan sát hoạt động của cá trong các lồng nuôi, tình hình sử dụng thức ăn và các hiện tượng bất thường khác xảy ra
+ Mỗi tuần vệ sinh lồng một lần, dùng bàn chải nhựa cọ sạch các cạnh bên lồng lưới Việc vệ sinh lồng tiến hành trước các bữa ăn của cá
+ Trong quá trình vệ sinh cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp thời các vết rách, rạn nứt để kịp thời khắc phục các vết rách nhằm hạn chế cá đi mất
+ Loại bỏ rác trôi nổi và các vật cứng vào khu bè nuôi
+ Vào mùa mưa lũ phải kiểm tra cá dây leo bè, di chuyển lồng vào vị trí
an tan khi có bão, lũ
- Thu hoạch
Sau 4-5 tháng nuôi cá đạt kích cỡ cá thương phẩm có thể tiến hành thu tỉa
cá đạt kích thước lớn Ca nhỏ hơn tiếp tục được nuôi cho đến cuối vụ thu hoạch toàn bộ
Có thể nuôi đến 5 – 6 tháng toàn bộ cá đạt kích cỡ thương phẩm tiến hành thu toàn bộ Sản phẩm có thể được tiêu thụ ngay tại địa phương hay chuyển các tỉnh lân cận như Gia Lai, ĐăK LăK …
Kỹ thuật nuôi cá lồng biển
* Xác định lượng thức ăn hàng ngày
Lượng thức ăn hàng ngày của cá là chỉ số phần trăm giữa lượng thức ăn của cá và trọng lượng cá nuôi Khi nuôi cá lồng, sau khi thả giống 1- 2 ngày bắt đầu cho cá ăn Các loài ăn khoẻ như: cá vược, cá cam, cá hồng thì lượng cho
ăn cao; đối với cá song thì thấp hơn Khi cá còn nhỏ, giai đoạn tháng 6 đến tháng 10 do nhiệt độ cao nên lượng thức ăn cũng cần cao Nói chung nên điều chỉnh trong phạm vi 3-8%, có 80% số lượng cá ăn no là được Đối với cá vược, thời kỳ nuôi ban đầu mức cho ăn độ 20%, thời kỳ giữa 7-15%, thời kỳ cuối 8-7%
Trang 6Mức cho ăn đối với cá song từ 3-10%, cá tráp vàng khoảng 6% Có thể căn
cứ vào lượng giống thả và những con số theo dõi của năm trước như tỉ lệ sống, tăng trọng, hệ số thức ăn để tính ra số lượng thức ăn cần sử dụng cho cá năm sau, sau đó lại căn cứ vào tình hình nhiệt độ nước cao thấp để dự tính lượng thức
ăn phân phối cho từng tháng, từng tuần và từng ngày
* Thành phần thức ăn
Hầu hết các loài cá nuôi lồng biển đều là cá ăn động vật, phần lớn cho ăn bằng cá, tôm, mực, trai, ốc tươi sống; đồng thời cũng có thể cho cá ăn bằng thức
ăn đông lạnh và một phần thức ăn công nghiệp Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của mỗi loài cá không giống nhau, vì thế khi nuôi chúng ta cần chú ý đáp ứng
Nhu cầu thức ăn của cá hồng: đạm 50-55%, chất béo 10-15%, chất đường 10-15%, chất tro 15-21% Căn cứ vào đó làm tiêu chuẩn, có thể pha chế thức ăn công nghiệp cho chúng theo tỉ lệ sau: bột cá 15-21%, bột mì 20%, bột khô đậu 5%, sinh tố 2%, muối khoáng 3% Thức ăn pha chế để nuôi cá song cần có hàm lượng đạm 40-50%
* Cách cho ăn
- Tốt nhất là cho ăn vào lúc lặng sóng ban ngày, nếu không kịp thì cho ăn ở phía nước đến để giảm tình trạng thức ăn bị trôi
- Cá còn nhỏ cho ăn ngày 3-4 lần, cá lớn cho ăn ngày 2 lần vào sáng và chiều, về mùa rét cho ăn vào lúc nắng ấm buổi trưa Nên làm dàn cho ăn để kiểm tra và đỡ rơi vãi thức ăn
- Cá song (cá mú) đớp mồi rất chậm, còn cá tráp thấy mồi đớp luôn, vì thế trong lồng nuôi cá song nên thả lẫn một ít cá tráp đen và tráp vây vàng để kích động cá song bắt mồi nhanh
- Đối với cá hồng: trước khi xuất bán 2 tháng cần cho ăn thêm tôm vụn để tăng chất caroten làm cho màu cá đỏ đẹp thêm, cũng có thể che kín lồng để ức chế sắc tố đen tạo cho cá có được màu đỏ của cá biển tự nhiên
* Các biện pháp nâng cao hiệu quả
- Khi gặp sóng to gió lớn, nước chảy mạnh, nước đục phải giảm bớt lượng cho ăn Dùng thức ăn viên nổi phải có sẵn dụng cụ vớt phòng thức ăn bị trôi mất khi có sóng gió, nước chảy mạnh Dùng các loại thức ăn khác phải tăng độ cao thành dàn cho ăn
- Khi nhiệt độ nước hạ nhanh, trời âm u không gió, hàm lượng ôxy thấp phải giảm lượng cho ăn
Trang 7- Trong ngày thay lồng lưới không được cho cá ăn, lượng cho ăn ngày hôm sau nên giảm bớt
- Thực hiện định lượng cho ăn từng lần, khi không thấy đàn cá nổi lên ăn thì tạm dừng cho ăn, để cá bị đói còn hơn cho cá ăn
- Ngừng cho ăn một ngày trước khi vận chuyển cá thịt đường dài
* Tiêu thụ và hiệu quả nuôi cá lồng biển
Tiêu chuẩn cá thịt
Tiêu chuẩn cá xuất bán phụ thuộc vào thị hiếu người tiêu dùng, thị trường, tốc độ lớn của cá và đặc điểm của từng loại cá
Cá song, cá vược, cá đù từ 500 g trở lên có thể bán được Do yêu cầu của thị trường xuất cá bán càng to không nhất định là cá tốt Trên thị trường cá song loại I từ 450 – 1500 g, loại II TỪ 250 – 450 G, loại III từ 1500 g trở lên, loại IV dưới 150 g Cá tráp đen từ 350 g trở lên, cá cam từ 750 g trở lên
Vận chuyển cá thịt
Các loài cá nuôi lồng biển đều xuất bán thị trường ở dạng cá sống, còn bơi lội khỏe Xuất cá sống vừa thỏa mãn nhu cầu ăn cá tươi của người tiêu dùng vừa tăng giá trị của cá, có lợi cho người nuôi và ngưới làm công tác lưu thông Vận chuyển càng nhanh, mật độ càng cao, tỷ lệ sống sau vận chuyển càng cao, giá thành vận chuyển thấp v.v người vận chuyển càng có lợi, đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với những người làm kỹ thuật vận chuyển Ở Nhật Bản trong thập
kỉ 90 (thế kỉ 20) có trên 2000 chiếc xe thiết kế chuyên dùng cho vận chuyển cá sống Ở Trung Quốc mới phát triển hơn 10 năm gần đây, có tiến bộ rất lớn, ven biển tỉnh Sơn Đông đã có 10 chiếc tàu chuyên chở cá tươi sống đi các nơi
Vận chuyển cá biển sống khó hơn vận chuyển cá nước ngọt nhất là đối với loài cá đáy khi áp suất nước vừa bị giảm đã chết ngay Nhưng do cá và các loài động vật máu lạnh khác đều có một nhiệt độ lạnh sinh thái cố định Do đó chỉ cần nắm vững được nhiệt độ sinh lí của nó, lựa chọn một phương pháp hạ nhiệt thích hợp, điều kiện đóng hàng vận chuyển khoa học thì có thể làm cá biển sau khi ra khỏi môi trường sống cũ của nó một thời gian vẫn sống được và đạt mục đích vận chuyển sống Có ba phương pháp vận chuyển cá sống thường dùng là: Phương pháp tăng oxy
- Chở đường biển có tàu (thuyền) thông thủy, trực tiếp lấy oxy từ nước biển trên đường đi thay cho nước chở cá trong tàu đã giảm oxy và nhớt bẩn
- Vận chuyển đường bộ số lượng không lớn, cự li không xa (thời gian khoảng 20 giờ, cự li vài trăm cây số trở lại) thường dùng xe chở cá Xe này được cải tiến từ xe vận tải thường để chuyên dùng vận chuyển cá sống, tiền mua xe rẻ,
Trang 8giá thành vận chuyển thấp Mật độ vận chuyển trong tàu thông thủy mùa hè dưới
75 kg/m3, mùa xuân dưới 100 kg/m3, mùa đông 120 – 130 kg/m3
- Vận chuyển khối lượng lớn, cự li xa dùng xe chuyên dùng cỡ lớn Ở Trung Quốc đã thiết kế và sử dụng loại xe hiện đại kiểu HY 14-10-70, mỗi chuyến chở được 15 – 16 tấn cá sống, tỷ lệ1 kg cá/1 kg nước, cự li vận chuyển
1000 – 3000 km, thời gian vận chuyển 50 – 100 giờ, tỉ lệ sống 98 – 100% Trên
xe có hệ thống tự động điều chỉnh nhiệt độ nước, hàm lượng oxy, hút bỏ cặn bẩn, thay nước v.v
Phương pháp nhiệt độ thấp
Căn cứ vào nhiệt độ sinh lý của cá để áp dụng phương pháp hạ nhiệt độ xuống thấp làm cho cá sống ở trạng thái “bán ngủ” hoặc “ngủ hẳn”, hạ thấp nhiệt độ cường độ trao đổi chất, giảm tổn thương cơ học, kéo dài thời gian sống Tuy mỗi loài cá có nhiệt độ lạnh sinh thái cố định nhưng khi thay đổi môi trường đang sống của nó thường dễ sinh ra phản ứng kích thích và dẫn tới tử vong Vì thế phương pháp hạ nhiệt đối vói cá bơn, cá nóc ở Trung Quốc thường
hạ từ từng nấc một an toàn, đảm bảo tỷ lệ sống cao hơn Vận chuyển cá sống không nước số lượng vận chuyển lớn, không ô nhiễm, không ăn mòn dụng cụ, giá thành thấp, chất lượng cao Dùng dụng cụ vận chuyển kín, có khống chế nhiệt độ, khi giảm nhiệt độ dần đến băng ôn thì cá ở trạng thái ngủ, lúc này kết hợp oxy
Cách gây mê
Sử dụng thuốc gây mê để ức chế trung khu thần kinh của cá, làm cho cá (động vật thủy sản) mất đi chức năng phản xạ, nhờ đó mà giảm cường độ hô hấp
và trao đổi chất, nâng cao tỷ lệ sống
Hiệu quả kinh tế
Nuôi cá lồng biển là hình thức nuôi lấy lồng nilông làm vật thể chứa cá, đặt lồng nuôi trong khu vực biển có chất nước tốt, áp dụng kỹ thuật thả mật độ dầy trong khối nước nhỏ và kỹ thuật nuôi tinh để thu hoạch nhanh, chu chuyển vốn nhanh và quản lý tương đối thuận tiện.Hình thức nuôi này có các đặc điểm như: đầu tư cao, doanh thu lớn, lợi nhuận nhiều nhưng cũng lắm rủi ro
Muốn phát triển nuôi cá lồng tại khu vực biển nào đó, trước hết cần phải nắm được kỹ thuật, lập kế hoạch đầu tư, dự đoán thu chi và hiệu quả đầu tư, nếu
có lợi thì mới làm Có thể tham khảo tổng kết phân tích hiệu quả kinh tế nuôi cá lồng biển ở khu vực biển cảng Tượng Sơn tỉnh Triết Giang, nuôi phổ biến loại lồng cá kích thước 3 x 3 x 3 m, nuôi chủ yếu là cá song, cá vuợc, cá đủ
Trang 9Câu 2:
* Tình hình phát triển ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh Hà Nam:
Nhờ sự quan tâm của các cấp, các ngành, trong những năm qua nuôi trồng thủy sản ở Hà Nam có bước phát triển đáng kể Đến nay toàn tỉnh chuyển đổi được hơn 3.000 ha diện tích ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sản xuất đa canh
và nuôi trồng thủy sản, xây dựng xong 04 khu nuôi trồng thủy sản tập trung Diện tích nuôi trồng tăng theo các năm từ 3.930 (năm 2000) tăng 5.366 ha (năm 2005) với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,429%, đến 2010 tăng 6.100 ha Diện tích tăng nhanh chủ yếu vùng ruộng trũng chuyển đổi và diện tích ao trong khu dân cư Về cơ cấu sản xuất, ở giai đoạn 2001 - 2005 phát triển mạnh về thủy sản, đưa nhiều loài nuôi mới có giá trị kinh tế như: cá chim trắng, tôm càng xanh, cá rô phi đơn tính, ếch Thái Lan… vào nuôi thử nghiệm để thay thế dần các đối tượng nuôi truyền thống Giai đoạn 2006 - 2010 tiếp tục đưa một số con mới như: cá vược, cá tra, cá lóc bông, cá rô đồng Sản lượng thủy sản ở giai đoạn duy trì mức tăng trưởng khá, bình quân gần 9%/năm, mỗi năm sản lượng nuôi trồng thủy sản khoảng 18.000 tấn
Trong các đối tượng con nuôi thủy sản, diện tích nuôi tôm càng xanh trong giai đoạn 2006 – 2010 được mở rộng Bắt đầu từ năm 2001, tôm càng xanh được đưa vào nuôi ở xã Tiên Hiệp, huyện Duy Tiên và xã Khả Phong, huyện Kim Bảng với tổng diện tích 04 ha Tôm càng xanh cho hiệu quả kinh tế cao nên tỉnh tiếp tục mở rộng diện tích nuôi trên vùng chuyển dịch đất trũng ở 1
số địa phương Đến năm 2005, tổng diện tích nuôi tôm càng xanh đạt 86,5 ha với sản lượng bình quân 1,25 tấn/ha Từ 2006 khu nuôi trồng thủy sản ở xã Khả Phong (Kim Bảng) xây dựng và đi vào hoạt động, diện tích duy trì năm từ 40 –
50 ha, góp phần nâng tổng diện tích tôm càng xanh của tỉnh đạt 106,2 ha và đến
2010 tăng lên 124 ha với sản lượng ước đạt 220 tấn
Hướng phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011 – 2015
đã xác định phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa hiện đại, thâm canh bền vững; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi thủy sản, phát triển chăn nuôi thủy sản theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp, xây dựng các khu chăn nuôi thủy sản tập trung theo quy hoạch Phấn đấu đến năm 2015, chăn nuôi thủy sản của tỉnh đạt trên 45% giá trị sản xuất nông nghiệp; diện tích nuôi trồng thủy sản
7000 ha với sản lượng đạt 20.000 tấn/năm, trong đó cá truyền thống 19.500 tấn, thủy đặc sản 500 tấn, riêng tôm càng xanh đạt 200 ha với sản lượng 320 - 350 tấn
* Trong thời gian gần đây khoa học công nghệ tỉnh Hà Nam đã phát hiện ra một loại cá mới: cá Trối (10/2010)
Trang 10Cá Trối - Con nuôi vừa được công bố là loài mới
Cá Trối là loài cá lạ thuộc giống cá quả Channa, họ Channidae, bộ cá vược Perciformes dạng không có vây bụng, được thu ở đầm Tam Chúc (Ba Sao
- Kim Bảng), ngày 15/02/2010 Giống cá channa dạng này thế giới có 2 loài là: C.asiatica (Linnaeus, 1758), ở Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam và C nox Zhang, Musikasinthorn và Watanabe, 2002 ở Quảng Tây, Trung Quốc Cá Trối
ở Hà Nam giống 2 loài trên là không có hai vây bụng và gốc vây đuôi có đốm hình con mắt Tuy nhiên, điểm khác biệt so với 2 loài trên đó là: khởi điểm vây lưng trước hoặc đối diện với khởi điểm vây ngực; miệng hình cung sâu và hẹp; chiều dài lớn hơn chiều rộng; vảy đường bên nhiều (trên 60 chiếc); đốt sống nhiều (từ 55 - 57 chiếc); lược mang cung 1 ít (4 - 6 chiếc) Đây là loài mới đặc hữu ở Kim Bảng, Thanh Liêm, Hà Nam, được gọi là cá Trối Hà Nam - Channa HaNamensis
Việc phát hiện cá Trối ở Hà Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng, bổ sung vào sự đa dạng sinh học của hệ động vật Việt Nam Với đặc điểm sinh học của loài cá này cho thấy, đây thực sự là loài mới, đặc hữu, cần được bảo tồn và có phương pháp nhân giống để có thể phát triển loài cá này…
Em nghĩ đây là loài cá đặc sản tại địa phương và các cấp chính quyền địa phương phải có sự quan tâm tốt giúp cho nhân dân phát triển và chăn nuôi loài
cá mới này, cá Trối