Chương Ì VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGHỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẲN TRONG NGÀNH THỦY SẲN NÓI RIÊNG VÀ NÔNG NGHIỆP NÓI CHUNG Trung Quốc là một trong những quốc gia trên thế giới sản xuất nghề cá ph
Trang 1Cát Quang Hoa
Quan ⁄4 MN
CÁC xi NGHIEP NUÔI TRỒNG THỦY SẲN
(Nuôi trông thủy sản nước ngọt, lái sản, thủy sinh vat)
IN DAI HOC THUY SAN
3000009799
THU VIEI
Trang 2Chủ biên: Cát Quang Hoa, Đại học thủy sản Thượng Hải Trung Quốc
Biên soạn: Câu Duy Dan, Hoc viện thủy sản Đại Liên
Thành Trường Sinh, Đại học thủy sản Thượng Hải Cát Quang Hoa, Học viện thủy sản Đại Liên
Thẩm định : Xa Ngọc Xuân, Học viện thủy sản Đại Liên
QUAN LY KINH DOANH CAC Xi NGHIEP NUOI TRONG THUY SAN (Nuôi trồng thủy sản nước ngọt, hải sản, thủy sinh vật)
Dịch từ nguyên bản Tiếng Trung
của NXB Nông nghiệp Trung Quốc, 1996,
Người dịch : Hà Thị Thu Huyền
Cố vốn chuyên môn : Thái Thị Kim Thành
Dương Trí Thảo Phạm Xuân Thủy Phạm Châu
Trần Đình Chất Nguyễn Thế Dũng
NHÀ XUẤT BAN NONG NGHIEP
TP HG Chi Minh - 2005
Trang 3rH†B| 4 lb ie Ak
Trang 4Mục lục
Lời giới thiệu sàng Hà HH HH HH HH1 ke 5
Lời nói đầu
Vai trò và vị trí của nghề nuôi trồng thủy sản trong
ngành thủy sản nói riêng và nông nghiệp nói chung 9 Khái niệm và đặc điểm nghề nuôi trồng thủy sản ll
Thực trạng và xu hướng phát triển nghề
nuôi trồng thủy sắn ở Trung Quốc - - 7-52 2+2 cc2cscccrsrsrves 15
Vai trò và vị trí của nghệ nuôi trồng thủy sẵn trong
nông nghiệp nói chung và ngành thủy sản nói riêng - -.- 24
Nội dung và cơ chế quản lý kinh doanh các
xí nghiệp nuôi trồng thủy sẳn chen 30
Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản - nhe 30
Hoạt động quản lý kinh doanh của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
Chế độ quản lý kinh doanh của các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
Dy đoán kinh doanh và quyết sách kinh doanh
của xí nghiệp nuôi trông thủy sẳn cccirieeiirrre 48
Dự đoán kinh doanh của xí nghiệp nuôi trồng thủy sẵn 48
Quyết sách kinh doanh của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản 57
Quyết sách đầu tư lâu dài của các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản 66
Kế hoạch kinh doanh và hợp đông kinh tế của
các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản .- eciriirre 75 Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ của kế hoạch kinh doanh .: 75
Kế hoạch kinh doanh; phân loại, nội dung 80 Hợp đồng kinh tế
Kinh doanh tổng hợp của các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản 98
Ý nghĩa của kinh doanh tổng hợp 5-225ccccsrrrierrierree Hiệu ích của kinh doanh rổng hợp tnhehhererreerie
Mô hình chủ yếu của kinh doanh tổng hợp - .-c5-5 5se2
Điều kiện chuẩn bị cần thiết của kinh doanh tổng hợp
Trang 5Chương 6: Quản lý kỹ thuật sản xuất của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản 123
Tiết 1: Tầm quan trọng và nhiệm vụ cơ bản của
quần lý kỹ thuật sẵn xuất LH 123 Tiết 2: Nội dung cơ bản của quần lý sẩn xuất 5-5 cccsrsvsrerrrrrres 127 Tiết 3: Nội dung cơ bản của quần lý kỹ thuật ccccsteereerererireerrer 138 Chương 7: Quản lý lao động xí nghiệp nuôi trồng thủy sẵn 144 Tiết 1: Định mức lao động và tổ chức điều phối sức lao động - 144 Tiết 2: Tổ chức lao động cà tt tt HH 2H21 eeee 155
Tiết 3: Chế độ trách nhiệm 1L 251 1S 121281 811111811111 11111552 errke 160
Tiết 4: Trả lương lao động tt 21x Sv 22212221 2211101111112 169
Chương 8: Quản lý tiêu thụ của xí nghiệp nuôi trồng thủy sắn 175
Tiết 1: Ý nghĩa và nhiệm vụ quần lý tiêu thụ c 2cccscsrcerrrerreerree 175
Tiết 2: Phân tích hoàn cảnh tiêu thụ cv srerrrrrrererrre 178
Tiết 3: Tổ chức nghiệp vụ tiêu thụ . - 5-20 222 2t x2 exirrrrrrrrerrrrrrrrsee 184
Chương 9: Quản lý giá thành sản phẩm trong xí nghiệp nuôi trồng thủy sản 192
Tiết 1: Các khoản mục chỉ phí sản xuất và phương pháp hạch toán
của giá thành sản phẩm thủy sản . ccccccccsreo 192
Tiết 2: Phân tích sản lượng, giá thành sản phẩm và lợi nhuận 196
Tiết 3: Tăng cường quản lý giá thành sẵn phẩm hạ thấp giá thành sản phẩm 200
Chương 10: Quản lý tài chính của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản 205
Tiết 1: Nguyên tắc và nhiệm vụ của quản lý tài chính ccccrsrs 205 5219) 1.0 0 207
Tiết 3: Báo cáo tài chính và đánh giá tài chính - 5.5 5c Sen cecsrxvrseez 216
Chương 11: Phân tích kinh tế - kỹ thuật nuôi trồng 22 con 222
Tiết 1: Ý nghĩa và nội dung của nghiên cứu kinh tế -
kỹ thuật nuôi trỔng ¿-ct à 21 2t 22112121122 1111 rree 222
Tiết 2: Hệ thống nguyên tắc và chỉ tiêu trong đánh giá hiệu quả
kinh tế - kỹ thuật nuôi trồng thủy sắn . cu Stckvx2rsrcsrree 224
Tiết 3: Phương pháp chung trong phân tích kinh tế kỹ thuật
nuôi trồng thủy sẳn -. - + 2c n2 tt 2E 1222111 1117 xe run 233
Tiết 4: Nguyên tắc và tiêu chuẩn lựa chọn kỹ thuật
nuôi trồng thủy sản s4 tt nh n1 111011 242
Trang 6LỜI GIỚI THIỆU
gỉ học Thủy sản là trường đại học đầu ngành của cả nước có nhiệm
vụ đào tạo và bôi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và quản
lý kinh tế có trình độ đại học và sau đại học cho ngành thủy sản
San hơn 45 năm xây dựng và phát triển, đến nay trường đã và đang từng bước tiến tới
một trường đại học đa ngành với trên 20 chuyên ngành đào tạo Tuy nhiên, trong định
hướng chiến lược phát triển của nhà trường, các ngành đào tạo có tính chất truyền thống, vẫn phải giữ vai trò nòng cối Kinh tế Thủy sẵn là một trong số các chuyên
ngành đó
ĐỂ đáp ứng yêu câu phát triển của đào tạo trong điều kiện mới, nhà trường đã chủ trương tổ chức biên soạn hệ thống tài liệu giảng dạy cho các chuyên ngành này theo hướng cập nhật, đổi mới và hiện đại Một trong những nội dung quan trọng đó là
sưu lầm và biên dịch các tài liệu chuyên ngành của nước ngoài ra tiếng Việt, nhất là
các tài liệu của các nước có nghề cá phát triển
Bộ môn Kinh tế Thủy sẵn là một ấơn vị trực tiếp triển khai thực hiện chủ trương
này Sau một thời gian nỗ lực sưu tầm tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bước đầu Bộ
môn đã tổ chức biên dịch được một số tài liệu, giáo trình của Trung Quốc, Mỹ và châu
Âu ra tiếng Việt Đây là những tài liệu quan trọng thuộc chuyên ngành Kinh tế Thấy sản Nội dung các tài liệu này liên quan trực tiếp đến những vấn đề kinh tế, tổ chức
quản lý và nghiên cứu thị trường trong việc phát triển ngành thủy sẵn một cách hiệu
quả, bền vững, có cơ sở khoa học và thực tiễn Một số tài liệu trong số này đã được sử
dụng làm giáo trình giảng dạy chính thúc của nhiều trường đại học nghề cá nước ngoài Cuốn sách này là một trong số các tài liệu nói trên Nhân dịp 45 năm thành lập trường, xin trân trọng giới thiệu với độc giả quan tâm bản dịch của tài liệu này
Với mong mỗi tạo ra một nguôn tài liệu mới phục vụ cho tham khảo và biên
soạn các tài liệu giảng dạy học tập của cán bộ, giáo viên và sinh viên trường Đại học Thủy sản, các thành viên biên dịch đã có rất nhiều cố gắng trong việc chuyển tải nội dụng của cuốn sách ra tiếng Việt, nhưng do trình độ có hạn, thời gian gấp rút, bên
cạnh đó, có những nội dung người dịch chưa từng được tiếp cận, cho nên chắc chắn tài
liệu này sẽ còn nhiều thiếu sót, Bộ môn Kinh tế Thủy sản và những người biên dịch
mong nhận được các ý kiến đóng góp xây dựng của độc giả
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu và phòng Đào tạo trường Đại học Thủy sản đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ và ng hộ cho việc xuất bản cuốn sách này
KHOA KINH TẾ, DAI HOC THUY SAN
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
năm 1976, Trung Quốc đã lấy việc phát triển nuôi trồng thây sẵn là chiến lược trọng điểm để chấn hưng ngành thủy sân, làm phôn vinh kinh
tế nông thôn Nghề nuôi trồng thủy sân được phát triển một cách mạnh
mẽ Từ đấy, toàn quốc đã dấy lên phong trào cải tạo và xây dựng hàng loạt các xí
nghiệp nuôi trông thủy sẵn Phong trào đó góp phẫn quan trọng thúc đẩy sự phái triển của ngành thủy sẵn và cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩm thủy sẵn
Thực tế đã chứng mình rằng muốn củng cố và phát triển nghệ nuôi trông thấy san thì việc tăng cường quản lý kinh doanh các xí nghiệp nuôi trông thủy sản là vô
cùng quan trọng VỀ một lý luận cũng như trên thực tế, các nhà khoa học và các nhà quản lý đã không ngừng tìm lòi, di sâu nghiên cứu để đưa việc quân trị kinh doanh xi
nghiệp nuôi trông thủy sẵn trở thành một môn khoa học Nhưng ngành nghiên cứu này
hãy còn non trẻ, trình độ lý luận chưa cao, do đó cần phải có thời gian để hoàn thiện hơn
Nhằm phục vụ cung cấp tài liệu giảng dạy cho các trường Đại học và Cao đẳng Thủy sản, được sự chỉ đạo và thẩm định của hội đẳng giáo trình toàn quốc và tổ biên soạn giáo trình của các trường Đại học và Cao đẳng Thủy sản, tác giả đã biên soạn quyển giáo trình này căn cứ vào tài liệu và giáo trình của các trường kết hợp với
tự liệu đã sưu tập được qua hơn mười năm điêu tra nghiên cứu Tác giả đã miêu tả một
cách có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn đã ứng dụng trong các xí nghiệp nuôi trông thấy sản
Giáo trình này do Cát Quang Hoa ở trường Đại học thủy sẵn Thượng Hải chủ biên và Xa Ngọc Xuân Học viện thủy sản Đại Liên thẩm định Giáo trình gom 1]
chương, tham gia biên soạn được phân công như sau: Cát Quang Hoa biên soạn chuong I, IV, V, VH; Thành Trường Sinh biên soạn chương IX, X, XI; Câu Duy Dân biên soạn chương lI, III, VI và VHI
Quá trình biên soạn giáo trình chúng tôi đã được PGS Tào Thiếu Phác trường Đại học Thủy sản Thượng Hải và PGS Xa Ngọc Xuân Học viện Thấy sản Đại
Liên nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu Chúng tôi xin chân thành cảm
on
Do trình độ chúng tôi còn hạn chế, hơn nữa do sự tiến triển của quá trình cải
cách cơ chế kinh tế của Trung Quốc cũng như sự đổi mới của chế độ quản lý trong các
xí nghiệp hiện nay nên nhiều chỗ trong giáo trình không tránh khỏi thiếu sót Để nội
dụng càng ngày càng được hoàn thiện, rất mong sự phê bình và chỉ giáo của quý vi
độc giả
Tháng 4 năm 1994 Tác giả
Trang 8Chương Ì
VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGHỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẲN TRONG NGÀNH
THỦY SẲN NÓI RIÊNG VÀ NÔNG NGHIỆP NÓI CHUNG
Trung Quốc là một trong những quốc gia trên thế giới sản xuất nghề cá phát triển
và cũng là nước có lịch sử nuôi trồng thủy sản lâu đời nhất trên thế giới Trải qua
mấy ngàn năm lịch sử cho đến nay nghề cá đã trở thành một bộ phận quan trọng
đóng góp không nhỏ cho nên kinh tế quốc dân Sản xuất nghề cá đã trở thành một hoạt động sản xuất chủ yếu đối với rất nhiều ngư dân ở Trung Quốc Nghề cá không
những là nhân tố đóng vai trò chính trong ngành thủy sản mà còn đóng một số vai trò
nhất định trong nền kinh tế quốc dân như: tích lũy tiền vốn, đổi về ngoại tệ cho nhà
nước, là nguyên liệu cũng cấp cho ngành công nghiệp và ngành được, tạo không ít cơ
hội việc làm cho lao động dư thừa trong xã hội
Tuy nhiên, từ trước năm 500 +
1978, do cơ cấu ngành thủy sản $ 4004
ở Trung Quốc tập trung vào = 300 J
lượng khai thác thủy sản chiếm 2,173 triệu tấn còn nuôi trồng thủy sản chiếm 638 nghìn
tấn Năm 1968 tổng sản lượng mặt hàng thủy sản là 2,711 triệu tấn trong đó khai thác
thủy sản chiếm 2,081 triệu tấn còn nuôi trồng thủy sản chiếm 630 nghìn tấn Năm 1978 tổng sản lượng mặt hàng thủy sản là 4,653 triệu tấn trong đó khai thác thủy sản chiếm
3,441 triệu tấn và nuôi trồng chiếm 1,212 triệu tấn TỈ lệ giữa đánh bắt thủy sản và nuôi
trồng thủy sản như sau: Năm 1958 khai thác thủy sản chiếm 77,3%; nuôi trồng thủy sắn chiếm 22,7% Năm 1968 khai thác thủy sản chiếm 76,8%; nuôi trồng thủy sản chiếm 23,2% Năm 1978 khai thác thủy sản chiếm 74%; nuôi trồng thủy sản chiếm 26% Do
cơ cấu ngành thủy sản chủ yếu phụ thuộc vào khai thác thủy sản nên dẫn đến việc khai
thác quá mức nguồn sinh vật vùng nước tự nhiên và phá hoại nghiêm trọng đến nguồn sinh vật ven biển cũng như trong đất hiền Hậu quả của những việc làm trên đã dẫn đến
sự gidm sút sản lượng khai thác nghề cá trong đất liền và nguồn tài nguyên kinh tế các
loại thủy sắn ngày càng yếu đi Mặt khác các nguồn tài nguyên thích hợp cho việc phát
triển nghề nuôi trồng thủy sản như: các vùng nước trong đất liền, các vùng biển cạn, các bãi bồi, những vùng đất trũng, các vùng đất phèn hoang cũng thiếu một cách
nghiêm trọng Suốt trong một thời gian dài, giữa cung và cầu các mặt hàng thủy sẵn ở
Trung Quốc luôn mâu thuẫn sâu sắc Người dân ở vùng thành thị lẫn nông thôn không
ngớt lời than phiền vì “hiếm cá ăn”
Hình 1.1: Tỉ lệ giữa khai thác và nuôi trồng
Trang 9Từ năm 1978 trở lại đây, do tình hình xã hội Trung Quốc đang tiến hành cải cách
mở cửa mà ngành chủ quần thủy sản Trung Quốc đã áp dụng hàng loạt các phương án
và chính sách mới nhằm khích lệ phát triển nghề nuôi trồng thủy sản dựa trên cơ sở
đã tổng kết và học tập những kinh nghiệm trong công tác thủy sản Ngành thủy sẵn
đã lấy việc phát triển mạnh nghề nuôi trồng thủy sản làm chiến lược trọng điểm để chấn hưng nghề thủy sản và làm giàu kinh tế nông thôn Nghề nuôi trông thủy sản
qua đó đã có được những sự phát triển vượt bậc và bước sang một thời kỳ lịch sử phát
triển mới Cụ thể là năm 1991, tổng sản lượng sân phẩm thủy sản ở Trung Quốc đạt 13,5395 triệu tấn, trong đó số lượng sản phẩm khai thác thủy sản chiếm 7,009 triệu
tấn và số lượng sản phẩm nuôi trồng
chiếm 6,5305 triệu tấn Tỉ lệ giữa khai $800
thác thủy sản và nuôi trổng thủy sản là #700 +
51,77% và 48,23% Hơn nữa nghề nuôi | 2600 5
trồng thủy sản phát triển với tốc độ bình = 500 1
quân hàng năm từ 300-500 nghìn tấn trở £400 1
oo
lên (hình 1-2) TỈ suất tăng trưởng hàng §300 1
năm của ngành khai thác thủy sản rõ 200 4
ràng đã thấp hơn so với tỉ suất tăng 0
trưởng hang năm của ngành nuôi trồng ts : ® de? ge 0 gar
thủy sản Việc này đánh dấu ngành thủy xi”? xe PPA"
sản Trung Quốc đã bước vào vòng tuần |Hình 12: Tình hình tăng trưởng sản lượng
nuôi trồng thủy sản
hoàn tốt
Thực tiễn đã chứng minh, nghề cá
muốn có sự phát triển tốt phải dựa trên tiền để của nghề nuôi nhân tạo Cho nên, cùng
với sự gia tăng nhu cầu về lượng các sản phẩm thủy sản, sự phát triển của khoa học kỹ
thuật và nền kinh tế xã hội không ngừng cải thiện nâng cao, nghề nuôi trồng thủy sản
phải giữ vai trò chủ đạo đối với nghề cá nói chung và ngành thủy sản nói riêng
Căn cứ vào mục tiêu chiến lược phát triển ngư nghiệp đã để ra ở Trung Quốc thì đến năm 2000 tổng sản lượng các sản phẩm thủy sản sẽ lên đến 18 triệu tấn
Mấy năm gần đây, do tổng sản lượng các sản phẩm thủy sản liên tục tăng trưởng,
năm 1993 tổng sản lượng các sản phẩm thủy sản đạt được 17,8 triệu tấn Tỉ trọng sản
phẩm ngành nuôi trồng chiếm giữ trong tổng sản lượng các sản phẩm thủy sản tăng
đã lên 52,2%; so với năm 1992 là 49,8% Một lần nữa, ngành nuôi trồng thủy sản đã
thực hiện được bước đội phá mới mang tính lịch sử vượt qua ngành khai thác thủy
sản Dự định tổng sản lượng các sản phẩm thủy sản vượt qua 1§ triệu tấn vào năm
1994 và sẽ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trước 6 năm Dự định đến cuối kỳ năm 1995
phải đạt 23 triệu tấn, tăng tỉ trọng sản lượng ngành nuôi chiếm giữ trong tổng sản
lượng các mặt hàng thủy sản lên đến 60% Nghề nuôi trông thủy sản sẽ phát huy vai
trò to lớn của mình trong ngành thủy sản nói riêng và nông nghiệp nói chung
10
Trang 10Tiét 1: KHAI NIEM VA DAC DIEM CUA NGHE NUOI TRONG THUY SAN
I Khái niệm nghề nuôi trồng thủy sản
Nghề nuôi trồng thủy sẩn chỉ công việc sản xuất có sử dụng lợi ích kinh tế động
thực vật nuôi trồng thủy sản ở các vùng nước Căn cứ trên những thủy vực khác nhau
mà người ta phân chia thành nuôi trồng thủy sẩn nước ngọt, nuôi trồng thủy sản nước
mặn và cũng căn cứ vào từng đối tượng nuôi trồng mà người ta chia thành từng nhóm
nuôi trồng thủy sản như: Nuôi các loại cá, nuôi các loại tôm cua, nuôi các loài
nhuyễn thể và nuôi trồng các loại tảo Nghề nuôi trồng thủy sản có khả năng tạo ra những thực phẩm giàu dinh dưỡng cho nhân loại, cung cấp nhiều loại nguyên liệu,
dược liệu, thức ăn chăn nuôi gia súc với những cách sử dụng khác nhau Trong lịch sử phát triển của nghề cá, sự xuất hiện và phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản đã
đánh dấu sự tăng trưởng mạnh mẽ của nhân loại về khả năng tác động hay chế ngự tới nhiều vùng nước Cùng với sự bùng nổ nhanh chóng của dân số trên thế giới, lượng nhu cầu về các chất protein có trong các loại động vật ngày càng tăng mạnh
H Đặc điểm của nghề nuôi trồng thủy sản
1 Nghề nuôi trồng thủy sản không chiếm đất nông nghiệp: Nước là điều kiện sản
xuất cơ bản cho sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Tài nguyên nước của Trung
Quốc chiếm một vị trí quan trọng trong phẫn tài nguyên lãnh thổ quốc gia Theo số
liệu điều tra, các vùng nước thuộc đất liễn và các bãi bổi, biển cạn ở Trung Quốc
(ước tính khoảng 600 triệu mẫu), trong đó vùng nước thuộc đất liền khoảng 380 triệu mẫu, các bãi bổi và biển cạn chiếm khoảng 230 triệu mẫu, tương đương với 40% diện
tích đất canh tác khắp cả nước Trung Quốc (bảng 1-1) Diện tích vùng biển lẫy và biển cạn thích hợp cho việc phát triển ngành nuôi trồng của Trung Quốc vào khoảng
20 — 30 triệu mẫu Trung Quốc là một trong những quốc gia trên thế giới có số lượng
vùng nước trong đất liễn nhiều nhất, tính tổng điện tích vùng nước đạt trên 300 triệu
mẫu trong đó diện tích vùng nước có thể đưa vào sử dụng cho mục đích nuôi trồng
thủy sản là 85 triệu mẫu Trong tổng số diện tích các vùng nước nói trên, diện tích
sông ngòi là 180 triệu mẫu với diện tích vùng nước có thể sử dụng để nuôi trồng thủy
sản là 11,3282 triệu mẫu; diện tích lưu vực ao hỗ là 120 triệu mẫu với diện tích vùng
nước có thể sử dụng cho mục đích nuôi trồng thủy sẵn là 28,4 triệu mẫu; Các đập
nước có điện tích vào khoảng 34,5245 triệu mẫu và diện tích vùng nước nuôi trồng
được các loại thủy sản là 27,3091 triệu mẫu; Các ao đầm có diện tích khoảng 28,8234 triệu mẫu và điện tích có thể nuôi trồng thủy sắn là 17,9431 triệu mẫu (bẳng 1-2) Phát triển ngành nuôi trồng thủy sản không những không chiếm dựng đất nông
nghiệp mà còn có thể tác động trợ giúp cho sự phát triển của các ngành khác như nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Những năm gần đây, 8 tỉnh thuộc vùng duyên hải Trung Quốc đã áp dụng cách thức “đào ao, cải tạo ruộng” để tiến
hành khai thác tổng hợp Việc làm này không phải lấn chiếm đất canh tác mà cồn tạo
ra đất canh tác, coi việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản làm động lực kéo theo các ngành khác cùng phát triển như: ngành trổng cây công nghiệp, ngành trồng cây
il
Trang 11ăn quả, ngành chăn nuôi gia súc và phụ công nghiệp Những bãi biển hoang cạn và
những vùng đất trũng phèn sau mấy năm được dẫn nước để nuôi trồng thủy sản đã
biến thành hàng loạt những đông ruộng màu mỡ, phì nhiêu có thể phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp
Bảng 1-1: Cơ cấu thành phân tài nguyên đất đai Trung Quốc
Các loại đất Vạn km? | 100 triệu mẫu | Chiếm tổng | Chiếm diện điện tích % | tích thế giới %
Tổng diện tích Khoảng 960 |_ Khoảng 144 100 7,2
thể như sau: đâu tư ít, thu kết quả nhanh, sẩn lượng cao, hiệu quả lớn, sản xuất ổn
định, đễ dàng khống chế lượng nhân công Ví dụ phí nhân công cho đào 1 mẫu ao
đầm thả tôm cá chỉ cân khoảng 2000 nhân dân tệ
Hơn nữa sản xuất trong năm có thể nhìn thấy hiệu quả ngay nên rất dễ phát triển
và mở rộng ở nhiều vùng nông thôn của Trung Quốc Ngoài ra, các loài cá là động
vật biến nhiệt ở đưới nước, mức tiêu hao năng lượng của cá thấp, tỉ lệ chuyển hóa thức ăn cao hơn so với các loài gia súc và gia cm khác Tăng cường biện pháp nuôi
trồng trên diện tích nước lớn ở đất liền, vùng biển cạn và bãi bồi có thể dựa vào
nguồn phân bón và thức ăn cho cá trong thiên nhiên để nuôi các loài cá, tôm, loài
nhuyễn thể và rong tảo Nếu như nuôi cá ở các ao hồ, đập nước có thể lợi dụng nguồn
thức ăn cho cá từ các loài động thực vật thủy sinh kết hợp với việc quản lý một cách khoa học có thể thu được sản lượng tương đối cao, hiệu quả tương đối lớn Ở những
vùng nước ngọt lớn và vừa, trên nền tầng nghề cá nếu biết tiến hành cải tạo tốt sinh
12
Trang 12vật một cách hệ thống thông qua ngư nghiệp và điều tiết việc khai thác nghề cá sẽ
làm tăng thêm tài nguyên và nâng cao sản lượng Những năm 60, cả nước Trung
Quốc nổi lên phong trào “nghề nuôi trồng thủy sản”, “trang trại chăn nuôi ở biển” và
đã áp dụng những biện pháp sản xuất của ngành chăn nuôi gia súc và nông nghiệp
vào trong sản xuất nghề cá biển Ngành này đã vận dụng các tri thức và trang thiết bị
khoa học hiện đại để cải tạo biển, làm tăng trưởng và nuôi: cá, tôm, cua, các loài
nhuyễn thể v v Đây là một con đường tiến đến chỉnh phục biển cả để làm giàu
Bảng 1-2: Tài nguyên nước của Trung Quốc
Nước trong đất liền Nước ngoài biển
Phân loại Đơn vị | Số lượng Phân loại Đơn vị | Số lượng
Thống kê tổng hợp 100 triệu 40 Thống kê tổng | 100triệu| 70,95
Trong đó: Sông ngòi 100 triệu 1,8 Độ sâu thêm lục | 100 triệu 22,50
: mẫu địa <200 m mẫu
Ao hồ 100 triệu L2 Trong đó đải đất | 100 triệu 2,1
mau ven bién mau
Chiếm : % 30 Đất trũng vùng | 100 triệu | 0,2-0,3
duyên hải mẫu
Kênh ngòi đâm hồ, | 100 triệu 1,0 Trong đó diện tích | 100 triệu 740 đập nước mẫu nước có thể nuôi | mẫu
trồng thủy sẵn
Chiếm % 25 Độ dài đường biển | Vạn km 1,84 Những dòng sông có | Dòng 5 Đảo vực hòn 5000 diện tích lưu vực
>100km”
Ao hỗ có diện tích mặt | Chiếc 2800 Chu vi các đảo Vạn km 1,42
nước> 1500 mẫu
Nói tóm lại, nếu biết tận dụng một cách triệt để những vùng biển cạn, bãi bồi,
diện tích mặt nước đất liền và đất phèn trũng vào việc phát triển nghề nuôi trồng
thủy sản thì vừa có lợi trong việc xây dựng hợp lý hệ thống sinh thái, tăng nhanh tốc
độ phát triển nông nghiệp, lại vừa tăng thêm thu nhập cho ngư dân và nông dân
3 Nghề nuôi trồng thủy sản là một loại hình hoạt động sản xuất phức tạp: Đặc điểm nghề nuôi trồng thủy sản rất giống với nghề chăn nuôi trong nông nghiệp Quá trình sản xuất của nghề nuôi trồng thủy sản là quá trình phát triển mâu thuẫn thống nhất giữa nhân tố sinh vật và nhân tố tự nhiên Đây là quá trình xen kẽ giao hòa nhau giữa tái sản xuất kinh tế và tái sản xuất thiên nhiên, thời gian lao động và thời gian sản xuất không thống nhất với nhau Nghề nuôi trồng thủy sản có tính thời vụ rất rõ rệt Do đối tượng của sản xuất nuôi trồng là các loại động thực vật kinh tế thủy sinh nên phải thích ứng với điểu kiện nhất định bên ngoài mới có thể thúc đẩy khả năng
13
Trang 13sinh trưởng và phát triển của nó Các biện pháp kỹ thuật sản xuất nuôi trồng chỉ khi
nào phù hợp với quy luật sinh trưởng phát triển và sinh sản của động thực vật mới có
thé đạt được sản lượng cao Hơn nữa, hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản là hoạt
động sản xuất ngoài trời, giữa các điều kiện như khí hậu, vùng nước và sinh vật có
ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến đổi khôn lường Cùng
bỏ ra sức hao lao động như nhau nhưng chỉ gặp năm mưa thuận gió hòa mới có thể
đạt được hiệu quả tăng sản xuất tương đối rõ rệt Thêm vào đó lãnh thổ Trung Quốc
vô cùng rộng lớn, cùng một loại sản phẩm nhưng ở những địa phương khác nhau thì
hiệu quả kinh tế của nó cũng không giống nhau, hơn nữa mức đầu tư tài nguyên kinh
tế cũng quyết định mức sản xuất của nghề nuôi trồng thủy sản Vì vậy, trong quá
trình sản xuất, ngành nuôi trồng thủy sản vừa phải chịu sự chỉ phối của quy luật tự nhiên, vừa phải chịu sự hạn chế của quy luật kinh tế Do đó cả quá trình sản xuất
nuôi trồng thủy sẵn là một hoạt động sản xuất rất phức tạp
4 Nghề nuôi trồng thủy sản là một loại nghề sản xuất mang tính kỹ thuật cao và tính rủi ro tương đối lớn: Nghề nuôi trồng thủy sản ở Trung Quốc phân chia thành
hai loại hình lớn là nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nuôi trồng thủy sẵn nước mặn
Do đối tượng nuôi trồng và địa bàn nuôi không giống nhau nên hình thành nên hình thức nuôi trồng và kỹ thuật nuôi trồng khác nhau Về nghề nuôi trồng thủy sẵn nước ngọt, loại hình nuôi trồng của nghề này lại phân thành nuôi đơn, nuôi hỗn hợp, nuôi tổng hợp và nuôi mật độ cao Căn cứ trên điện tích mặt nước nuôi trồng và hình thức nuôi trồng khác nhau có thể phân thành nuôi thủy sản ao đầm, nuôi thủy sản đập nước, nuôi thủy sản hổ ao sông suối, nuôi thủy sản ở ruộng lúa Ngoài ra còn có nuôi thả bè đóng (lổng), nuôi công nghiệp hóa, nuôi cá nước chảy Đối với những đối
tượng nuôi khác nhau, loại hình nuôi khác nhau và hình thức nuôi khác nhau đều có
kỹ thuật nuôi riêng của mình Ví như sản lượng ngành nuôi cá ao đầm của Trung Quốc tương đối lớn, then chốt kỹ thuật của ngành nuôi cá ao đầm chủ yếu yêu cầu các mặt sau đây của đầm cá như: nguồn nước, chất lượng nước, chất lượng đất, độ sâu của nước, diện tích và môi trường phải phù hợp với tiêu chuẩn nuôi cá, thích ứng với yêu cầu đảm bảo các loại cá tăng trưởng tốc độ nhanh Để cho việc thả các loại cá nuôi có tỉ lệ tăng trưởng tương đối cao và sản lượng tương đối lớn, mọi người nhất định phải dựa vào đặc tính sinh vật học của các loài cá khác nhau như: thới quen, thức ăn, tầng nước cư trú để tiến hành bí quyết nuôi hỗn hợp nhiều loại, nhiều cách khác nhau, lợi dụng tốt mối quan hệ qua lại giữa các loài cá khác nhau và nguồn thức
ăn nuôi cá ở những tầng nước khác nhau, đồng thời phải áp dụng biện pháp kỹ thuật như “đánh tỉa thể bù”, “nuôi theo bộ” mới có thể phat huy khả năng cao nhất tiểm năng sản xuất của diện tích mặt nước ao đầm
Nghề nuôi trồng thủy sân muốn đạt trình độ nuôi thâm canh cao sắn thì ngoài các
mặt như thao tác kỹ thuật phải đạt được trình độ thâm canh cho sẵn lượng cao như của ngành sắn xuất nông nghiệp Đặc biệt, những năm gần đây phát triển các loại đối tượng nuôi trồng mới, ưu biệt và nổi tiếng như: cá chình, tôm he, điệp quạt, ba ba, tôm càng Loren với mức đầu tư lớn, tính rủi ro cao Nếu như bất kỳ một khâu nào
14
Trang 14trong các khâu sau: chất lượng nước, nguồn giống, thức ăn nuôi tôm cá, kỹ thuật nuôi trồng, bệnh tật, úng lũ xây ra ngoài ý muốn sẽ gây nên sự tổn thất không thể bù đắp
lại được trong năm đó
5 Nghề nuôi trông thủy sản là một ngành nghề sản xuất mang tính chuyên
nghiệp hóa: Có tỉ suất thương phẩm cao, tính thương phẩm mạnh Nếu đem so sánh
nghề nuôi trồng thủy sản với nông nghiệp thì nuôi trồng thủy sản là một ngành nghề sản xuất mang tính chuyên nghiệp hóa với tỉ suất thương phẩm cao, tính ưu thế thương phẩm cực mạnh Tỉ suất thương phẩm của các sản phẩm nuôi trồng thủy sắn cao hơn 80%, hơn nữa sản phẩm của nuôi trồng thủy sản lại là thương phẩm tươi sống Nếu như sản phẩm ngành này bị hỏng, biến chất thì coi như mất đi giá trị sử
dụng
Mặc dù ngành nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc mang đây đủ tính chất giống
như của nông nghiệp nhưng đối tượng lao động trong ngành nuôi trồng là động thực
vật thủy sinh kinh tế Nghề nuôi trồng thủy sản lợi dụng diện tích khối nước và là ngành nghề có công nghệ sản xuất nuôi trồng đặc biệt, áp dụng những biện pháp kỹ
thuật tiên tiến và thiết bị chuyên môn vào việc thâm canh hóa, chuyên nghiệp hóa
sản xuất Nghề nuôi trồng thủy sản không giống với nghề sản xuất nông nghiệp bình thường Suốt một thời gian dài trở lại đây, nghề nuôi trồng thủy sản đã dẫn dẫn hình thành một cơ chế quản lý “cung cấp, sản xuất, tiêu thụ” thống nhất Ngành nuôi trồng
thủy sản lệ thuộc hệ thống sản xuất nghề cá phức tạp, nhưng đã thực hiện “quần lý thống nhất”, điều chỉnh tương đối tốt quan hệ lợi ích với các mặt Vì vậy, sản xuất nuôi trông chuyên nghiệp hóa có lợi cho việc nâng cao kỹ thuật, cải tiến quần lý, nâng cao nắng
suất lao động xã hội và đồng thời cũng giúp cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hóa
nông thôn
Tiết 2: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIEN NGHỀ NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN Ở TRUNG QUỐC
1 Thực trạng nghề nuôi trồng thủy san 6 Trung Quốc
Nghề nuôi trồng thủy sản ở Trung Quốc là một bộ phận quan trọng của ngành
thủy sắn nói chung Sau thập niên 70, nghề nuôi trồng thủy sản đang bước sang một thời kỳ lịch sử phát triển hoàn toàn mới mẻ Trên cơ sở tổng kết những bài học kinh
nghiệm từ ngày thành lập nước đến nay, ngành thủy sản đã coi việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản là động lực để chấn hưng ngành thủy sắn, cải thiện cơ cấu dinh đưỡng thực phẩm cho nhân dân và là chiến lược kinh tế trọng điểm làm giàu kinh tế
nông thôn Năm 1985 trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc chú trọng ngành thủy
sản Trung Quốc, thực hiện phương châm “lấy nuôi trồng thủy sản làm chính, đẳng thời cùng lúc tiến hành nuôi trồng, khai thác và chế biến, tùy từng trường hợp cụ thể
để đưa ra các biện pháp thích hợp cho từng khu vực khác nhau, mỗi ngành đều có thế
mạnh của mình”; Từng bước mở rộng chính sách, tiếp tục giữ vững hình thức kinh
doanh nhà nước, tập thể và hộ gia đình Sản xuất cung cấp, tiêu thụ, công thương
15
Trang 15nghỀ cá, kinh doanh tổng hợp mậu dịch trong và ngoài nước, nâng cao chất lượng,
quan tâm đến chất lượng hiệu quả, từng bước đẩy mạnh đông đảo bà con nông dân và ngư dân tích cực tham gia phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Diện mạo nghề sản xuất nuôi trồng thủy sản đã có nhiều thay đổi lớn, chủ yếu được khái quát ở những
mặt sau đây:
1 Khu vực nuôi trồng được mở rộng, diện tích nuôi trồng không ngừng tăng lên:
Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Trung Quốc trước đây chủ yếu tập trung vào
vùng nước phía nam của sông Hoài nhưng hiện nay ngoài vùng Tây Tạng ra, khắp cả
nước Trung Quốc, từ thành thị đến nông thôn đâu đâu cũng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Nghề nuôi tôm he và trồng rong biển nước mặn bắt đầu từ miễn Bắc rồi lan
rộng đến miễn Nam, còn nghề nuôi trồng các loài nhuyễn thể lại được nhân rộng từ miền Nam ra miễn Bắc Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản luôn được coi là trọng điểm phát triển của ngành thủy sản Trung Quốc Năm 1978, diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Trung Quốc là 40,8321 triệu mẫu, tỉ lệ diện tích mặt nước được đưa vào sử dụng đạt 48% Đến năm 1987 diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt Trung Quốc “được mở rộng lên đến 56,924I triệu mẫu, so với năm 197§ mở rộng hơn khoảng 40%, năm 1990 là 57,5209 triệu mẫu Trong vòng 12 năm từ năm 1978 đến năm
1990 trung bình tăng trưởng 2,8% Trong đó biên độ tăng trưởng lớn nhất là diện tích
nuôi cá ao đầm Năm 1978 điện tích nuôi trồng là 10,8273 triệu mẫu, đến năm 1990
được mở rộng thành 21,2315 triệu mẫu, so với năm 197§ tăng gân gấp đôi, chiếm
36,91% diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt Trong vòng 12 năm, từ năm 1978
đến năm 1990 bình quân tăng trưởng 5,8%
Diện tích nuôi trồng thủy sản nước mặn Trung Quốc năm 1978 chỉ mới sử dụng
1,5089 triệu mẫu đến năm 1987 điện tích sử dụng tăng lên 5,53 triệu mẫu, trung bình
mỗi năm mở rộng thêm 0,386 triệu mẫu Tỉ suất sử dụng các vùng biển cạn, bãi bổi có thể nuôi trồng thủy sản tăng từ 1,3% lên 27% Năm 1990 diện tích nuôi trồng thủy sản
nước mặn tăng lên 6,4341 triệu mẫu, so với năm 1987 chỉ tăng 0,9041 triệu mẫu
2 Sản lượng tăng lên, năng suất trên một đơn vị diện tích được nâng cao: Việc
phát triển nghề sản xuất nuôi trồng thủy sắn với tốc độ cao ở Trung Quốc khiến cho sản lượng nuôi trồng thủy san không ngừng tăng lên, năm 1978 sản lượng sản phẩm nuôi trồng thủy sản tăng lên 1,2118 tấn, chiếm 20% tổng sdn lượng các sản phẩm thủy sản năm, 1988 sản lượng sản phẩm nuôi trồng tăng lên 5,3219 tấn, chiếm 50,2%
tổng sản lượng các sẩn phẩm thủy sản và là năm đầu tiên trong lịch sử sản lượng nuôi trồng đã vượt qua sẩn lượng khai thác thủy sản nước mặn và nước ngọt Hơn nữa, việc tăng sản lượng các sản phẩm thủy sản hơn 10 năm trở lại đây đạt được do nuôi trồng
nước mặn và nước ngọt “Những năm 60” sản lượng nuôi trồng chiếm 67,9% tổng sản
lượng các sản phẩm thủy sản, những năm 70 chiếm 56,2% tổng sản lượng các sản phẩm thủy sản - Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm của nuôi trồng thủy sản nước mặn và ngọt mỗi năm một tăng nên đã đóng vai trd quan trọng cho tốc độ tăng trưởng
nhanh chóng của a tổng sản lượng sản phẩm thủy sản
16
Trang 16Cùng với sự phát triển kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, năng suất trên một đơn vị
diện tích liên tục nâng cao (bảng 1-3) Năm 1978 năng suất trên một đơn vị diện tích
nuôi trồng thủy sản nước ngọt chỉ đạt 1§,6kg, đến năm 1990 đạt đến 75kg, bình quân
trong 12 năm tăng trưởng 12,3%; trong đó năng suất trên một đơn vị điện tích nuôi ao
đầm tăng nhanh nhất Năm 1978 sản lượng trên đơn vị diện tích ao đâm là 45,9kg,
đến năm 1990 tăng lên 159kg, bình quân trong 12 năm tăng trưởng 10,9%, tiếp đến là
nuôi ao hồ tăng trưởng 10,1%, nuôi ở đập nước tăng 8,8% và nuôi ở sông ngòi tăng
8,2%
Tôm he là thương phẩm hàng đâu trong ngành nuôi trồng thủy sản nước mặn Năm 1978 sản lượng nuôi trên mỗi mẫu ao đâm chỉ đạt 23kg, đến năm 1990 nâng lên 85kg, tăng gấp 2/7 lần Sản lượng Vẹm trên mỗi mẫu ao đầm năm 1978 là 2417kg đến năm 1990 tăng lên 7480kg
Bảng 1-3: Năng suất trên một đơn vị diện tích nuôi trồng thủy sản
(Đơn vị: kg/mẫu )
Nuôi trồng nước ngọt Nuôi trồng nước mặn
Phân loại Năm 1978 | Năm 1991 Phân loại Năm 1978 Năm 1991
chép, cá điếc, cá vền Đến thời kỳ sau thập niên 60, nở rộ lên một loạt các chủng
loại ưu việt như cá mè đầu tròn, cá rô phí sinh trưởng nhanh, dễ quản lý, tính thích
ứng cao, khiến cho chủng loại cá nuôi dân dẫn tăng lên Mấy năm gần đây, ở trong
nước và từ nước ngoài chọn ra và nhập về các loài như: cá trê, cá diếc Đông Bắc, cá
tâm, cá rô california, cá chim trắng nước ngọt, tôm càng Loren, cua lông Trung Hoa,
ba ba, trai ngọc nước ngọt Ngoài ra còn nuôi công nghiệp cá cảnh, cá chép cẩm, cá
nhiệt đới khiến cho chủng loại nuôi trồng trước kia chỉ từ 8-9 chủng loại đến nay tăng hơn 20 loài
Các chủng loại nuôi trồng nước mặn vào những năm 50 chỉ có 7 loài truyền
thống, đến thập niên 80 đã phát triển đến 35 loài Trừ những loài nuôi truyền thống
ra, loài tôm he phương đông đã được nuôi phổ biến ở khắp các tỉnh thành duyên hải,
quy mô nuôi trồng của các loài Điệp quạt, bào ngư hàng năm dần dẫn được mở rộng
Diện tích nuôi trồng các loài như: cá đối, cá nụ, cá mu, ci hang 4 lôn-g+a-ting Trước
THY VIER |
\814 (seins
Trang 17
mắt đã xuất hiện cục diện cùng phát triển nuôi trồng các loài cá, tôm, loài nhuyễn thể, tảo trong đó nuôi tôm được đứng hàng đâu Có 6 chủng loại sản lượng đứng đầu
thế giới là: rong bẹ, vẹm, phi, hàu, nghêu hoa, tôm he
Cùng với sự gia tăng của chúng loại nuôi trổng kết cấu chủng loại cũng liên tục
được điều chỉnh Nuôi cá nước ngọt trên cơ sở duy trì kết cấu sản phẩm 4 họ cá lớn là
trắm đen, trắm cỏ, cá mè trắng, cá mè hoa và 3 loài chính: cá chép, cá diếc, cá vền
Ngoài ra còn tích cực phát triển nuôi ao đầm một số chủng loại mới có nhiều ưu điểm
như: cua, cá nhệch và cá tầm, ba ba, ếch (Cu Ba), cá chim trắng nước ngọt, tôm càng
nước ngọt Lauren Hiện nay diện tích nuôi trồng các chủng loại sản phẩm mới đặc ưu của nước ngọt đạt trên 400 vạn mẫu, những loại sản phẩm đã hình thành quy mô và
sản lượng nhất định có cua sông, cá nhệch, cá tâm, cá rô miệng lớn, cá hôi, cá chim trắng nước ngọt, ba ba, ếch Cu ba v vv Năm 1978 sản lượng cá mè chiếm 65% loài
cá nuôi trồng nước ngọt, các chủng loại khác chỉ chiếm 35%, từ năm 1990 trở lại đây
tỉ trọng nuôi các loài cá ăn đã tăng trên 45%,
Kết cấu truyền thống nuôi trồng nước mặn ở Trung Quốc lấy các loài tảo và các loài nhuyễn thể làm vật nuôi chính Năm 1978, tỉ lệ các loài nhuyễn thể và tảo chiếm 99% tổng sản lượng nuôi trồng nước mặn trong đó rong bẹ chiếm 56% còn lại là các loài như: Vẹm, hàu, con phi Tỉ lệ sản lượng tôm cá rất thấp, nuôi trai lấy ngọc nước mặn hầu như không có gì hết Trong kết cấu sản phẩm tỉ lệ giữa các loài tảo; loài
nhuyễn thể và tôm cua cá trai lấy ngọc là: 56.9:42.6:0.5 Hai mươi năm trở lại đây,
nuôi nước mặn xuất hiện cục diện coi tôm he là sản phẩm nuôi hàng đầu, cùng phát
triển nuôi cá, tôm, loài nhuyễn thể và tảo, trai lấy ngọc Diện tích nuôi trồng và sản lượng của các loài nuôi như: tôm he, cá nước mặn và trai lấy ngọc đều có biên độ
tăng trưởng tửỦng đối lớn Cho đến năm 1990, kết cấu chúng loại của 3 loài nuôi: tảo,
so, tôm cua cá và trai lấy ngọc đã trở thành: 16.57:57.79:25.64 So sánh với năm
1978 thì biên độ biến đổi của tảo biển và cá tôm trai lấy ngọc trong tỈ trọng kết cấu
chủng loại thể hiện rõ nhất Rong biển đã giảm đi 40.33% trong khi đó cá tôm và trai
lấy ngoc tang thém 25.14%
4 Những kỹ thuật mới đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trong sản xuất: Nghề
nuôi trồng thủy sản Trung Quốc sau năm 1978 đã đạt được sự phát triển nhanh chóng,
bên cạnh chủ chương, đường lối, chính sách đúng đắn hợp lý của Đảng và Nhà nước
thì tiến bộ của khoa học kỹ thuật là động lực mạnh mẽ để phát triển ngành thủy sắn Trung Quốc Các đơn vị nghiên cứu khoa học kết hợp mật thiết với sản xuất thực tế,
các tổ chức kỹ thuật viên tích cực đầu tư xây đựng mặt trận chính kinh tế, nhanh chóng chuyển đổi thành quả khoa học kỹ thuật thành sức sản xuất, nhanh chóng nâng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật thủy sản
Nuôi trồng nhân tạo con giống là điều kiện đầu tiên quyết định quan trọng cho sự
phát triển sản xuất nuôi trồng thủy sản Mười năm trở lại đây, trước và sau khi công khai kỹ thuật giống nhân tạo các loài như: tôm he, cua lông Trung Hoa, vẹm, điệp
quạt, bào ngư, cá chim trắng, nhân giống tế bào rong mít; nuôi công nghiệp hóa
Trang 18giống tôm he, nghiên cứu thành công kỹ thuật cao sản và ứng dụng rộng rãi đã dấy
lên phong trào phát triển nhanh chóng nghề nuôi tôm he ở Trung Quốc
VỀ mặt lợi dụng các loại giống thủy sản tốt đã thuân chủng lai tạo ra một số giống mới tốt hơn như: cá chép Hà Nguyên, cá chép phong, cá điếc đị âm Nhưng loài giống tốt này được nuôi phổ biến trên khắp cả nước, hiệu quả năng suất rất cao
và được đông đảo bà con chăn nuôi hoan nghênh
Về mặt nghiên cứu thức ăn nuôi dùng cho nghề cá về cơ bản đã tìm hiểu rõ nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu của các loài cá nuôi chủ yếu như: cá chép, cá mè, cá trắm
cỏ, cá trắm đen, cá rô phi; đưa ra nhiều loại thức ăn phối hợp tương đối hợp lý, thức
ăn nuôi viên được ứng dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản khiến cho sản xuất
nuôi trồng và hiệu quả kinh tế được nâng cao lên, việc làm này đánh dấu sản xuất
nuôi trồng thủy sản ở Trung Quốc đã đi vào một giai đoạn mới
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của sắn xuất nuôi trồng, ảnh hướng của các loại bệnh thủy sản ngày càng lớn, người làm công tác nghiên cứu khoa bệnh cá đã
tìm hiểu rõ một số nguyên nhân của các loại bệnh như bệnh xuất huyết cá trắm cổ nguy hại rất lớn đối với sản xuất nuôi trồng, ngoài việc phổ biến tổ chức phòng dịch
vaccin ra, kỹ thuật phòng trị bệnh bằng thuốc, kỹ thuật miễn địch nhúng vaccin độc
tố nhẹ đã được ứng dụng trong sẩn xuất, thu được hiệu quả tăng sản xuất 20-30%,
hiện nay đã nghiên cứu chế tạo ra vaccin tế bào bệnh xuất huyết cá trắm cỏ, hy vọng
không lâu nữa sẽ được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất
Việc cải tiến kỹ thuật công nghệ chế biến keo rong biển và nghiên cứu chế tạo
thành công máy sấy, máy khử nước, máy đóng viên không những nâng cao giá trị sử
dụng tảo biển và cũng là sự đảm bảo tiêu thụ sản phẩm và sự phát triển mạnh mẽ của
nghề nuôi trồng rong biển Việc nghiên cứu chế tạo và mở rộng các máy phục vụ cho
nuôi trồng chủ yếu như: máy tăng oxy, máy chế biến thức ăn, máy tưới, thoát nước, nâng cao hiệu quả sản xuất lao động nuôi trồng thủy sản Mấy năm gân đây lại coi trọng nghiên cứu ứng dụng máy tính điện tử trong nghề nuôi trồng, ví như nuôi cá kết hợp nghiên cứu ứng dụng các mặt như: thức ăn nuôi cá, giám sát trắc nghiệm chất
lượng nước, sinh sản nhân tạo, quần lý khoa học hiện đại hóa nghề nuôi trồng Ngoài
ra, chuyển giao kỹ thuật nuôi thâm canh cao sản vào khu vực sản xuất vừa và thấp làm cho mức năng suất trên một đơn vị diện tích ao đầm nước ngọt Trung Quốc nâng
cao với biên độ lớn Đồng thời kỹ thuật cao sản nuôi cá ao đầm đã kéo theo sự phát triển sản xuất nuôi trông vùng nước lớn và vừa, sự đột phá của kỹ thuật nuôi cá bằng
3 loại lưới: lưới đóng, lưới vây, lưới chắn và sự ứng dụng phổ biến cũng như ứng dụng
kỹ thuật nuôi trồng tập trung mật độ cao, nuôi cá nước chảy đã tận dụng hết tài nguyên nước ở Trung Quốc, nâng cao sản lượng thủy sản đã đóng vai trò tích cực Coi
nghề cá là chính, phương thức sản xuất kinh doanh tổng hợp khai thác lập thể đang
được mở rộng và phổ cập, hiện nay diện tích nuôi trồng thủy sản tổng hợp trong đất
liền của cả nước đã lên tới 760 vạn mẫu, mở ra con đường mới cho việc xây dựng cơ
sở sản xuất tổng hợp nghề cá, nghề nông, nghề chăn nuôi gia súc, nghề phụ Việc
19
Trang 19ứng dụng rộng rãi kỹ thuật nuôi luân phiên, nuôi hỗn hợp động vật thân mềm với
rong, tôm với cá, cá với động vật thân mềm, tôm với động vật thân mềm đã thúc đẩy
sự điều chỉnh giữa phương thức nuôi trồng hải sản và kết cấu chủng loại sản phẩm của Trung Quốc
II Xu hướng phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản
Hiện nay nguồn tài nguyên cá ngoài khơi đại đương đã được khai thác sử dụng
quá mức độ khiến lượng khai thác sản phẩm thủy sẩn ngày càng giảm sút Trong khi
những quốc gia khu vực ven biển nô nức thực hiện khu kinh tế phạm vi 200 hải lý, thì
một số quốc gia có nghề cá phát triển một mặt tích cực phát triển nghề khai thác cá
biển và nghề khai thác cá xa bờ, một mặt đã sử dụng thêm lục địa ven biển và vùng
nước trong đất liền để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, chuyển hướng từ khai thác
tự nhiên sang nuôi trồng sản xuất thủy sản nhân tạo Đây là thời kỳ quá độ từ “hình thức khai thác” sang “hình thức nuôi trồng”, là xu hướng tổng của việc phát triển nghề cá trong thế giới hiện đại và cũng là bước ngoặt lớn đối với sự phát triển nghề
cá của nhân loại Theo nhận định phân tích của các chyên gia hữu quan đến cuối thế
kỷ này sản lượng nuôi trồng thủy sẵn trên thế giới sẽ tăng thêm 1⁄3 của 13% hiện nay
trong tổng sản lượng sản phẩm thủy sản
Một xu hướng phát triển nhanh chóng khác trong nghề nuôi trông sản xuất thủy
sản nước ngọt trên thế giới là nâng cao sản lượng, tăng thêm ti trong cdc san phẩm
thủy sản cao cấp nổi tiếng và quý hiếm, hạ thấp giá thành, tiết kiệm đất, giầm bớt tiêu hao nước, giải quyết con giống và nuôi trồng, khai thác nguồn thức ăn chăn nuôi Nuôi trồng cá ao đầm sẽ nâng cao trình độ thâm canh, phát triển nuôi cá công nghiệp hóa và phát triển tổng hợp nuôi cá nước chảy để nâng cao sản lượng và hiệu quá kinh
tế, đồng thời tiến hành đưa những loài đã thuần hóa vào nuôi trồng ở các vùng có
diện tích nước lớn như: ao hồ, đập nước, sông ngòi, phát triển và bảo vệ nguồn tài
nguyên để làm tăng thêm nguồn tài nguyên các loài cá
Ngoài biển áp dụng các biện pháp như thả đá nhân tạo, tiến hành thả giống nhân
tạo tạo ra những đải rừng rong biển nhân tạo để bảo vệ và làm tăng nguồn lợi sinh vật Nhật Bản coi “nghề nuôi trồng thủy sản” là mục tiêu, qua nhiều năm nỗ lực đã khiến cho tài nguyên vùng nội biển Lai hộ tăng lên rất rõ Ngay từ năm 1968 nước
Mỹ đã để xuất kế hoạch “trại chăn nuôi ở biển”, dự kiến trong thời gian 5 năm xây
dựng 4 vạn hecta trang trại chăn nuôi rong biển Nhật Bản coi việc xây dựng các trại
thả nuôi nhân tạo là một trong các ngành chủ yếu để khai thác nghề cá biển cạn Nước Mỹ còn phát triển các trại nuôi nhân tạo để đáp ứng với nhu cầu nghề câu cá không cố định
Cùng với sự phát triển nhanh chóng nghề nuôi trồng thủy sản, thì công nghiệp sản
xuất thức ăn nuôi trồng thủy sắn cũng phát triển theo Ngay từ những năm 50 nước
Mỹ đã nghiên cứu chế tạo thành công thức ăn nuôi tổng hợp nhân tạo cho cá Hồi
khiến cho công nghệ nuôi trồng thủy sẩn có sự cách mạng đột biến to lớn Mức sản
lượng trên một đơn vị diện tích tăng cao với nhịp độ lớn 6 Nhật Bản, trong sản xuất
20
Trang 20nuôi trồng thủy sản nước ngọt hơn 80% là dựa vào thức ăn chăn nuôi nhân tạo Những
kỹ thuật cao mới như: máy tính điện tử, công nghệ sinh vật học, công nghệ hải dương
học, nguyên liệu mới nguồn năng lượng mới sẽ khiến cho sản xuất nghề cá có những thay đổi sâu sắc, ví dụ như sử dụng công nghệ tế bào học tiến hành nhân bản vô tính
loài cá đang được triển khai ấp dụng, do sự đột biến mới của công trình chất xúc tác
và công trình lên men đã đẩy mạnh việc sử dụng thức ăn chăn nuôi dùng cho cá vào
sản xuất Sử dụng máy tính điện tử để chọn ra cách pha chế phối hợp thức ăn tốt nhất, xây dựng hệ thống sản xuất thức ăn chăn nuôi tự động hóa, tiến hành giám sát và quần lý chất lượng nước nuôi trồng đã được không ít quốc gia trên thế giới ứng dụng
rộng rãi, từ đó đã xây dựng lên cơ sở cho việc nuôi cá “xí nghiệp hóa” và xây dựng
hệ thống tự động hóa xí nghiệp nuôi trồng
Năm 1992 tổng sản lượng sản phẩm thủy sản Trung Quốc đạt 1558 vạn tấn, trong
đó sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 777 vạn tấn chiếm 49,87% tổng sản lượng sản phẩm thủy sản so với năm 1978 tỉ trọng sản lượng nuôi trồng thủy sản Trung Quốc chỉ có 26,04%, xu thế phát triển này vẫn đang phát triển nhanh Dựa vào trình độ kỹ thuật hiện nay Trung Quốc vẫn còn gần 100 triệu mẫu tài nguyên nước có thể khai
thác sử đụng cho nuôi trồng thủy sản hơn nữa những thủy vực đã khai thác sử dụng thì
năng suất và sản lượng của các vùng nước đó còn rất thấp và không ổn định Trong khi đó tiểm năng khai thác và tăng sản xuất lại rất lớn Căn cứ vào mục tiêu phấn đấu của nghề thủy sản Trung Quốc, đến cuối thé ky nay nghề thủy sản sẽ coi việc nâng
cao hiệu quả kinh tế làm trung tâm, cải tạo khai thác khẩ năng tiểm tàng và sử dụng
khai thác tổng hợp đều cơi trọng như nhau, hướng tới hai thị trường trong nước và
quốc tế, liên tục cải thiện kết cấu sản phẩm và kết cấu chất lượng, vẫn phải đẩy mạnh phát triển bước đi của nghề nuôi trồng hải sản Đến cuối thế kỷ này dự tính tổng sản lượng sản phẩm thủy sản Trung Quốc đạt được mục tiêu 2300 vạn tấn /năm, hơn 90% sản lượng tăng trưởng sau này sẽ dựa vào nghề nuôi trồng, kết cấu sản xuất
sẽ thay đổi thêm bước nữa, sản lượng nuôi trồng sẽ nâng cao hơn 60%
Xu thế phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Trung Quốc chủ yếu phản ánh ở mấy
mặt sau:
1 Phát triển nuôi cá ao đầm vẫn là đường đi chủ yếu cho việc tăng sản lượng:
Trong sản xuất nuôi trồng thủy sẩn nước ngọt, nuôi cá ao đầm trong mục tiêu chiến
lược tăng nghề cá lên gấp đôi vẫn có một vị trí quan trọng Năm 1990 diện tích nuôi
cá ao đầm Trung Quốc chiếm 36,91% tổng điện tích nuôi trổng nước ngọt cả nước
nhưng sản lượng lại chiếm 76% tổng sản lượng nuôi trồng nước ngọt Trong 12 năm,
kể từ năm 1978 đến năm 1990 ao đầm tăng sẵn lượng 287,3 vạn tấn chiếm 77,7% sản
lượng tăng nuôi trồng thủy sản nước ngọt Nhìn từ góc độ năng lực tiểm tàng của khai
thác sử dụng tài nguyên, 212,3 vạn mẫu cá ao đầm cả nước năm 1990 bình quân cho
sẩn lượng 159 kg/mẫu nhưng có 3 khu tập trung sản xuất lớn là khu Trung Nam
Thuận Quảng Đông, khu Hàng Gia hỗ Triết Giang, khu Thái hổ Giang Tô có diện
tích nuôi cá ao đầm là 120,84 vạn mẫu, sản lượng 543497 vạn tấn, đạt sản lượng trên
mỗi mẫu là 451,1 kg Tuy nhiên, vẫn còn 14 tỉnh, thành phố, khu vực sản lượng mỗi
21
Trang 21mẫu chỉ đạt dưới 100 kg, có nơi chỉ có vài chục kg/ mẫu Chính vì vậy, khả năng tăng
sản xuất của nghề nuôi cá ao đâm là rất lớn
2 Việc sử dụng khai thác vùng nước lớn và vừa là cơ sở cần thiết cho việc phát
triển nghề nuôi trồng thủy sản: Diện tích khu vực nước lớn và vừa trong đất liền
Trung Quốc là 120 triệu mẫu, diện tích đã nuôi trồng chỉ chiếm 26% Hơn nữa, chủ
yếu chỉ khai thác sử dụng dưới hình thức nuôi thả thô khiến cho sản lượng trên đơn vị
điện tích không cao Năm 1990, sản lượng trên đơn vị diện tích của đập nước, hồ và
sông chỉ là 17,29 và 53 kg Những năm gần đây, do sự nổi lên nhanh chóng của nuôi
cá lưới đóng và nuôi trồng lưới chắn đã mở ra một hướng đi mới cho việc khai thác sử dụng tổng hợp những vùng nước này Tốc độ khai thác sử dụng diện tích mặt nước lớn
và vừa ở các tỉnh như Giang Tô, Hồ Bắc, Hồ Nam rất nhanh, việc thực hiện phương
thức nuôi trồng “kết hợp nuôi tăng sản lượng, kết hợp nuôi thâm canh và nuôi thô,
nuôi tập trung hóa” đã bước vào giai đoạn ứng dụng rộng rãi trên quy mô lớn, sản
lượng tăng hàng mấy lần, đặc biệt giữ vị trí rất quan trọng là việc khai thác và sử
dụng vùng nước lớn và vừa ở trung và hạ lưu sông Trường Giang Bởi vì diện tích khu
vực lớn và vừa khúc giữa sông Trường Giang chiếm 44,2% diện tích cả nước, điện
tích nuôi trồng năm 1990 chiếm 48,8% diện tích cả nước, sản lượng nuôi trồng chiếm
2/3 sản lượng của cả nước Năng suất sử dụng vùng nước ở khu vực này lại không
cao, sản lượng trên đơn vị diện tích không cân bằng Năng suất sử dụng diện tích
vùng nước lớn và vừa của cả nước năm 1990 là 15,2%, trong khi đó trung hạ lưu sông Trường Giang là 16,8% Năng suất trên một đơn vị diện tích nuôi trồng bình quân cả nước là 15,7 kg trong khi sản lượng trên đơn vị diện tích của trung hạ lưu sông Trường Giang - Thượng Hải là 61,8 kg, An Huy chỉ có 23,1 kg; bình quân sản lượng trên đơn vị diện tích chỉ có 16,5 kg, cao hơn 0,8 kg so với sản lượng trên đơn vị điện tích bình quân cá nước Cho nên, điều kiện phát triển sản xuất thủy sản vùng nước lớn và vừa của trung hạ du sông Trường Giang rất ưu việt, lại có một nên tắng sản
xuất nhất định, tiểm lực sản xuất rất lớn Theo dự đoán chỉ cần đem vào khai thác sử
dụng hơn 2000 vạn mẫu vẫn chưa được sử dụng của điện tích nước lớn và vừa, áp
dụng các biệp pháp như nuôi lưới đóng, nuôi lưới chắn, đưa các giống thuần hóa về nuôi hoặc thả các con giống nhân tạo vào vùng đập, hồ để tăng tài nguyên, đồng thời
áp dụng các biện pháp kinh tế xã hội cần thiết, thực thi các biện pháp kỹ thuật tổng
hợp như bảo hộ sinh sắn đối với vùng nước lớn và vừa, nâng cao sản lượng trên đơn
vị điện tích thì tổng sẵn lượng ở khu vực này sẽ tương đối khả quan Cho nên, khai
thác sử dụng vùng nước lớn và vừa là hậu cần và hi vọng cho sự phát triển nghề cá ở
Trung Quốc
3 Tiêm năng sản xuất nuôi trồng sinh sản hải sản rất lớn: Bờ biển Trung Quốc
kéo đài, nước nhiều nên khai thác chất protein từ động thực vật biển là một xu thế tất
yếu Việc phát triển mạnh nghề nuôi trồng hải sản, khai thác tài nguyên “bờ biển vàng” và làm thức dậy vùng biển cạn, bãi bồi sẽ là con đường đi tất yếu cho sự phát triển nghề cá đại dương Theo điều tra, diện tích biển cạn va bãi bôi có thể phục vụ cho nuôi trồng ở Trung Quốc là 2000 vạn mẫu Trước đây, chủ yếu dựa vào các hình
2
Trang 22thức chính như nuôi bè các loại rong biển và sò biển ở biển cạn, lợi dụng các bãi bồi
để nuôi thô các loại sò, điện tích nuôi thâm canh chỉ chiếm 1⁄3, năng suất trên một
đơn vị điện tích tương đối thấp Gần 10 năm trở lại đây, do tập trung hóa nuôi trồng
hải sản phát triển nhanh chóng nên năng suất trên một đơn vị diện tích luôn được nâng cao Hiện nay, diện tích nuôi thâm canh và nuôi thô mỗi bên chiếm khoảng
50% Năm 1991, diện tích nuôi biển đạt 674,05 vạn mẫu, sản lượng 190,46 vạn tấn,
chiếm 29,16% sản lượng nuôi trồng cả nước mặn và nước ngọt Sản lượng mẫu bình
quân năm 1991 đạt 289 kg, tăng hơn gấp 6 lần so với năm 1978 Theo dự đoán và quy hoạch của các ngành hữu quan, nghề nuôi trồng tăng trưởng hải sản sẽ phát triển
ổn định và liên tục trong những năm tiếp theo, đến năm 1995 diện tích nuôi trồng sẽ được mở rộng vào khoảng 750 vạn mẫu, đến cuối thế kỷ này diện tích nuôi trồng dự
tính vào khoảng 1000 vạn mẫu
4 Cơ cấu sản phẩm của ngành nuôi trồng thủy sản có sự thay đổi rõ rệt: Cùng với sự nâng cao mức sống của người dân, căn cứ vào nhu cầu của thị trường, kết cấu chúng loại sân phẩm nuôi trồng thủy sản Trung Quốc đã dẫn dẫn từng bước được điều chỉnh, phát triển theo phương hướng sản lượng, hiệu quả chất lượng cao, tỉ trọng những sản phẩm thủy sản nổi tiếng, tốt, mới liên tục tăng Theo thống kê bước đầu, đến năm 1992 điện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt nổi tiếng, tốt, mới cả nước đạt hơn 440 vạn mẫu, diện tích nuôi trồng sản lượng và quy mô tương đối lớn có các loài
như: tôm sông, cá chình, cá tầm, tôm càng loren, cá quy, cá rô california, ba ba; nuôi
trồng tăng trưởng hải sản sẽ dựa trên cơ sở củng cố và nâng cao nuôi tôm he, phát
triển mạnh các loài sò, tích cực phát triển nuôi cá và tôm Mấy năm gần đây, trong diện tích nuôi trồng mới tăng, điện tích quản lý và nuôi các loại nhuyễn thể bãi béi
mở rộng hơn 50 vạn mẫu; quy mô nuôi trồng sò biển xanh ngọc, sò biển vịnh, bào
ngư, tôm he có đốt, tôm xanh liên tục được mở rộng Theo sự nghiên cứu của cắc ngành hữu quan, cả vùng duyên hải sẽ có trạng thái phát triển theo xu hướng điều
hòa kết cấu hợp lý giữa các loài nuôi như cá, tôm, nhuyễn thể, rong biển Dự tính đến cuối thế kỷ này, sản lượng của một số sản phẩm được thị trường hoan nghênh, có hiệu quả kinh tế tương đối cao như: cá, tôm, cua và sản phẩm biển quý giá có thể đạt tới hơn 30% sản lượng tăng nuôi trồng hải sản
Các vùng biển sẽ phát huy ưu thế khu vực, tự mình hình thành những mạng lưới
mang tính khu vực trong kết cấu chủng loại sản phẩm Vùng biển Bột Hải dựa vào tôm he là chính; khu Bắc Hoàng Hải lấy việc sản xuất các loài sò biển, rong biển,
tôm he và các loài cá là chính; khu Nam Hoàng Hải chủ yếu sản xuất tôm he, nghêu,
rong mứt; khu Đông Hải sản xuất chính các loài như: sanh, hàu, rong biển, sò, tôm
he, ngao, rong mứt, sò biển, các loài cá; khu Nam Hải chủ yếu sản xuất hầu, tôm he, các loài cá
5 Lĩnh vực kinh doanh và quy mô kinh doanh của ngành nuôi trông thủy sẵn liên tục mổ rộng: Thực tiễn nhiều năm chứng mình, muốn phát triển xí nghiệp nuôi trồng thủy sản phải tận dụng hết nguồn tài nguyên của địa phương, bám vào nghề
23
Trang 23nuôi, luôn khai thác lĩnh vực kinh doanh mới, từng bước thực hiện kinh doanh nghề
cá, công nghiệp, thương nghiệp, mậu dịch, du lịch Đây chính là con đường dẫn đến
làm giàu cho bản thân và cho quê hương mình Có thể đoán trước từ nay về sau, các
đơn vị sản xuất kinh doanh và lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong ngành nuôi trồng
thủy sản của Trung Quốc sẽ liên tục được mở rộng, áp dụng biện pháp cùng làm bên
trong và cả bên ngoài xí nghiệp, tiến hành khai thác nhiều hướng nguồn tài nguyên, chuyển kinh doanh độc nghề sang kinh doanh tổng hợp, thành lập những liên doanh xuyên khu vực, thu hút ngoại tệ, kinh doanh góp vốn để tăng cường thực lực kinh tế
Cùng với việc đi sâu vào cải cách, phát triển sản xuất và nâng cao trình độ kỹ
thuật, quy mô sản xuất nuôi trồng thủy sản tất yếu sẽ đi từ phạm vi nhỏ trong kinh doanh gia đình, dần dẫn từng bước chuyển sang kinh doanh quy mô vừa phải, căn cứ vào nhu cầu kinh tế thị trường, thông qua việc từng bước thực hiện các hình thức như:
“chế độ đấu thầu”; “chế độ cho thuê”; “chế độ cổ phần” khiến cho mặt nước tương
đối tập trung và hình thành nên khu căn cứ sản xuất thương phẩm
Tiết 3: VAI TRÒ VÀ VI TRI CUA NGHE NUOI TRONG THUY SAN TRONG NONG NGHIEP NOI CHUNG VA NGANH THUY SAN NOI RIENG
I Vị trí của nghề nuôi trồng thủy sản
Mấy năm gần đây, do việc khai thác quá mức ngư trường truyền thống và việc
khu kinh tế chuyên thuộc 200 hải lý được mở rộng hơn khiến cho ngành khai thác
thủy sản của rất nhiều quốc gia phải giảm biên độ khai thác íất nhiều, đánh bắt xa bờ
đã không còn khả năng đáp ứng nhu cầu về hàng thủy sản đối với người dân trong nước Chính vì vậy, nhiều quốc gia đã rất coi trọng việc phát triển nghề nuôi trổng thủy sản Tổ chức lương thực thế giới (FAO) chỉ rằng: Nuôi trồng thủy sản đã trở thành cách làm nhanh nhất để tăng thêm nguồn cá cho nhân loại Đặc biệt là những quốc gia có nghề cá phát triển như nước Mỹ và Nhật Bản đã tập trung sự chú ý và
chuyển hướng sang phát triển nghề nuôi trông thủy sản Ngay từ những năm 60, nước
Nhật đã để xuất khẩu hiệu “chuyển từ nghề khai thác thủy sản sang nghề nuôi trồng thủy sản”, sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 1957 chỉ có 200.000 tấn đến năm 1986
đã lên đến 1.284.000 tấn Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO), năm
1989 tổng sản lượng sản phẩm thủy sản của thế giới đạt 99.535.000 tấn, trong đó theo
ước tính sẵn lượng thủy sản nuôi trồng đạt trên 1.300.000 tấn, tỉ trọng sắn lượng thủy
sắn nuôi trồng nước mặn là 13,06% Xu thế tăng trưởng này vẫn đang trong thời kỳ phát triển Theo phân tích, tỉ trọng mà sản lượng thủy sản nuôi trồng chiếm trong tổng sản lượng sản phẩm thủy sản sẽ tăng lên 1/3 Đây là xu thế tất yếu của phát triển sức sản xuất
Lấy nuôi trông là chính, kết hợp nuôi trồng thủy sắn và khai thác thủy sản Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của việc phát triển nghề cá hiện nay ở Trung Quốc
mà còn là một xu hướng phát triển tất yếu của nghề cá Trong lịch sử phát triển nghề
cá, ngành khai thác được coi là phát triển sớm nhất Sự xuất hiện và phát triển của
24
Trang 24ngành nuôi trồng đã đánh đấu một bước nhảy vọt trong lĩnh vực nghề cá, từ việc con
người chỉ chờ đợi thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên đến việc tự chủ động giành
lấy các nguồn tài nguyên Đây cũng là biểu hiện của tiến bộ xã hội Sự phát triển của
khoa học kỹ thuật đã đem đến cho nhân loại viễn cảnh có thể dựa vào ý chí của con người sản xuất ra sản phẩm thủy sản: tận dụng hết mức sức sản xuất của tài nguyên
nước, sản xuất càng nhiêu càng tốt các sản phẩm thủy sản phù hợp với nhu cầu con
người
Thực tiễn trong và ngoài nước đã chứng minh rằng, nếu biết coi trọng việc phát
triển nuôi trồng thủy sản trong nước và trong khu vực thì sản xuất thủy sắn luôn đạt được sự phát triển ổn định và liên tục Vì vậy, việc phát triển mạnh mẽ ngành nuôi trồng thủy sản là con đường tất yếu cho sự phát triển nghề cá hiện nay Tốc độ phát
triển nhanh chóng của ngành nuôi trồng thủy sản khiến cho vai trò và vị trí của ngành
nay trong nông nghiệp nói chung và ngành thủy sản nói riêng ngày càng thu hút được
sự quan tâm của mọi người
II Vai trò của ngành nuôi trồng thủy sản
1 Cung cấp cho nhân dân thực phẩm giàu đỉnh dưỡng: Trung Quốc là một nước đang phát triển, người nhiều, tài nguyên ít Hiện nay các loại ngũ cốc vẫn là thức ăn
chính cho người đân Trung Quốc, tỉ lệ chất protein và lipid động vật trong thức ăn
vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân của thế giới Theo thống kê của tổ
chức lương thực thế giới (FAO), năm 1989 sản lượng sản phẩm thủy sẵn của Trung Quốc là 11.516.600 tấn, bình quân sản lượng trên đầu người là 10,2 kg, nếu so với
mức bình quân đầu người trên thế giới là 19,1 kg thì vẫn còn ở khoảng cách khá xa
Để cải thiện cơ cấu thực phẩm, nâng cao sức khỏe và mức dinh dưỡng cho nhân dân, tăng việc cung cấp sản phẩm phụ nông nghiệp có ích và làm phong phú thêm đời
sống nhân dân ở thành thị và nông thôn thì ngoài việc tăng cường phát triển sản xuất lương thực phải chú trọng việc phát triển liên tục và ổn định của các ngành khác như: chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thủy sản Sử dụng khai thác tài nguyên các vùng biển can, bãi bổi, và các vùng nước trong đất liền, tích cực phát triển nghề nuôi trồng thủy sắn - nghề mà có thể cung cấp cho xã hội số lượng lớn những thực phẩm thủy sản
giàu đinh dưỡng và ngon lành
Sản phẩm thủy sản là thực phẩm giàu dinh dưỡng rất được mọi người yêu thích
Từ xưa tới nay, con người luôn coi sản phẩm thủy sản là thực phẩm lý tưởng nhất
Trong nó có các đặc điểm như hàm lượng protein cao, lượng mỡ và cholesterol thấp,
có rất nhiều loại vitamin, đễ tiêu hóa và hấp thụ đối với con người, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất Đây là đặc điểm khiến cho các loại thịt không thể so sánh được với sản phẩm thủy sản Hơn nữa, sẳn phẩm thủy sản còn là nguồn cung cấp protein thích hợp nhất cho sức khỏe của con người Rất nhiều nước trên thế giới luôn coi việc
sử dụng mặt nước biển là khởi nguồn quan trọng để cung cấp protein cho con người
Theo tính toán khoa học, trong các loại chất protein của động vật mà con người dễ
hấp thu nhất, khoảng gần một nửa có nguồn gốc từ sản phẩm thủy sản Theo kết quả
25
Trang 25phân tích, cứ mỗi cân cá trắm đen chứa 195 gram hàm lượng protein, trong khi 1 kg thịt lợn chỉ chứa 95 gram hàm lượng protein; 1 kg thịt gà có chứa 136 gram ham
lượng protein; 1 kg thịt vịt có chứa 147 gram hàm lượng protein Các loại tôm và sinh
vật nhuyễn thể, tảo cũng đều được coi là những loại thực phẩm thủy sản hàm lượng protein cao và hàm lượng chất béo thấp Trong các loại sinh vật nhuyễn thể thì loài
Hầu được coi là “sữa bò” biển, hàm lượng protein có trong thịt của loài Hàu lên đến 45%-57% Một số động vật thủy sản kinh tế khác như: ba ba, rùa, tôm, cua, ếch là
những thực phẩm bổ dưỡng
2 Nghề nuôi trồng thủy sản là một bộ phận cấu thành lên việc khai thác tổng hợp nguồn tài nguyên: Phát triển nghề nuôi trồng thủy sắn không chỉ có lợi cho kết cấu sẩn xuất nông nghiệp, duy trì cân bằng sinh thái nói chung mà còn là một bộ phận cấu thành trong chiến lược khai thác tổng hợp tài nguyên lãnh thổ Trung Quốc
nói riêng
Phát triển nghề nuôi cá hấp dẫn các vùng nông thôn cùng lúc thực hiện nhiều loại
hình kinh doanh như: nông, lâm, chăn nuôi, nghề cá; có lợi cho việc điều chỉnh hợp lý
kết cấu nội bộ nông nghiệp; nay mạnh việc điều tiết các ngành nông, lâm, chăn nuôi
và nghề cá,
Căn cứ vào thực trạng củaTrung Quốc, Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định
phương châm “tuyệt đối không được thả lồng việc sản xuất lương thực, tích cực phát triển nhiễu loại hình kinh doanh” Phát triển nhiều loại hình kinh doanh ở nông thôn, tiến ra những vùng biển cạn, bãi bổi và những vùng nước Mở rộng lĩnh vực sản xuất,
phát triển nghề nuôi trồng thủy sản là một con đường thiết thực khả thi mà rất có lợi
Chúng ta đều biết, cá là một loại động vật thủy sinh biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể của nó sẽ biến đổi theo sự tăng giẩm của thời tiết và môi trường và lại có thể tiết kiệm được năng lượng tiêu hao cần thiết để duy trì nhiệt độ cân bằng cho cơ thể
Chính điều này, khiến cho năng lượng tiêu hao của động vật thủy nhỏ hơn so với
động vật trên cạn, việc chuyển hóa thức ăn sẽ diễn ra nhanh hơn, sức tiêu hao thức ăn
của cùng một lượng cá sẽ ít hơn so với cùng một số lượng gia súc hay gia cầm, vì thế
hiệu quả kinh tế của loài cá sẽ cao hơn Do đó tiến quân vào những vùng nước là một công việc sản xuất đầu tư ít vốn, năng suất cao, hiệu quá kinh tế lớn
Đồng thời, chúng ta nên thấy rằng nông nghiệp là chỉnh thể các mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau, cùng dựa vào nhau để sinh tổn và phát triển của 5 ngành nghề:
nông, lâm, chăn nuôi, nghề phụ nông nghiệp và nghề cá Do vậy, tùy theo từng địa
phương khác nhau mà phát triển nhiễu loại hình kinh doanh khác nhau để sử dụng
hợp lý các nguồn tài nguyên, phát triển toàn diện các ngành: nông, lâm, chăn nuôi,
phụ nông nghiệp và nghề cá để kết cấu sản xuất nông nghiệp ngày càng hợp lý hơn, đạt được hiệu qua tổng hợp sản xuất nông nghiệp Công việc này không những là việc làm tất yếu mà còn là công việc mang tính khả thi Diện tích đất hoang, đất trũng, phèn chua thích hợp cho nghề cá khắp cả nước Trung Quốc là 45 triệu mẫu
nhưng tỉ suất sử dụng vẫn rất thấp Mấy năm gần đây, thực tiễn đã chứng minh công
26
Trang 26việc khai thác tổng hợp nghề cá vùng đất trũng, phèn chua dọc sông Hoàng Hà đã áp dụng hình thức đào ao, đắp ruộng để tiến hành khai thác tổng hợp không những không chiếm đụng đất canh tác nông nghiệp mà còn có thể tạo ra đất nông nghiệp
Huyện Đấu Môn tỉnh Quảng Đông đã cải tạo đất tring, dao ao nuôi cá, tích bùn nâng cao diện tích cánh đồng, trồng cây lương thực, mía; diện tích đầm nuôi cá bằng 1/10
diện tích đất canh tác Việc làm này không những làm cho cơ cấu nông nghiệp ngày càng hợp lý hơn mà còn hình thành lên hệ cân bằng sinh thái tốt Vì vậy, việc phát
triển nghề nuôi cá ở nhiều khu vực nông thôn ngày càng thu hút sự quan tâm chú ý
của mọi người
Trong giới tự nhiện, hệ sinh thái thủy sinh và hệ sinh thái nông điển, hệ sinh thái rừng già, hệ sinh thái động vật chăn nuôi đã tổ hợp thành hệ thống sinh thái đại nông nghiệp Những hệ sinh thái này tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và đưa ra yêu
cầu toàn bộ nông nghiệp phải là một kết cấu kinh tế hợp lý Nông nghiệp, ngư nghiệp cũng như các ngành nghề khác có cùng cơ sở tổn tại nên phải có yêu cầu chung về bảo vệ sinh thái, phát huy hiệu quả tổng hợp Như vậy, không chỉ phát triển nghề cá
đồi hỏi phải bảo vệ duy trì diện tích vùng nước nhất định mà ngay cả các nghề khác
như: nông, lâm, chăn nuôi cũng đồng thời phải đưa ra yêu cầu phải giữ lại một diện tích mặt đất nhất định để làm nơi trữ nước, bởi vì nước là nhân tố quan trọng để duy
trì sự sống của cả động và thực vật và cũng là huyết mạch quan trọng của nông
nghiệp Ví dụ tỉnh Hồ Bắc được coi là “tỉnh của hàng ngàn chiếc hồ”, chỉ hơn một nghìn mẫu ao hồ thôi đã có 1065 chiếc Theo dự đoán của các ngành hữu quan, nếu như điện tích ao hổ toàn tỉnh có thể duy trì ổn định vào khoảng trên 4 triệu mẫu thì
những năm nước nhiều, các hồ ở đây có thể tiếp nhận được khối lượng nước là 15 tỉ
mm”, những chiếc hổ này ngoài tác dụng trữ nước phòng lũ còn có thể giữ nước phòng
chống hạn hán, điều hòa khí hậu và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi
trường sinh thái duy trì sự phát triển điểu hòa giữa các ngành: nông, lâm, chăn nuôi
và nghề cá
Nghề nuôi cá đầm cũng có vai trò tác dụng như trên Bùn đất của ao đâm có thể làm tăng sản lượng nông nghiệp Đất trồng dâu và đầm thả cá ở đồng bằng châu thổ sông Châu Giang và lưu vực Thái Hồ đã chứng minh cho sự kết hợp nông nghiệp, nghề dâu và nghề cá tiết kiệm nguồn năng lượng, sử dụng quay vòng phế liệu, duy trì cân bằng sinh thái, nâng cao hiệu quả kinh tế
Hơn nữa, con người trong quá trình thực hiện các công việc sản xuất và sinh hoạt
hàng ngày đều phải tuân theo quy luật tự nhiên trong cân bằng sinh thái, nếu không
sẽ chịu sự trừng phạt của thiên nhiên Vì vậy, khai thác sử dụng tài nguyên các vùng
biển cạn, bãi bổi và các vùng nước trong đất liển cần phải tùy vào từng vùng khác nhau để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Đây là việc làm hết sức cần thiết đối với việc cải thiện kết cấu kinh tế nông thôn, thúc đẩy phát triển toàn bộ kinh tế nông
nghiệp
27
Trang 273 Nghề nuôi trông thủy sẵn tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, giúp
bà con nông dân và ngư dân xóa đói giảm nghèo và tiến lên làm giàu cho bản
thân và cho quê hương: Nguồn lao động ở các vùng nông thôn hết sức phong phú
nhưng do chịu sự hạn chế về thực lực cũng như quy mô và tốc độ phát triển công nghiệp Trung Quốc khiến cho một loạt lao động trẻ mới rất khó được tiếp nhận Hiện nay, ở nông thôn Trung Quốc cùng với sự nâng cao về năng suất sản xuất lao động và
trình độ thâm canh hóa sản xuất, hàng loạt lao động nông thôn đã chuyển hướng sang sản xuất phi nông nghiệp Ngoài việc phát triển công nghiệp cho huyện thị nông thôn
và làm nghề phụ tay trái thì nghề cá với ưu thế dung lượng lớn, đầu tư ít, đạt hiệu
quả nhanh và hiệu quả cao Đối với những người nông dân “ly nông bất ly hương”
chính là đã mở ra cánh cửa vươn lên ngay trên chính mảnh đất quê hương mình và là
hướng đi đúng để đẩy mạnh phát triển sản xuất thương phẩm và kinh tế thương mại
nông thôn
Hiệu quả sản xuất tại các vùng nước là rất lớn Theo kết quả điều tra năm 1984 của 20 hộ nông dân trọng điểm thành phố Hồ Châu tỉnh Triết Giang, cứ một mẫu đất trồng cây lương thực thu về 640 kg, một mẫu đất canh tác trồng dâu nuôi tầm nhả kén thu về 75 kg kén tằm, một mẫu đầm nuôi cá thu về 640 kg, mỗi mẫu đâm cá thu nhập
về 726,53 nhân dân tệ, gấp 4,48 lần so với thu nhập từ trồng cây lương thực Với
1543 mẫu đầm nuôi cá của ngư trường Đại Hưng thuộc huyện Tòng Minh thành phố Thượng Hải nuôi thả phổ biến giống cua, bình quân mỗi mẫu đầm cua thương phẩm
thu về 316 nhân dân tệ Năm 1991, toàn bộ ngư trường đã thu về hơn 48 vạn nhân dân tệ từ cua thương phẩm Trong tình hình hiện nay, khi mà giá cả của một số mặt
hàng cần thiết cho nghề cá như: thức ăn nuôi, nguyên liệu và điện năng đều lên giá khiến giá thành tăng cao thì nghề nuôi trồng thầy sản vẫn có thể kiếm lời được Vì vậy, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất tổng hợp nông nghiệp, thúc đẩy nên kinh tế
thương phẩm nông thôn phát triển giúp những người ngư dân và nông dân thoát khổi
cảnh đói nghèo và vươn lên làm giàu
4 Nghề nuôi trông thủy sản có thể thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan: Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản có thể cung cấp nguyên vật liệu cho
các bộ ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, y được và công nghiệp quốc phòng,
thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan
Các sản phẩm nuôi trồng thủy sản ngoài chức năng làm thực phẩm cho con người còn được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực khác Rất nhiều mặt hàng thủy sản là
nguyên liệu quan trọng cho rất nhiều ngành sản xuất Ví dụ rong biển có thể chế tạo
ra i-ốt, keo, cồn; những loại keo quỳnh chỉ được làm từ loài tảo đỏ như: rau Thạch
hoa, Hồng L4, đều là nguyên liệu quan trọng trong y được, thực phẩm, dệt, in nhuộm,
công nghiệp quốc phòng Vây cá và xương cá có thể chế biến thành keo, đa cá có thể
chế tạo thành đa thuộc Ngọc trai nuôi trồng trong nước mặn hay nước ngọt không chỉ
là mặt hàng trang sức cao cấp mà hơn nữa có giá trị như một loại y dược, cũng là
nguyên liệu của một số đổ uống và mỹ phẩm Hải mã, hải long, vỏ bào ngư, vỏ trai
28
Trang 28ngọc v.v là nguồn dược phẩm quý và nổi tiếng, rất nhiều loại vỏ sinh vật nhuyễn thể biển có thể chế tạo thành hàng thủ công mỹ nghệ khẩm trai Các sản phẩm nuôi trồng
cũng là nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến thực phẩm Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao thì các sản phẩm nuôi trồng thủy sản sẽ có xu hướng ngày càng được sử dụng rộng mở hơn
Đồng thời, sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản cũng kéo theo sự phát triển của các ngành tương quan như công nghiệp chế biến thức ăn nuôi, công nghiệp
cơ khí nuôi trồng, chế biến thực phẩm, tiêu thụ sản phẩm, du lịch chữa bệnh, phục vụ
đồ uống v v Ví dụ lao động nuôi tôm he cần một trăm mấy chục nghìn người thì những lao động làm việc trong các lĩnh vực như: chế biến, thu mua, tiêu thụ lên đến
hơn một triệu người
5, Phát triển ngành nghề nuôi trồng thủy sản có thể xuất khẩu thu đổi ngoại tệ, giúp sức xây dựng kinh tế Trung Quốc: Sản phẩm thủy sản là thương phẩm xuất khẩu quan trọng của Trung Quốc, từ xưa tới nay nổi tiếng có tỉ suất thu đổi ngoại tệ cao Theo dự đoán của các ngành hữu quan, nếu thu đổi được 1 USD đối với các sắn phẩm công nông nghiệp bình thường giá thành bình quân thu đổi bồ ra từ 4-7 nhân dân tệ, trong khi đó giá thành thụ đổi các mặt hàng thủy sắn tương đối thấp Cùng với việc cải cách và mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc, mối quan hệ giữa sự phát triển
ngành thủy sản Trung Quốc và thị trường quốc tế ngày càng trở nên mật thiết Các
ngành thủy sản địa phương nắm bắt công việc quan trọng lấy phát triển kinh tế hướng ngoại để tham gia vào thị trường cạnh tranh quốc tế, làm chấn hưng nghề thủy sản, đẩy mạnh phát triển nghề cá tạo ra ngoại hối (đem lại ngoại tệ)
Để thích hợp cho sự phát triển nghề cá mang lại ngoại tệ, cơ sở hạ tầng cho xuất khẩu thương phẩm thủy sản phải thực sự được coi trọng, sản phẩm nuôi trông đã trở thành thương phẩm xuất khẩu đem lại ngoại tệ chủ yếu cho ngành thủy sản Trung Quốc Theo thống kê của các ngành hữu quan Trung Quốc, năm 1988 nguồn ngoại lệ
do tôm he đưa lại là 590 triệu USD, do cá sống thương phẩm đưa lại là 110 triệu USD Xuất khẩu 9279 tấn cá trèn, đổi ra ngoại hối là 90 triệu USD, xuất khẩu 3296,9
tấn keo rong biển đưa về 21,43 triệu USD Chỉ với mức thu ngoại tệ từ vài mặt hang
xuất khẩu kể trên đã chiếm 83% mức thu ngoại tệ của các sản phẩm thủy sản Trung Quốc xuất khẩu trong năm Hiện nay, tại Trung Quốc đã cơ bản xây dựng những vùng trọng điểm kinh tế tạo ra ngoại tệ từ những loài nuôi trẳng nổi tiếng đặc ưu như tôm he, vật phẩm biển quý báu, cá trèn, ngọc trai, hàng năm xuất khẩu mười mấy
vạn tấn sản phẩm nuôi trồng thủy sản sang các nước Nhật Bản, Mỹ, các quốc gia
châu Âu và khu vực Hồng Kông, đổi về mấy trăm triệu USD ngoại tệ, giúp sức xây đựng kinh tế Trung Quốc
29
Trang 29Chương 2 NOI DUNG VA CG CHE QUAN LY KINH DOANH CÁC XÍ NGHIỆP NUÔI TRỒNG THỦY SẲN
Quản lý kinh doanh khoa học là yêu cầu hiện thực và khách quan nhằm thúc đẩy
xí nghiệp nuôi trồng thủy sản phát triển, chuyển đổi cơ chế kinh doanh của xí nghiệp
và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Việc áp dụng lý luận
và phương pháp nghiên cứu chung trong quản lý kinh đoanh để nghiên cứu và chỉ đạo
tổ chức hợp lý hoạt động sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
với việc áp dụng quy luật chung của điều tiết khống chế có một ý nghĩa hết sức quan
trọng trong việc nâng cao trình độ quần lý kinh doanh xí nghiệp và chất lượng của xí
nghiệp
Tiết 1: XÍ NGHIỆP NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
1 Khái niệm và đặc trưng xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
Khái niệm chung: xí nghiệp là hình thức tổ chức mà con người trong xã hội hiện
đại tiến hành hoạt động kinh doanh, là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh sản
xuất hạch toán độc lập, là đơn vị cơ bản của nên kinh tế quốc dân Khái niệm xí nghiệp nuôi trồng thủy sản có thể rút ra từ khái niệm về xí nghiệp Nói một cách khái quát, xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là chỉ tổ chức kinh tế có đầy đủ tư cách pháp nhân sử dụng nguồn tài nguyên nước, tiến hành nuôi trồng động thực vật kinh tế thủy
sinh hạch toán độc lập, kinh doanh có lãi Các xí nghiệp nuôi trông thủy sản ngoài sự
khác biệt với các xí nghiệp thông thường ở nội dung và phạm vi hoạt động sẵn xuất kinh doanh thì cũng có đây đủ đặc trưng cơ bản của một xí nghiệp nói chung
1 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là tổ chức kinh tế làm việc trong lĩnh vực sản xuất nuôi trồng thủy sản: Xí nghiệp là tổ chức kinh tế, hoạt động mà xí nghiệp tham gia chủ yếu là hoạt động kinh tế Nó vừa bao gỗm các hoạt động sản xuất kinh doanh nguyên liệu vật chất đồng thời cũng thích ứng với hoạt động sản xuất và phục
vụ nhu câu cho đời sống nhân dân Các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản tuy có những
lúc phải kiêm luôn hoạt động mang tính công nghiệp hay thương nghiệp như: khai
thác tài nguyên thủy sản, lưu thông các sẩn phẩm thủy sản, sử dụng tổng hợp và phục
vụ tổng hợp sản phẩm thủy sản chế biến, nhưng hoạt động sắn xuất kinh doanh chủ yếu vẫn là sản xuất nuôi trồng các động thực vật kinh tế thủy sinh Đặc điểm này của
xí nghiệp nuôi trồng thủy sản tách biệt so với các tổ chức như: cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp, đoàn thể xã hội và cũng khác biệt với các xí nghiệp khai thác nghề cá,
doanh nghiệp chế biến thủy sản, xí nghiệp kinh doanh các mặt hàng thủy sản Đặc
điểm này còn thể hiện quản lý các xí nghiệp nuôi trồng thủy sắn, tất nhiên có đặc tính riêng và quy luật riêng của sản xuất và nuôi trồng thủy sản
2 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là tổ chức kinh tế sản xuất nuôi trông thủy sản
độc lập và liên tục: Tính độc lập và tính liên tục là những đặc điểm chung của xí
30
Trang 30nghiệp Xí nghiệp là tổ chức hoạt động kinh tế độc lập và liên tục Tính độc lập của
xí nghiệp được biểu hiện ở những mặt sau: thứ 1, xí nghiệp có quyền sở hữu và quản
lý tài sản để sản xuất kinh doanh; thứ 2, xí nghiệp có quyền tự chủ trong quần lý kinh doanh, trong phạm vi quy định của chính sách và pháp luật nhà nước xí nghiệp độc lập tự chủ tiến hành kinh doanh sản xuất hoặc các hoạt động mang tính dịch vụ; thứ
3, xí nghiệp thực hành hạch toán độc lập lấy thu bù chỉ Tính liên tục của xí nghiệp
được biểu hiện ở các hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục không ngừng và phát triển ổn định
3 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là tổ chức kinh tế bao gồm yếu tố con người và yếu tố vật chất: Yếu tố con người và yếu tố vật chất là những yếu tố cần thiết cho hoạt động kinh tế Yếu tố con người ở đây là chỉ người lao động, còn yếu tố vật chất bao
gồm tài sản cố định va tai san lưu động, tức là những tài sản mà nghề nuôi trồng thủy sản cần thiết như: tiền vốn, nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu, và diện tích nước
Xí nghiệp thông qua việc áp dụng một số hình thức tổ chức nhất định, kết hợp giữa yếu tố người và yếu tố vật chất từ đó hình thành nên hoạt động kinh đoanh sản xuất, cung cấp các sản phẩm thủy sản cho xã hội
4 Xí nghiệp nuôi trông thủy sản là tổ chức kinh tế kinh doanh có lợi: Xí nghiệp
là một đơn vị sản xuất và kinh doanh thương phẩm thực hiện hạch toán độc lập, tự
chịu lời lãi Xí nghiệp được coi là thực thể kinh tế tương đối độc lập nhất định phải thu được lợi ích bằng hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời đem nó phân phối cho các nhà đầu tư Điễu này, nhất định đòi hỏi xí nghiệp phải sử dụng hợp lý tài
nguyên kinh doanh, đòi hỏi mức đầu tư thấp nhất nhưng sản lượng thu lớn nhất, đạt
được hiệu quả kinh tế cao nhất, tự chịu hoàn toàn trách nhiệm với thành quả kinh
đoanh của mình
5 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản có tư cách pháp nhân: Tư cách của xí nghiệp về
mặt pháp luật thông thường chỉ là vấn để sau khi xí nghiệp tham gia vào quan hệ
pháp luật tài sản thì có đầy đủ tư cách pháp nhân hay không, có đây đủ "tư cách” độc
lập hay không Nó để cập đến vấn để xí nghiệp sau khi tham gia vào quan hệ dân sự
có thể được hưởng một cách độc lập quyển dân sự và gánh vác nghĩa vụ dân sự Xí nghiệp có đầy đủ tư cách pháp nhân được gọi là xí nghiệp pháp nhân, xí nghiệp không đây đủ tư cách pháp nhân gọi là xí nghiệp phi pháp nhân Xi nghiệp pháp nhân được hình thành dựa trên cơ sở pháp luật đã định, có đầy đủ khả năng quyền lực và khả năng hành vi, có thể lấy tài sản độc lập của xí nghiệp để đầm bảo tài sản trách
nhiệm Ở Trung Quốc, để trở thành xí nghiệp nuôi trồng thủy sản pháp nhân thường
chỉ có những xí nghiệp nhà nước, xí nghiệp tập thể và xí nghiệp liên doanh với nước
ngoài Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản có đầy đủ tư cách pháp nhân có nghĩa nhà nước
đã công nhận tính độc lập kinh doanh sản xuất của xí nghiệp về mặt pháp luật, bảo
vệ quyển và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, đồng thời cũng yêu cầu xí nghiệp
phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính hợp pháp hoạt động kinh doanh của bản thân
xí nghiệp và hậu quả của nó
31
Trang 31H Vị trí, vai trò của xí nghiệp nuôi trông thủy sản
1 Vị trí của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản: Các xí nghiệp đều tên tại trong một mối
quan hệ xã hội nhất định Chính vì vậy không có cũng không thể có xí nghiệp thoát ly khỏi quan hệ kinh tế xã hội nhất định Vai trò của xí nghiệp vì thế mà phải chịu sự ràng buộc của quan hệ kinh tế xã hội Từ những quy định chung đã nói lên vai trò của
các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản:
1.1 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là nơi cung cấp các sản phẩm nuôi trồng thủy sản Trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, sản phẩm thủy sản của thị
trường các sản phẩm thủy sản tuy không phải tất cả là do xí nghiệp cung cấp hoặc nói cách khác xí nghiệp không phải nơi duy nhất cung cấp các mặt hàng thủy sản, nhưng
đối với sản phẩm nuôi trồng thủy sản mà nói chủ thể cung cấp vẫn là doanh nghiệp Vai trò này của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản đã quyết định vai trò không thể thay thế của nó trong thị trường các sản phẩm thủy sản.Vậy xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
đóng một vai trò không nhỏ trong nghề cá nói chung
1.2 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là nơi diễn ra quan hệ kinh tế nhất định Sản xuất của xí nghiệp luôn nảy sinh trong quan hệ kinh tế nhất định Quá trình sản xuất
kinh doanh của xí nghiệp cũng chính là quá trình tdi san xuất quan hệ kinh tế Chính
vì vậy, xí nghiệp vừa là nơi tiếp thu quan hệ kinh tế nhất định lại vừa là nơi sản xuất
ra quan hệ kinh tế nhất định Xác định ý nghĩa vai trò này của xí nghiệp ở việc xác định tính ảnh hưởng kinh đoanh sản xuất của xí nghiệp trong quan hệ sản xuất lưỡng
trọng và sức sản xuất trong vận hành kinh tế Điều này có nghĩa không chỉ riêng nhân
tố sức sắn xuất ảnh hưởng đến hiệu ích xí nghiệp mà liên kết quan hệ sản xuất cũng
ảnh hưởng tới hiệu ích doanh nghiệp Sự phát triển của xí nghiệp được quyết định bởi
sự biến đổi yếu tố sức sản xuất và sự cải thiện quan hệ kinh tế
1.3 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là một nơi cần thiết cho sân xuất Xí nghiệp cung cấp các sản phẩm thủy sản cho xã hội, nhu câu sản xuất sản phẩm thủy sản cung cấp đầy đủ cho yếu tố sản xuất Chính vì vậy xí nghiệp trong quá trình vận hành kinh tế không những là nguồn cung cấp mà còn là nơi yêu cầu Không có yêu cầu thì cũng không có cung cấp Xí nghiệp vừa là nhà yêu cầu, vừa là nhà cung cấp, hai khái
niệm này không thể tách rời Không ngừng nâng cao giá trị lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp, kích thích nhu cầu có hiệu quả của doanh nghiệp, từ đó đáp ứng yêu cầu có hiệu quả của xí nghiệp thì xí nghiệp mới có thể không ngừng vươn lên và
nghề cá mới có thể tiếp tục phát triển
1.4 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là nơi sản xuất kinh doanh thương phẩm độc
lập Xí nghiệp là một đơn vị kinh tế có đây đủ lợi ích kinh tế độc lập đồng thời chịu
sự thúc đẩy nhanh chóng của lợi ích độc lập Hơn nữa để cho lao động trong xí nghiệp
vừa có được bồi thường lại vừa có được lợi nhuận thì yêu câu xí nghiệp nhất thiết phải căn cứ vào biến đổi thị trường để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đồng thời lấy đó để tham gia vào thị trường và cạnh tranh với các xí nghiệp
khác
32
Trang 323 Vai trò của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
Vai trò của xí nghiệp cũng giống như vai trò của doanh nghiệp nói chung Sự thay
đổi thể chế kinh tế và sự trưởng thành của bản thân xí nghiệp đòi hỏi vị trí của xí
nghiệp sẽ có thay đối, từ đó vai trò của xí nghiệp cũng có thay đổi Vậy nói một cách
khái quát vị trí của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản như sau:
2.1 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản là chủ thể tăng trưởng kinh tế của nghề cá Sự tăng trưởng kinh tế nghề cá biểu hiện ở mặt hình thái hiện vật là sự tăng trưởng về
sản lượng sản phẩm thủy sản Bất luận từ mục tiêu chiến lược phát triển nghề cá của
Trung Quốc hay nhìn từ góc độ hiện thực nghề nuôi trồng Trong cơ cấu kinh tế nghề
cá đã xác lập và hơn nữa đã chứng minh tính quan trọng của vai trò này
2.2 Xí nghiệp nuôi trồng thủy sắn là cơ sở kinh tế của xã hội, tận dụng thế mạnh
xã hội đã phân công, xí nghiệp đã biết dung hòa giữa hợp tác phân công xã hội và
tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết hợp phổ cập quần lý và nâng cao quần lý Việc làm đó
không những đem lại sự tiết kiệm và sử dụng tốt nguồn tài nguyên kinh tế xã hội mà hơn nữa còn làm cho xã hội giàu có lên nhanh chóng
2.3 Tác dụng điều tiết của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản đối với kinh tế nghề cá
Cùng với sự trưởng thành của bản thân xí nghiệp và sự kết hợp giữa các xí nghiệp, xí
nghiệp sẽ nảy sinh vai trò điều tiết vi mô đối với biện pháp điều tiết vĩ mô Xí nghiệp
thông qua điều chỉnh nội bộ, quan hệ kinh đoanh, quan hệ lao động thực hiện cơ cấu
mới của quan hệ kinh tế Về một mặt ý nghĩ nào đó đã quán triệt được việc thực hiện
chính sách kinh tế vĩ mô, cũng vừa nảy sinh tác dụng điểu tiết trung gian đối với quan hệ kinh tế
HI Sự vận hành kinh tế của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
Trong qua trình vận hành kinh tế vi mô, những xí nghiệp mang tính chất sở hữu không giống nhau cơ chế vận hành kinh tế của các xí nghiệp đó cũng khác nhau;
những xí nghiệp có cùng cơ chế sở hữu nhưng chế độ quần lý khác nhau thì quá trình vận hành của các xí nghiệp đó cũng không giống nhau Tuy nhiên, cho đù các xí
nghiệp đều mang những đặc tính riêng của mình trong quá trình vận hành kinh tế nhưng về cơ bản cũng có tính giống nhau Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản cũng giống
như các xí nghiệp bình thường khác đều bao hàm quá trình vận hành có 3 mặt: lưu
thông vật chất, lưu thông tiền vốn và lưu thông thông tin
1 Quá trình lưu thông vật chất của xí nghiệp nuôi trông thủy sản: Lưu thông vật chất là để chỉ quá trình vận động từ khâu nhập nguồn nguyên liệu đến khâu trở
thành sản phẩm xuất ra thì kết thúc Lưu thông vật chất là sự lưu thông một chiều,
không thể quay chiều ngược lại Các đơn vị trong xí nghiệp, các khâu công tác đều
phải duy trì và thúc đẩy vận động lưu thông vật chất để triển khai Yêu câu của lưu
thông vật chất: thứ 1, tốc độ luân chuyển phải nhanh, thứ 2, chu kỳ vận hành phải
ngắn, từ đó mới đạt được mục đích nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu ích
kinh tế
33
Trang 332 Quá trình lưu chuyển tiền vốn của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản: Hoạt động
sản xuất kinh doanh của xí nghiệp trên hình thái giá trị được biểu hiện thành vận
động tiền vốn Quá trình kinh doanh của xí nghiệp phải trải qua 3 giai đoạn: thu mua, sản xuất sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, tiền vốn dựa vào đó thể hiện dưới 3 loại
hình thức: tiền tệ, sản xuất, thương phẩm 3 giai đoạn “cung, sản, tiêu” của quá trình
kinh tế các xí nghiệp và các hình thức tiển vốn có cơ sở liên kết lại tiếp tục tiến hành
và cùng tổn tại trong không gian, một vòng tuân hoàn chưa kết thúc thì một vòng tuân hoàn khác lại bắt đầu Quá trình lưu thông tiển vốn như bảng 2-1
Bảng 2-1 Quá trình lưu chuyển tiền vốn của xí nghiệp
Yêu cầu của quá trình lưu thông vốn đối với xí nghiệp là phải duy trì tỉ lệ vốn
trong các giai đoạn sản xuất, nhất thiết phải giữ vững tính liên tục trong lưu thông vốn, không ngừng đi từ vòng tuần hoàn này sang vòng tuần hoàn khác, phải không ngừng tăng nhanh chu chuyển vòng vốn, tích lũy hết khả năng vốn, mở rộng tái sản
xuất doanh nghiệp
3 Quá trình lưu chuyển thông tin của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản: Lưu thông
tin tức của xí nghiệp được thực hiện thông qua các văn bản như: kế hoạch, hợp đồng, thống kê biểu báo, tài liệu định mức cũng như các chế độ quy định liên quan Những văn bản và tài liệu này sẽ hình thành dòng thông tin trong các đơn vị doanh nghiệp,
trong các khâu Lưu chuyển thông tin một mặt nảy sinh cùng với lưu thông vật chất
và lưu thông vốn, mặt khác lại quy hoạch và điều tiết số lượng, phương hướng, tốc độ
và mục tiêu của lưu thông vật chất và lưu thông vốn, khiến cho việc lưu chuyển thông tin được vận động dựa trên mục tiêu và quy định nhất định Chính vì vậy lưu chuyển thông tin đóng vai trò chủ đạo trong quần lý kinh doanh của doanh nghiệp Quá trình lưu chuyển thông tin như bảng 2-2
Kế hoạch, nhiệm | Phân tích Dap p ứng
vụ, nhu câu đánh giá nhu cầu
Trang 344 Cơ cấu quá trình vận hành kinh tế của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản: Quá trình sẵn xuất kinh doanh của xí nghiệp là quá trình đầu từ, sản xuất Xí nghiệp là
một thực thể kinh tế lấy lợi nhuận làm mục tiêu, đoanh lợi là cơ chế động lực của xí
nghiệp mà việc thực hiện mục tiêu kinh doanh có lợi chỉ có thể trở thành hiện thực
sau khi sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của xã hội Chính vì vậy nhu cầu xã hội là cơ
chế ràng buộc chủ yếu nhất của đoanh nghiệp Xi nghiệp muốn thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình thì phẩi không ngừng Om hiéu thi trường, thích ứng với thị
trường, khai thác thị trường, căn cứ vào nhu cầu của thị trường để tổ chức kinh doanh
sản xuất, sản xuất ra những sản phẩm thích ứng, để đáp ứng nhu cầu thị trường Tổng hợp các quá trình lưu thông vật chất, lưu thông vốn, lưu thông tin tức và quá trình đầu
tư sẩn xuất trở thành quá trình vận hành kinh tế của doanh nghiệp Như bảng 2-3
nguyén xuat thu "| ra
Bảng 2-3 Cơ cấu quá trình vận hành kinh tế xí nghiệp
Cơ cấu quá trình vận hành kinh tế xí nghiệp có thể nhìn ra vận hành xí nghiệp là
một quá trình tuần hoàn từ đâu tư đến sản xuất, và cũng là một quá trình không
ngừng tìm kiếm thông tin thị trường, dự đoán thị trường, dựa vào thị trường để tổ chức
san xuất rồi lại khai thác thị trường, phục vụ thị trường; vận hành xí nghiệp làm tốt
hơn quan hệ bên trong xí nghiệp, làm tốt hơn cơ cấu tổ chức đoanh nghiệp, làm tốt
hơn quá trình tổ hợp các yếu tố sản xuất Những quá trình này cùng kết hợp giao hòa
với nhau, cùng ràng buộc và tác động lẫn nhau đồng thời không ngừng vận chuyển
quay vòng để trở thành một hệ thống vận hành kinh tế của xí nghiệp hoàn chỉnh mở
và phức tạp
35
Trang 35Tiết 2: HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP NUÔI TRỒNG
THUY SAN
I Khái niệm cơ bản quản lý kinh doanh của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
1 Quá trình nhận thức khái niệm quản lý kinh doanh doanh nghiệp: Quản lý là khái niệm xuất hiện cùng với nhu câu lao động xã hội trong thời gian đài của con người, kinh doanh lại là khái niệm được nảy sinh từ sự phát triển của kinh tế thương
mại Trong điểu kiện nên kinh tế thương mại, quá trình.sản xuất xã hội là quá trình sẩn xuất trực tiếp và sự thống nhất quá trình lưu thông với quá trình sản xuất trực tiếp Quá trình tái sản xuất xã hội không chỉ là một quá trình hình thành giá trị mà còn là một quá trình thực hiện giá trị Chế độ quản lý kế hoạch đơn nhất truyền thống
đã phủ định và không nhìn ra vấn để kinh doanh của xí nghiệp xã hội chủ nghĩa Toàn bộ hoạt động kinh tế của doanh nghiệp chỉ được giới hạn trong nội bộ doanh
nghiệp, mà hiếm khi có sự mở rộng ra bên ngoài doanh nghiệp, đặc biệt là không có
sự liên hệ trực tiếp với thị trường Con người đã làm cản trở việc thống nhất giữa quá trình sản xuất trực tiếp với quá trình lưu thông, cắt đứt mối quan hệ nội tại giữa sản xuất và nhu cầu, vì vậy mà tạo ra rất nhiều hậu quả không tốt như: tách rời cung cầu,
đình trệ kỹ thuật, quyển tự chú ít, hiệu qua kinh tế kém Sau khi cải cách nên kinh tế, con người bất đầu có nhận thức về vấn để kinh doanh đoanh nghiệp, trình độ nhận
thức cũng không ngừng được bổi dưỡng sâu hơn và phát triển hơn
1.1 Kinh doanh chính là tiêu thụ sản phẩm: Đây là giai đoạn thứ 1 hay giai đoạn
cơ sở của nhận thức và lý giải (tầm hiểu) đối với khái niệm kinh doanh Dưới chế độ kinh tế cũ, sản xuất xí nghiệp do cấp trên ra chỉ thị, kế hoạch, phân phối nguồn nguyên liệu, sức lao động, tiển vốn Sản phẩm sản xuất ra đo nhà nước thống nhất bao tiêu, toàn bộ lợi nhuận nộp cho nhà nước Nhiệm vụ của xí nghiệp là sản xuất ra sản phẩm, hoàn thành sản lượng, đặt chỉ tiêu giá trị sản phẩm Sau cải cách thể chế kinh tế, quan hệ giữa ngành thương nghiệp, ngành vật tư với các xí nghiệp sản xuất
có sự thay đổi Các xí nghiệp bắt đầu tham gia vào quá trình lưu thông, giải quyết, tiêu thụ sản phẩm, thu mua nguyên vật liệu và vật tư cần thiết cho nghề cá cũng như vấn để xoay sở vốn cho bản thân doanh nghiệp Tuy nhiên, chủ đạo vẫn coi sản xuất
là chính, trước tiên quyết định, sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sau đó lại tiếp tục
nghĩ cách tiêu thụ sản phẩm, khác với trước đây xí nghiệp không quan tâm đến nhu
cầu của xã hội, cũng không coi trọng thông tin ngược trở lại của thị trường
1.2 Kinh doanh chính là lấy tiêu thụ quyết định sản xuất Đây là giai đoạn thứ 2 hay tầng thứ trung cấp của nhận thức và lý giải đối với khái niệm kinh doanh Cùng với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là sự biến đổi của thị trường, xí nghiệp nhận thức được tiêu thụ sản phẩm nhất thiết phải kết hợp với nhu cầu thị trường, phải chuyển đổi từ cách làm lấy sản xuất quyết định tiêu thụ sang lấy tiêu thụ quyết định sản xuất,
coi trọng những sản phẩm thích ứng Tuy nhiên khái niệm kinh đoanh này vẫn chưa coi nhu cầu của thị trường là điểm xuất phát, điểm dừng chân để xí nghiệp tiến hành
sản xuất kinh doanh
36
Trang 361.3 Kinh doanh chính là coi hiệu quả làm trọng tâm Đây là giai đoạn thứ 3 hay
giai đoạn nâng cao của nhận thức và lý giải đối với khái niệm kinh doanh Để thích ứng với nhu câu xã hội ngày càng phức tạp và không ngừng nâng cao, doanh nghiệp nhất thiết phải tiến hành tổng hợp tối ưu hóa các mặt chất lượng sản phẩm, giá thành sản xuất, thời hạn giao hàng; nhất thiết phải kết hợp thành một chỉnh thể giữa kỹ thuật, tài chính, sản xuất, tiêu thụ của các bộ phận kỹ thuật, bộ phận tài chính, bộ phận sản xuất, bộ phận tiêu thụ Cho nên tư tưởng kinh doanh nhất thiết phải quan tâm đến điều tra thị trường, dự đoán thị trường, phát hiện ra sản phẩm mới trước khi sản xuất, quyết sách sản xuất trong sản xuất và toàn bộ quá trình nhằm phục vụ tiêu thụ sản phẩm Việc làm này khiến cho quản lý xí nghiệp chuyển đổi quỹ đạo từ việc
- coi sản xuất làm trọng tâm sang lấy kinh doanh làm trọng tâm, từ việc theo đuổi hiệu quả sản xuất một cách phiến diện chuyển sang lấy việc nâng cao hiệu quả kinh tế lầm trọng tâm
2 Nội hàm của quản lý kinh đoanh xí nghiệp: Nói chung, kinh doanh và quần lý là
hai khái niệm có quan hệ tương hỗ và khu biệt lẫn nhau, quản lý kinh doanh là kết
quả của việc thống nhất giữa kinh doanh và quản lý Quản lý kinh doanh xí nghiệp
vừa bao hàm kinh doanh xí nghiệp và quản lý xí nghiệp (hai bộ phận tổ thành khác
nhau), vừa lại là một chỉnh thể thống nhất giữa hai bộ phận này
2.1 Quản lý và quản lý doanh nghiệp Quản lý là một biện pháp cơ bản nhất để
tổ chức hoạt động xã hội của con người, là yêu cầu khách quan và sản vật trực tiếp của xã hội hóa sản xuất lớn Cái gọi là quản lý, theo định nghĩa chung chính là cách
gọi tổng quát một loạt các hoạt động như áp dụng các phương thức, phương pháp, biện pháp, để đạt được mục đích nhất định, tiến hành tổ chức điều khiển người và vật
có liên quan Đã là những hoạt động tập thể của con người thì cho dù mang tính sản
xuất hay phi sản xuất đều cân tiến hành quản lý Quản lý là sản vật của hợp tác lao động, là sản vật do lao động cộng đồng quyết định Đã là phân công lao động hợp tác đều cẩn thiết phải có quản lý Quy mô lao động cộng đồng càng lớn, kỹ thuật càng
phức tạp, phân công lao động càng tỉ mỉ, hợp tác lao động càng chặt chẽ thì quản lý lao động càng cần thiết Quản lý xí nghiệp chính là tiến hành tổ chức, chỉ huy, giám sát điểu hòa và điểu tiết các hoạt động của doanh nghiệp, để sử dụng mạnh mẽ tài nguyên doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế lớn nhất Nhiệm vụ của quản
lý là vận dụng phương pháp khoa học kỹ thuật hiện đại và biện pháp quần lý, căn cứ vào quy luật khách quan xã hội hóa sản xuất lớn, tổ chức chặt chẽ và hợp lý các hoạt
động sản xuất doanh nghiệp, phát huy lớn nhất tác dụng của sức người, sức vật và tiên của Việc làm này sẽ khiến cho quá trình sản xuất và quá trình kinh doanh của
cả xí nghiệp đạt được mức cao nhất
2.2 Kinh doanh và kinh doanh xí nghiệp: Kinh doanh thông thường mà nói thường chỉ một thực thể kinh tế nào đó Kinh đoanh nguyên nghĩa từng từ là “kinh độ
doanh tạo” tức là “đặt ra kế hoạch kinh doanh” Cùng với sự phát triển của kinh tế thương mại và sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, việc sử đụng kinh đoanh trong
quản lý kinh tế ngày càng trở nên rộng rãi vì vậy kinh doanh là phạm trù chỉ có trong
37
Trang 37nền kinh tế thương mại, là chức năng của kinh tế sản xuất thương mại, với một loạt các hoạt động được tiến hành như lập kế hoạch, quyết sách để cho nền kinh tế sản xuất thương mại đạt được động thái điều tiết giữa mục tiêu của kinh tế thương mại và nhu
cầu xã hội Kinh doanh xí nghiệp nói một cách khái quát là chỉ một loạt các hoạt động
mà xí nghiệp dựa trên các điều kiện bên ngoài và bên trong xí nghiệp, xác định ra mục tiêu và phương châm phát triển đài hạn hay ngắn hạn cho xí nghiệp của mình đông thời định ra các loại kế hoạch, phương án để bảo đảm việc thực hiện mục tiêu này Ví dụ xí
nghiệp sản xuất sắn phẩm gì? Sản xuất bao nhiêu sản phẩm? Sản xuất như thế nào? Tiêu thụ cho ai? Tiêu thụ như thế nào? Làm thế nào để sử dụng hợp lý sức người, sức
của và tài chính, tổ chức một cách cân bằng “tiêu, cung, sản”, tranh thủ tiêu hao thấp nhất để đạt được nhiều doanh lợi Nhiệm vụ của kinh doanh xí nghiệp là nghiên cứu các vấn đề về dự toán, đối sách và quyết sách cho đoanh nghiệp
2.3 Đồng nhất quản lý và kinh doanh xí nghiệp Mặc dù trong xí nghiệp, kinh doanh và quản lý đều có những điểm không giống nhau về chức năng, đối tượng, yêu cầu và vị trí, tuy nhiên tuyệt đối không được tách rời quản lý và kinh doanh Xí
nghiệp hiện đại đã chuyển sang nhất thể hóa kinh đoanh và quản lý Điều kiện bên
trong xí nghiệp và hoàn cảnh bên ngoài, mục tiêu kinh doanh và thủ pháp quản lý,
quyết sách khoa học và thực thi chấp hành, phương châm chiến lược và chiến thuật đối sách, hiệu ích kinh tế và hiệu suất làm việc, chức năng của lãnh đạo cấp trên và
chức năng của nhân viên cấp dưới từ trước đến nay đều tác động, ảnh hưởng, ràng
buộc, thúc đẩy lẫn nhau, đều là tiền để cho nhau và cùng bổ trợ nhau phát triển Kinh
doanh là sự vươn xa của chức năng quản lý, quản lý là cơ sở của chức năng kinh
doanh Chính vì vậy, kinh doanh và quản lý là một chỉnh thể không thể tách rời Kinh doanh và quản lý xí nghiệp là một hệ thống công trình quản lý kinh doanh
II Chức năng và nội dung của quản lý kinh doanh trong các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
1 Chức năng của quản lý kinh doanh trong các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản:
Hoạt động sản xuất kinh đoanh của xí nghiệp luôn được tiến hành theo một phương
thức sản xuất kinh doanh nhất định, theo một quan hệ sản xuất nhất định Quản lý kinh doanh xí nghiệp, một mặt là điều kiện tất yếu tiến hành sản xuất xã hội, là yêu
cầu chung cho quá trình lao động xã hội, mặt khác lại là sự thể hiện quan hệ sản xuất
xã hội, là biện pháp quan trọng để thực hiện mục đích sản xuất Chính vì vậy, quản
lý kinh doanh xí nghiệp biểu hiện chủ yếu ở hai chức năng cơ bản: một là chức năng chung tổ chức hợp lý sức sản xuất, hai là chức năng đặc biệt duy trì và hoàn thiện quan hệ sản xuất vốn có, thực hiện mục đích sắn xuất Vai trò của hai chức năng cơ bản này khiến cho sức sản xuất được phát triển, quan hệ sản xuất được duy tri bảo vệ, mục đích sản xuất kinh doanh của xí nghiệp đạt được hiệu quả thực tế Chức năng cơ bản là sự khái quát về lý luận, trong quá trình thực hiện, chức năng cơ bản biểu hiện thành chức năng cụ thể của quan lý Chức năng cụ thể của quản lý kinh doanh các xí
nghiệp nuôi trồng thủy sản chủ yếu bao gồm mấy mặt sau:
38
Trang 381.1 Chức năng kế hoạch: Chỉ các hoạt động quản lý quyết định mục tiêu xí nghiệp và quy định con đường, phương pháp thực hiện mục tiêu Nói một cách cụ thể,
chính là dự đoán và quyết sách trong thời gian tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
xí nghiệp nên đạt những mục tiêu gì, xác định và buộc thực hiện kế hoạch quy hoạch
mục tiêu của doanh nghiệp, cũng như các cách thực hiện và biện pháp để thực hiện
kế hoạch
1.2 Chức năng tổ chức là chỉ những hoạt động quản lý tiến hành phân công và hợp tác hợp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phân phối và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên của doanh nghiệp, xử lý chính xác mối quan hệ qua lại tương hỗ của cơn người nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chung của
doanh nghiệp Nói một cách cụ thể chính là tổ chức hợp lý các yếu tố và các khâu
của xí nghiệp thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa từ mối quan hệ của các ngành, mối liên kết thời gian để sử dụng hợp lý sức người, sức của và tiền vốn của xí nghiệp 1.3 Chức năng giám sát là chỉ các hoạt động quản lý như tiếp thu các tin tức liên
quan đến trong và ngoài doanh nghiệp, dựa vào mục tiêu và tiêu chuẩn đã định cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp tiến hành công việc giám sát, kiểm tra, phát hiện sai lệch, áp dụng các biện pháp uốn nắn khiến cho công việc có thể tiến
hành theo kế hoạch đã định hoặc điều chỉnh thích hợp kế hoạch để đạt được mục tiêu
(dự kỳ) đã dự định trước Mục tiêu giám sát nằm ở việc nhằm bảo đảm sự nhất trí của
hai mục tiêu dự định trước về các hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của xí
nghiệp và thành quả của nó, chuyển hóa mục tiêu và nhiệm vụ của kế hoạch thành hiện thực
1.4 Chức năng điều hòa là chỉ việc diéu tiết mọi mặt các công việc trong doanh nghiệp, khiến cho công việc được phối hợp đích đáng, bảo vệ và duy trì sự cân bằng cho chỉnh thể, không để xảy ra sự lặp lại và tách rời, thực hiện có hiệu quả mục tiêu của doanh nghiệp Điểu hòa bao gồm điều hòa bên trong và điều hòa bên ngoài
Công việc điều hòa đòi hỏi sự giúp đỡ của những biện pháp như: trao đổi, hội nghị,
kế hoạch, biểu đồ, hệ thống thông tin để thực hiện
1.5 Chức năng khuyến khích Chức năng này hướng dẫn và ảnh hưởng đến con
người trong việc nỗ lực hoàn thành kế hoạch và nhiệm vụ Khích lệ bao gồm hai mặt: khích lệ vật chất và khích lệ tinh thần Khích lệ vật chất chỉ sự gắn kết giữa nỗ lực
của cá nhân với sự nỗ lực của xí nghiệp trong việc báo đáp công sức và thành quả lao
động tỉnh thần, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít Thông qua hình thức khích lệ tỉnh thân nhằm tác động đến tính tích cực và tính sáng tạo của người lao động
2 Nội dung của hoạt động quản lý kinh doanh các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản: Nội dung của hoạt động quản lý kinh doanh các xí nghiệp nuôi trồng thủy sắn rất
phong phú Nói một cách khái quát, nó bao gồm 4 mặt: quản lý sản xuất kinh doanh,
quản lý nhân sự hành chính, công tác tư tưởng chính trị và công tác tổ chức lãnh đạo
2.1 Quần lý sản xuất kinh doanh: Nội dung của mặt này bao gồm: phương châm
39
Trang 39kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, xác định mục tiêu kinh doanh; khai thác thị trường,
khai thác kỹ thuật, quyết sách khai thác các loại sản phẩm; tổ chức lao động, quy hoạch thủy vực, quản lý cung ứng vật tư, xoay sở tiển vốn, tổ chức hạch toán giá thành; thu nhập tiêu thụ, hiệu quá đầu tư, phân tích hiệu quả kinh tế, thực hiện hợp đồng, quan hệ lợi ích, điều hòa lợi ích phân phối
2.2 Quần lý hành chính nhân sự: Nội dung của mặt này bao gồm quản lý các mặt
như: Tuyển chọn, bồi dưỡng và sát hạch người lao động; đề cử, phân công và sử dụng cần bộ, nhân sự, hồ sơ, an toàn, sự nghiệp phúc lợi
2.3 Công tác tư tưởng chính trị: Nội dung của mặt này bao gồm các mặt công tác
như: Chế độ lãnh đạo, xây dựng Ê kíp lãnh đạo, thể chế quản lý, cơ cấu tổ chức và chế độ quần lý
Il Tư tưởng và mục tiêu của quản lý kinh doanh các xí nghiệp nuôi trồng thủy sản
1 Tư tưởng kinh doanh xí nghiệp nưôi trồng thủy sản: Tư tưởng kinh doanh là sự
tổng hòa giữa nhận thức và thái độ của các mối quan hệ được nảy sinh trong quá trình
quản lý kinh đoanh Tư tưởng kinh doanh là tư tưởng chủ đạo giải quyết các vấn để
quản lý kinh doanh liên quan đến các hoạt động quản lý kinh doanh doanh nghiệp
Tư tưởng kinh doanh được hình thành từ một loạt các quan niệm, những quan niệm
này bắt buộc phải phù hợp với yêu cầu xã hội và yêu cầu nền sản xuất thương mại
1.1 Quan niệm chiến lược: Quan niệm chiến lược là trọng tâm của tư tưởng kinh
doanh Xây dựng quan niệm chiến lược yêu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của xí
nghiệp phải biết nhìn xa trông rộng, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích toàn cục và lợi ích lâu
dài lên hàng đầu, đồng thời chú ý đến lợi ích các mặt, xử lý chính xác mối quan hệ
giữa xí nghiệp với nhà nước, xí nghiệp với xí nghiệp
1.2 Quan niệm thị trường: Quan niệm thị trường chính là yêu cầu xí nghiệp hình thành tư tưởng coi người tiêu dùng là trọng tâm, toàn tâm toàn ý phục VỤ người tiêu
dùng Căn cứ vào nhu câu thị trường, sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với người
tiêu dùng, thái độ phục vụ tận tình, phát huy kỹ thuật ưu thế và đặc điểm kinh doanh
của doanh nghiệp, kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và nhu cầu
1.3 Quan niệm hiệu quả: Quan niệm hiệu quả chính là chuyển các hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp sang quỹ đạo coi việc nâng cao hiệu quả kinh tế là
trọng tâm, đồng thời yêu cầu phải có sự thống nhất giữa hiệu ích kinh tế và hiệu quả
xã hội
1.4 Quan niệm cạnh tranh: Cạnh tranh là cách làm và phương pháp mà nền kinh
tế sản xuất thương mại áp dụng nhằm tranh thủ vị trí có lợi trong sẩn xuất và tiêu thụ Xây dựng quan niệm cạnh tranh chính là yêu cầu xí nghiệp phải biết đặt mình vào trong môi trường cạnh tranh, đồng thời phẩi ở vào ví trí có lợi trên nguyên tắc giữ gìn
pháp chế, công bằng, bình đẳng, thành thực, chữ tín và đạo đức Thông qua cạnh 40
Trang 40tranh nếu càng biết thích ứng nhanh với nhu cầu của thị trường, càng thúc đẩy nhanh
sự phát triển của bản thân doanh nghiệp
1.5 Quan niệm thông tin: Thông tin là nền tầng của quản lý kinh doanh, là yếu tố cấu thành quan trọng không thể thiếu được trong dự đoán, quyết sách và kế hoạch quản lý Hoạt động quản lý kinh doanh cũng chính là quá trình tiếp nhận thông tin, quá trình chuyển đổi và truyền phát thông tin Xây dựng quan niệm thông tin chính là muốn xí nghiệp khai thác sử dụng tin tức như một loại tài nguyên, một biện pháp để
thúc đẩy hiện đại hóa quần lý kinh đoanh
1.6 Quan niệm tiền tệ: Xí nghiệp muốn phát triển đồi hỏi phải giỏi xoay sd va vận dụng vốn, chú trọng giá trị thời gian của vốn, nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, mở rộng quy mô doanh nghiệp, thúc đẩy xí nghiệp phát triển
1.7 Quan niệm nhân tài: Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, dựa vào tiến bộ
của khoa học kỹ thuật Phát hiện, sử dụng và bổi dưỡng nhân tài là tố chất làm xí
nghiệp lớn mạnh, là sự bảo đảm đáng tin cậy khiến cho xí nghiệp luôn ở vị trí bất khả
chiến bại
1.8 Quan niệm khai thác: Muốn làm cho xí nghiệp giàu mạnh và tràn đẩy sức
sống phải không ngừng khai thác, dám nghĩ dám làm, đồng thời phải biết đẩy mạnh
tiến bộ của khoa học kỹ thuật, khai thác sản phẩm mới, sáng tạo nhu cầu mới, mở ra thị trường mới
2 Mục tiêu quản lý kinh doanh của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản: Mục tiêu quản
lý kinh doanh là kết quả dự định đạt được trong hoạt động sản xuất kinh đoanh của xí
nghiệp trong thời gian nhất định dựa vào điều kiện của xí nghiệp và như cầu của thị
trường Mục tiêu kinh doanh tổng thể của xí nghiệp thường bao gồm nhiều mục tiêu, mỗi một mục tiêu thường được biểu thị bởi những chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật cụ thể,
2.1 Mục tiêu cống hiến cho xã hội: Căn cứ vào địa vị, đặc điểm và ưu thế của xí
nghiệp trong hệ thống phân công xã hội, xí nghiệp đã đóng góp sức mình nhằm thỏa
mãn nhu cầu thủy sản cho người dân và cho xã hội Sự đóng góp lớn hay nhỏ của xí
nghiệp được biểu thị bằng chủng loại, chất lượng, sản lượng cùng với mức thuế giao
nộp của thủy sản
2.2 Mục tiêu thị trường: Mở rộng mức tiêu thụ hàng hóa với những thị trường đã
có, đặc biệt khai thác thị trường mới và nâng cao tỉ suất chiếm lĩnh thị trường, đẩy
mạnh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Mục tiêu thi trường được biểu thị bằng
mức tiêu thụ, xuất tăng trưởng tiêu thụ và xuất thị phẩm
2.3 Mục tiêu lợi ích: Xí nghiệp thực hiện hiệu quả kinh tế ở mức cao nhất đưới điểu kiện tuân theo sự quản lý vĩ mô của nhà nước Mục tiêu lợi ích được biểu thị
bằng mức lợi nhuận và tỉ lệ suất tăng trưởng lợi nhuận,
2.4 Mục tiêu phát triển: Xí nghiệp và những xí nghiệp khác thực hiện việc liên
kết, mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất Mục tiêu phát triển được biểu thị ở
41