1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIẾNG VIỆT và lễ hội ở VIỆT NAM

128 487 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với việc học tiếng Việt, môn học “Tiếng Việt và Lễ hội ở Việt Nam” sẽ giúp sinh viên có được những kiến thức cơ bản nhất về lễ hội ở Việt Nam. Những kiến thức đại cương về lễ hội có thể mang lại cho sinh viên những hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa của người Việt, một nền văn hóa mang đậm dấu ấn nông nghiệp trồng lúa nước. Chúng tôi cũng rất mong muốn rằng, từ đó, sinh viên có thể thêm cơ sở để tự tìm hiểu văn hóa của một đất nước khi muốn có kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ của đất nước đó. Như vậy, ngoài những hiểu biết về văn hóa ra, môn học còn giúp sinh viên tăng cường thêm vốn từ vựng tiếng Việt, nhất là những từ đặc trưng văn hóa. Về mặt kỹ năng, đây là một môn học nhằm mục đích nâng cao kỹ năng nghe giảng, trao đổi và thảo luận, đọc sách về các vấn đề văn hóa vốn có nhiều từ ngữ riêng biệt nhằm nâng cao trình độ tiếng Việt của sinh viên. Đồng thời, sinh viên sẽ có được những hiểu biết và ứng xử văn hóa thông qua các kiến thức về văn hóa lễ hội. Những kiến thức đó sẽ là nền tảng quan trọng để phục vụ cho công việc tương lai như hướng dẫn viên du lịch….

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

TIẾNG VIỆT VÀ LỄ HỘI Ở VIỆT NAM

(Tài liệu dùng cho sinh viên chuyên ngành

Việt ngữ học cho người nước ngoài)

Người biên soạn: Trần Trí Dõi

Trần Thị Hồng Hạnh

Hà Nội - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu

 Bài 1 Một số nét khái quát về lễ hội ở Việt Nam 3

 Bài 2 Lễ hội chùa Hương

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU



Cùng với việc học tiếng Việt, môn học “Tiếng Việt và Lễ hội ở ViệtNam” sẽ giúp sinh viên có được những kiến thức cơ bản nhất về lễ hội ở ViệtNam Những kiến thức đại cương về lễ hội có thể mang lại cho sinh viênnhững hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa của người Việt, một nền văn hóamang đậm dấu ấn nông nghiệp trồng lúa nước Chúng tôi cũng rất mongmuốn rằng, từ đó, sinh viên có thể thêm cơ sở để tự tìm hiểu văn hóa của mộtđất nước khi muốn có kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ của đất nước đó Nhưvậy, ngoài những hiểu biết về văn hóa ra, môn học còn giúp sinh viên tăngcường thêm vốn từ vựng tiếng Việt, nhất là những từ đặc trưng văn hóa

Về mặt kỹ năng, đây là một môn học nhằm mục đích nâng cao kỹ năngnghe giảng, trao đổi và thảo luận, đọc sách về các vấn đề văn hóa vốn cónhiều từ ngữ riêng biệt nhằm nâng cao trình độ tiếng Việt của sinh viên Đồngthời, sinh viên sẽ có được những hiểu biết và ứng xử văn hóa thông qua cáckiến thức về văn hóa lễ hội Những kiến thức đó sẽ là nền tảng quan trọng đểphục vụ cho công việc tương lai như hướng dẫn viên du lịch…

Hà Nội, Mùa Xuân năm2009

Trang 4

 Bài 1 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI Ở VIỆT NAM

 Bài đọc

Bất cứ dân tộc nào cũng đều có những lễ hội của dân tộc mình Lễ hộichính là một bức tranh thu nhỏ, một bộ bách khoa toàn thư về đời sống vănhóa tinh thần của dân tộc đó Đối với người Việt Nam, lễ hội cũng đã trởthành một nét đặc trưng không thể thiếu khi chúng ta nói đến đời sống vănhóa của người Việt Nó bao gồm hầu như đầy đủ các hình thức sinh hoạt vănhóa dân gian như: văn học dân gian (truyền thuyết, thần thoại, thần tích, thầnphả, văn tế, ca dao, hò vè…), nghệ thuật biểu diễn dân gian (sân khấu, dân ca,chèo tuồng, dân vũ, dân nhạc…); tôn giáo, phong tục tín ngưỡng (nghi lễ,nghi thức, trò tục, trò diễn, tục lệ, trò chơi dân gian…)

Hội làng Ước Lễ (Nguồn: hanoimoi.com.vn)

Lễ hội ở Việt Nam là sinh hoạt văn hoá dân gian hầu như có mặt ởkhắp mọi miền đất nước Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm nhưngđến nay vẫn được duy trì Trước đây, tuyệt đại bộ phận người Việt sống ởlàng Làng không chỉ là một điểm quần cư đơn thuần mà chủ yếu là một tổchức xã hội nông nghiệp Nó được hình thành trên cơ sở một nền sản xuấtnông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc Làng không chỉ là không gian cư trú, màdần trở thành không gian xã hội và không gian văn hóa Đó là tấm gương

Trang 5

phản chiếu nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, hay như có người nhận xét,văn hóa Việt Nam cổ truyền về cơ bản là văn hóa xóm làng Vì vậy, có thể

nói, lễ hội của người Việt là lễ hội làng Có một số hội của nhiều làng, hội

của cả một vùng hoặc hội có tính chất cả nước cũng đều từ cơ sở hội làng màphát triển lên

Hát ca trù (hát ả đảo) (Nguồn: Báo Tia sáng)

Hội làng là nét đặc sắc trong văn hoá làng người Việt Dân làng mở rahội lễ, cũng là người tổ chức nên toàn bộ lễ hội để thờ cúng một vị thần thánhnào đó - thường là thành hoàng làng Đó là những nhân vật có công lao dựnglàng, lập nước, hoặc có công truyền nghề, có công chống giặc giữ nước hay

có công chống thiên tai, dịch bệnh Hội làng giúp dân làng nhớ về nguồn cội,tăng cường tính cố kết cộng đồng, khuyến khích mọi người sống hướng thiện.Bên cạnh đó, hội làng nào cũng hàm chứa ước mong sự bình yên cho từng cánhân và cho mọi gia đình, sự vững mạnh của dòng họ, sự bội thu cho mùamàng, sự sinh sôi nảy nở của con người Mong muốn chung của mọi lễ hội là

"nhân khang, vật thịnh" hoặc "quốc thái, dân an" Ngoài ra, lễ hội còn là nơi

để người dân vui chơi, giải trí, thi thố tài năng như một cách thư giãn saunhững ngày lao động vất vả Do đó, lễ hội dân gian của người Việt thườngdiễn ra vào mùa Xuân và chỉ một số ít diễn ra vào mùa Thu là hai mùa đẹp

Trang 6

nhất trong năm Vào thời gian đó cũng là lúc nhà nông có nhiều thời giannhàn rỗi Bởi vậy, dân gian người Việt có câu:

“Tháng Giêng là tháng ăn chơi ”

Địa điểm tổ chức lễ hội thường là ở đình làng, cũng có nơi tổ chức ởchùa hay đền, miếu, điện .của làng Có thể phân chia hội làng ra làm haiphần: phần lễ và phần hội Phần lễ hay tế lễ với hệ thống các nghi thức uynghiêm như rước thần, tế thần, yết cáo ở các đình, đền là phần thuộc về thếgiới tâm linh Phần này do các lão làng đảm nhiệm Phần hội là toàn bộ cáchoạt động nghệ thuật, thể thao, vui chơi là phần đời sống văn hóa thườngnhật Ở đó, người ta có thể tổ chức thi thố tài năng về chăn nuôi, trồng trọt,chế biến các sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp như thi thổi cơm, làmbánh, thi nấu cỗ, thi chọi gà, dệt vải, đốt pháo Tất cả các trò chơi thể thaothượng võ cũng đều được thu hút về hội như: đánh vật, đua thuyền Cónhững sinh hoạt văn hóa dân gian thuần tuý như hát quan họ, hát trống quân,nói khoác Có cả những hoạt động văn hóa nghệ thuật bán chuyên nghiệpnhư múa rối, chèo, tuồng, hát ả đào Thực ra sự phân biệt giữa phần lễ vàphần hội như trên cũng chỉ là tương đối Bởi lẽ trong phần hội cũng ít nhiềuchứa đựng những ý nghĩa như phần lễ, có lễ mới có hội

Thi chọi gà (Nguồn: vietnamnet.vn)Nhìn một cách tổng quát, nội dung của hội làng có thể phân loại nhưsau:

Trang 7

- Lễ hội tái hiện những nghi thức sinh hoạt nông nghiệp như: hội sănbắn, hội đánh cá, hội cầu mưa, đua thuyền (thường kèm theo các lễ: thờ thầnlúa, thần mặt trời, lễ hạ điền, thượng điền )

- Lễ hội tái hiện những sự kiện lịch sử, nhằm kỷ niệm và tôn vinh cácanh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá như hội Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Tây)tôn vinh Hai Bà Trưng, hội Đền Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương) tôn vinhTrần Hưng Đạo, hội gò Đống Đa (Đống Đa, Hà Nội) kỷ niệm chiến thắngNgọc Hồi Đống Đa của hoàng đế Quang Trung

- Lễ hội tái hiện các sinh hoạt xã hội như lễ hội làng nghề Đại Bái (GiaLương, Bắc Ninh), lễ hội văn hoá nghệ thuật như hội Lim (Bắc Ninh), hội LỗKhê (hát ca trù ở Đông Anh, Hà Nội), lễ hội Ok Om Bok của đồng bàoKhơme ở Sóc Trăng Vĩnh Long

Chính vì ý nghĩa phong phú, đa tầng của lễ hội ở Việt Nam mà hiệnnay, người ta vẫn chưa thể đưa ra một cách phân loại lễ hội thỏa đáng nhất.Người ta có thể căn cứ vào nội dung phản ánh của lễ hội để chia ra đây là lễhội nông nghiệp, kia là lễ hội anh hùng lịch sử, còn kia nữa là lễ hội tôn giáotín ngưỡng Lại cũng có thể căn cứ vào phạm vi to nhỏ để phân ra đâu là hộilàng, hội vùng, hội cả nước ; rồi lại căn cứ vào thời gian để chia ra lễ hộimùa xuân, mùa thu; hay nơi tổ chức ở chùa, đền, đình, miếu Cách phân chianào cũng có mặt đúng, nhưng cũng không tránh khỏi sự chồng chéo, bởi hàngtrăm hàng ngàn lễ hội của người Việt đều có gốc tích ban đầu là hội làng,mang đậm tính chất lễ hội nông nghiệp, nhưng trong quá trình lịch sử lâu dài

đã thu nhận vào mình những nội dung văn hóa, xã hội, lịch sử mới, tạo nên sựđan xen, hòa quyện giữa những cái cổ xưa và những cái du nhập sau này

Từ ngữ

Đình làng Đa tầng

Lễ hạ điền/ Lễ thượng điền Nghệ thuật biểu diễn dân gian

Trang 8

Miếu Nhân khang, vật thịnh

Thế giới tâm linh Quốc thái dân an

Tôn vinh Thành hoàng làng

Tiểu nông Tự cấp tự túc

Văn học dân gian Tái hiện

Văn hóa dân gian Thỏa đáng

2 Lễ hội ở Việt Nam thường diễn ra vào khoảng thời gian nào? Vì sao?

3 Địa điểm tổ chức lễ hội thường ở đâu?

4 Những nội dung chính thường được thể hiện trong các lễ hội là gì?

5 Lễ hội ở Việt Nam có những ý nghĩa và giá trị xã hội như thế nào nào?

 Bài tập

Trang 9

Bài tập 1 Tìm một từ không có điểm chung về ý nghĩa với các từ còn lại

trong nhóm

a từ điển, bách khoa thư, sách, thư viện, giáo trình

b chèo, tuồng, cải lương, ca trù, múa rối, kịch

c truyền thuyết, tiểu thuyết, thần thoại, cổ tích

d duy trì, bảo trì, tiếp tục, tiếp diễn, tiếp nối

e Phật, Chúa, thành hoàng, hoàng đế

f bội thu, thất thu, thu hoạch, Trung thu, lạm thu

g đình, chùa, miếu, đền, lăng, điện

h bán chuyên nghiệp, bán nguyệt, bán dạo, bán thời gian, bán đảo

i nguồn gốc, gốc tích, ẩn tích, nguồn cội, gốc gác, cội rễ, gốc rễ

j khái quát, tổng quát, quát nạt, bao quát

Bài tập 2 Tìm từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa để thay thế cho các từ gạch

chân trong các câu dưới đây

a, Làng không chỉ là không gian cư trú, mà dần trở thành không gian xã hội

và không gian văn hóa

Trang 10

Bài tập 3 Viết lại những câu sau, bắt đầu bằng từ cho trước

a, Bất cứ dân tộc nào cũng đều có những lễ hội của dân tộc mình

e, Bên cạnh đó, hội làng nào cũng hàm chứa ước mong sự bình yên cho từng

cá nhân và cho mọi gia đình, sự vững mạnh của dòng họ, sự bội thu cho mùa màng, sự sinh sôi nảy nở của con người

 Hơn thế nữa,………

………

………

Bài tập 4 Sử dụng các từ trong phần Từ ngữ điền vào chỗ trống

a Là một loại hình sinh hoạt văn hóa tâm linh có từ lâu đời, nghi lễ "HầuThánh”, ”lên đồng" có ý nghĩa _các nhân vật lịch sử cùngvới công trạng của các vị dưới hình thức diễn xướng có nghi lễ và hát văn

b Giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói chung,giữa bảo tồn và phát triển nói riêng là vấn đề mang tính toàn cầu, được quantâm ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và hộinhập như Việt Nam

Trang 11

c Từ bao đời nay, _ là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồncủa mọi người dân Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt và mọi đổi thaytrong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam.

d Ca dao chiếm phần lớn nhất trong , biểu hiện tâm hồn giàutình cảm, phóng khoáng của người nông dân, một thứ tình cảm bình dị trongsáng như cuộc đời hiền hòa đôn hậu của họ

e Lễ hội nông nghiệp mùa xuân thường bao gồm các nghi lễ và sinh hoạt văn hóa nghệ thuật nhằm _ những sinh hoạt của nghề nông gắn liềnvới quá trình sinh trưởng của cây lúa như bắt đầu mùa trồng cây có lễ “hạ điền”, khi lúa bén rễ thì “lễ cầu lúa tốt”; gặp phải sâu bệnh thì “cúng thần trùng”, hạn hán thì “cầu đảo”, úng lụt phải có “lễ kỳ tinh”, cày cấy xong thì

g Từ xưa tới nay, lễ hội làng với việc thờ thường diễn

ra ở đình, đền vào mùa xuân, mùa bắt đầu của một năm mới

h Lễ hội của người Việt có thể ví như một bảo tàng tổng hợp lưu giữ khánhiều các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân _

Bài tập 5 Đặt câu với từ, cụm từ sau:

1 bách khoa toàn thư

Trang 13

Chùa Hương - Suối Yến (Theo: wikipedia)

Lễ hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, thuộc địa phậnhuyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội Cách trung tâm Hà Nộichừng 60 km về phía Nam, Hương Sơn gồm sáu thôn: Tiên Mai, Phú Yên,Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ, Hạ Đoạn Nơi đây có nhiều dãy núi đá vôi kề bênnhững dòng suối uốn lượn quanh co Trên núi và trong các hang động, người

ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa mà trung tâm là chùa Hương trong độngHương Tích Hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực

Trang 14

này có diện tích khoảng chừng 6 km² Quần thể văn hóa - tôn giáo này, vớihàng chục ngôi chùa thờ Phật và vài ngôi đền thờ thần hoặc những ngôi đìnhthờ tín ngưỡng nông nghiệp hay tín ngưỡng thờ mẫu, gắn liền với rất nhiềuhuyền thoại và truyền thuyết linh thiêng     

Trước đây, hội chùa tự động khai hội và tự động kết thúc mùa hội.Thường là sau tết Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng) khách đã tụ họp về mởhội, đến khoảng rằm tháng Ba thì vãn khách Ngày nay, hội mở sớm hơn, lấyngày mồng Sáu tháng Giêng làm ngày khai hội Ngày này vốn là ngày lễ khaisơn (lễ mở cửa rừng) của người dân làng Yến Vĩ và Phú Yên thuộc xã HươngSơn

Đường vào chùa chính chụp năm 1927)(Ảnh tư liệu của Viện TTKHXHVN)

Lễ mở cửa rừng của làng Yến Vĩ tổ chức ở đền Ngũ Nhạc Còn làngPhú Yên làm lễ mở cửa rừng ở đền Hạ Lễ mở cửa rừng vốn xưa là một nghi

lễ nông nghiệp của người Việt cổ Người ta tổ chức nghi lễ với mục đích tạthần núi, tạ chúa sơn lâm, cầu mong mưa gió thuận hòa trong năm làm ăn gặpnhiều may mắn, con người an khang tráng kiện, không bị thú dữ ăn thịt Ngàynay, nghi lễ này chỉ còn diễn ra ở một số vùng người Mường, một dân tộcthiểu số miền núi vốn là người Việt cổ Đối với cư dân ở đồng bằng, người ta

Trang 15

không tổ chức lễ mở cửa rừng nữa mà chỉ có lễ hạ cây nêu (mồng Bảy thángGiêng) chấm dứt một tuần vui tết để bắt tay vào mùa làm ăn mới

Sau những nghi thức cúng tế, dân làng cử một cụ ông bước vào rừng,cầm dao chặt đứt một cành cây và vài sợi dây leo Cụ ông này phải là chủ mộtgia đình vợ chồng ăn ở thuận hòa, đã từng sinh con đẻ cái và chúng mau ănchóng lớn Sau đó, người dân mới chính thức đi rừng Ngày nay, nghi thức

mở cửa rừng còn hàm chứa thêm một ý nghĩa mới, đồng nghĩa với việc mởcửa chùa Sau lễ mở cửa chùa, du khách trẩy hội đông dần mà cao điểm nhất

là ngày Mười Tám tháng Hai âm lịch Tương truyền, đây là ngày khánh đảnĐức Quan Thế Âm, nghĩa là ngày sinh của bà Chúa Ba ở chùa Hương

Đường vào chùa Long Vân – thuộc quần thể chùa Hương – chụp năm

1955 (Ảnh tư liệu của Viện TTKHXHVN)Hội cứ đông vui tấp nập đến tận tháng ba Khi cái nắng đầu hè oi bứcthì cái thú leo núi cũng chẳng còn hấp dẫn với du khách nữa và hội sẽ vãndần Như thế, hội chùa cứ dần dần khép lại, còn lễ chùa hay đi du lịch thắngcảnh Hương Sơn thì vẫn diễn ra quanh năm Mồng một, hôm rằm và các ngàychủ nhật của những tháng sau đó, khách vẫn thường lui tới thăm thú cảnh đẹpnên thơ này

Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng Quần thể núi non ở đây tạo ranhững dáng hình kỳ thú Hệ thống hang động tạo nên nét đặc sắc cho quần thểHương Sơn Bao quanh quần thể núi non, hang động là những dòng suối uốn

Trang 16

lượn quanh co Thật là núi non sơn thuỷ hữu tình Trong tất cả các hang động

ở đây, nổi bật hơn cả là động Hương Tích và động Tuyết Sơn Động HươngTích đã to lại rộng Người xưa coi động Hương Tích là miệng con rồng Theoquan niệm dân gian, đã đi chùa Hương mà chưa tới động Hương Tích thì coinhư chưa tới chùa Hương Năm Canh Dần (1770) Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm,một người có tài văn chương, tuần thú qua vùng Hương Sơn, đã đến thămđộng Hương Tích Cảm cái đẹp và hùng vĩ của thắng cảnh, ông đã đặt bút chokhắc năm chữ "Nam thiên đệ nhất động" ở đây

Một phần trong quần thể chùa Hương (Theo: wikipedia)Tìm ra động Hương Tích và dựng thảo am Thiên Trù là do ba vị hòathượng ở thời vua Lê Thánh Tông (1442-1497) kế tiếp nhau gây dựng nên.Sau đó vào nửa cuối thế kỷ XVII, hòa thượng Trần Đạo Viên Quang Chânnhân đã chấn hưng cõi Phật Hương Sơn Cho đến đầu thế kỷ XX, toàn khuthắng cảnh Hương Sơn đã có khoảng một trăm ngôi chùa, trong đó có nhữngngôi chùa được xây dựng có qui mô lớn, nghệ thuật tinh xảo như chùa TamBảo hay nhà tổ ở Thiên Trù

Kể từ đó tới nay, công việc kiến tạo chùa có lúc hưng lúc thịnh nhưngchùa Hương không bị lãng quên trong tâm trí nhân dân Điều này phản ánh

Trang 17

vai trò của đạo Phật trong việc gây dựng, phát triển Hương Sơn thành một đại

kỳ quan của nước Việt

Một phần trong quần thể chùa Hương (Nguồn: tamtay.vn)Theo cuốn Nam Hải Quan Thế Âm, một truyện nôm ra đời vào khoảngthế kỷ XVIII – XIX, thì chùa Hương là nơi lưu dấu tu hành của công chúaDiệu Thiện con vua Diệu Trang Vương nước Hưng Lâm Dân gian quen gọicông chúa Diệu Thiện là Bà Chúa Ba Bà tu hành chín năm ở động HươngTích rồi đắc đạo thành Đức Quan Thế Âm bồ tát Sau đó Người trở về quêhương diệt trừ cái ác, đáp hiếu cha mẹ, phổ độ chúng sinh Người Việt phầnnhiều theo đạo Phật nên việc hàng năm có đông người đi hội chùa Hươngcũng là điều dễ hiểu Nó tạo nên sắc thái một mùa hội chùa ở đất Hương Sơn

Trong thời gian lễ hội, sau lễ Phật, các vãi thường tụ tập ở một nơi vànhóm dậy hình thức sinh hoạt vui chơi là hát chèo đò Hát chèo đò được thựchiện ở bất cứ chỗ nào, nhưng đông vui hơn cả là ở sân chùa hay sân nhà tổ.Còn ở những nơi khác như chùa Giải Oan, điện Cô gần động Tuyết Sơn hình

Trang 18

Từ ngữ

Hành hương Tín ngưỡng thờ mẫu

Linh vật Chúa sơn lâm

Tráng kiện Hạ cây nêu

Trẩy hội Vãn cảnh

Dáng nét Vãn khách

Tối cổ Miền thánh địa

Tuần thú Truyện nôm

1 Lễ hội chùa Hương diễn ra vào thời gian nào?

2 Địa điểm diễn ra lễ hội chùa Hương có điểm gì đặc biệt?

3 Vì sao hội chùa Hương có thể được coi là một trong những lễ hội chùa lớnnhất Việt Nam?

4 Em hãy cho biết những yếu tố tín ngưỡng dân gian nào được dung nạp vàphản ánh trong lễ hội chùa Hương?

Đường vào chùa Hương (Nguồn: vietnamnet.vn)

 Bài tập

Trang 19

Bài tập 1 Chọn từ thích hợp thay thế cho những từ gạch chân

a Người ta đi hội vì nhiều lẽ: để cầu tài cầu lộc, để thăm thú cảnh đẹp thiênnhiên, để tìm lại dáng nét của những phong tục cổ xưa, hay chỉ để thoát khỏichốn thành thị ồn ào

b, Quần thể / nổi tiếng / linh thiêng / danh lam thắng cảnh

………

c Trung tâm / động Hương Tích / ba vị hòa thượng / Lê Thánh Tông

………

d, Lễ khai hội / mùng sáu tháng Giêng / lễ mở cửa rừng / dân làng Yến Vĩ vàPhú Yên

Trang 20

………

e, Đông vui nhất / hát chèo đò / sân chùa / sân nhà tổ

………

Bài tập 3 Đặt câu với những cụm từ sau

a, Sơn thủy hữu tình

………

………

b, Mưa thuận gió hòa

………

………

c, Mau ăn chóng lớn

………

………

d, Ăn ở thuận hòa

………

………

e, An khang tráng kiện

………

Trang 21

Bài tập 4 Đúng  hay Sai 

a, Động Hương Tích to nhưng không rộng 

b, Ngày 18 tháng 2 âm lịch là ngày giỗ của công chúa Diệu Thiện 

c, “Nam Thiên đệ nhất động” là năm chữ do Tĩnh Đô Vương cho khắc trênđộng Hương Tích

d, Vua Lê Thánh Tông là người tìm ra động Hương Tích và dựng thảo amThiên Trù

e, Ngày nay, hội chùa Hương khai hội vào ngày Tết thượng nguyên 

g, Lễ hạ cây nêu là nghi lễ của cư dân dân tộc thiểu số miền núi 

h, Sinh hoạt nghệ thuật thu hút đông người tham gia tại lễ hội chùa Hương là

Bài tập 5 Chọn từ điền thích hợp điền vào chỗ trống

hành hương hồi hương quần thể tập thể

hòa trộn hòa hợp tín ngưỡng tôn giáo vãn cảnh vãn khách linh thiêng lung linh

a, Lễ khai hội chùa Hương được coi là một nghi lễ _ đầu nămmới đối với mỗi người tham dự

b, Tháng giêng là tháng của đất trời giao hòa, tháng của lễ hội, tháng củanhững cuộc để lòng được thanh thản, bình an

c, Trẩy hội lễ Phật và chùa Hương mỗi độ xuân là một nhu cầutâm linh thiết yếu và một thú du ngoạn tao nhã của mỗi người dân Việt

d, Chùa Hương – một điểm du lịch thú vị, nơi tuyệt vời giữacảnh quan hùng vĩ do thiên nhiên tạo ra với bầu không khí Phật giáo đầymàu sắc huyền thoại

Trang 22

e, Sự kết hợp giữa đạo Phật và _ thờ Mẫu ở cõi Phật HươngSơn chính là sự giao hòa niềm tin trong tâm hồn người Việt

g, Thiên Trù là ngôi chùa chính trong _ di tích chùa Hương,được khởi dựng từ thời vua Lê Thánh Tông,với hệ thống các di tích Tambảo, Long đao gác chuông, Nam Thiên môn, Nhà bia Dốc Trò, Tổ đường,Viên Công bảo tháp uy nghiêm, trầm mặc

Trang 23

 BÀI 3 

LỄ HỘI CỔ LOA

 Bài đọc

Hàng năm, cứ đến ngày mùng Sáu Tết Nguyên đán, nhân dân tám xã

quanh vùng Cổ Loa (còn gọi là Bát xã Loa Thành) lại nô nức tổ chức lễ hội

Cổ Loa để tưởng nhớ Thục Phán An Dương Vương, vị vua đã có công bảo vệđất nước Âu Lạc, chống giặc ngoại xâm Nhân dân lấy ngày này để mở hội vìđây là ngày Thục Phán xưng ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là An Dương Vương Lễhội trải rộng trong toàn vùng nhưng tâm điểm vẫn là khu di tích Cổ Loa thuộc

xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội hiện nay

Đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội (Theo:

wikipedia)Vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, sau 10 năm lãnh đạo nhândân kháng chiến chống quân Tần giành thắng lợi, Thục Phán An DươngVương tự xưng vua, đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa Để củng cố

và xây dựng đất nước, tăng cường khả năng phòng thủ quân sự, Thục Phángiao cho tướng Cao Lỗ xây dựng thành Cổ Loa Tục truyền rằng Thục An

Trang 24

Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều không xây được Sau có thầnKim Quy hiện lên, bò đi bò lại nhiều vòng dưới chân thành Thấy vậy, Thục

An Dương Vương cho xây thành theo dấu chân Rùa vàng thì từ đó thành xâykhông đổ nữa An Dương Vương cũng phát triển thuỷ binh và cho chế tạonhiều vũ khí lợi hại, tạo lợi thế quân sự vững chắc cho kinh thành Cổ Loa

Sơ đồ Cổ Loa (Theo: wikipedia)Theo truyền thuyết, thành Cổ Loa được xây dựng kiểu vòng ốc nênngười ta gọi là Loa thành Tương truyền thành có tới 9 vòng, dưới thành ngoài

là hào sâu ngập nước, thuyền bè có thể đi lại được Ngày nay ở Cổ Loa chỉ

còn lại 3 vòng thành đất: thành Ngoài (chu vi 8 km), thành Giữa (hình đa giác, chu vi 6,5 km) và thành Trong (hình chữ nhật, chu vi 1,6 km) Diện tích

trung tâm rộng tới 2 km2 Thân thành ngày nay còn có chiều cao trung bình từ

4 - 5 m, có chỗ còn cao tới 12 m, chân thành rộng khoảng 20 - 30 m Các cửacủa 3 vòng thành cũng được bố trí rất khéo, không nằm cùng trên một trụcthẳng mà lệch chéo đi rất nhiều Do đó, đường nối hai cửa thành ở cùng mộthướng đều là những đường quanh co, lại có ụ đất phòng ngự ở hai bên nêngây rất nhiều trở ngại cho quân địch khi tiến đánh thành Qua tư liệu lịch sử ởcác thời kỳ Cổ Loa có rất nhiều tên: Loa Thành (thành ốc), thành Côn Lôn,thành Tư Long, Cửu Thành, thành Việt Vương, thành Khả Lũ, Cổ Loa thành

Trang 25

Đến thế kỷ thứ X, thời kỳ Ngô Quyền làm vua, Cổ Loa lại trở thành kinh đôlần thứ hai Ngày nay, từ trung tâm thành phố Hà Nội, đi 18 km đến xã CổLoa thuộc huyện Ðông Anh, bạn sẽ tìm thấy vết tích còn lại của ba vòngthành xưa bằng đất Nơi đây các nhà khảo cổ tìm thấy được hàng vạn mũi tênđồng, lưỡi cày, rìu sắt, xương thú vật, tiền đồng, trống đồng, các đồ gốm bằngđất nung v.v

Cổ vật tìm thấy tại Cổ Loa (Nguồn: Báo Bưu điện ICTNews)

Năm 1962, Cổ Loa được xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp Nhànước Ở đây có đầy đủ các loại hình di tích: đình, đền, chùa, am, miếu Từ

ngoài bước vào qua cổng làng, cũng là cổng thành Trong, ta sẽ tới đình làng

Cổ Loa Theo truyền thuyết thì đó là nền cũ của điện ngự triều, nơi bá quantriều hội ngày xưa nên trong đình còn tấm hoành phi "Ngự triều di quy" Cạnhđình là Am Bà Chúa tức là miếu thờ công chúa Mỵ Châu

Chuyện nàng công chúa Mỵ Châu gắn liền với truyền thuyết nỏ thần,

Trang 26

Loa Truyền thuyết kể rằng, thành Cổ Loa xây xong, thần Kim Quy tặng chonhà vua một cái móng để chế thành cái lẫy nỏ, biến nỏ thành nỏ thần Khidùng nỏ thần ấy chỉ cần bắn một mũi tên cũng có thể giết được cả trăm quânđịch Nhờ nỏ thần, mỗi lần giặc phương Bắc kéo đến xâm lược, lần nào cũngrước lấy thảm bại Tướng Triệu Đà vô cùng tức giận, bèn nghĩ ra một kế giả

vờ giao hòa với nước Âu Lạc rồi sai con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôncông chúa Mỵ Châu Trong lúc hàn huyên, Mỵ Châu kể lại cho chồng nghechuyện xây thành Cổ Loa và chiếc nỏ thần

Một hôm, nhân lúc Mỵ Châu sơ ý, Trọng Thuỷ lấy trộm chiếc nỏ thần

và thay vào đó một chiếc nỏ giả rồi xin phép vua An Dương Vương về thămcha mẹ Lúc ra đi, Trọng Thuỷ đưa cho vợ một cái áo lông ngỗng và căn dặnnếu xảy ra chuyện gì giữa hai nước, hãy mặc áo lông ngỗng vào và đi đến đâuthì đừng quên rắc lông ngỗng xuống đường, để mình sẽ theo vết lông ngỗng

đi tìm

Nắm được chiếc nỏ thần trong tay, Triệu Đà lập tức kéo quân sangđánh Âu Lạc Thấy giặc kéo đến, An Dương Vương không tỏ vẻ sợ hãi, bìnhtĩnh lấy nỏ thần ra bắn Nhưng lạ thay, nỏ đã bắn mà quân lính vẫn ào ào xôngtới Nỏ thần đã trở thành vô hiệu Hoảng sợ, nhà vua bèn ôm Mỵ Châu lênyên ngựa ngồi sau mình chạy trốn về hướng Nam Trên yên ngựa, Mỵ Châurứt lông ngỗng rải xuống đường Nhà vua chạy đến đâu, giặc theo vết lông

Trang 27

ngỗng đuổi theo đến đó Đến núi Mộ Dạ cùng đường, khi nhà vua định tự tửthì thần Kim Quy hiện lên bảo:

- Tâu Bệ hạ, giặc ngồi ngay sau lưng Bệ hạ kìa!

An Dương Vương quay lại, thấy Mỵ Châu, liền hiểu ra sự việc, tức giậnrút gươm chém đứt đầu con gái Sau đó, nhà vua nhảy xuống biển tự tử Theodấu lông ngỗng, Trọng Thuỷ tới được chân núi Mộ Dạ thì thấy Mỵ Châu chỉcòn là một cái xác không hồn Quá hối hận về việc mình đã làm, Trọng Thuỷgieo mình xuống một cái giếng tự vẫn

Miếu am bé nhỏ như cuộc đời ngắn ngủi của nàng công chúa "trái timlầm chỗ để lên đầu" Trong am có một tảng đá hình người cụt đầu Qua am

Mỵ Châu tới đền Thượng, tức đền An Dương Vương, tương truyền là dựngtrên nền nội cung ngày trước Ðền này mới làm lại hồi đầu thế kỷ XX, có đôirồng đá ở bậc tam cấp là di vật đời Trần hoặc Lê sơ Trong đền có tượng AnDương Vương bằng đồng mới đúc nhân dịp xây dựng lại đền Trước đền làGiếng Ngọc, tương truyền là nơi Trọng Thuỷ tự tử Dân gian kể rằng, khi MịChâu chết, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được nên mới có ngọc Nếuđem nước giếng này mà rửa ngọc trai thì ngọc trai trong sáng vô cùng

Chính hội Cổ Loa diễn ra vào ngày mùng sáu tháng Giêng và kéo dàicho hết ngày mười sáu tháng Giêng Từ 7h sáng, nhân dân 8 xã quanh khu ditích tiến hành dâng lễ vào cung, mở đầu cho các nghi thức tế lễ, dâng hương

Trang 28

Mở đầu đám rước có 5 lá cờ ngũ hành, phường bát âm, giá văn tế đặt trongkiệu Long đình, có lọng, tàn che Ngoài sân đều có cờ hội, cờ đại bay phấpphới Sau đám rước là đến tế lễ Tế lễ diễn ra quá giờ ngọ (12 giờ trưa) Trong

Lễ hội tuy nhân dân Bát xã đất Cổ Loa đều rước kiệu dâng hương, nhưng chỉ

có duy nhất các bô lão của “làng Quậy” được ngồi chiếu trên, được đọc “mậtkhẩn” và được trân trọng gọi là “Anh Cả Quậy” “Mật khẩn” năm xưa đọcthầm cho vua nghe những nguyện vọng của dân thì nay thành những bài văn

tế ca ngợi công đức xây dựng, bảo vệ đất nước của Thục Phán An DươngVương, đồng thời cũng là những lời cầu khấn cho đất nước, nhân dân đượcthái bình, ấm no

Thi bắn nỏ ở hội Cổ Loa (Nguồn: vietnamnet.vn) Phần hội “khởi động” sớm hơn, từ mùng 5 Tết đã có các hoạt động thểthao truyền thống như bắn nỏ, ném còn, cờ người, vật cổ truyền Hoạt độngvăn nghệ cũng phong phú không kém gồm có rối nước, hát tuồng, quan họ,chèo… Ngày chính hội, tại sân trước đình “Ngự triều di quy” có giải vậttruyền thống của huyện, bên giếng Ngọc trước cửa đền Thượng có màn trìnhdiễn quan họ Nhiều xã đem món “tủ” của mình góp cho ngày hội xuân: làngĐào Thục khoe tài diễn rối nước tại ao trước điếm xóm chợ Cổ Loa, làngĐường Yên - Xuân Nộn mở hội kén rể tại sân khấu trung tâm, làng Cổ Loa

Trang 29

diễn tuồng, làng Lương Quy - Xuân Nộn tổ chức thổi cơm thi vào chiều mùngsáu Cả một vùng quê rộn ràng không khí lễ hội.

Múa rối nước (Nguồn: vietnamnet.vn)

3 Em hãy nêu nhận xét của mình về câu chuyện Mỵ Châu - Trọng Thuỷ?

 Bài tập

Bài tập 1 Chọn từ điền vào chỗ trống

Bậc tam cấp Hình đa giác Ban nhạc cổ Lễ hội

Trang 30

b, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa có quyết định _

di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh TP cho 7 công trình, di tích lịch

sử kiến trúc

c, Tại hố khai quật số 3 đàn tế Nam Giao nhà Hồ tại Thanh Hóa, các nhà khảo

cổ học đã tìm thấy dấu tích của các _ dẫn lên nền thượng vànhững viên gạch lát đường

d, Nem rán là của hầu hết các du học sinh Việt Nam trong các buổi lễ hội, tiệc tùng, thăm viếng

e, là các sinh hoạt lễ nghi tập thể của các vua quan ngày xưa

ở chốn cung đình

g, Điều đặc sắc của thành Hạ Lôi là hình dáng không ổn định của nó, gợi lêncảm giác nó được lắp ghép bởi ba ô thành khác nhau có hình gần chữ nhật vàmột ô thứ tư nữa chiếm hơn nửa diện tích thành

Bài tập 2 Trò chơi ô chữ:

Tìm từ hàng dọc dựa vào thông tin gợi ý cho các từ hàng ngang như sau

1 Nghi thức tế lễ trong lễ hội Cổ Loa do các bô lão làng Quậy thực hiện

2 Vị thần giúp vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa

3 Vị tướng được giao nhiệm vụ xây thành Cổ Loa

4 xung quanh các vòng thành làm tăng sự lợi hại của côngtrình quân sự thành Cổ Loa

5 Tên nước Việt Nam dưới thời An Dương Vương

Trang 31

6 Tại di chỉ Cổ Loa, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hàng vạn _.

7 Vũ khí lợi hại của An Dương Vương

8 Theo truyền thuyết, đình Cổ Loa từng là điện của vua

9 Một trò chơi dân gian trong lễ hội Cổ Loa

10 Ngày chính hội của lễ hội Cổ Loa

11 Hình dáng của vòng thành Giữa

12 Sau khi biết Mỵ Châu đã chết, Trọng Thủy làm gì?

13 Trò chơi của làng Xuân Nộn

14.Công chúa Mỵ Châu được thờ ở đâu?

15 Móng chân của rùa thần được chế tạo thành cái gì?

12

345678

9

1011

121314

15

Bài tập 3 Đặt câu với các cụm từ sau

a, … cứ đến ngày…

………

Trang 32

b, … tương truyền rằng…

………

………

c, … gắn liền với…

………

………

d, … chỉ có duy nhất…

………

………

e, … cũng không kém…

………

………

g, … nhưng tâm điểm vẫn là…

………

………

Bài tập 4 Sắp xếp các từ cho sẵn thành câu đúng

Trang 33

a, Cổ Loa / Âu Lạc / là / Công nguyên / thời / kinh đô / trước / khoảng / thế kỷ/ thứ 3 / nước / của / vào / dưới / An Dương Vương.

………

………

b, Thành / người Việt / của / quân sự / đánh giá / là / Cổ Loa / độc đáo / một /

về / mặt / cổ / sự sáng tạo / được

………

………

c, truyền thuyết / Theo / Cổ Loa / của / được / thần Kim Quy / sự giúp đỡ /xây dựng / dưới / thành

………

………

d, Khi / Cổ Loa / đến / quên / nhắc / nói / người ta / tới / thành / thường / MỵChâu – Trọng Thủy / không / mối tình /

………

………

e, hàng năm / trọng thể / âm lịch / Lễ hội / vua An Dương Vương / Cổ Loa /nhằm / tháng Giêng / được / vào / ngày mùng 6 / cuộc thi / tưởng niệm / với /các / và / trò chơi / dân gian / tổ chức

Trang 34

………

………

g, đặc sắc / Trong / Cổ Loa/ trò chơi / vui chơi / thi bắn nỏ / giải trí / lễ hội /hoạt động / là / các / hơn cả / ở

………

………

Bài tập 5 Dùng lần lượt 6 từ cho sẵn sau đây để viết một đoạn văn khoảng 15

câu kể lại tóm tắt câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy

Nỏ thần – Kết hôn giả – Đánh tráo – Áo lông ngỗng – Chém đầu – Tự tử

………

………

………

………

………

………

Trang 35

………

………

………

Trang 36

 BÀI 4 HỘI LIM

 Bài đọc

Đến hẹn lại lên, cứ vào ngày Mười Ba tháng Giêng âm lịch hàng năm,khách thập phương và người dân xứ Kinh Bắc lại nô nức tụ hội về thị trấnLim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để tham gia vào hội Lim Người ta đếnvới hội Lim là đến để hòa mình vào những làn điệu dân ca quan họ trữ tìnhcủa vùng đồng bằng Bắc Bộ, là để đắm mình trong không khí dân gian có từ

xa xưa Từ người già, các bậc trung niên cho đến nam thanh nữ tú đều thíchthú với với một sinh hoạt nghệ thuật đầy phong vị xứ Bắc ấy Vì thế, hội Lim

có một sức sống lâu đời và quyến rũ đến lạ thường

Chuẩn bị đi hội Lim (Nguồn: sankhauvietnam.com.vn)Hội Lim là một trong những lễ hội có giá trị văn hóa đặc sắc của vùngđất Kinh Bắc xưa Kinh Bắc xưa nguyên là một trong tứ trấn nằm về bốn phíacủa kinh thành Thăng Long Phía Đông có trấn Hồng Châu hay còn gọi là xứĐông, phía Tây là trấn Sơn Tây hay còn gọi là xứ Đoài, phía Nam là trấn SơnNam và phía Bắc là xứ Kinh Bắc Năm 1822, vua Gia Long nhà Nguyễn đãđổi tên trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh Trấn Bắc Ninh khi đó bao gồmtoàn bộ tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang, một phần tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn

và Hà Nội ngày nay Năm 1831, cùng với Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh trở thành

Trang 37

một trong 13 tỉnh đầu tiên được vua Minh Mạng thành lập ở Bắc Kỳ Từ đóđến nay, Bắc Ninh đã trải qua nhiều lần thay đổi về mặt hành chính và hiệnnay là một tỉnh giáp ranh giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trung duBắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội khoảng 30 km về phía Đông Bắc

Chùa Dâu Bắc Ninh (Nguồn: wikipedia)Nằm ở trung tâm của đồng bằng sông Hồng, vùng đất này có nhữngdòng sông đầy ắp huyền thoại như sông Cầu, sông Đuống, sông Ngũ HuyệnKhê, sông Tiêu Vương… lững lờ chảy qua Nơi đây có thể coi là cái nôi củavăn hóa truyền thống, vùng đất tiêu biểu cho nền văn hiến Việt Nam BắcNinh là nơi có thành Luy Lâu cổ, tương truyền là nơi Sỹ Nhiếp lần đầu truyềnchữ Hán sang người Việt Chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Tiêu là nhữngnơi phát tích của Phật giáo Việt Nam và là một trong ba trung tâm Phật giáolớn của Việt Nam và Trung Quốc những năm đầu Công nguyên Ngoài ra,Bắc Ninh còn nổi tiếng với các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốmPhù Lãng, làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, làng rèn sắt Đa Hội, làng đúc đồng ĐạiBái, làng dệt Hồi Quan Các di tích lịch sử nổi tiếng gắn liền với các danhnhân lịch sử Việt Nam như đền Đô, đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng,v.v… cũng toạ lạc ở đây Hàng năm, trên địa bàn của tỉnh Bắc Ninh, có đến

Trang 38

300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau Hội Lim chính là kết tinh của những di sản vănhóa truyền thống đang được lưu giữ và bảo tồn trên mảnh đất linh thiêng này.

Tranh dân gian Đông Hồ (Nguồn: vietnamnet.vn)Hội Lim kéo dài từ 3 đến 5 ngày, trong đó ngày 13 là ngày chính hội.Đây là một sinh hoạt văn hoá - nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá truyềnthống lâu đời ở xứ Bắc và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn hoá chung của

cả dân tộc Việt, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình vùng đồng bằng Bắc

Bộ

Vào thế kỷ thứ XVIII, quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn

là người thôn Đình Cả tổng Nội Duệ xứ Kinh Bắc, do có nhiều công lao vớitriều đình được phong thưởng nhiều bổng lộc, đã tự hiến nhiều ruộng vườn vàtiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuầnphong mỹ tục Sau khi ông mất, nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ ông làmthần Nhân dân lấy ngày mất của ông là ngày 13 tháng Giêng làm ngày mởhội

Ngày hội chính được mở đầu bằng một lễ rước Đoàn rước gồm đôngđảo người dân trong những bộ lễ phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cũng vôcùng cầu kì, đẹp mắt kéo dài tới cả cây số Trong phần lễ, có nhiều nghi lễ vàtục trò dân gian nổi tiếng Toàn thể quan viên, hương lão, nam đinh của các

Trang 39

làng xã thuộc tổng Nội Duệ phải tề tựu đầy đủ tại lăng Hồng Vân - lăng củaNguyễn Đình Diễn để tế lễ hậu thần Trong khi tế có nghi thức hát quan họthờ thần Để hát thờ, các bọn quan họ nam và nữ của tổng Nội Duệ đứngthành hàng trước cửa lăng hát vọng vào

Lễ rước ở hội ở Kinh Bắc (Nguồn: vienamnet.vn)Phần hội cũng có nhiều trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ,

đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm Đặc sắc hơn cả là phần hát hội Đây là phầncăn bản và đặc trưng nhất của hội Lim Nội dung chính trong buổi hát quan

họ thường là khi hai bên nam nữ hát đối nhau Bên nam gọi là liền anh, bên

nữ gọi là liền chị, cả hai bên đều tự xưng là “liền em” Dân ca quan họ đượcbiết đến không chỉ ở lời ca trữ tình, nồng nàn tình yêu cuộc sống và tình yêulứa đôi, mà còn ở những lối nói và những ứng xử phong nhã được thể hiện

thông qua 200 làn điệu âm nhạc độc đáo Đó là những làn điệu như: La rằng,

Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, Cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý v.v Các

câu hát có thể được chuẩn bị sẵn, nhưng đến khi ra đối đáp nhau thì thườngdựa trên khả năng ứng biến của cả hai bên Các chàng trai, cô gái xứ sở quan

họ hào hứng, hồi hộp đón chờ ngày hội làng, bởi trong những ngày hội đó, họ

Trang 40

được thức thâu đêm, suốt sáng để được nghe, được hát và thi hát Qua đó, họhọc thêm ở nhau những câu ca, những làn điệu mới, họ tìm thấy ở nhau sựđồng cảm qua những ánh mắt, nụ cười

Các liền anh, liền chị (Nguồn: Báo Đất Việt)Chùa Lim là nơi đón khách quan họ đến từ 49 làng quan họ khác nhaucủa vùng Bắc Ninh, rồi sau đó họ chia ra hát trên đồi, hát sau chùa, hát trênthuyền và hát trong các tư gia Theo tài liệu cổ, hát trên đồi, sau chùa, ở nhà,mỗi nơi có lối hát khác nhau, có không khí khác nhau và gieo vào lòng ngườixem những cách cảm nhận khác nhau Hát trên đồi là lối hát thoải mái, đại trà,không cần lề lối, đôi khi rất tình cờ Nam che ô, nữ cầm nón quai thao chenửa mặt, vừa để giữ ý tứ, vừa để âm thanh khi hát trở nên ấm hơn, vang hơn.Hát trên thuyền được coi là hát tuỳ hứng Trên mỗi thuyền chỉ có 2 đôi: mộtđôi nam, một đôi nữ Hai bên phải hiểu nhau, mời nhau từ trước và đã lênthuyền thì không được bỏ cuộc Hát giữa khung cảnh non nước đang tiết xuânquả là một cách thưởng ngoạn tinh tế và thú vị Trong khi đó, hát tại nhà phải

có sự chuẩn bị trước về cỗ bàn Vì cuộc hát có thể kéo dài từ sáng hôm trướcđến rạng sáng hôm sau Cuộc vui mở đầu bằng những câu hát thiết tha đầytrìu mến:

Ngày đăng: 20/04/2015, 17:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ Cổ Loa (Theo: wikipedia) - TIẾNG VIỆT và lễ hội ở VIỆT NAM
oa (Theo: wikipedia) (Trang 24)
11. Hình dáng của vòng thành Giữa. - TIẾNG VIỆT và lễ hội ở VIỆT NAM
11. Hình dáng của vòng thành Giữa (Trang 31)
Hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu - TIẾNG VIỆT và lễ hội ở VIỆT NAM
Hình ru ộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w