Tình hình tham gia AFTA của Việt Nam...9 CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO FTA...10 2.1.. Cơ hội và thách
Trang 1-***** -THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ASEAN (FTA): CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên Trương Thị Lan Anh 166
Nguyễn Minh Trang 164 Nguyễn Thị Yến Nhi 163 Bùi Tố Anh 165
Nguyễn Thị Doan 185
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MẶT HÀNG NÔNG SẢN VÀ TÌNH HÌNH THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) CỦA VIỆT NAM 3
1.1 Khái quát về mặt hàng nông sản 3
1.1.1 Khái niệm về mặt hàng nông sản 3
1.1.2 Đặc điểm của mặt hàng nông sản 4
1.2 Khái quát về Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN 5
1.2.1 Quá trình hình thành AFTA 5
1.2.2 Nội dung cơ bản của AFTA 7
1.2.3 Tình hình tham gia AFTA của Việt Nam 9
CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) 10
2.1 Đặc trưng của thị trường ASEAN về mặt hàng nông sản 10
2.1.1 Đặc trưng của thị trường ASEAN 10
2.1.2 Nhu cầu của thị trường ASEAN về nông sản Việt Nam 12
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường ASEAN 13
2.2 Cơ hội và thách thức về xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang các nước ASEAN 16
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 19
3.1 Giải pháp vĩ mô 19
3.1.1 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch vùng sản xuất hàng nông sản xuất khẩu 19
Trang 33.1.2 Nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu thông qua tập trung đầu tư đổi mới
công nghệ, nâng cao chất lượng chế biến 20
3.2 Giải pháp vi mô 21
3.2.1 Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến xuất khẩu 21
3.2.2 Xây dựng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp để có nguồn nông sản ổn định, lâu dài, có chất lượng, đạt các thông số kỹ thuật quốc tế……… 21
3.2.3 Nâng cao tính cạnh tranh về giá và chất lượng cho sản phẩm 22
3.2.4 Xây dựng chữ tín và văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp 22
KẾT LUẬN 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
I Tài liệu tham khảo Tiếng Việt 25
II Tài liệu tham khảo Tiếng Anh 26
III Tài liệu tham khảo từ Internet 26
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Là một nước nông nghiệp, khoảng 70% dân số Việt Nam sống ở nông thônvới hơn 10 triệu hộ nông dân, 30 triệu người trong độ tuổi lao động đang sống ởnông thôn Nông nghiệp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh lớn do có điều kiện tựnhiên thuận lợi và chi phí nhân công thấp nhưng những điều kiện này ngày cànggiảm do điều kiện cạnh tranh thương mại toàn cầu hiện nay Sau khi tham gia ký kết
và đàm phán nhiều Hiệp định Thương mại Tự do song phương và khu vực, nôngsản Việt Nam đã giữ vị trí cao trên thị trường nông sản thế giới, những cam kếtđược thực hiện nghiêm túc đúng với những quy định trong các AFTA và quy địnhcủa WTO Do đó, Việt Nam đã thu được một lượng ngoại tệ đáng kể từ hoạt độngxuất khẩu nông sản hàng năm, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo thêmviệc làm cho người dân Mặt khác, các Hiệp định này cũng gây ra những thách thứcgay gắt cho các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế của Việt Nam Nếu như khi gianhập WTO, sức ép lớn nhất là về mặt thể chế và dịch vụ, thì các Hiệp định Thươngmại Tự do song phương và khu vực lại gây khó khăn đến thương mại hàng hóa domức độ cắt giảm thuế sâu rộng trong hiệp định nội khối ASEAN Ngoài ra, còn tồntại nhiều hạn chế về mặt chính sách của Nhà nước khiến cho việc đẩy mạnh tiêu thụ
về lượng nhưng chưa đi kèm với những lợi ích thiết thực mang về cho đất nước, chonông dân Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Namtrong tiến trình gia nhập thị trường nông sản thế giới
Mặc dù cơ hội và thách thức đều lớn nhưng việc tận dụng cơ hội đến đâu,vượt qua thách thức thế nào lại phụ thuộc vào thể chế và chính sách của Nhà nướccũng như hoạt động của các doanh nghiệp Xuất phát từ những lý do trên đây, việcnghiên cứu thực trạng và tìm ra các giải pháp vi mô và vĩ mô nhằm đẩy mạnh xuấtkhẩu nông sản Việt Nam khi tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) làvấn đề có ý nghĩa lý luận và cấp thiết về thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về mặt hàng nông sản và thị trường nông sản thế giới
Trang 5- Đánh giá cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam khitham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA).
- Đề xuất một số giải pháp đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam trongbối cảnh tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng của đề tài: Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu nông sản ViệtNam trong bối cảnh tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA)
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu nôngsản của Việt Nam trong 10 năm gần đây (2004-2014) sang các nước đã ký kết cácHiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) với Việt Nam, cũng như triển vọngxuất khẩu sang một số nước/khu vực sẽ ký Hiệp định Thương mại Tự do AFTAtrong thời gian tới Các giải pháp đề xuất ở cả vĩ mô và vi mô cho những năm tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, đềtài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích – tổng hợp,phương pháp diễn giải – quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh –đối chiếu,
5 Kết cấu của đề tài
Nội dung tiểu luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về mặt hàng nông sản và tình hình tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) của Việt Nam
- Chương 2: Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam
khi tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA)
- Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam khi tham
gia các Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA)
Trang 6CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MẶT HÀNG NÔNG SẢN
VÀ TÌNH HÌNH THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
TỰ DO (FTA) CỦA VIỆT NAM
1 1 Khái quát về mặt hàng nông sản
1.1.1 Khái niệm về mặt hàng nông sản
Theo WTO, hàng hóa được chia làm hai nhóm chính: nông sản và phi nôngsản Nông sản được xác định trong Hiệp định nông nghiệp là tất cả các loại hànghóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:
- Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản: lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vậtsống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…
- Các sản phẩm phái sinh: bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…
- Các sản phẩm chế biến từ sản phẩm nông nghiệp: bánh kẹo, sản phẩm từsữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô…Theo Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO), nông sản phẩm/sản phẩm cónguồn gốc nông nghiệp là bất kỳ sản phẩm hay hàng hóa nào, dù là thô hay đã chếbiến, được trao đổi trên thị trường cho mục đích tiêu dùng của con người (không kểnước, muối và các chất phụ gia) hay thức ăn cho động vật
Theo định nghĩa của Hiệp định về chương trình thuế quan ưu đãi cho khu vựcmậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thì sản phẩm nông nghiệp có nghĩa là: Nguyên liệunông nghiệp thô/các sản phẩm chưa chế biến được liệt kê trong các Chương 1 đến
24 của Hệ thống cân đối (HS) (gồm: Động vật sống và các sản phẩm từ động vật;Các sản phẩm thực vật; Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật, các sản phẩm lấy từ mỡhoặc dầu động vật hoặc thực vật, mỡ chế biến làm thực phẩm các loại, sáp độnghoặc thực vật; Thực phẩm chế biến, đồ uống, rượu mạnh và giấm; thuốc lá và cácchất thay thế thuốc lá chế biến) và các nguyên liệu nông nghiệp thô/các sản phẩmchưa chế biến tương tự được nêu trong các đề mục của Hệ thống cân đối; và các sảnphẩm đã qua sơ chế nhưng hình thức không thay đổi nhiều so với sản phẩm gốc
Tóm lại, khái niệm nông sản có thể hiểu một cách khái quát như sau: hàngnông sản là những sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất nông
Trang 7nghiệp Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những loại nông sảntương ứng kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, bao gồm các sản phẩmthu hoạch trực tiếp từ cây trồng, vật nuôi và các sản phẩm chế biến từ cây trồng, vậtnuôi đó.
1.1.2 Đặc điểm của mặt hàng nông sản
Thứ nhất, việc sản xuất và xuất khẩu nông sản có những điểm đặc biệt
- Hoạt động xuất khẩu nông sản phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn vệ sinh antoàn thực phẩm
- Giá cả sản phẩm nông sản xuất khẩu không ổn định
- Hoạt động xuất khẩu nông sản cần được Nhà nước đưa ra chính sách quản
lý phù hợp
Thứ hai, nông sản là một loại hàng hóa “nhạy cảm” trong thương mại
- Thương mại hàng nông sản liên quan đến lợi ích của một số bộ phận laođộng vốn có thu nhập thấp ở cả các nước phát triển và đang phát triển
- Mỗi quốc gia đều có nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định tronghoàn cảnh thị trường nông sản thế giới thường xuyên có biến động về thu hoạch vàcác nguy cơ đang rình rập nó
Thứ ba, sản xuất nông sản có nhiều đặc điểm khác với các ngành sản xuất khác
- Sản xuất nông sản mang tính thời vụ và tính khu vực rõ rệt
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông sản lại bị giới hạn về diện tích
- Xu hướng sản xuất nông sản theo phương thức sản xuất hữu cơ, theo quytrình sản xuất sạch, đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm phải đượcđặt lên hàng đầu và sẽ trở thành một lợi thế nếu quốc gia nào biết nắm bắt và đầu tưsản xuất theo hướng này
Thứ tư, nông sản mang tính thiết yếu (hầu hết nông sản là những sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu)
- Tính thiết yếu của nông sản thể hiện ở việc cung cấp lương thực, thực phẩmcho nhu cầu cơ bản của con người Đảm bảo nhu cầu về lương thực không chỉ làyêu cầu duy nhất của nông nghiệp, mà còn là cơ sở phát triển các mặt khác của đờisống kinh tế - xã hội
Trang 8Thứ năm, tiêu thụ nông sản có những khác biệt so với các sản phẩm khác
- Đặc điểm quan trọng của nông sản là tính chất tươi sống của sản phẩm vàsản xuất, thu hoạch theo mùa vụ và theo khu vực Mỗi loại có một hình thức tiêuthụ và chế biến riêng: yêu cầu tươi, sản phẩm chế biến đòi hỏi công nghệ đặc thù
và giữ được hương vị, màu sắc tự nhiên; yêu cầu chất lượng tiêu dùng ngày càngcao, đòi hỏi thu hoạch, vận chuyển, bảo quản, chế biến theo những quy trìnhcông nghệ chặt chẽ
Thứ sáu, nông sản là loại hàng hóa khó bảo quản, dễ hư hỏng và thối rữa.
- Công nghiệp chế biến nông sản tạo ra sự đa dạng về giá trị sử dụng, tăngthời gian bảo quản, giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch và giảm sự phụ thuộc sảnxuất theo điều kiện tự nhiên,
Tóm lại, nông sản có nhiều đặc điểm khác biệt so với các sản phẩm khác, từviệc sản xuất mang tính thời vụ, đến việc bảo quản và chế biến, tiêu thụ nông sảnđều có những đặc thù riêng Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam cần có những chínhsách phù hợp để xuất khẩu nông sản Việt Nam có thể cạnh tranh với thị trườngnông sản thế giới trong bối cảnh Việt Nam tham gia các FTA
1.2 Khái quát về Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN
1.2.1 Quá trình hình thành AFTA
ASEAN là một trong những khu vực có nền kinh tế tăng trưởng với tốc độnhanh nhất thế giới (tốc độ tăng trưởng kinh tế của ASEAN giai đoạn 1981-1991 là5,4%, gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng trung bình của thế giới) Tuy vậy, trướckhi AFTA ra đời, những nỗ lực hợp tác kinh tế của ASEAN đều không đạt đượcmục tiêu mong muốn ASEAN đã có các kế hoạch hợp tác kinh tế như:
-Thoả thuận thương mại ưu đãi (PTA)
-Các dự án công nghiệp ASEAN (AIP)
-Kế hoạch hỗ trợ công nghiệp ASEAN (AIC) và Kế hoạch hỗ trợ sản xuấtcông nghiệp cùng nhãn mác (BBC)
- Liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV)
Các kế hoạch hợp tác kinh tế kể trên chỉ tác động đến một phần nhỏ trongthương mại nội bộ ASEAN và không đủ khả năng ảnh hưỏng đến đầu tư trong khối
Trang 9Sự ra đời của AFTA
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trongmôi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEANđứng trước những thách thức lớn không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết chặtchẽ hơn và những nỗ lực chung của toàn Hiệp hội, những thách thức đó là :
-Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặcbiệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN dần mất
đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế
- Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như
EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoáASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này
- Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãirộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tàinguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga vàcác nước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòihỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợptác khu vực Để đối phó với những thách thức trên, tháng 01/1992 , theo sáng kiếncủa Thái Lan, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ IV họp tại Singapo đã quyếtđịnh thành lập một Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area,gọi tắt là AFTA) Đây thực sự là bước ngoặt trong hợp tác kinh tế ASEAN ở mộttầm mới
Mục tiêu của AFTA
AFTA đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế sau:
- Tự do hoá thương mại trong khu vực bằng việc loại bỏ các hàng rào thuếquan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế quan Điều này sẽkhiến cho các Doanh nghiệp sản xuất của ASEAN càng phải có hiệu quả và khảnăng cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới Đồng thời, người tiêu dùng sẽ muađược những hàng hoá từ những nhà sản suất có hiệu quả và chất lượng trongASEAN, dẫn đến sự tăng lên trong thương mại nội khối
Trang 10- Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc tạo ra một khốithị trường thống nhất, rộng lớn hơn
- Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thayđổi, đặc biệt là với sự phát triển của các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) trênthế giới
1.2.2 Nội dung cơ bản của AFTA
Theo kế hoạch ban đầu, AFTA được hoàn thành vào năm 2008 với mục đích
cơ bản là “tăng cường khả năng cạnh tranh của ASEAN như một cơ sở quốc tếnhằm cung cấp hàng hóa ra thị trường thế giới” Tuy nhiên, trước sự phát triển vàcạnh tranh mạnh mẽ của các liên kết kinh tế toàn cầu khác, cũng như do sự tiến bộcủa chính các quốc gia ASEAN, năm 1994, khối này quyết định đẩy nhanh thời hạnlên năm 2003
Sau đó, từ năm 1995 đến 1998, ASEAN kết nạp thêm 4 nước thành viên mới
là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar
Cơ chế chính để thực hiện AFTA là Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lựcchung (Common Effective Preferential Tariff – CEPT) Về thực chất, CEPT là mộtthỏa thuận giữa các nước thành viên ASEAN về việc giảm thuế quan trong nội bộkhối xuống còn 0-5% thông qua những kế hoạch giảm thuế khác nhau Trong vòng
5 năm sau khi đạt mức thuế ưu đãi cuối cùng, các nước thành viên sẽ tiến hành xóa
bỏ các hạn ngạch nhập khẩu và những hàng rào phi quan thuế khác
Thời hạn thực hiện CEPT của các nước có khác nhau Cụ thể là: Với Brunei,Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan: từ 1993 đến 2003; Với Việt Nam: từ
1996 đến 2006; Với Lào, Myanmar và Campuchia: từ 1998 đến 2008
Để thực hiện dần dần việc cắt giảm thuế quan, mỗi nước sẽ phải phân loại tất
cả hàng hóa của mình vào một trong các danh mục sau: Danh mục giảm thuế (IL);Danh mục loại trừ tạm thời (TEL); Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL); Danh mụcnhạy cảm (SL); Danh mục nhạy cảm cao
-Danh mục giảm thuế (IL): bao gồm những mặt hàng sẽ được cắt giảm thuếquan để đến khi hoàn thành CEPT sẽ có thuế suất 0-5% Ngay sau khi ký CEPT,mỗi nước ASEAN phải đưa ra IL của mình để bắt đầu giảm thuế quan từ năm 1993
Trang 11Trên thực tế, không phải mặt hàng nào trong IL cũng thực sự phải giảm thuế quan, vì
có những mặt hàng trước khi đưa vào IL đã có thuế suất dưới 5%, thậm chí bằng 0%
-Danh mục loại trừ tạm thời (TEL): bao gồm những mặt hàng chưa đưa vàogiảm thuế quan ngay, do các nước thành viên ASEAN phải dành thêm thời gian đểđiều chỉnh sản xuất trong nước thích nghi với môi trường cạnh tranh quốc tế
Sau ba năm kể từ khi tham gia CEPT, các nước ASEAN phải bắt đầu chuyểndần các mặt hàng từ TEL sang IL, tức là bắt đầu giảm thuế quan đối với những mặthàng này Quá trình chuyển từ TEL sang IL được phép kéo dài trong 5 năm, mỗinăm phải chuyển được 20% số mặt hàng Điều đó có nghĩa là đến hết năm thứ támthì IL đã mở rộng bao trùm toàn bộ TEL, và TEL không còn tồn tại Khi đưa mỗimặt hàng vào IL, các nước đồng thời phải chỉ ra lịch trình giảm thuế quan của mặthàng đó cho đến khi hoàn thành CEPT
Ví dụ: Khi tham gia CEPT vào năm 1993, IL của nước A bao gồm 50 mặthàng, TEL của nước này có 100 mặt hàng Từ năm 1996, nước A phải bắt đầuchuyển TEL sang IL Nếu mỗi năm chuyển đều 20% thì năm 1996, IL của nước này
có 50 + (100*20%) = 70 mặt hàng và TEL giảm đi còn 100 – (100*20%) = 80 mặthàng Năm 1997, IL sẽ là 90 và TEL sẽ là 60 Ba năm tiếp sau đó, các con số tươngứng sẽ là 110/40, 130/20 và 150/0 Đến năm 2000, IL của nước A sẽ bao gồm cả
150 mặt hàng và TEL không còn mặt hàng nào nữa
-Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL): bao gồm những mặt hàng không cónghĩa vụ phải giảm thuế quan Các nước thành viên ASEAN có quyền đưa ra danhmục các mặt hàng này nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, bảo vệ sứckhỏe con người, động thực vật; bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử, khảo cổ… GELkhông phải là danh mục các mặt hàng Chính phủ cấm nhập khẩu Một số mặt hàng
có trong GEL vẫn được nhập khẩu bình thường, nhưng không hưởng thuế suất ưuđãi như các mặt hàng trong danh mục giảm thuế
-Danh mục các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL): bao gồm 26nhóm mặt hàng, chiếm 0,8% tổng số nhóm mặt hàng của Biểu thuế nhập khẩu và lànhững mặt hàng cụ thể như: thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc, gạo lứt,…,được xây dựng căn cứ vào yêu cầu bảo hộ cao của sản xuất trong nước đối với một
Trang 12số mặt hàng nông sản chưa chế biến và theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn đồng thời trên cơ sở tham khảo danh mục này của các nước ASEANkhác Các mặt hàng này đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như quản
lý theo hạn ngạch hàng tiêu dùng, quản lý của Bộ chuyên ngành
Ngoài cơ chế này, để hiện thực hóa AFTA, các nước ASEAN còn ký kếthàng loạt các thỏa thuận về thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hóa giữa cácnước thành viên, công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hóa của nhau, tăngcường hợp tác trong lĩnh vực hải quan, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển côngnghiệp và xây dựng Khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area – AIA)
1.2.3 Tình hình tham gia AFTA của Việt Nam
Ngày 28/07/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 củaASEAN và cam kết tham gia AFTA Thời hạn hoàn thành AFTA của Việt Namnăm 2006 Việt Nam bắt đầu thực hiện lộ trình giảm thuế quan tham gia AFTA từngày 01/01/1996, khi đưa 875 mặt hàng đầu tiên vào thực hiện CEPT Tất cả nhữngmặt hàng này đều đã nằm ở khung thuế suất 0-5%
Đầu năm 1998, Việt Nam công bố lịch trình giảm thuế để thực hiện AFTAvào năm 2006 Trên thực tế thì đến cuối năm 2002, 5.500 mặt hàng (chiếm khoảng86% tổng số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu) đã được vào chương trình cắtgiảm Toàn bộ các mặt hàng này đã ở thuế suất dưới 20% và có lộ trình cắt giảmtrong thời kỳ 2002-2006 Trong số đó, 65% đã ở mức thuế 0-5%
Theo số liệu của tờ Dow Jones, vào những ngày đầu năm 2003, mức thuếsuất trung bình của Việt Nam chỉ hơn 2% một chút, và Việt Nam đang là nước cómức thuế suất trung bình thấp thứ 3 ASEAN, sau Singapore và Brunei Theo đúng
lộ trình thì việc cắt giảm thuế tham gia AFTA đã được áp dụng chính thức tại ViệtNam từ ngày 01/01/2003 Tuy nhiên, ngày 10/01/2003, Bộ Tài chính đã thông báoviệc cắt giảm đó sẽ được thực hiện lùi lại 7 tháng, vào ngày 1/7 Đến ngày 1/7,1.416 mặt hàng thuộc TEL được chuyển sang IL Đa số đó là những mặt hàng hiệnđang được bảo hộ với mức thuế suất rất cao (30-100%), hoặc đang được quản lýbằng hạn ngạch như xi măng, giấy, hàng điện tử, điện gia dụng…
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA)
2.1 Đặc trưng của thị trường ASEAN về mặt hàng nông sản
2.1.1 Đặc trưng của thị trường ASEAN
Về văn hóa
Các nước ASEAN đều có những điểm tương đồng về văn hóa Đặc biệt các nướcASEAN đều có nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, có lịch sử đấutranh dựng nước và giữ nước lâu đời Văn hóa là di sản được kế thừa từ cha ông qua cả quátrình lịch sử, là tổng thể những hiểu biết về phong tục tập quán, về trí tuệ và vật chất Vănhóa trong ASEAN có những đặc trưng sau:
- Đánh giá cao tính kiên nhẫn, lòng kính trọng với địa vị, thân thế (tuổi tác, danhvọng), năng lực chuyên môn của con người
- Rất tự hào về dân tộc mình và kính trọng truyền thông dân tộc: mỗi một nước đều
có một nghi thức, tập tục truyền thống khác nhau nhưng tất cả họ đều tự hào và kính trọngtruyền thống dân tộc của họ
- Văn hóa kinh doanh mang tính cạnh tranh cao và có đạo đức trong kinh doanh
- Đều có xuất phát điểm là nên văn minh lúa nước, con người cần cù chịu khó, cótinh thần trách nhiệm với công việc, uy tín, thân thiện…
- Mỗi quốc gia đều có rất nhiều dân tộc anh em sinh sống, mỗi dân tộc đều sử dụngmột ngôn ngữ riêng, tạo nên sự đa dạng trong ngôn ngữ
Về địa lý sinh thái
Có vị trí địa lý nằm giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương và là đầu mối cửa ngõgiao thông quan trọng, các nước ASEAN có điều kiện để phát triển mở rộng hợp tác giaolưu văn hóa, kinh tế chính trị, xã hội với nhau và các nước trên thế giới Chính vì vậy, việc
đi lại trao đổi mua bán rất thuận tiện, trở thành một trong những sợi dây liên kết trọng điểmkhu vực Đông Nam Á
Về kinh tế
Các nước thành viên ASEAN đã có chương trình về hợp tác kinh tế thực tế chothấy về mặt kinh tế, tổ chức kinh tế khu vực có tác dụng thúc đẩy sự hợp tác kinh tế, buônbán và phân công lao động Kinh tế 5 nước ASEAN thuộc loại đang phát triển trừ
Trang 14Singapore Thu nhập bình quân đầu người giữa các nước chênh lệnh khá lớn Đối với cácnước như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Brunei là những nước phát triển nhất có thu nhậpbình quân đầu người trên 3000USD 2 nước Philipin, Indonesia có thu nhập bình quân đầungười trên 1000USD 6 nước này có thu nhập bình quân đầu người cao hơn rất nhiều sovới các nước còn lại như Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma.
Trong những năm qua, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã khôngngừng đẩy mạnh hợp tác giữa các nước thành viên Tháng 1 năm 1992, các nước ASEAN
đã đi đến quyết định thành lập khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thông qua việc kí kếthiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm đưa nền kinh
tế khu vực này thành 1 cơ sở sản xuất thống nhất với 1 thị trường rộng lớn trên 500 triệudân, tỉ lệ tăng dân số trung bình 2,05% thì đây thực sự là một thị trường tiêu thụ lớn
Mặc dù, AFTA chưa có hiệu lực trước năm 2003, xong thuế quan nhập khẩu giữacác nước thành viên ASEAN đã được giảm dần từ năm 1997 Tính đến năm 2001, thuếquan của 92,8 số sản phẩm trong danh mục cắt giảm ngay của 6 nước thành viên ban đầubao gồm Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore, Thái Lan, Brunei được giảm xuốngmức 0-5% Việt Nam đã chính thức tham gia vào AFTA năm 2003 vào hoàn thành cắtgiảm thuế quan vào năm 2006 Đối với các nước thành viên Lào và Mianma sẽ bắt đầuthực hiện hiệp định CEPT từ 1-1-1998 và kết thúc vào ngày 1-1-2008 Campuchia bắt đầuthực hiện CEPT từ 1-1-2000 và kết thúc vào ngày 1-1-2010 Việc thực hiện CEPT đã làmcho xuất khẩu nội khu vực ASEAN tăng từ 43 tỷ USD năm 1993 lên 84 tỷ năm 2001, tănghơn 90% trong vòng 8 năm qua Thị trường ASEAN đã trở lên ngày càng quan trọng hơnđối với các nước thành viên ASEAN Do vậy, AFTA sẽ tiếp tục thúc đẩy các hoạt độngthương mại trong khu vực này
Khi thực hiện hiệp định CEPT các hàng rào phi thuế quan như hạn chế số lượng,hạn ngạch giá trị xuất nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế định lượng…cũng bị loại bỏ trong vòng 5 năm sau khi một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan
Việc xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ thúc đẩy thương mại và cảithiện phúc lợi của các nước tham gia, tạo ra môi trường cạnh tranh hơn nhưng nó cũng làmtăng năng suất lao động, đa dạng hóa các sản phẩm và giảm giá hàng hóa Các hoạt độngthương mại ngày càng tăng cũng thúc đẩy các hoạt động kinh tế các nước này, việc làmđược tạo ra và các nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn