Giả thuyết khoa học Hiện nay công tác quản lý sinh viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp còn nhiều
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN THỊ MINH CHUNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NHẰM GIÚP SINH VIÊN CÓ CƠ HỘI TÌM KIẾM
VIỆC LÀM PHÙ HỢP SAU TỐT NGHIỆP
Chuyªn ngµnh : Qu¶n lý gi¸o dôc
M· sè : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
HÀ NỘI - 2010
Trang 2CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN 4
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Quản lý nhà trường Đại học 9
1.2.2 Công tác sinh viên trong trường đại học 15
1.2.3 Quan niệm về việc làm phù hợp 23
1.3 Các đặc điểm tâm lý - xã hội của sinh viên 27
1.4 Các yêu cầu đào tạo đối với giáo dục đại học hiện nay theo định hướng tạo cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp cho sinh viên 30
1.4.1 Trường đại học gắn với công nghiệp - doanh nghiệp - dịch vụ 30
1.4.2 Trường đại học gắn với nghiên cứu cơ bản 32
1.5 Tiểu kết chương 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NHẰM GIÚP SINH VIÊN CÓ CƠ HỘI TÌM KIẾM VIỆC LÀM PHÙ HỢP SAU TỐT NGHIỆP 36
2.1 Tiến trình phát triển Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội 36
Trang 42.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Nhà trường 36
2.1.2 Sứ mạng và mục tiêu phát triển 37
2.1.3 Các ngành nghề đào tạo hiện nay 42
2.2 Thực trạng công tác quản lý sinh viên tại Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp 50
2.2.1 Thực trạng về sinh viên 50
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý sinh viên 54
2.2.3 Thực trạng công tác quản lý sinh viên nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
59 2.2.4 Đánh giá chung 62
2.3 Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NHẰM GIÚP SINH VIÊN CÓ CƠ HỘI TÌM KIẾM VIỆC LÀM PHÙ HỢP SAU TỐT NGHIỆP 68
3.1 Những nguyên tắc chọn lựa biện pháp 68
3.1.1 Nguyên tắc tính thực tiễn 68
3.1.2 Nguyên tắc tính kế thừa 68
3.1.3 Nguyên tắc tính hiệu quả 68
3.1.4 Nguyên tắc tính hệ thống 68
3.2 Một số biện pháp quản lý sinh viên nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp 69
3.2.1 Nhóm biện pháp1: tác động tổ chức quản lý sinh viên 69
3.2.2 Nhóm biện pháp 2: Nâng cao hiệu quả hoạt động của Phòng Chính trị và Công tác sinh viên 74
3.2.3 Nhóm biện pháp 3: tác động vào sinh viên 77
3.2.4 Nhóm biện pháp hỗ trợ 83
Trang 53.3 Mối quan hệ của các biện pháp 85
3.4 Kiểm chứng sự nhận thức về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp
85 3.5 Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nước ta hiện nay đang tồn tại một thực tế là SV tốt nghiệp tại các đơn
vị đào tạo hầu như chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng, do đó
họ thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, đặc biệt là SV thuộc khối ngành khoa học tự nhiên Mỗi năm trong cả nước có hàng vạn SV
ra trường Tuy nhiên các cơ sở đào tạo đều không có những số liệu thống kê
cụ thể về tỉ lệ SV có việc làm, làm đúng ngành nghề và đáp ứng được các yêu cầu của nhà tuyển dụng Theo đánh giá trên các phương tiện thông tin thì trong cả nước tỉ lệ SV tốt nghiệp có việc làm và làm đúng ngành nghề chỉ chiếm khoảng 30%
Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 đề ra cho GDĐH nhiệm vụ: tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng đào tạo theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường đào tạo năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, phục vụ thiết thực sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN với đặc trưng là một trường đại học khoa học cơ bản, là cơ sở đào tạo được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các cấp học từ THPT chuyên đến tiến sỹ Trong quá trình phát triển, Nhà trường đã trở thành điểm sáng thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng và đào tạo tài năng cho đất nước Đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ quan trọng luôn được Nhà trường quan tâm đầu tư phát triển Tuy nhiên trong những năm gần đây số lượng SV đăng kí dự thi vào trường giảm đáng kể, đặc biệt là các ngành khoa học trái đất thì số SV chủ yếu là nguyện vọng 2, do đó trình độ đầu vào thấp đồng thời lại ít hứng thú với ngành học Điều này mâu thuẫn với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường Muốn giải quyết được bài toán này thì vấn đề đầu ra (việc làm) cho SV là vô cùng quan
Trang 7trọng Bởi SV các ngành khoa học cơ bản thường gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp Vấn đề việc làm sau tốt nghiệp là một trong những yếu tố cơ bản cản trở SV đến với Nhà trường Do đó cải tiến công tác quản lý SV nhằm giúp SV có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp là nhiệm vụ cấp thiết của Trường ĐHKHTN trong giai đoạn hiện nay
Trong quá trình học tập và nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáo dục, xuất phát từ thực tiễn làm công tác quản lý SV tác giả nhận thấy sự cấp thiết phải nghiên cứu vấn đề công tác quản lý SV nhằm tạo cơ hội cho SV tốt
nghiệp có việc làm phù hợp Chính vì vậy tác giả đã chọn đề tài: “Biện pháp
quản lý sinh viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia
Hà Nội nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp” Tác giả mong muốn sẽ đề xuất được các giải pháp khả thi để tạo điều
kiện cho SV dễ dàng tiếp cận việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất hệ thống các biện pháp quản lý sinh viên nhằm giúp cho sinh viên tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề quản lý sinh viên
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý sinh viên nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
- Đề xuất một số biện pháp quản lý sinh viên nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: công tác quản lý sinh viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý sinh viên nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Thời gian: trong các năm từ 2006 đến 2009
Trang 86 Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác quản lý sinh viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp còn nhiều bất cập và chưa được quan tâm đúng mức, điều này ảnh hưởng lớn đến cơ hội tìm kiếm việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp Nếu phối hợp đồng bộ các biện pháp quản lý sinh viên mà tác giả đề xuất thì sẽ tạo cơ hội thuận lợi giúp sinh viên tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
7 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các phương pháp:
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu, phân tích và hệ thống các văn kiện, nghị quyết của Đảng và nhà nước; các quy định, quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo; các tài liệu lý luận về quản lý và quản lý giáo dục có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phỏng vấn cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên
+ Phát phiếu điều tra cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên ở một số khoa trong trường
+ Tổ chức các cuộc hội thảo
- Các phương pháp bổ trợ khác
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý sinh viên
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên tại trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
Chương 3: Các biện pháp quản lý sinh viên tại trường Đại học Khoa
học Tự nhiên, ĐHQGHN nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp
Trang 9Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi ra đời GDĐH đã giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục vì nó tác động trực tiếp đến trình độ phát triển KH&CN của mỗi quốc gia Cuộc cách mạng công nghệ và xu thế xây dựng nền kinh tế tri thức ở nhiều quốc gia trong vài thập kỷ gần đây càng khẳng định vai trò của GDĐH Chiến lược lấy GDĐH làm đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội đã được nhiều quốc gia
áp dụng để giành vị trí dẫn đầu trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt hiện đại
Trước thời kỳ đổi mới, kinh tế xã hội nước ta được quản lý theo cơ chế
kế hoạch hóa tập trung và GDĐH cũng không nằm ngoài cơ chế đó Chỉ tiêu đào tạo hàng năm được giao cho trường đại học theo kế hoạch nhà nước, kinh phí đào tạo kể cả học bổng cho SV được Nhà nước cấp từ ngân sách, SV tốt nghiệp được Nhà nước phân phối cho các cơ sở kinh tế quốc doanh và cơ quan nhà nước Với cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ đó, chương trình đào tạo cũng được quy định xem như một sự đặt hàng, đội ngũ cán bộ quản lý, viên chức, giáo chức chủ yếu cũng được quản lý từ Bộ, cơ quan chủ quản của các trường đại học
Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6, GDĐH nước ta bắt đầu được đổi mới Trong quá trình đổi mới, quyền tự chủ của các trường đại học ngày càng được nâng cao Về tài chính, trường đại học có quyền tìm thêm các nguồn ngoài ngân sách nhà nước, qua học phí củánV và nhiều thu nhập khác nhờ các hợp đồng liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, dịch vụ xã hội Về kế hoạch, ngoài chỉ tiêu đào tạo do Nhà nước giao, trường đại học có thể đề xuất quy mô tuyển sinh dựa vào khả năng đào tạo của mình và nhu cầu của xã hội Về mặt chuyên môn, trường đại học có quyền dựa vào những định mức tổng quát của Bộ về khung chương trình và tỷ lệ các khối kiến thức để xây dựng chương trình đào tạo các ngành chuyên môn, có quyền đề xuất các
Trang 10ngành đào tạo mới phù hợp với nhu cầu của xã hội, có quyền tổ chức biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy Về quan hệ quốc tế, các trường đại học có quyền đặt quan hệ và ký kết các văn bản hợp tác với các trường đại học nước ngoài Rõ ràng quyền tự chủ đã tạo điều kiện cho các trường đại học chủ động triển khai rất nhiều hoạt động có hiệu quả, góp phần đưa hệ thống GDĐH nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu và mang lại nhiều thành tựu mới
Ngoài việc đổi mới về cơ chế quản lý, một số mô hình trường đại học mới ra đời, trong đó có hai đại học quốc gia và đặc biệt là các trường đại học dân lập Các đại học quốc gia hoạt động theo một quy chế riêng, có mức độ tự chủ khá cao, các trường đại học dân lập hoạt động theo những quy định quyền
tự chủ khá rộng rãi về tổ chức, tài chính và học thuật
Như vậy, quá trình đổi mới GDĐH cũng là quá trình tăng cường quyền
tự chủ của các trường đại học Trong quá trình đó, việc quản lý của Bộ cũng đang trong tiến trình chuyển dần sang quản lý nhà nước, giảm dần tác động trực tiếp đối với các trường đại học
Những thành tựu chính của quá trình đổi mới GDĐH được thể chế hóa trong Luật Giáo dục ban hành cuối năm 1998 Luật giáo dục sửa đổi ban hành năm 2005 Trong Luật Giáo dục có một điều quan trọng nhất về cơ chế quản
lý mới đối với GDĐH là khẳng định quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội (trong Luật gọi là tự chịu trách nhiệm) của các trường đại học GDĐH nước ta đang
ở trong một thời kỳ chuyển tiếp Quy luật chung của thời kỳ chuyển tiếp là tồn tại đan xen cả hai cơ chế quản lý cũ và mới, để dần dần xóa bỏ cơ chế quản lý
cũ khẳng định cơ chế quản lý mới
Quyền tự chủ (autonomy) và trách nhiệm xã hội (accountability) là
hai khái niệm sóng đôi rất quan trọng trong việc tổ chức, quản lý và điều hành hệ thống GDĐH trong nền kinh tế thị trường được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Chính quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội là sợi chỉ xuyên suốt
hệ thống quản lý GDĐH nước ta trong tiến trình hoàn thiện dần trong nền kinh tế thị trường
Trang 11Hiện nay GDĐH nước ta vẫn đang trong trạng thái chuyển tiếp Những thể chế mới đã, đang ra đời và dần dần thay thế những thể chế cũ Tư duy giáo dục cần đổi mới để quán triệt được và thúc đẩy những đổi mới về thể chế Những người có trách nhiệm hoạch định chính sách đổi mới GDĐH và những người quản lý thực thi đổi mới đều cần nghiên cứu và suy ngẫm sâu sắc để tìm
ra được những giải pháp thích hợp nhất
Khi nhận định về hai thập niên đổi mới vừa qua, nhiều người cho rằng
sự phát triển của giáo dục nói chung và của GDĐH nói riêng ở nước ta là quá chậm so với sự phát triển kinh tế, do đó giáo dục chẳng những không thúc đẩy
mà còn cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội Tại thời điểm hiện nay, khi chúng
ta đang đứng trước những thách thức hết sức gay gắt của quá trình toàn cầu hóa và thương mại hóa GDĐH, hơn bao giờ hết các trường đại học cần tự đổi mới mình để có thể tồn tại và phát triển Và để đổi mới toàn diện và cơ bản
trường đại học việc đổi mới quản lý nhà trường là điều kiện tiên quyết tất yếu
Trong những năm gần đây tình trạng SV các trường đại học, cao đẳng sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc làm việc không phù hợp với chuyên môn đào tạo có xu hướng tăng lên Theo số liệu khảo sát của dự án GDĐH về việc làm cho SV sau tốt nghiệp thì trong khoảng 200.00ơiSV ra trường hằng năm thì chỉ có 30% đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, 45- 62% SV tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp, trong đó chỉ có 30% là làm đúng ngành nghề được đào tạo
Trong khi SV tốt nghiệp không có việc làm thì các doanh nghiệp lại thiếu lao động một cách trầm trọng cả về số lượng và chất lượng Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2007 có khoảng 260.000 doanh nghiệp đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, trong đó số lượng các doanh nghiệp mới thành lập năm 2007 khoảng 50.000 doanh nghiệp, năm 2008 là 52.000 doanh nghiệp, nên nhu cầu lao động của các doanh nghiệp là rất lớn Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, dự kiến năm 2010, Việt Nam sẽ
có khoảng 500.000 doanh nghiệp, tạo thêm 2,7 triệu chỗ làm mới cho người
Trang 12lao động Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, số lao động làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất hiện có khoảng 905.221 người,
đa số là lao động phổ thông, lao động có kỹ thuật chiếm một tỷ lệ khá nhỏ Việt Nam đang đứng trước thực trạng là lao động phổ thông không thiếu, nhưng rất thiếu lao động có kỹ năng được đào tạo theo tiêu chuẩn công nghiệp Theo số liệu thống kê của 38 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
và 20 ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất thì xu hướng nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có xu hướng tăng lên Trong
cơ cấu lao động nước ngoài, lao động quản lý chiếm 31,8%, lao động làm chuyên gia kỹ thuật chiếm 41,2% và các lao động khác chiếm 27%
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay, Việt Nam có thể mất lợi thế về lao động rẻ, dồi dào nếu nhân lực được đào tạo ra không đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh số SV tốt nghiệp hàng năm không tìm kiếm được việc làm ngày càng tăng thì số SV
có việc làm cũng không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng SV các trường đại học sau khi được tuyển dụng thường phải tiếp tục đào tạo thêm
từ 2 đến 3 năm nữa mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng, điều này gây lãng phí rất lớn về thời gian và tiền bạc của cả người lao động và nhà tuyển dụng Nói chung, theo đánh giá của các nhà tuyển dụng sau khi tiếp nhận SV tốt nghiệp về làm việc thì:
+ Nhiều SV ra trường chưa thể làm ngay được công việc chuyên môn + SV không thể tự lên kế hoạch học tập để hoàn thiện bản thân trong công việc
+ SV thiếu hoặc chưa có những kỹ năng mềm cần thiết phục vụ cho công việc được giao
Sinh viên thường thiếu hiểu biết các chuẩn mực nghề nghiệp, các yêu cầu làm việc chuyên nghiệp và dễ nản khi gặp việc khó, nhiều khi thiếu tinh thần học hỏi Thực trạng trên cho thấy công tác đào tạo của các trường đại học
Trang 13chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà sử dụng lao động; nhà trường chưa thực sự gắn với xã hội, đào tạo chưa gắn với sử dụng
Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, một vấn đề thực tế đang đặt ra, đòi hỏi rất cấp thiết là phải giải quyết mối quan hệ giữa một bên là nhà trường, SV với một bên là nhu cầu xã hội để nhằm đạt được mục đích chung là “cung” gặp
“cầu”, “cần” gặp “có” nhằm đưa lại trạng thái cân bằng cung - cầu Đối tượng chủ yếu của thị trường này là hàng hóa, dịch vụ sức lao động, đây là loại hàng hóa đặc biệt, nhưng đối với nhà cung ứng là trường Đại học thì đó là “Hàng hóa, dịch vụ đặc biệt chất lượng cao”
Nhà trường với tư cách là nơi cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nền kinh tế - xã hội Tất nhiên, đó phải là những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu sử dụng của xã hội Trong thị trường lao động ở nước ta hiện nay không thiếu những người có đầy đủ bằng cấp, chứng chỉ hành nghề đang khao khát được có việc làm Nhưng để tuyển dụng được số lao động đáp ứng đúng yêu cầu chuyên môn thì lại không nhiều, mà nếu có tuyển dụng được thì phần lớn trong số đó phải đào tạo lại mới có thể sử dụng được, đó là một nghịch lý Nghịch lý ấy xuất phát từ chính tư duy của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp trước đây còn tồn tại trong đời sống giáo dục và kinh tế nước nhà Khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường thì nghịch lý ấy ngày càng bộc lộ rõ nét, gây nên sự lãng phí rất lớn về công sức và tiền bạc của xã hội
Thực tế từ trước đến nay các cơ sở đào tạo (cả công lẫn tư) từ trung cấp đến đại học ít quan tâm đến thực trạng việc làm của SV sau khi tốt nghiệp SV của trường sau khi ra trường có tìm được việc làm hay không? Việc làm đó có phù hợp với chuyên môn được đào tạo ở trường? Chắc chắn mỗi cán bộ quản
lý của phần lớn các cơ sơ đào tạo không trả lời được Vì vậy, từ khi Bộ GD&ĐT yêu cầu thực hiện 3 công khai, trong đó có việc công khai về số lượng SV ra trường đạt tỷ lệ bao nhiêu phần trăm có việc làm cho mỗi chuyên ngành đào tạo thì các trường mới tiến hành điều tra, khảo sát Nhưng thực tế
Trang 14số liêụ mà các trường công bố thật bao nhiêu phần trăm thì thật khó trả lời Bởi lẽ, việc công bố ấy chỉ hướng đến mục tiêu là để đảm bảo được cấp có thẩm quyền cho phép duy trì hoặc tăng số lượng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm
Chính vì vậy, các Trường đại học phải quan tâm nhiều hơn đến “sản phẩm” làm ra của mình, phải chịu trách nhiệm đến cùng với sản phẩm đó Các trường phải chủ động thiết lập mối liên kết thường xuyên với các nhà tuyển dụng để cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội với chất lượng không ngừng được nâng cao Đấy cũng là cách quảng bá và khuyếch trương thương hiệu của nhà trường, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho SV tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn sau khi tốt nghiệp
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý nhà trường Đại học
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Theo Ngô Trung Việt thì từ quản lý (management) bắt nguồn từ chữ Latinh “manus” có nghĩa là bàn tay Theo nghĩa gốc thực hiện quản lý là “nắm vững trong tay”, “điều khiển vững tay” Điều đó cũng có nghĩa quản lý là một nghệ thuật khiến người khác phải làm việc
Tuy nhiên tuỳ theo các cách tiếp cận mà chúng ta có các quan điểm khác nhau về quản lý Thông thường khi đưa ra các khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại hình quản lý cụ thể:
- F.W.Taylor (Mỹ, 1856-1915) - người được đánh giá là cha đẻ của thuyết “Quản lý khoa học” định nghĩa: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó khiến họ hoàn thành công việc tốt nhất và rẻ nhất” [10, tr 23]
- H.Fayol (Pháp, 1841-1925) Ông coi quản lý là một công việc đặc thù, ông nói về nội hàm của khái niệm như sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch,
tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [10, tr 59] Ông còn chứng minh khoa học quản lý - “quản lý hành chính” không chỉ cần thiết cho các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức
Trang 15kể cả cơ quan và chính phủ, vì quản lý ở mỗi tổ chức đều có chung những đặc điểm trên
- M.T.Follet (Mỹ, 1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng tới những người lao động , tới đời sống của họ cả yếu tố kinh tế lẫn yếu
tố tinh thần Theo Bà “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác” [10, tr.26]
- Theo TS Nguyễn Quốc Chí - PGS Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) - trong một
tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr.25]
- Theo quan điểm của PGS.TS Đặng Quốc Bảo thì quản lý được định nghĩa, được hiểu một cách đơn giản trên cơ sở chiết tự các thành tố cấu thành khái niệm này Cụ thể:
Quản lý = Quản + Lý
Quản có nghĩa là giữ gìn, duy trì
Lý có nghĩa là đổi mới, chỉnh sửa
Quản lý có nghĩa là duy trì và đổi mới
Đặc biệt luôn có sự thống nhất biện chứng giữa quản và lý: trong quản (giữ) có lý (chỉnh sửa), trong lý có quản [1, tr.3]
Như vậy, theo các tác giả: quản lý là sự tác động có định hướng của người quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra Quản lý là một hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạp có ý nghĩa quyết định duy trì và phát triển của mọi tổ chức
1.2.1.2 Hệ thống chức năng quản lý
Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc duy trì và phát triển một tổ chức, quản lý có 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra
Trang 16- Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản
lý, gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai Chẳng những lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất của tất cả các nhà quản lý ở mọi cấp trong hệ thống mà các chức năng khác của quản lý cũng phải dựa trên đó
Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt tới các mục tiêu định trước Vì phương pháp này không tách rời khỏi môi trường nên việc lập kế hoạch phải xét tới bản chất của môi trường mà các yếu tố quyết định và hành động của việc lập kế hoạch được dự kiến
Lập kế hoạch là phải quyết định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm? Đòi hỏi người lãnh đạo của tổ chức phải xác định các chiến lược, đường lối và đưa ra các quyết định dựa trên sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng
- Tổ chức là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn
lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra Đó là sự liên kết giữa các cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề
ra trên cơ sở các nguyên tắc và quy tắc của hệ thống
Chức năng tổ chức còn là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của
hệ thống quản lý Cơ cấu tổ chức quản lý một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống, mặt khác tác động tích cực trở lại việc phát triển của hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lý
- Chỉ đạo có nguồn gốc từ 2 thuật ngữ: lãnh đạo và điều hành
Chỉ đạo vừa có ý nghĩa chỉ thị điều hành vừa là tác động ảnh hưởng đến hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng đúng các quyền lực của người quản lý Ngoài việc lập kế hoạch và tổ chức người quản
lý còn phải làm việc với cấp dưới, xem họ thực hiện các nhiệm vụ hàng ngày thế nào Chỉ đạo là quá trình tác động gây ảnh hưởng đến các thành viên trong
tổ chức để cùng hướng tới mục tiêu chung đề ra Các nhà quản lý phải là
Trang 17người có khả năng truyền đạt và thuyết phục các mục tiêu cho cấp dưới và thúc đẩy họ đạt được mục tiêu đó bằng các biện pháp khác nhau
- Kiểm tra là quá trình thiết lập và thực hiện cơ chế thích hợp để thu
thập và xử lý thông tin đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức Phần quan trọng của kiểm tra là đánh giá sự tiến bộ của tiến trình thực thi và điều chỉnh
hệ thống trong quá trình hoạt động để có giải pháp xử lý đồng thời tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục tiêu dự kiến
1.2.1.3 Biện pháp của quản lý
Quản lý là cách thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung Vì vậy nhiệm
vụ của quản lý là biến các mối quan hệ giữa những người cụ thể, giữa những nhóm người thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu chung Ở khía cạnh này quản lý là nghệ thuật Đó là bí quyết làm việc, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi gặp các tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức Tuy nhiên các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh nghiệm thực tế và vận dụng những tri thức khoa học liên ngành Các nhà quản
lý chỉ có thể thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của mình khi vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, kỹ năng quản
lý cần thiết, đó là khoa học Vì thế quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên thì biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành” [15, tr.67]
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều bịên pháp khác nhau Cùng một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp
Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý nhằm giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra
Trang 181.2.1.3 Quản lý trong nhà trường
Có thể khẳng định nhà trường ngày nay xét về phương diện tiến hoá lịch
sử đã bắt nguồn từ thời Cô-men-xki, khi ông đề xuất việc hình thành một hệ thống trường lớp phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý trẻ em Ông đã đề xuất
ra các lớp học, chương trình học cụ thể cho từng nhóm học sinh theo các lứa tuổi khác nhau Từ đó đến nay mô hình trường lớp đó đã tiếp tục phát triển ở các cấp học, bậc học, được quản lý bởi các nhà sư phạm, các nhà quản lý giáo dục chuyên nghiệp
Vậy nhà trường là gì? Chúng ta có thể định nghĩa một cách đầy đủ nhất
về Nhà trường: Nhà trường là một thiết chế xã hội đặc biệt có sứ mệnh hình
thành và phát triển nhân cách cho người học đáp ứng nhu cầu của xã hội về con người, về văn hoá, kinh tế, chính trị nhằm tạo nên sự thống nhất quốc gia
và sự thuần nhất trong xã hội
Với tư cách là một thiết chế xã hội, nhà trường bao gồm 4 thành tố:
- Thành tố vật chất: đó là cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng phục vụ cho các hoạt động dạy học, giáo dục và các hoạt động khác của nhà trường
- Thành tố con người: gồm 2 nhân tố cơ bản của quá trình dạy học: người dạy, người học và người phục vụ cho quá trình dạy học
- Thành tố tinh thần: là toàn bộ những tri thức, kỹ năng, thái độ mà xã hội đã tích luỹ được, được chọn lọc, tái tạo và phát triển trong nhà trường thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục
- Thành tố quá trình: quá trình cơ bản có tính đặc trưng trong nhà trường chính là quá trình sư phạm Tuy nhiên bên cạnh quá trình sư phạm, nhà trường còn diễn ra các quá trình khác là tiền đề nâng cao hiệu quả quá trình sư phạm
Các thành tố của nhà trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thành
tố vật chất là tiền đề để các thành tố khác tồn tại và phát triển Mặt khác có trường, có lớp, có các phương tiện mà không có người dạy, người học thì
Trang 19trường lớp không có ý nghĩa gì cả Do đó để nhà trường phát triển cần tác động lên cả 4 thành tố làm chúng cùng phát triển
Vậy quản lý nhà trường là gì?
Theo Nguyễn Ngọc Quang, Quản lý nhà trường là: “Tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, người học và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trính đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới.”
Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh.”
Như vậy, bản chất quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác cao hơn để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra Do đó quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội, nó là quá trình lao động sư phạm của người giáo viên, của quá trình dạy học và quá trình giáo dục Trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo vừa là đối tượng quản lý Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện
Do đó, quản lý giáo dục suy cho cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu Nhà trường là một thành tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục Muốn nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu thì phải tác động đến cả 4 thành tố Từ đó làm cho quá trình dạy học, quá trình giáo dục diễn ra nhẹ nhàng, hiệu quả để người học ngày càng tích luỹ
Trang 20được nhiều tri thức mới, những kinh nghiệm xã hội Đây là nhiệm vụ đặt ra cho mỗi nhà trường, mỗi nhà quản lý giáo dục trong các bậc học
Chỉ đạo là một chức năng quan trọng trong công tác quản lý nói chung
và quản lý nhà trường nói riêng Mục tiêu quản lý của nhà trường phải được xác định trên cơ sở nhiệm vụ của nhà trường và xuất phát từ tình hình thực tế của nhà trường Từ nhiệm vụ đó xác định mục tiêu quản lý cho từng giai đoạn phát triển của nhà trường
1.2.2 Công tác sinh viên trong trường đại học
CTSV là một hoạt động quan trọng của quá trình giáo dục, đào tạo trong các trường ĐH, CĐ và TCCN, nó cần được quản lý tốt để góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các chính sách của nhà trường XHCN mà tiêu điểm
là quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ cho đất nước
1.2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ
Công tác HSSV được xác định trong “Quy chế HSSV các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy” ban hành theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT là: “Công tác HSSV là một trong những công tác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.”
Với mục tiêu công tác HSSV nêu trên, nội dung của công tác HSSV cũng có sự điều chỉnh qua từng giai đoạn cho phù hợp với phương thức và bối cảnh của hoạt động đào tạo trong các trường ĐH, CĐ và TCCN
Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo, ban hành kèm theo quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27/7/1993 của bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã quy định những nội dung của công tác HSSV như sau:
Trang 21“Điều 3: Nội dung công tác HSSV của nhà trường”
1) Tổ chức tiếp nhận HSSV trúng tuyển vào học
2) Tổ chức quản lý việc học tập của HSSV theo đúng chương trình, kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành
3) Tổ chức và quản lý đời sống vật chất của HSSV: ăn, ở, sinh hoạt của HSSV nội trú trong ký túc xá
4) Tổ chức và quản lý đời sống tinh thần của HSSV: công tác chính trị
tư tưởng, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động khác của HSSV
5) Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của HSSV
6) Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương nơi trường đóng (phường, xã, quận, huyện, thị, tỉnh, thành phố tuỳ theo nội dung, quy mô của vấn đề) xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn nơi trường đóng; giải quyết kịp thời, đúng đắn các vụ việc, các vấn đề liên quan đến HSSV Hướng dẫn HSSV nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
7) Biểu dương khen thưởng những HSSV đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học, trong các hoạt động xã hội, xử lý kỷ luật đối với HSSV vi phạm pháp luật và nội quy, quy chế Chỉ đạo thực hiện tốt công tác thanh tra
Nội dung công tác HSSV trong nhà trường còn được cụ thể hoá tại điều
8 của quy chế này như sau:
“Phòng (hoặc bộ phận tuỳ theo đặc điểm tổ chức và nhiệm vụ chức năng
do hiệu trưởng quy định) công tác HSSV là cơ quan chức năng giúp hiệu trưởng trong công tác HSSV với các nhiệm vụ sau:
1) Tổ chức tiếp nhận HSSV trúng tuyển vào trường Sắp xếp bố trí HSSV vào các lớp theo đúng ngành nghề được tuyển chọn, chỉ định ban đại
Trang 22diện lớp HSSV (lớp trưởng, lớp phó) Xử lý những trường hợp HSSV không
đủ điều kiện và các thủ tục, hồ sơ vào trường Tiến hành làm thẻ HSSV, thẻ ký túc xá, thẻ thư viện cho HSSV
2) Tổ chức khám sức khoẻ cho HSSV mới vào trường, khám sức khoẻ định kỳ cho HSSV trong thời gian học tập theo quy định tại thông tư liên Bộ Y
tế - Đại học THCN và DN (nay là Bộ GD&ĐT), xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập Triển khai công tác bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn thân thể cho HSSV, phối hợp với các cơ quan bảo hiểm, các phòng ban có liên quan giải quyết các trường hợp HSSV bị ốm đau, tai nạn, rủi ro
3) Phối hợp với các phòng ban, tổ chức "Tuần sinh hoạt công dân HSSV" vào đầu mỗi năm học cho HSSV với nội dung sau: phổ biến tình hình trong nước
và quốc tế, các chính sách và chế độ của nhà nước đối với HSSV (học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, nghĩa vụ quân sự trong thời bình, về an ninh, trật tự trị an…), các quy chế, nội quy, các thông tư, chỉ thị liên quan đến HSSV, các kiến thức pháp luật thường thức, các vấn đề thời đại: môi trường, dân số, sida
4) Phối hợp với các khoa tiến hành phân loại xếp hạng HSSV theo từng học kỳ, năm học, giai đoạn và kết thúc khoá học theo quy chế hiện hành
làm căn cứ để thực hiện chế độ học bổng, trợ cấp xã hội và học phí cho
HSSV Kiến nghị biểu duơng khen thưởng tập thể và cá nhân HSSV đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện Kiến nghị các hình thức kỷ luật đối với những HSSV vi phạm quy chế, nội quy Giải quyết các thủ tục hành chính, chuyển HSSV bị thi hành kỷ luật ở mức đình chỉ học tập, buộc thôi học về địa phương
5) Căn cứ chế độ học bổng, học phí và trợ cấp xã hội hiện hành, trên cơ
sở kết quả điểm tuyển sinh hoặc kết quả phân loại, xếp hạng, căn cứ đơn xin cấp học bổng, hoặc trợ cấp xã hội, đơn xin miễn giảm học phí, tiến hành tổ chức xét cấp học bổng trợ cấp xã hội và mức học phí cho HSSV, kể cả học
Trang 23bổng do các tổ chức và cá nhân tài trợ cho trường Đôn đốc việc thu học phí
và kiến nghị xử lý những HSSV không đóng học phí đầy đủ theo qui định
6) Phối hợp với phòng đào tạo tổ chức kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện
kế hoạch, chương trình học tập, thực tập, thi và kiểm tra học phần, môn học, học
kỳ, lên lớp, thi chuyển giai đoạn và thi tốt nghiệp cho các lớp, khoá học
7) Phối hợp với phòng đào tạo và các khoa, phòng, ban liên quan tổ chức cho HSSV tham gia thi HSSV giỏi, nghiên cứu khoa học, xét cấp học bổng khuyển khích tài năng cho những HSSV xuất sắc trong học tập và nghiên cứu khoa học
8) Trực tiếp hoặc phối hợp với các bộ phận chức năng được hiệu trưởng
uỷ quyền tiến hành việc thu nhận đơn xin ở nội trú của HSSV, xem xét và bố trí chỗ ở cho HSSV trong ký túc xá, kiểm tra HSSV trong việc chấp hành quy chế ký túc xá, kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm
9) Phối hợp với đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hội sinh viên và các phòng ban
tổ chức và tạo điều kiện cho HSSV tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, các câu lạc bộ sở thích và các hoạt động giải trí lành mạnh khác Định kỳ tổ chức các cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo nhà trường với HSSV, làm đầu mối giải quyết và trả lời khiếu nại của HSSV
10) Cùng với phòng bảo vệ và ban quản lý ký túc xá, chủ động phối hợp với chính quyền ở quận (huyện), phường (xã) nơi trường đóng trong việc giữ gìn trật tự an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là trong quan hệ giữa HSSV của trường với trường khác và với nhân dân địa phương Phối hợp xử
lý nghiêm minh và kịp thời các vụ việc vi phạm qui tắc bảo vệ trật tự trị an
11) Phối hợp với các phòng, ban có liên quan giải quyết các thủ tục hành chính cho HSSV chuyển trường, chuyển ngành học; tổ chức cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp và các hồ sơ giấy tờ khác cho HSSV tốt nghiệp và kết thúc giai đoạn Thực hiện việc bồi hoàn kinh phí đào tạo đối với HSSV tốt nghiệp không chấp hành phân công công tác và HSSV đang học xin đi định cư ở nước ngoài
Trang 2412) Tiến hành giới thiệu và tìm việc cho HSSV sau khi tốt nghiệp và cho những HSSV nghèo có khó khăn ngay trong quá trình học tập
13) Tiếp nhận và quản lý lưu học sinh nước ngoài đến học tập tại trường theo qui chế tiếp nhận và quản lý lưu học sinh nước ngoài đến học tập tại Việt Nam.”
Tới quy chế 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/08/2007 trước bối cảnh chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ, nội dung của công tác HSSV đã có sự điều chỉnh so với trước và được nêu tại chương 3, từ điều 7 đến điều 12 như sau:
“Điều 7 Công tác tổ chức hành chính
1) Tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của Bộ GD&ĐT và nhà trường, sắp xếp bố trí vào các lớp HSSV; chỉ định ban cán sự lớp HSSV lâm thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khoá học; làm thẻ cho HSSV
2) Tổ chức tiếp nhận HSSV vào ở nội trú
3) Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ của HSSV
4) Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho HSSV
5) Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho HSSV
Điều 8 Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HSSV
1) Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của HSSV; phân loại, xếp loại HSSV cuối mỗi học kỳ hoặc năm học, khoá học; tổ chức thi đua khen thưởng cho tập thể và cá nhân HSSV đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện; xử lý kỷ luật đối với HSSV vi phạm quy chế, nội quy
2) Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân - HSSV” vào đầu khoá, đầu năm
và cuối khoá học
3) Tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thi học sinh giỏi, Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyến khích học tập khác
4) Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ
Trang 25và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; tổ chức đối thoại định kỳ giữa hiệu trưởng nhà trường với các HSSV
5) Theo dõi công tác phát triển Đảng trong HSSV; tạo điều kiện thuận lợi cho HSSV tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong trường; phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hội sinh viên và các tổ chức chính trị - xã hội khác
có liên quan trong các hoạt động phong trào của HSSV, tạo điều kiện cho HSSV có môi trường rèn luyện, phấn đấu
6) Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho HSSV
Điều 9 Công tác y tế, thể thao
1) Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học; tổ chức khám sức khoẻ cho HSSV khi vào nhập học; chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khám sức khoẻ định kỳ cho HSSV trong thời gian học tập theo quy định; xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập
2) Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho HSSV luyện tập thể dục, thể thao; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động thể dục thể thao
3) Tổ chức nhà ăn tập thể cho HSSV bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
Điều 10 Thực hiện các chế độ chính sách đối với HSSV
1) Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến HSSV
2) Tạo điều kiện giúp đỡ HSSV tàn tật, khuyết tật, HSSV diện chính sách, HSSV có hoàn cảnh khó khăn
Điều 11 Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội
1) Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn nơi trường đóng, khu vực có HSSV ngoại trú xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn cho HSSV; giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến HSSV
Trang 262) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến HSSV; hướng dẫn HSSV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
3) Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho HSSV
Điều 12 Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú
Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú theo quy định của Bộ GD&ĐT
Kết cấu trình bày nội dung về công tác HSSV của 2 quy chế tuy có sự khác nhau về cấu trúc, cách trình bày, song về cơ bản các nội dung nêu trong quy chế 42/2007/QĐ-BGDĐT là sự kế thừa có chỉnh lý, cụ thể hoá từ quy chế 1584/GD-ĐT và được bổ sung thêm các hoạt động tư vấn và trợ giúp SV về các mặt như: học tập, nghề nghiệp, việc làm, pháp lý, tâm lý, xã hội cho SV Đây là một nội dung mới trong công tác HSSV ở nước ta, nhằm làm cho công tác HSSV phù hợp và hỗ trợ tốt hơn cho việc thực hiện phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
Tại quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, ban hành kèm theo quyết định số: 65/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đưa ra quy định về hoạt động CTSV tại các trường đại học cần đạt được tại điều 9, tiêu chuẩn 6 về người học là:
1) Người học được hướng dẫn đầy đủ về chương trình giáo dục, kiểm tra đánh giá và các quy định trong quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT
2) Người học được đảm bảo chế độ chính sách xã hội, được khám sức khoẻ theo quy định y tế học đường; được tạo điều kiện hoạt động, tập luyện văn nghệ, thể dục thể thao và được đảm bảo an toàn trong khuôn viên của nhà trường
3) Công tác rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học được thực hiện có hiệu quả
4) Công tác Đảng, Đoàn thể có tác dụng tốt trong việc rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học
Trang 275) Có các biện pháp cụ thể, có tác dụng tích cực để hỗ trợ việc học tập
và sinh hoạt của người học
6) Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, tinh thần trách nhiệm, tôn trọng luật pháp, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và các nội quy của nhà trường cho người học
7) Có các hoạt động hỗ trợ hiệu quả nhằm tăng tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo
8) Người học có khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp Trong năm đầu sau khi tốt nghiệp, trên 50% người tốt nghiệp tìm được việc làm đúng ngành được đào tạo
9) Người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên khi kết thúc môn học, được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo của trường đại học trước khi tốt nghiệp
1.2.2.2 Hệ thống tổ chức và hoạt động công tác HSSV ở nước ta
Ở nước ta việc quản lý hoạt động công tác HSSV trước đây thuộc Vụ Công tác chính trị, đến năm 2003 theo nghị định 85/2003/NĐ-CP ngày 18/07/2003 của Chính phủ Vụ Công tác Chính trị đổi thành Vụ Công tác HSSV
Tại các trường ĐH, CĐ, trung cấp (trước đây là trung học chuyên nghiệp) và đào tạo nghề hình thành Phòng công tác HSSV (một số trường là Phòng Chính trị và công tác HSSV), ở các Đại học quốc gia và Đại học vùng
có Ban công tác HSSV Thời gian gần đây có một số trường đã sát nhập bộ phận công tác HSSV vào với Phòng đào tạo
Để thống nhất quản lý hoạt động công tác HSSV trong cả nước Bộ GD&ĐT đã ban hành các quy chế hướng dẫn hoạt động trong công tác HSSV Trải qua quá trình hoạt động, thích ứng với từng giai đoạn phát triển của các trường đào tạo, các quy chế cũng được sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới
Trang 28- Tháng 7/1993 Bộ chính thức ban hành “Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo” kèm theo quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định, hướng dẫn các hoạt động về công tác HSSV Để phù hợp với những chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ trong các trường, năm 2007 bộ trưởng Bộ GD&ĐT
đã ban hành “Quy chế HSSV các trường ĐH, CĐ và TCCN hệ chính quy” kèm theo QĐ số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 Quy chế công tác HSSV nội trú trong các trường ĐH, CĐ, THCN và dạy nghề ban hành kèm theo quyết định số 2137/GD-ĐT của Bộ GD&ĐT ngày 28/6/1997 và quyết định số 41/2002-QĐBGD&ĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ GD&ĐT
về việc bổ sung, sửa đổi quy chế công tác HSSV nội trú trong các trường ĐH,
CĐ, THCN và dạy nghề ban hành kèm theo quyết định số 2137/GD-ĐT của
Bộ GD&ĐT ngày 28/6/1997
- Quy chế công tác HSSV ngoại trú trong các trường ĐH, CĐ và THCN ban hành kèm theo quyết định số 43/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 22/10/2002 của Bộ GD &ĐT
- “Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV các trường ĐH, CĐ và THCN hệ chính quy” ban hành kèm theo quyết định số 42/2002QĐ-BGD&ĐT ngày 21/10/2002 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Tháng 10/2007 Bộ đã ban hành quy chế “Đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV các cơ sở giáo dục đại học và trường TCCN hệ chính quy”, kèm theo quyết định số 60/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 16/10/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tạo thay cho quy chế 42/2002QĐ-BGD&ĐT
1.2.3 Quan niệm về việc làm phù hợp
Thế nào là nghề nghiệp phù hợp?
Trong những năm gần đây nhờ những tiến bộ về khoa học kỹ thuật và điều kiện kinh tế xã hội nên GDĐH được đầu tư, phát triển mạnh Số lượng
SV, số lượng các trường đại học liên tục tăng Tuy nhiên vấn đề đặt ra là: một
tỷ lệ không nhỏ số SV ra trường không kiếm được việc làm phù hợp Theo
Trang 29nghiên cứu của các nhà xã hội học thì có nhiều lý do dẫn đến thực trạng này Song xét đến cùng nguyên nhân cơ bản là HSSV không được định hướng tốt
về nghề nghiệp ngay tại các trường THPT
Để làm được điều này, trước nhất cần phải xác định được thế nào là nghề nghiệp phù hợp
Theo quan điểm của tác giả luận văn thì nghề nghiệp phù hợp được xác định trên cơ sở những tiêu chí sau:
a) Phù hợp với lĩnh vực bạn thông minh
Theo Lý thuyết “đa thông minh” - Theory of Multiple Intelligences (MI) của Giáo sư Tâm lý học Howard Gardner của đại học Harvard thì mỗi
cá nhân đều đạt đến một mức độ nào đó ở từng “phạm trù thông minh” khác nhau Mức độ này thấp hay cao sẽ thể hiện hạn chế hay ưu điểm của cá nhân trong lĩnh vực này Vì vậy câu hỏi “Bạn thông minh đến mức nào?” sẽ không phù hợp Câu hỏi đúng nên là “Bạn có trí thông minh nổi bật trong lĩnh vực nào?”
Theo Gardner, mỗi con người là tổng thể của 7 dạng trí thông minh khác nhau:
1 Thông minh Từ vựng - Ngôn ngữ (Verbal - Linguistic): là khả năng lĩnh hội tinh tế về ngôn ngữ và câu chữ Các nhà văn, nhà thơ, các diễn giả là những người nổi trội về khả năng này
2 Thông minh Suy luận - Toán học (Logical - Mathematical): mô tả khả năng toán học, khả năng thực hiện các nghiên cứu khoa học và giải quyết các vấn đề liên quan đến suy luận Các nhà khoa học và nhà toán học có khả năng nổi trội trong lĩnh vực này
3 Thông minh Âm nhạc (Musical): là khả năng cảm nhận và sáng tác
âm nhạc Các nhạc sĩ và nhà soạn nhạc có trí thông minh thiên về lĩnh vực này
Trang 304 Thông minh Thị giác - Không gian (Visual - Spatial): là khả năng cảm nhận không gian và thế giới hình ảnh Nếu bạn có khả năng này, bạn hãy nghĩ đến việc trở thành họa sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế,…
5 Thông minh Cơ thể (Bodily - Kinesthetic): là khả năng vận dụng cơ thể một cách khéo léo như các cầu thủ bóng rổ, các vũ công, các vận động viên thể dục thể hình
6 Thông minh Tương tác - Giao tiếp (Interpersonal): là khả năng hiểu được mong muốn, tâm tư của người khác Các nhà chính trị, nhà lãnh đạo, giáo viên và các chuyên gia trị liệu có khả năng nổi trội về trí thông minh này
7 Thông minh Nội tâm (Intrapersonal): là khả năng hiểu được cảm xúc
và tình cảm của người khác Các triết gia là người có khả năng nổi bật này
Mỗi cá nhân là tổng thể của 7 dạng trí thông minh khác nhau Bethoven
là nhạc sỹ nổi tiếng với trí thông minh âm nhạc tuyệt vời nhưng khả năng toán học thì rất kém Kiến trúc sư Daniel Libeskind, người phụ trách xây dựng lại Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, lại là người có trí thông minh Thị giác - Không gian, trong khi tiểu thuyết gia Stephen King lại nổi trội về trí thông minh Từ vựng - Ngôn ngữ
Biết được bản thân ta có trí thông minh nổi trội trong lĩnh vực nào để làm công việc phù hợp sẽ giúp bạn tiến nhanh trên con đường sự nghiệp
b) Phù hợp với chuyên ngành bạn đƣợc đào tạo
Tiêu chí không kém phần quan trọng trong lựa chọn nghề nghiệp là nghề nghiệp bạn lựa chọn phải phù hợp với chuyên ngành bạn được đào tạo trong các trường ĐH, CĐ
Chúng ta đều biết rằng mục tiêu của GDĐH, giáo dục nghề nghiệp là đào tạo ra những công dân, những người lao động (trí óc hoặc chân tay) có sự
am hiểu cao, kĩ năng tốt trong một lĩnh vực, một ngành nghề nào đó của xã hội Ví dụ: trường sư phạm, có nhiệm vụ là đào tạo ra những giáo viên có khả năng tốt trong thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở một cấp học, bậc học nhất định Cũng như vậy, Khoa kế toán của một trường có nhiệm vụ đào
Trang 31tạo ra những người có khả năng làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính,… Do đó, trong quá trình học tập tại trường đại học, mỗi SV đều đào tạo chuyên sâu theo chuyên ngành họ lựa chọn và như vậy khi ra trường họ cần được làm việc trong lĩnh vực mình được đào tạo chuyên sâu Có như vậy
họ mới có điều kiện phát triển hết năng lực của mình
c) Phù hợp với tình trạng sức khỏe
Có một câu nói rất nổi tiếng: "Khi có sức khỏe, ta có trăm điều ước Khi không có sức khỏe, điều ước duy nhất ta có đó là sức khỏe" Chúng ta phải đảm bảo sức khỏe để có thể duy trì cuộc sống và cống hiến lâu dài Do đó, nghề nghiệp phù hợp không thể không quan tâm đến vấn đề tình trạng sức khỏe Ví dụ: bạn có sức khỏe yếu không nên lựa chọn những nghề nghiêp phải làm thêm nhiều giờ, phải đi công tác xa hay những nghề nghiêp có áp lực nặng, thường xuyên có công việc đột xuất cần giải quyết,
d) Phù hợp với hoàn cảnh gia đình
Yếu tố gia đình cũng cần được quan tâm khi bạn lựa chọn nghề nghiệp, bởi xét cho cùng thì dù bạn có làm gì đi nữa thì mục đích cuối cùng cũng là vì hạnh phúc gia đình của bạn Do đó, nếu bố mẹ hay vợ con bạn thường xuyên đau yếu, không tự khắc phục được những khó khăn thường xuyên xảy ra trong cuộc sống thường ngày, bạn không nên lựa chọn một công việc có địa điểm làm việc quá xa nhà hay những công việc thường xuyên phải đi công tác xa mặc dù công việc đó phù hợp với sở thích, sở trường của bạn hơn một công việc ổn định gần nhà Bởi ngay khi quyết tâm lựa chọn công việc đó bạn đã vấp phải nhiều vấn đề cần giải quyết từ người nhà, từ chính nhận thức, tình cảm của bạn Hơn nữa, đi công tác xa trong tâm trạng phải lo lắng cho người thân thì bạn không thể tập trung tốt trong công việc được và tất yếu là hiệu quả công việc không được cao như mong muốn
e) Phù hợp với điều kiện kinh tế
Yếu tố kinh tế có thể không quan trọng như 4 yếu tố trên trong lựa chọn công việc nhưng bạn không thể không quan tâm đến nó, bởi trong thực tế có
Trang 32nhiều công việc thú vị, đòi hỏi trí tuệ, tinh thần trách nhiệm cao nhưng thu nhập lại không cao nếu không nói là thấp Trong khi đó, với trí tuệ, tinh thần trách nhiệm ấy, bạn có thể kiếm được một công việc có thu nhập rất cao Do
đó, nếu bạn là người có điều kiện kinh tế không tốt thì cần phải tính toán để cân bằng giữa sở thích và nhu cầu của cuộc sống vật chất hằng ngày để quyết định làm việc trong một viện nghiên cứu hay làm cho một doanh nghiệp có tiềm năng phát triển mạnh
Trong thực tế, ít có nghề nghiệp, công việc hoàn toàn phù hợp với một cá nhân ở tất cả các tiêu chí trên Do đó, mỗi cá nhân khi lựa chọn nghề nghiệp đều phải xem xét đến mức độ ưu tiên cho các tiêu chí để chọn cho mình một nghề nghiệp tương đối phù hợp, hạn chế ít nhất những tác động không có lợi từ phía khách quan để có thể chuyên tâm trong công việc Có như vậy bạn mới làm việc hiệu quả, có nhiều thành công, thăng tiến trong
sự nghiệp
1.3 Các đặc điểm tâm lý - xã hội của sinh viên
Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người,
mà theo Mác đó là "tổng hoà của các mối quan hệ xã hội" Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng của tuổi trẻ, đó là: tuổi đời còn trẻ (thường từ 18 đến 25 tuổi) nên dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về mặt nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức và đang được đào tạo chuyên môn, thích thể hiện mình Chính vì vậy SV dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi khám phá và sáng tạo Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị - xã hội, đôi khi rơi vào tình trạng cực đoan nếu không được định hướng kịp thời
Một đặc điểm đặc biệt chú ý đang xuất hiện trong giới trẻ nói chung và
SV nói riêng liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt phát triển ở những người có tri thức như SV Từ đó hình thành một phương pháp tư duy
Trang 33của thời đại công nghệ thông tin: ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay
vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo
Về môi trường sống, SV học tại các trường ĐH và CĐ tập trung chủ yếu
ở các trung tâm đô thị, các thành phố lớn, sinh hoạt trong một cộng đồng gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi Đối với SV nước ta, có một thực tế là đang diễn ra quá trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến sự khác biệt giàu nghèo khá lớn trong SV;
sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào
Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong họ những đặc điểm tương đồng:
Tính thực tế: thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến
lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ của SV rất rõ
Tính năng động: nhiều SV vừa đi học vừa đi làm, hình thành tư duy
kinh tế trong thế hệ mới ngay khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học, thể hiện sự tích cực chủ động (thích tham gia các hoạt động xã hội, các phong trào tình nguyện) Nhiều SV cùng một lúc học hai trường đại học
Tính cụ thể của lý tưởng: đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống
gắn liền với sự định hướng cụ thể trong SV Một câu hỏi vẫn thường được đặt
ra là: SV hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không? Đó là những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân
Trang 34Tính liên kết (nhóm): SV luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ,
đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong SV trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng
Tính cá nhân: trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và
việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là SV Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân, dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự hy sinh và quan tâm đến người khác thấp đi, nếu có thì dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với xã hội ở một bộ phận SV
Sự phân tách các đặc điểm tâm lý xã hội trên của SV chỉ có tính chất tương đối, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực Vai trò của SV trong đời sống xã hội, vai trò của SV trong bức tranh xã hội ngày càng được ghi nhận đậm nét SV Việt Nam là tương lai của đất nước, không ai hết mà chính họ sẽ là những người đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc CNH, HĐH đất nước Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ, của sự phát triển KHKT nên rất cần có những con người trẻ tuổi năng động, có sức khoẻ, có trình độ và năng lực sáng tạo cao, có khả năng tiếp nhận cái mới nhanh và biết thay đổi linh hoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, đại diện cho một thế hệ tiên tiến mới, thế hệ công dân toàn cầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong "Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán 1946” đã viết: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội" Và Người căn dặn:
“Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là
Trang 35thanh niên" Trong hai cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam của hai nguyên thủ quốc gia từ hai cường quốc lớn: Tổng thống Mỹ Bill Clinton (17-11-2000)
và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch Dân (28-2-2002), cả hai đều chọn ĐHQGHN để đến thăm và đọc bài phát biểu trước SV Lý do, như ông Bill Clinton nói: SV là tương lai và chúng ta cần nhìn về tương lai Còn Chủ tịch Giang Trạch Dân trong bài phát biểu tại cuộc gặp với SV cũng có ý kiến: "Tương lai tươi đẹp cần thanh niên tạo ra Tương lai thuộc về thanh niên" Thủ tướng Hàn Quốc Lee Han Dong trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cũng đến thăm SV ĐHQGHN (10- 4-2002) Ông nói: "Nhìn hình ảnh các bạn SV tươi trẻ tràn đầy sức sống, tôi lại nhớ thời SV của tôi cách đây 40 năm, ngay khi chiến tranh vừa kết thúc Lúc
đó chúng tôi học với mục đích rõ ràng: Tái thiết đất nước Nếu cho rằng thế hệ trước của các bạn đã trả bằng máu, mồ hôi và nước mắt vì triết lý "Không có
gì quý hơn độc lập tự do” thì nay các bạn phải nỗ lực nhằm mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người Với SV, những ngày ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quí giá trong quá trình tích lũy kiến thức, kinh nghiệm sống, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời Nếu điểm xuất phát tốt, họ sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược lại con đường đi lên sẽ gặp vô vàn trắc trở, khó khăn
1.4 Các yêu cầu đào tạo đối với giáo dục đại học hiện nay theo định hướng tạo cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp cho sinh viên
1.4.1 Trường đại học gắn với công nghiệp - doanh nghiệp - dịch vụ
Nguồn lực là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển của mọi nền kinh tế Đại hội IX của Đảng khẳng định: " nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững",
" con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kì CNH, HĐH " Đại hội X của Đảng cũng nhấn mạnh: "Phát
Trang 36triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức" Như vậy, Đảng ta luôn khẳng định nguồn lực tri thức, yếu tố con người tạo nên mọi thành công, vào WTO - hội nhập kinh tế thế giới càng sâu thì vấn đề phát triển nguồn lực KH&CN càng trở nên bức thiết Đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN cho các
doanh nghiệp
Mô hình gắn kết giữa trường đại học với giới công nghiệp - doanh nghiệp - dịch vụ đang từng bước được hình thành Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân mà sự gắn kết này chưa mang lại hiệu quả cao Xu hướng phát triển hiện nay của các trường đại học trên thế giới là rời khỏi “tháp ngà”, thực sự dấn thân vào xã hội Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học năm 1998 do UNESCO chủ trì đã chỉ rõ: “Sứ mệnh của GDĐH là góp phần vào yêu cầu phát triển bền vững và phát triển xã hội nói chung”
Các trường đại học ở Việt Nam cũng đang nỗ lực “dấn thân” Tuy nhiên, các hợp đồng nghiên cứu và dịch vụ đến nay mới chỉ chiếm 1,2% nguồn thu của các trường đại học Nó chưa thực sự tạo nên một bước ngoặt rõ nét trong đời sống xã hội, trong sản xuất cũng như tác động trở lại đến chất lượng đào tạo trong nhà trường GS TS Hoàng Bá Chư, từng khẳng định:
“Chúng tôi cho rằng việc đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất, việc hợp tác giữa trường đại học với giới công nghiệp đã, đang và sẽ là một trong những yếu tố quyết định để phát triển”
GS.TS Mai Trọng Nhuâ ̣n - Giám đốc ĐHQGHN cũng nhấn ma ̣nh : ĐHQGHN xác định hợp tác trường - viện - doanh nghiệp là một đặc trưng của
mô hình đại học nghiên cứu Đó vừa là phương thức vừa là mục tiêu nhằm tới
sự phát triển của từng đối tác và cả sự phát triển chung của sự nghiệp khoa học
- công nghệ và GDĐH của nước nhà Mô hình hợp tác này thu hút và tạo điều kiện để các nhà khoa học và doanh nghiệp ngoài ĐHQGHN tham gia đào tạo, tạo điều kiện cho SV tiến hành nghiên cứu, thực hành, thực tập gắn với thực
Trang 37tiễn và hội nhập Nhâ ̣n rõ vai trò quan tro ̣ng của liên kết trường - viê ̣n - doanh nghiê ̣p, ĐHQGHN đã ký kết hợp tác với nhiều Bô ̣ , ngành, các công ty và các
tâ ̣p đoàn lớn : Bộ Tài nguyên - Môi trường, Viện KH&CN Việt Nam, Trung tâm Khoa học Công nghệ Quân sự - Bộ Quốc phòng, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn VINASHIN, Hội doanh nghiệp Việt Nam, trong đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trong thời gian qua , các đơn vị đào tạo của ĐHQGHN đã thu hút hơn
300 cán bộ khoa học có trình độ cao của các viện và doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn luận văn, luận án cho các SV, học viên cao học và nghiên cứu sinh Là người gắn bó lâu năm với ĐHQGHN , GS.VS Nguyễn Văn Hiê ̣u cho b iết: Ngay từ đầu , ĐHQGHN đã ý thức được tầm q uan tro ̣ng của việc phối hợp chặt chẽ giữa đào t ạo với nghiên cứu bằng việc thành lập các V iê ̣n nghiên cứu trong ĐHQGHN , và đã đi tiên phong trong liên kết Trường - Viê ̣n - Doanh nghiê ̣p
Khẳng đi ̣nh vai trò thiế t yếu của viê ̣c l iên kết “ 3 nhà” trong việc triển khai và phát triển lĩnh vực công nghiê ̣p công nghê ̣ cao ở Viê ̣t Nam , TS Nguyễn Văn La ̣ng - Thứ trưởng Bô ̣ Khoa học và Công nghệ cho rằng, để Khu Công nghê ̣ cao Hòa La ̣c trở thành trung tâm khoa ho ̣c công nghê ̣ cao hàng đầu Viê ̣t Nam và khu vực , thì việc liên kết v ới các trường đại học là “ điều kiê ̣n cần” trong viê ̣c cung cấp nguồn nhân lực trình đô ̣ cao , chất lượng cao Khu Công nghệ cao Hòa Lạc coi tro ̣ng hơ ̣p tác với ĐHQGHN vì ĐHQ GHN là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
1.4.2 Trường đại học gắn với nghiên cứu cơ bản
Bắt đầu từ năm 1956, ở Việt Nam các trường đại học ở Miền Bắc được
tổ chức theo mô hình Liên Xô (cũ), gồm 2 loại trường đại học chính: mô hình các đại học tổng hợp bao gồm các ngành khoa học cơ bản và mô hình các trường đại học chuyên ngành kỹ thuật Các mô hình này dựa trên cơ sở đơn
Trang 38ngành tương đương với các Faculty, College hay School của các đại học (University) của hệ thống phương tây hay tập hợp một số ngành Một đặc điểm khác của mô hình Liên Xô (cũ) cũng được áp dụng vào nước ta đó là việc xây dựng một hệ thống các Viện nghiên cứu lớn nằm bên ngoài các trường đại học Chính mô hình này đã hình thành quan điểm: các trường đại học chỉ có nhiệm vụ đào tạo còn nhiệm vụ nghiên cứu là của các viện nghiên cứu Điều này đã cản trở việc phối hợp, liên kết giữa đào tạo và nghiên cứu
Để khắc phục tình trạng trên, Đảng và Nhà nước đã khuyến khích các trường đại học thành lập các đơn vị nghiên cứu nhằm phát triển công tác nghiên cứu với đào tạo Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên việc gắn kết giữa hoạt động đào tạo trong các trường đại học và viện nghiên cứu còn rất nhiều hạn chế
“Trước đây chúng ta chủ trương các trường đại học có nhiệm vụ đào tạo
là chủ yếu còn nhiệm vụ nghiên cứu là thuộc hệ thống các viện nghiên cứu, tập trung lớn nhất là Trung tâm Khoa học Tự nhiên & Công nghệ Quốc gia và Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) Chính quan niệm này đã khiến hệ thống các viện nghiên cứu và các trường đại học tách rời nhau Trong nhiều trường đại học gần như không có hệ thống nghiên cứu chính thống Hậu quả là làm lãng phí nguồn chất xám, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trong các trường đại học” Đây là đánh giá của GS Hoàng Tuỵ trên diễn đàn “Hướng về giáo dục”
Ngày nay mô hình đại học nghiên cứu không còn xa lạ với các “cường quốc” đại học trên thế giới Ngay cả các quốc gia Châu Á như Nhật Bản với Jaist - Viện Công nghệ tiên tiến Nhật Bản và Hàn Quốc với Kaist - Viện Công nghệ tiên tiến Hàn Quốc đã coi việc phát triển đại học nghiên cứu là con đường ngắn nhất giúp họ củng cố tiềm lực khoa học để bứt phá trong nền khoa học thế giới Nhưng ở Việt Nam mới chỉ có ĐHQGHN và ĐHQG TP.HCM đi tiên phong gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học cơ bản
Trang 39Những nước xung quanh chúng ta như: Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore,…đã khẳng định được một nền giáo dục đại học và hệ thống các viện nghiên cứu tiên tiến vượt chúng ta khá xa vì họ đã học tập được kinh nghiệm của các nước có nền khoa học phát triển trên thế giới Điển hình như
Mỹ là nước có nền giáo dục đại học và hệ thống cơ quan nghiên cứu tiên tiến, thành công nhất trên thế giới hiện nay Mô hình tổ chức các trường đại học lớn
ở Mỹ là mô hình tổng hợp đa ngành, bao gồm các viện, các trung tâm thực hành và sản xuất, các công ty kinh doanh Đó là môi trường vừa nảy sinh, nuôi dưỡng các ý tưởng phát minh khoa học, là nơi ứng dụng đầu tiên những phát minh khoa học vào sản xuất, tạo ra của cải phục vụ xã hội và là nguồn cung cấp những tri thức mới cho giảng dạy
Đào tạo đại học và sau đại học mà không gắn với nghiên cứu thì sẽ đi theo đường mòn, không thể có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội Chính vì vậy ở các nước phát triển hệ thống đào tạo đại học và sau đại học chính là một phần của hệ thống các tổ chức nghiên cứu khoa học Chẳng hạn đại học Califonia mỗi năm loại bỏ khỏi chương trình đào tạo khoảng 5000 môn học và giáo trình, tất nhiên họ phải có số lượng tương đương để thay thế
Để làm được điều này họ phải sử dụng rất nhiều kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau: khoa học cơ bản, thị trường lao động, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước, Bằng cách đó SV khi ra trường sẽ không phải học thêm bất cứ thứ gì nhưng vẫn thích nghi được với những đòi hỏi đa dạng của thị trường lao động Trong khi
đó chương trình đào tạo đại học ở nước ta chậm được đổi mới, các môn học thường quá cũ không đáp ứng được những đòi hỏi thực tế của xã hội Đây cũng là hệ quả của việc đào tạo và nghiên cứu ở các trường đại học không gắn kết với nhau
Do đó xây dựng đại học theo mô hình nghiên cứu là giải pháp chiến lược để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở nước ta hiện nay
Trang 40Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN là Trường đại học có sứ mạng đào tạo nhân lực trình độ cao trong các ngành khoa học cơ bản, đặc trưng này một mặt
là thế mạnh của Nhà trường nhưng mặt khác, trước nhu cầu xã hội, đặc điểm nhân lực đáp ứng nền kinh tế thị trường thì SV tốt nghiệp ở các trường khoa học cơ bản không dễ tìm được công việc phù hợp đúng chuyên môn đào tạo Chính vì vậy, vấn đề đổi mới đào tạo, đổi mới công tác quản lý SV ở Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN là yêu cầu cấp thiết
1.5 Tiểu kết chương 1
Quản lý SV nhằm giúp SV có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp là mục tiêu mà các trường đại học đang hướng tới SV với vai trò là sản phẩm của các trường đại học, sản phẩm đó có được xã hội chấp nhận hay không, chấp nhận ở mức độ nào? Đó không chỉ là câu hỏi đối với riêng Trường ĐHKHTN mà còn với các trường đại học khác trong cả nước
Chính vì vậy, trong chương 1, tác giả luận văn đã phân tích để làm sáng
tỏ các vấn đề:
- Quản lý nhà trường đại học, đặc trưng của quản lý loại hình này
- Đào tạo đại học phải hướng đến nhu cầu của xã hội
- Đặc điểm tâm lý - xã hội của sinh viên đại học Việt Nam
- Trường đại học gắn với sự phát triển công nghiệp-doanh nghiệp-dịch
vụ
- Trường đại học trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa
Các vấn đề trên đã được tác giả luận cứ theo hoàn cảnh của xã hội Việt Nam trong xu thế phát triển hiện nay