1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI

17 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối là côn trùng xã hội Trong đàn mối có nhiều đẳng cấp nhóm với chức năng khác nhau, quan hệ với nhau như một xã hội; đàn mối không tồn tại nếu thiếu một trong các nhóm này.. Khi kiếm

Trang 1

MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI

TS Nguyễn Tân Vương Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình

1 Mối là côn trùng xã hội

Trong đàn mối có nhiều đẳng cấp (nhóm) với chức năng khác nhau, quan hệ với nhau như một xã hội; đàn mối không tồn tại nếu thiếu một trong các nhóm này

Các đẳng cấp chuyên hoá theo các chức năng khác nhau và có hình dạng bên ngoài phù hợp với chức năng riêng Ví dụ, mối thợ có hàm ngắn để gặm gỗ, mối lính có hàm dài để tấn công kẻ thù, mối cánh có cánh để bay giao hoan… Mối thợ là đẳng cấp chuyên khai thác thức ăn và cung cấp cho cả đàn Mối vua chúa có nhiệm vụ sinh ra các cá thể khác trong đàn

2 Ph ân bố

Mối chỉ có mặt ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới Ở Việt Nam, mối có mặt ở ven biển cho đến 2200m (ở Đà Lạt có thể lên cao hơn), mối có mặt ở suốt từ Bắc chí nam, mối có mặt ở cả các đảo ngoài khơi, ở cả rừng ngập mặn Phong phú nhất ở trong sinh cảnh rừng

3 Thành phần loài và các nhóm mối

Mối được phân thành 6 họ (theo Emeson, 1955) (theo Nguyễn Đức Khảm

2007 trên thế gới có 7 họ), trong mỗi họ có nhiều giống, mỗi giống có nhiều loài Trên thế giới đã xác định được khoảng 2700 loài Ở Việt Nam, đã phát hiện khoảng

110 loài trong 4 họ (Hodotermitidae, Kalotermitidae, Rhinotermitidae, Termitidae)

Đại diện mỗi họ là: Hodotermopsis sjotedti Holmgren, Cryptotermes domesticus (Haviland), Coptotermes formosanus Shiraki, Odontotermes hainanensis (Light)

Mỗi loài có các đặc điểm sinh học, sinh thái học khác nhau Dựa vào các đặc điểm này, nguời ta đã đề ra các biện pháp xử lý mối khác nhau

Người ta thường chia ra thành 3 nhóm mối: Mối gỗ khô, mối gỗ ẩm và mối đất Ngoài ra, người ta còn gọi nhóm mối có vườn cấy nấm (các loài thuộc phân học Macrotermitinae) và nhóm mối ngầm (các loài có làm hang giao thông ngầm dưới mặt đất)

4 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối

a Quá trình hình thành tổ mối

Hàng năm, vào cuối xuân trong tổ xuất hiện mối có cánh (mối cánh non xuất hiện vào cuối năm trước), khi thời tiết thuận lợi mối thợ đào đất tạo thành lỗ vũ hóa cho mối cánh mối cánh bò ra ngoài Sau khi ra ngoài, mối cánh bay lên (hiện tượng

Trang 2

khi bay vài phút, mối cánh cái đậu xuống giá thể và bắt đầu rung cánh vẫy gọi mối đực Sau khi mối đực tới và chạm vào phần lưng bụng của mối cái, mối cái ngừng

rung và bắt đầu di chuyển tìm chỗ làm tổ, khi di chuyển mối cái đi trước, mối đực

luôn đi sát phía sau tạo thành 1 cặp Đôi khi có hiện tượng cặp 3, cặp 4

Mối thường lợi dụng các khe kẽ có sẵn để chui vào làm tổ Ngay ban đầu, mối dùng hàm đào khoét tạo khoang đồng thời trộn nước bọt với các vật liệu có xung quanh để đắp kín khoang rỗng Sau vài ngày mối đẻ trứng, sau khoảng 30 ngày mối non bắt đầu nở Mối vua chúa dùng nước bọt của mình mớm nuôi mối non Khi mối non lớn lên sẽ đi kiếm ăn để nuôi chúa, vua Khi mới hình thành khoang tổ nhỏ và nông, tổ càng lớn thì khoang tổ càng rộng, sâu và có nhiều khoang

b Tập tính kiếm ăn và chế biến thức ăn

Việc xây dựng tổ và kiếm ăn là do mối thợ đảm nhiệm là chính Khi kiếm ăn bên ngoài tổ, mối lính cũng tham gia làm nhiệm vụ cảnh giới và bảo vệ, tỷ lệ mối thợ trong nhóm mối kiếm ăn thường khoảng tới 90% Khi khai thác thức ăn, mối thợ dùng hàm để cắt thức ăn thành các mảnh nhỏ và cặp vào hàm để mang về tổ

Khi mối phát hiện thấy nguồn thức ăn, mối sẽ mang thức ăn về và thông báo cho các

cá thể đến để tập trung khai thác nguồn thức ăn

Đa số các loài mối không tự tiêu hóa trực tiếp thức ăn là gỗ mà chúng phải nhờ đến

vi sinh vật cộng sinh trong ruột (Coptotermes) hoặc bên ngoài tổ như vườn nấm của Odontotermes Một số dạng gỗ mục hay mùn được mối tiêu hóa trực tiếp như ở nhóm mối cấy nấm, nhóm mối ăn mùn (Microcerotermes)

Khi ăn, mối thợ ăn và mớm cho các nhóm mối khác trong đàn Phân mối thường được các cá thể khác ăn lại và phổ biến ở các nhóm mối có mức tiến hóa thấp như Coptotermes

c Truy ền thông tin trong đàn mối

Mối thông tin cho nhau bằng cách tiết ra các chất hóa học Để dẫn các cá thể khác mối tiết ra chất dẫn đường ở tuyến bụng và cọ bụng vào giá thể khi di chuyển, các cá thể đi sau sẽ đi theo vết chất dẫn đường đã có trước

Khi thông báo hiện tượng nguy hiểm mối dùng hàm đập xuống giá thể nơi mối đứng tạo thành nhịp (khác với kiến)

d Tập tính chải chuốt cho nhau

Mối thường xuyên chải chuốt làm vệ sinh cho nhau Chúng thường dùng phần phụ hàm để vệ sinh cho mối chúa và cho các cá thể khác trong đàn Tập tính này được lợi dụng khi dung biện pháp phun thuốc lây nhiễm dạng bột

e Hiện tượng đa chúa và thay thế mối chúa

Trang 3

Thường trong tổ mối chỉ có 1 cặp vua chúa, nhưng đôi khi cũng có trường hợp

có nhiều vua chúa trong 1 tổ Một tổ có thể có 1 vua nhiều chúa hoặc ngược lại Trong tổ có thể có các mối chúa có kích thước khác nhau

Khi mối chúa bị suy giảm khả năng đẻ, đàn mối sẽ bồi dưỡng mối thợ non, mối cánh non thành mối chúa, trường hợp này gọi là mối chúa bổ xung Mối chúa bổ xung có thể có cánh ngắn như mối cánh non, có thể có đầu nhỏ như mối thợ

f Tập tính bảo vệ nguồn thức ăn và tổ

Mối rất sợ tổ bị hở nên khi tổ bị phá hở thì mối tập trung đến và xây đắp lại tổ rất nhanh Nếu làm hở lớp bảo vệ mà không thấy mối đến đắp kín thì chứng tỏ nơi đó không còn mối hoạt động

Khi mối khai thác nguồn thức ăn lớn đòi hỏi thời gian dài thì mối cũng xây đắp lớp bảo vệ bên ngoài để tránh kẻ thù

5 Cấu trúc tổ mối và các dạng tổ mối

5.1 Cấu trúc tổ mối

Tổ mối gồm tổ chính, các tổ phụ và hệ thống hang giao thông

Tổ chính là nơi chi phối hoạt động của cả tổ mối, tại đó thường có mối chúa (chỉ một số trường hợp đặc biệt, mối chúa mối ở xa tổ chính) Số lượng cá thể tập trung chủ yếu ở tổ chính Tuỳ theo, vị trí tổ chính mà người ta phân ra thành các loại tổ khác nhau

Tổ phụ là nơi mối ở, nằm giữa nguồn thức ăn và tổ chính Số lượng tổ phụ nhiều

ít tuỳ loài, tổ càng lớn thì có càng nhiều tổ phụ Tổ phụ có thể nằm trong đất, trong

gỗ trong tường, trong thành tổ chính

Hang giao thông là khe rỗng do mối tạo nên để đi lại nối giữa tổ chính với tổ phụ, giữa các tổ phụ với nhau, giữa tổ mối và nguồn thức ăn Khi đi ăn trên mặt đất hoặc trên mặt gỗ, mối thường làm đường đi có đắp bằng đất để bảo vệ gọi là đường mui

5.2 Các dạng tổ mối

1 Tổ mối dạng nổi

Là tổ mối có khoang tổ chính nằm nổi trên mặt đất

2 Tổ chìm

Là tổ mối có khoang tổ chính nằm chìm dưới mặt đất

3.Tổ trên cây

Là tổ mối nằm trên cây

Đặc điểm chính của một số loài gây hại điển hình ở Việt Nam

6 Một số loài điển hình ở Việt Nam

6.1 Loài Cryptotermes domesticus Havilandi, 1898 (mối gỗ khô)

Trang 4

Loài này có một dạng lính, mối thợ gồm nhiều tuổi khác nhau về kích thước Mối lính có hàm ngắn, đầu nâu đỏ đến nâu đen, trán có gờ nhô cao Mối thợ có đầu

màu trắng trong, bụng dài, to hơn mối thợ của Coptotermes formosanus và có trắng

hoặc trắng hồng

Loài này thường được gọi là mối gỗ khô, hay nhầm là mọt Thức ăn chủ yếu của loài này là gỗ khô và các chất cellulose khô như giấy, quần áo.…Các loại gỗ để nơi

ẩm ướt không bị loài này ăn hại Loài này chỉ lấy nước từ quá trình phân huỷ thức

ăn Do đó, ở những nơi quá khô loài này không cư trú và phát triển Loài này có mặt

ở tất cả các tỉnh ở Việt Nam

Tổ của loài này không liên hệ với nền đất và mối không bao giờ xây dựng đường mui và mối không bao giờ đi ra ngoài tổ Tổ của loài này cũng là nơi khai thác thức ăn Chúng làm tổ trong gỗ, trong đống giấy Tổ mối là hệ thống khoang rỗng dạng khe hẹp có kích thước không đồng đều và hình dạng không cố định Khoang lớn có thể dài 16-18cm, rộng 4-5cm (xem hình 1, 2) Mỗi tổ mối thường có một số lỗ ăn thông từ khe rỗng ra bên ngoài cấu kiện gỗ, lỗ có đường kính khoảng 1mm ở phía dưới khe rỗng, mối thường xuyên thải phân qua lỗ này Phân của loài này dạng hạt cải, khô cứng, dài khoảng 1mm Đây là đặc điểm quan trọng nhất để

phát hiện sự có mặt của loài này trong công trình

Loài này thường chỉ tấn công các loại gỗ mềm Ban đầu chúng tấn công phần bên ngoài, sau tấn công vào phần gỗ bên trong; ở Khu phố cổ Hà nội, có một thanh

xà gỗ có kích thước 400mm x 300mm x 3000mm đã bị loài này ăn rỗng gần như hoàn toàn Loài này không làm tổ trong các loại gỗ tương đối cứng như dổi, chò chỉ.… Gỗ giác của các loại gỗ cứng như lim hay gỗ xoan ngâm đã sử dụng lâu năm cũng bị loài này phá hủy Ở vùng nông thôn, chúng phá hại nghiêm trọng những công trình làm bằng gỗ tạp (gỗ nhóm 4), hầu như nhà nào cũng bị loài này phá hại

Ở Miền Bắc, mối cánh bay giao hoan phân đàn từ tháng IV- IX Thời gian bay giao hoan phân đàn trong ngày thường vào lúc 17 giờ Vào những ngày trời âm u, mối cánh có thể bay sớm hơn Sau khi kết đôi khoảng 7- 10 ngày mối cái bắt đầu đẻ trứng Thời gian đầu mối chỉ đẻ 5-20 trứng Một đàn mối chỉ có khoảng vài trăm cá thể Tuy số lượng cá thể của một đàn nhỏ nhưng trong một cấu kiện gỗ có thể có nhiều tổ nên tác hại của chúng đối với gỗ cũng đáng kể

Loài này không gây hại khốc liệt như những loài mối gỗ ẩm, nhưng với đặc điểm âm thầm, luôn để lại một lớp gỗ mỏng để nguỵ trang nên chúng ít được chú ý Khi hết thức ăn chúng bỏ đi cũng là khi gỗ đã bị rỗng, nếu dùng tay có thể bóc lớp

gỗ mỏng lộ lõi gỗ bên trong Nhẹ thì chúng làm mất mỹ quan công trình, nặng thì chúng làm mắt khả năng chịu lực của cấu kiện gỗ mềm Loài này có thể phá hại hơn

70 loại gỗ ở Việt Nam

Trang 5

6.2 Loài Coptotermes formosanus Shiraki, 1909 (mối gỗ ẩm)

Loài này có 1 dạng lính và 1 dạng thợ Mối lính có lưng bụng màu trắng sữa, hơi vàng, đầu màu vàng đỏ, hàm dài và thường tiết giọt dịch như sữa ở trước đầu khi bị kích động Mối thợ có đầu màu trắng trong, lưng bụng có màu trắng trong có vết đỏ hoặc đen do màu thức ăn trong ruột

Loài này thuộc nhóm mối gỗ ẩm Thức ăn của Coptotermes formosanus là các

loại gỗ hoặc các đồ dùng, vật liệu đã chế biến có chứa cellulose như giấy (xem hình

3, 4) Thức ăn ưa thích của loài mối này là các loại gỗ mềm, giấy Chúng thường ngầm phá hại bên trong cấu kiện gỗ trong công trình kiến trúc (xem hình 3) Thường chúng khó ăn rỗng các cấu kiện gỗ cứng như lim, nhưng trong các trường hợp cấu kiện gỗ lim thường xuyên bị ẩm như đầu gỗ chôn trong tường, nơi mái bị dột làm gỗ mục hoặc chân cột thì nhanh chóng bị chúng làm rỗng bên trong Các phần gỗ dễ bị phân huỷ như lõi cột lim cũng bị loài này ăn hại

H×nh 2 Tæ Cryptotermes domesticus

¨n háng phÇn gç gi¸c ë khung cöa

cña sè nhµ 52 B¸t Sø

H×nh 1 DÊu hiÖu tæ mèi Cryptotermes domesticus

Trang 6

H×nh 3 Mèi Coptotermes formosanus ph¸ huû kh¶ n¨ng chÞu

lùc cña trô cÇu thang gç ë sè nhµ 46 phè L·n ¤ng

H×nh 4 Mèi Coptotermes

formosanus ph¸ huû tµi liÖu trong mét kho l­u tr÷ t¹i Hµ

Néi

H×nh 5 Tæ mèi

Coptotermes formosanus trªn mÆt

c¾t däc

Trang 7

Tổ mối là khối xốp màu nõu đen hoặc xỏm tro Thành phần chủ yếu của khối xốp này là bột gỗ, đất, cỏt được trộn lẫn với nước bọt của mối Tổ mối ở trong nền đất thường cú dạng hỡnh cầu (xem hỡnh 6) Bờn trong, tổ được sắp xếp thành nhiều lớp xếp xớt nhau, liờn kết chặt chẽ với nhau, khối bờn ngoài rỗng hơn khối bờn trong (xem hỡnh 5,7) Vật liệu xõy dựng tổ mối cú đặc tớnh khú thấm nước vỡ vậy khú cú thể đưa nước vào bờn trong tổ mối; một tổ mối đó được dỡm xuống nước nhưng sau

12 giờ mối vẫn sống, nờn khú cú thể diệt chỳng bằng cỏch bơm thuốc dạng nước cú tỏc dụng tiếp xỳc vào tổ mối Trong trường hợp mối làm tổ trong hộp bờ tụng, trong tường thỡ hỡnh dạng thay đổi theo hỡnh dạng của khoảng rỗng mà mối làm tổ (xem

hỡnh 8) Coptotermes formosanus thường làm tổ ở những nơi kớn đỏo trong cụng trỡnh kiến trỳc như: nền nhà, panen, khe giữa hai tường, trong cỏc cấu kiện gỗ, dưới gốc cõy, trong thõn cõy, trong khối tài liệu Dự ở đõu, tổ của chỳng cũng cú đường liờn hệ với nền đất để lấy nước nờn chỳng cũn được xếp vào nhúm mối gỗ ẩm

Trong nền nhà Coptotermes formosanus thường làm tổ ở chiều sõu từ 0,2 - 1,5m Ở một số nước khỏc cũn gặp tổ của chỳng ở sõu hơn (1,8 - 3 m) Mối Coptotormes formosanus cũng cú thể làm tổ trong cỏc bói đất ở ngoài trời nhưng ớt gặp hơn (Nguyễn Đức Khảm, 2003) Số lượng cỏ thể trong một tổ cú thường là 1-3 triệu, ở những tổ lớn cú thể tới vài chục triệu

Hình 6 Tổ mối

Coptotermes formosanus trong nền

đất có hình cầu (hình chụp từ trên

xuống)

Trang 8

Tổ mối của loài này cú thể hoạt động trong vũng bỏn kớnh 100m, do đú, một tổ mối cú thể gõy hại ở nhiều cụng trỡnh Thớ nghiệm đỏnh dấu để xỏc định phạm vi hoạt động của một tổ mối ở Mỹ cho thấy, một tổ mối của loài này cú thể phỏ hoại đồng thời ở nhiều khối nhà khỏc nhau trong phạm vi 115 một

Khi di chuyển ở trờn mặt đất hay trờn tường mối hầu như khụng bao giờ đi lại

tự do, chỳng luụn đi theo những đường đó định sẵn, con này nối đuụi con kia Cỏc

Hình 7 Tổ mối Coptotermes formosanus có các lớp liên kết chặt chẽ với

nhau tạo nên hệ thống giao thông phức tạp

Hình 8 Tổ mối Coptotermes formosanus trong tường gỗ rỗng là khối xốp dẹt

Trang 9

đường đi này thường được mối xây dựng đường bao kín bằng đất, thường được gọi

là đường mui Các đường mui của mối thường được xây dựng bên trong các khe tiếp giáp của các cấu kiện gỗ với tường công trình Trong trường hợp gặp nguy hiểm mối đập hàm xuống giá thể thành nhịp để báo động cho bày đàn Loài này có thể tập trung vào những nơi có nguồn thức ăn ưa thích rất nhanh nên tốc độ phá hoại của chúng rất lớn Khi gặp nguy hiểm, mối lính tiết dịch màu trắng sữa, dính lại khi khô Mối cánh thường bay giao hoan phân đàn vào lúc từ 17g30 – 18g trong ngày, đôi khi có thể thấy chúng bay vào lúc 21giờ, thậm chí là 11 giờ sáng ở tổ mối bị ngộ độc hoá chất Mỗi một tổ mối có thể sản sinh ra hàng vạn cá thể mối cánh trong 1 năm Một tổ có thể có nhiều đợt bay giao hoan phân đàn trong năm Hàng năm mối

cánh Coptotormes formosanus thường bay giao hoan từ tháng 4 đến tháng 7 Sau khi bay giao hoan, mối cánh cặp đôi rồi dẫn nhau đi tìm nơi làm tổ Thường chúng ưa làm tổ tại những nơi có khe rỗng sẵn như nơi nứt của nền, tường nhà, hay nơi tiếp giáp giữa các vật như chân cột, giữa viên gạch và đất.…Sau khi 1 mối cánh đực và 1 mối cánh cái gặp nhau, mối cánh cái sẽ đi trước, mối cánh đực đi sau, chúng đưa nhau đi tìm nơi làm tổ Sau 2 – 3 ngày chúng sẽ đẻ trứng, sau khoảng 28 ngày trong

tổ bắt đầu có con non, khoảng 90 ngày chúng đã bắt đầu đi kiếm ăn Qua các thử nghiệm nuôi các cặp mối cánh của loài này, chúng tôi thấy chúng dễ dàng tạo tổ mới với các điều kiện đơn giản như: có khe kẽ nhỏ, có thức ăn và độ ẩm không khô quá hoặc không ẩm quá Các điều kiện này dễ dàng được đáp ứng ở khắp mọi nơi, như: các gốc cây, các đống gỗ lưu cữu lâu ngày, các thanh gỗ dùng để kê xếp, các thanh

gỗ nằm trong tường ẩm, gỗ mái bị dột…

Loài này là loài phân bố rộng, chúng là đối tượng gây hại cho các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới

6.3 Odontotermes hainanensis (Light)1924 (dạng mối cấy nấm tổ chìm)

Loài này có 2 dạng thợ và 1 dạng lính Thợ lớn lớn hơn mối lính, thợ nhỏ nhỏ hơn mối lính Thợ lớn có đầu ngắn, màu vàng đỏ, lưng bụng có vết đen do thức ăn trong ruột Thợ nhỏ có đầu ngắn, đầu nhạt hơn đầu mối thợ lớn, bụng nhỏ và ngắn hơn bụng thợ lớn Mối lính có hàm cong rõ ràng, đầu vàng đỏ, thường tiết nhựa màu nâu ở miệng khi bị kích động

Loài này phổ biến ở các đập hồ chứa nước trên cao, như: Đa Nhim, Tây Nguyên Loài này thuộc nhóm mối cấy nấm Loài này tiêu hoá thức ăn chứa cellulose bằng cách nuôi cấy nấm Termitomyces để phân huỷ cellulose thành đường

và các sản phẩm khác rồi mới ăn Do đó, nó có tên gọi là mối cấy nấm Vườn cấy nấm của loài này có dạng khối xốp dạng tổ ong Chúng luôn xây mới ở trên và khai thác ở dưới đáy

Trang 10

Tổ của loài này nằm hoàn toàn dưới đất, tổ có nhiều khoang Khoang chính có đường kính từ 20-80cm, phổ biến nhất là 40cm Chiều sâu của khoang chính tính từ mặt đất đến đỉnh của khoang chính thường sâu 50cm Khoang phụ có đường kính từ

7 - 18cm, cá biệt có những khoang phụ có đường kính tới 28cm, thường phổ biến từ

10 - 14cm Số lượng khoang phụ có thể tới hàng trăm Tổng thể tích rỗng của một tổ

có thể ước đoán qua lương vữa sét cần xử lý cho một tổ mối, có thể tới 2m3 Thường mật độ khoang phụ lớn khi ở gần khoang chính và giảm dần khi xa khoang chính Khoang phụ được tập trung nhiều ở phía phần mặt cắt phía trên khoang chính (chiếm 74%) và số lượng khoang phụ còn lại nằm ở dưới khoang chính chỉ chiếm 26% Bên dưới khoang tổ có nhiều hang giao thông đi xuống dưới và đi ra xa tới vài chục mét

Trước khi bay giao hoan phân đàn mối thường đắp từ 3 - 66 nắp phòng đợi bay

lộ trên mặt đất, nắp phòng đợi bay thường có dạng hình tháp hoặc hình trụ Đường kính chân nắp phòng đợi bay tới 12 cm, cao nhất tới 9 cm, nhưng cũng có những nắp phòng đợi bay rất nhỏ, khó phát hiện Mối đắp phòng đợi bay vào nhiều đợt; trong một khu vực tổ có cả những nắp phòng đợi bay cũ và mới Thậm chí một nắp phòng đợi bay có phần dưới xây dựng trước thì khô và phần đỉnh mới xây còn ẩm Nắp phòng đợi bay của mối có trên mặt đất từ tháng 2 đến giữa tháng 4, đôi khi đến tháng 5 Đây là thời điểm dễ pháp hiện tổ mối nhất trong năm (xem hình 9)

Ngày đăng: 12/04/2015, 14:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Dấu hiệu tổ mối  Cryptotermes domesticus - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 1. Dấu hiệu tổ mối Cryptotermes domesticus (Trang 5)
Hình 2. Tổ Cryptotermes domesticus - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 2. Tổ Cryptotermes domesticus (Trang 5)
Hình 3.  Mối Coptotermes formosanus phá huỷ khả năng chịu - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 3. Mối Coptotermes formosanus phá huỷ khả năng chịu (Trang 6)
Hình 5.  Tổ mối - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 5. Tổ mối (Trang 6)
Hình 6.  Tổ mối - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 6. Tổ mối (Trang 7)
Hình 7.  Tổ mối Coptotermes formosanus có các lớp liên kết chặt chẽ với - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 7. Tổ mối Coptotermes formosanus có các lớp liên kết chặt chẽ với (Trang 8)
Hình 8.  Tổ mối Coptotermes formosanus trong tường gỗ rỗng là khối xốp dẹt - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 8. Tổ mối Coptotermes formosanus trong tường gỗ rỗng là khối xốp dẹt (Trang 8)
Hình 11. T ổ Macrotermes gilvus trên mặt cắt đứng qua tâm tổ - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 11. T ổ Macrotermes gilvus trên mặt cắt đứng qua tâm tổ (Trang 12)
Hình 12. Mối ăn ruỗng  khung cửa ra vào - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 12. Mối ăn ruỗng khung cửa ra vào (Trang 14)
Hình 14. Mối Coptotermes formosanus ăn xà gồ ở chùa Nả - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 14. Mối Coptotermes formosanus ăn xà gồ ở chùa Nả (Trang 14)
Hình 12 . Mối Coptotermes ăn  ruỗng khung cửa - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 12 Mối Coptotermes ăn ruỗng khung cửa (Trang 14)
Hình 16. Mối Coptotermes formosanus ăn ruỗng cáp điện và gây chập điện - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 16. Mối Coptotermes formosanus ăn ruỗng cáp điện và gây chập điện (Trang 15)
Hình 15. Mối  Coptotermes formosanus  ăn ruỗng tủ bếp - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 15. Mối Coptotermes formosanus ăn ruỗng tủ bếp (Trang 15)
Hình 17. Mối Coptotermes formosanus ăen ruỗng thân cây mía - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 17. Mối Coptotermes formosanus ăen ruỗng thân cây mía (Trang 16)
Hình 20. Tổ mối Odontotermes - MỘT SỐ HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ MỐI
Hình 20. Tổ mối Odontotermes (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w